Xe "Velo" của Carl Benz, 1894, là xe được sản xuất hàng loạt đầu tiên.Tuy không phải là đất nước phát minh ra ôtô nhưng Mỹ lại là miền đất cho sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẮNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA KHOA CƠ KHÍ GIAO THÔNG
-^ffl^ -BÁO CÁO TIỂU LUẬN I
MÔN HỌC: Ô TÔ HYBRID
Giáo viên hướng dẫn: GS.TSKH Bùi Văn Ga Sinh viên thực hiện: Trương Đình Úc
Mã số sinh viên: 103180062 Lớp :18C4A
Trang 2Câu 1: Các yếu tố thúc đẩy sự phát triển liên tục của ô tô Các loại hình ô tô
sẽ sử dụng trong tương lai và lộ trình thâm nhập thị trường của chúng.
I Tổng quan về chiếc ôtô - Lịch sử ra đời và phát triển
Chiếc ôtô gắn bó mật thiết với đời sống con người đến mức chúng ta coi như một lẽ
tự nhiên Câu hỏi chúng ta sẽ như thế nào nếu không có ôtô hầu như không được đặt
ra Trong khi chiếc ôtô mới chỉ có lịch sử trên 200 năm và ngày càng trở nên hoàn thiện hơn, an toàn hơn, thông minh hơn để phục vụ nhu cầu ngày càng cao của con người
Chiếc xe ôtô được đăng ký bằng phát minh năm 1886.
Những chiếc ôtô đầu tiên
Trang sử ngành ôtô thế giới bắt đầu vào ngày 29/01/1886 khi Karl Benz (người Đức) nhận bằng sáng chế số DRP 37435 cho chiếc xe ba bánh gắn máy của ông Tuy nhiên
Trang 3trước đó, chiếc xe có thể gọi là chiếc ôtô đầu tiên là chiếc Fardier của Bộ Trưởng Bộ
Quốc Phòng Pháp, do Nicolas Joesph Cugnot phát minh vào năm 1771 Đây là một
chiếc xe ba bánh, trang bị động cơ hơi nước tốc độ 2,3 dăm/giờ Cỗ máy kồng kềnh
này chưa bao giờ được sản xuất bởi nó quá chậm chạp và nặng nề so với một chiếc xe
ngựa.
Chiếc Cugnot Fardier
Một người Pháp khác là Amedee Bollee đã cho ra đời một chiếc xe 12 chỗ, tuy động
cơ có cải tiến hơn nhưng một lần nữa loại động cơ này chứng tỏ vẫn chưa phải là đối thủ của chiếc xe ngựa kéo! Tính khả thi của ôtô chỉ có được cho đến khi động cơ đốt trong ra đời
Năm 1889 đã đánh dấu một bước ngoặt trong lịch sử ngành ôtô thế giới khi chiếc xe
do Gottlied Daimler và Wilhelm Mayback phát minh được sản xuất tại Đức Chiếc xe này được trang bị động cơ xăng 1,5 sức ngựa, hai xi lanh hộp số 4 tốc độ, và tốc độ tối đa 10 dặm một giờ Cùng năm đó, người ta cũng chứng kiến sự ra đời của động cơ xăng cũng do một người Đức, Karl Benz phát minh Ôtô với động cơ xăng do mới được sản xuất với số lượng rất ít tại Châu Âu và Châu Mỹ
Trang 4Xe "Velo" của Carl Benz, 1894, là xe được sản xuất hàng loạt đầu tiên.
Tuy không phải là đất nước phát minh ra ôtô nhưng Mỹ lại là miền đất cho sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp ôtô khi mà ở những năm cuối của thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 đã có đến 30 hãng sản xuất ôtô ở đất nước này, với nhiều thương hiệu nổi tiếng như: Ford, Chevrolet, Chresler, Cadillac, Dogde,
Cùng với châu Âu và châu Mỹ, tại châu Á cũng có một đất nước nổi lên là Nhật Bản Chiếc xe đầu tiên của Nhật Bản có tên Takkuri, do Uchiyama Komanosuke, kỹ sư ôtô đầu tiên của xứ mặt trời mọc sản xuất vào năm 1907 Tuy nhiên, số lượng ít, giá thành cao khiến xe Nhật không thể cạnh tranh được với xe nhập từ Mỹ
Trong suốt chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật chỉ sản xuất ôtô phục vụ cho chiến tranh
Từ năm 1952, sự phát triển mới bắt đầu trở lại Nhật Bản vươn lên mạnh mẽ với các hãng xe hàng đầu thế giới như Toyota, Honda, Nissan xuất khẩu Sở dĩ xe Nhật được
ưa chuộng rộng khắp bởi nhỏ gọn, ít tốn nhiên liệu, giá cả hợp lý và đặc biệt bền, ít trục trặc
Trang 5Chiếc Toyota đầu tiên ra đời năm 1936, ngày nay không còn phiên bản nào nguyên vẹn do bị tàn phá hoàn toàn trong Thế chiến II.
