1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

So 1_06_Phan Hoa Ly

8 5 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 4,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

E �3\SCAN TCHI 2014€6\So 1 06 pdf

Trang 1

36

NGHE DANH BAT

VA CHE BIEN

HAI SAN

6 QUANG LANG

PHAN THI HOA LY”?

| VAL NET VE QUANG LANG

Quang Lang’? la mét làng bién, nay

thuộc xã Thuy Hải, huyện Thái Thuy, tinh

Thái Bình Xã Thuy Hải chạy dài 3km dọc

theo bờ biển Đông, cách thị xã Thái Bình

35km, dọc theo quốc lộ 217

Trong lịch sử hình thành làng xã Thái

Bình, Quang Lang được xem là một làng

Việt cổ, hình thành tương đối sớm (ít nhất

la tiv thé ki IX, sau CN)”

Buổi đầu làng có tên là làng Góp, sau

thuộc