Đến thời điểm hiện nay, châu Á vẫn là nơi sản xuất nhiều ôtô trên thế giới nhất với sự nổi lên của Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan Và xu hướng hiện nay, ngoài vấn đề tiết kiệm, chất lượng tốt thì người tiêu dùng còn hướng tới yếu tố thiết kế ấn tượng và tính tiện dụng cao Vì thế sự cạnh tranh về mức giá dần mất ý nghĩa, thay vào đó là thỏa mãn và gợi mở nhu cầu khách hàng
Xu hướng ô tô thông minh trong tương lai
Sau hơn 200 năm phát triển, những chiếc ôtô hiện đại đang dần trở nên thông minh hơn bao giờ hết Chúng không chỉ được hoàn thiện về kiểu dáng mà còn được trang bị những tính năng thông minh nhất, giúp chiếc xe được an toàn hơn, trải nghiệm lái thú
vị hơn và mang đến những tiện ích thiết thực phục vụ cho cuộc sống hiện đại của con người
Một chiếc xe thông minh hơn là một chiếc xe an toàn hơn
Với những tính năng thông minh, không quá phức tạp như ra lệnh bằng giọng nói, tự động điều khiển nhạc, gọi điện thoại đã mang lại những trải nghiệm lái xe thú vị Việc tận hưởng đầy đủ các tiện ích giải trí trên xe đôi khi cũng có thể dẫn đến sự mất tập trung Cùng với đó, công nghệ xe tự hành ngày càng phát huy tác dụng
Những chiếc xe hơn hiện đại ngày nay có thể tự động giảm tốc độ nếu chúng nhận thấy tình hình giao thông có vấn đề, thậm chí sở hữu nhiều yếu tố tinh tế hơn như tính năng cảnh báo chệch làn đường, cảnh báo khi người lái xe có dấu hiệu mất tập trung hay dựa vào bản đồ để tự động giới hạn tốc độ tối đa theo từng cung đường
Trang 6Tất cả những tính năng kể trên, suy cho cùng thì vẫn nhằm mục đích đảm bảo sự an toàn cho con người, do đó có thể khẳng định rằng một chiếc xe càng thông minh thì sẽ càng an toàn và thân thiện với người dùng
Công nghệ mô phỏng mới giúp cải thiện đáng kể độ an toàn cho xe tự lái.
Công nghệ tự lái - một phát kiến tuyệt vời
Trên thực tế, những tính năng liên quan đến công nghệ tự lái đã được trang bị trên khá nhiều mẫu xe hạng sang tới từ các nhà sản xuất hàng đầu về công nghệ an toàn trên xe hơi hiện nay như Audi, BMW hay Volvo Tuy nhiên, việc tự mình điều khiển thay vì phó mặc cho xe tự lái là điều người sử dụng thích thú hơn Vì thế, công nghệ tự lái chỉ nên được tích hợp như một tính năng tùy chọn để góp phần hỗ trợ con người
Phanh thông minh cho phép chiếc xe tự động nhấn chân phanh khi hình ảnh thu được
từ camera và cảm biến phía trước cho thấy đó là một tình huống không an toàn Hoặc tính năng “lùi chuồng tự động” cũng rất hữu ích trong nhiều tình huống đòi hỏi kỹ năng lái xe giàu kinh nghiệm Những tính năng thông minh này đã được các nhà sản xuất xe hơi lớn trên thế giới áp dụng thực sự thành công
Tự biết mình cần gì
Người lái sẽ cảm thấy “nhẹ đầu” hơn bao giờ hết bởi những công nghệ được trang bị trên những chiếc xe hiện đại Ngày nay, hệ thống máy tính sẽ tự nhận biết tình trạng của xe, xem chiếc xe cần gì hay đang gặp vấn đề ra sao, rồi từ đó thông báo cho người
Trang 7lái Bên cạnh đó, các tính năng thông minh cũng góp phần giúp cho việc duy trì, bảo
trì xe trở nên đơn giản hơn, từ đó giúp chiếc xe bền bỉ hơn, đồng thời tiết kiệm chi phí
bảo dưỡng xe.
Thông minh đi cùng tiện lợi
Những công ty công nghệ lớn hiện nay như Apple, Google không ngừng chau chuốt các tiện ích dành riêng cho xe hơi như CarPlay và Android Auto, giúp chiếc xe không chỉ là phương tiện đi lại, mà còn đóng vai trò như một người giúp việc mẫn cán Một chiếc xe hơi có thể biến thành văn phòng làm việc hoặc giải trí Những tính năng thông minh có thể giúp bạn theo dõi hiệu suất và lên kế hoạch bảo trì cho chiếc xe, trong khi vẫn cập nhật cho bạn về các sự kiện cũng như lịch trình sắp tới
Trang 8Hiện nay tất cả các nhà nghiên cứu, thiết kế, chế tạo và sản xuất ôtô đang tập trung phát triển công nghệ theo ba xu hướng chính và sẽ gắn kết với nhau để tạo thành một khối cùng phát triển trong tương lai không xa Đó là công nghệ thiết kế, chế tạo và sản xuất phần cứng hợp với thời đại; công nghệ phần mềm điều khiển thông minh và
sử dụng trí tuệ nhân tạo; công nghệ kết nối và giao tiếp
Cả ba hướng phát triển trên đều phục vụ cho một mục đích duy nhất là biến một chiếc
xe từ phương tiện chuyên chở đơn thuần thành một “người bạn” thông minh có khả năng giao tiếp, kết nối với vạn vật xung quanh thông qua việc tích hợp trí thông minh nhân tạo để chiếc xe trở nên thông minh và an toàn hơn, hữu ích hơn với con người
Il.Sự phát triển liên tục của ô tô
Vai trò của ngành công nghiệp ô tô đối với nền kinh tế quốc dân
Ngành công nghiệp ô tô được đánh giá là một trong những ngành công nghiệp đi đầu, kéo theo sự phát triển của các ngành công nghiệp khác Vì vậy, sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp ô tô được xem là nhân tố tác động tích cực thúc đẩy các ngành có liên quan phát triển, tạo động lực xây dựng nền công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trang 9Ô tô là sản phẩm được cấu thành từ hơn 3.000 phụ tùng, linh kiện khác nhau (đối với ô tô con, số linh kiện, phụ tùng có thể từ hơn 20.000 đến 30.000 - tính theo những linh kiện nhỏ nhất) được sản xuất từ nhiều ngành nghề khác nhau, chủ yếu là cơ khí, điện tử, cao su-nhựa, trong đó nhiều phụ tùng lại được lắp ráp từ vài chục đến vài trăm linh kiện như động cơ, hộp số
Theo cách phân loại trình độ công nghệ của các ngành chế tạo của UNIDO, ô tô được xếp vào nhóm các ngành công nghiệp có công nghệ trung bình-cao, nhưng thực chất trong số hàng ngàn phụ tùng, linh kiện, mỗi loại cần công nghệ sản xuất khác nhau, từ công nghệ trung bình thấp (như một số sản phẩm ép nhựa đơn giản), đến những công nghệ cao, phức tạp (như hộp số, động cơ)
Chính vì các đặc điểm kỹ thuật nêu trên của sản phẩm ô tô, nên trong số các ngành công nghiệp sản xuất dân dụng, ngành ô tô có liên kết đầu vào - đầu ra rộng nhất và sự phối hợp công nghệ cao nhất Vì lý do này, ngành này có ảnh hưởng lớn đến quá trình công nghiệp hóa của nền kinh tế quốc dân
Một mặt, ngành công nghiệp ô tô sản xuất ra các sản phẩm đáp ứng nhu cầu di chuyển của người dân và cả nền kinh tế
Theo xu hướng phát triển, khi thu nhập của các cá nhân tăng cao, họ có xu
hướng ưu tiên sử dụng các sản phẩm hiện đại đi kèm với chất lượng và bảo đảm
an toàn Đáp ứng được yêu cầu đó, ô tô sẽ là phương tiện được ưa chuộng và dần thay thế xe máy theo xu hướng phát triển đi lên của đất nước Đồng thời, trong các ngành công nghiệp cũng như nông nghiệp, con người sử dụng ô tô như
nguồn lực trực tiếp phục vụ quá trình lưu thông hàng hóa, thúc đẩy thương mại phát triển
Mặt khác, ngành công nghiệp ô tô được đánh giá là một trong những ngành công nghiệp đi đầu, kéo theo sự phát triển của các ngành công nghiệp khác Công nghiệp ô tô là “khách hàng” của nhiều ngành công nghiệp có liên quan như: kim loại, cơ khí, điện tử, hóa chất, Vì vậy, sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp ô tô được xem là nhân tố tác động tích cực thúc đẩy các ngành có liên quan phát triển, tạo động lực xây dựng nền công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tại Nhật Bản, theo thống kê của Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Nhật (JAMA), công nghiệp ô tô đóng góp trên 20% tổng kim ngạch xuất khẩu, đồng thời các
Trang 10nhà sản xuất ô tô, các doanh nghiệp cung cấp linh phụ kiện cho ô tô cùng với các
đại lý phân phối và dịch vụ khách hàng đã tạo ra gần 2,3 triệu việc làm. Còn ở Mỹ, theo Thống kê của Hội đồng chính sách ô tô Mỹ (AAPC), nền công nghiệp ô tô chiếm hơn 3% tổng sản phẩm quốc nội và tạo ra gần 1,6 triệu việc làm (tính chung cả các nhà sản xuất ô tô, các nhà cung cấp linh phụ kiện cũng như các đại lý dịch vụ)
Chính vì vậy, việc duy trì và từng bước phát triển ngành công nghiệp ô tô có vai trò quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế đất nước, cụ thể:
Tạo tác động lan tỏa trong các ngành công nghiệp, tham gia vào việc thực hiện thành công quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Kể từ khi thực hiện chính sách đổi mới đến nay, Việt Nam đã luôn duy trì được
sự tăng trưởng GDP khá ấn tượng, khoảng 6-7%/năm Công nghiệp đã thực sự trở thành động lực phát triển kinh tế - xã hội cả nước
Một trong số các yếu tố chính của sự thành công đó là đã thu hút đầu tư nước ngoài FDI hoặc cơ hội kinh doanh gia công, tập trung ở các ngành đòi hỏi nhiều lao động, như dệt may, da giày do giá nhân công rẻ Tuy nhiên hiện nay và trong tương lai, lợi thế cạnh tranh do giá lao động rẻ đang giảm dần Nếu không
có kế hoạch chuẩn bị cho giai đoạn tăng trưởng tiếp theo, rất có khả năng sẽ rơi vào bẫy thu nhập trung bình
Vì vậy, Việt Nam cần phải cải thiện năng lực cạnh tranh quốc gia về chất, thông qua việc tăng hàm lượng công nghệ và chất xám trong sản phẩm, nâng cao hàm lượng lao động có tay nghề, tăng nội địa hóa ở các ngành công nghiệp, sử dụng
có hiệu quả nguồn lao động, phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ
Kinh nghiệm của các nước đi trước cho thấy tác động lan tỏa của ngành công nghiệp ô tô đối với các ngành công nghiệp hỗ trợ là rất lớn Ví dụ tại Thái Lan, riêng 16 nhà sản xuất ô tô đã kéo theo sự phát triển và tạo công ăn việc làm cho hơn 2.000 doanh nghiệp hỗ trợ ở nhiều ngành nghề và công đoạn chế tạo khác nhau
Số các doanh nghiệp ở Nhật Bản hỗ trợ cho việc lắp ráp ô tô vào khoảng 30.000
Có thể nói, ngành công nghiệp ô tô là ngành dẫn dắt sự phát triển của các ngành
Trang 11công nghiệp hỗ trợ và vì vậy, cũng là ngành có ảnh hưởng lớn đến phát triển
công nghiệp và của nền kinh tế nói chung ở mọi quốc gia.
Đáp ứng nhu cầu bùng nổ sử dụng ô tô trong giai đoạn phổ cập xe hơi
Sản phẩm ô tô sẽ ngày càng thông dụng và trở thành nhu cầu không thể thiếu của người dân Một quốc gia được coi là bước vào giai đoạn "motorization" (ô tô hóa) khi trung bình có trên 50 ô tô/1.000 dân Hiểu theo nghĩa rộng, motorization
là quá trình ô tô trở nên phổ biến và trở thành phương tiện thiết yếu của người dân khi thu nhập được nâng cao Hiểu theo nghĩa hẹp, đó là thời kỳ bùng nổ nhu cầu sở hữu và sử dụng dòng xe du lịch dưới 9 chỗ
Đây cũng là xu hướng của hầu hết các nước trên thế giới
Nền kinh tế Việt Nam đang ở giai đoạn trước của motorization Cùng với sự phát triển kinh tế, thu nhập bình quân đầu người sẽ ngày càng gia tăng; hạ tầng giao thông ngày một phát triển và đô thị hóa diễn ra nhanh chóng Có thể khẳng định rằng, giai đoạn motorization chắc chắn sẽ xảy ra tại Việt Nam trong giai đoạn bắt đầu trong khoảng từ năm 2020 đến năm 2025, khi trung bình có trên 50 xe/1.000 dân; GDP/người >3.000 USD
Đến năm 2025, quy mô thị trường sẽ đạt mức cao khoảng 800-900 nghìn
xe/năm Dòng xe dưới 9 chỗ sẽ tăng trưởng mạnh, chiếm trên 70% thị trường Dòng xe tải, xe buýt sẽ dần bão hòa, thị phần sẽ giảm dần
Hạn chế thâm hụt thương mại
Với dự báo nhu cầu ô tô của nước ta năm 2025 theo phương án trung bình
khoảng 800-900 nghìn xe và năm 2030 khoảng 1,5-1,8 triệu xe, có thể đưa ra 3 tình huống để mô phỏng và tính toán tác động của ngành công nghiệp ô tô đến cán cân thương mại quốc gia:
(i) Không có sản xuất xe con trong nước, toàn bộ thị trường xe con là xe nhập khẩu; xe khách và xe tải nhập khẩu 50%, 50% sản xuất trong nước với tỷ lệ nội địa hoá 50%, thì kim ngạch nhập khẩu năm 2025 khoảng 12 tỷ USD và năm
2030 là 21 tỷ USD
(ii) 50% thị phần là xe sản xuất trong nước, tỉ lệ nội địa hóa trung bình xe con đạt 40%, xe khác là 50% thì kim ngạch nhập khẩu năm 2025 khoảng 9 tỷ USD
và năm 2030 là 17 tỷ USD
Trang 12(iii) 80% thị phần là xe sản xuất trong nước, với tỉ lệ nội địa hóa trung bình xe con đạt 70%, xe khác là 80% thì kim ngạch nhập khẩu năm 2025 khoảng 5 tỷ USD và năm 2030 là 9 tỷ USD
Để được hưởng lợi từ xu thế motorization tất yếu nói trên, Việt Nam cần phải nâng cao thị phần của xe sản xuất trong nước với tỉ lệ nội địa hóa cao Hay nói một cách khác, nếu không có ngành công nghiệp ô tô trong nước thì về lâu dài, Nhà nước cần giải bài toán cân bằng ngoại tệ để đảm bảo lượng ngoại tệ khá lớn
để nhập khẩu ô tô và phụ tùng thay thế trong tương lai
Góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội, chuyển giao công nghệ, củng cố an ninh, quốc phòng
Đóng góp của công nghiệp ô tô cho sự phát triển của cả ngành công nghiệp, cho nền kinh tế và xã hội là những thực tế hiển nhiên được thừa nhận ở hầu hết các quốc gia có công nghiệp ô tô phát triển Cùng với sự phát triển của ngành công nghiệp ô tô là cơ hội thu hút nguồn vốn, kỹ thuật và công nghệ sản xuất tiên tiến cũng như kinh nghiệm kinh doanh và quản lý hiện đại của các quốc gia công nghiệp phát triển, cơ hội việc làm cho hàng trăm nghìn lao động với trình độ tay nghề cao, ý thức chấp hành kỷ luật lao động công nghiệp tốt
Tại Việt Nam, tuy công nghiệp ô tô mới đang ở giai đoạn đầu, nhưng cũng đã có những đóng góp có ý nghĩa cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Cụ thể, công nghiệp sản xuất ô tô Việt Nam đã đóng góp cho ngân sách thông qua các loại thuế hàng tỷ USD và tạo việc làm cho hàng trăm ngàn lao động trực tiếp Qua đó, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, yếu tố vô cùng quan trọng đối với Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đó là chưa
kể các đóng góp về thuế và việc làm do hệ thống đại lý và các nhà cung cấp của các doanh nghiệp sản xuất trong ngành mang lại
Việc duy trì sản xuất ô tô thành công tại Việt Nam cũng tiếp tục duy trì cơ hội cho việc chuyển giao dần dần các công nghệ đa dạng, liên quan đến công nghiệp
ô tô (công nghệ chế tạo cơ khí, công nghệ tin học tự động hóa, công nghệ vật liệu, kỹ năng quản lý và tối ưu hóa sản xuất, v.v )
Mặt khác, nhu cầu đóng mới, sửa chữa các phương tiện phục vụ cho an ninh, quốc phòng với số lượng khá lớn và đòi hỏi công nghệ, kỹ thuật ngày càng cao,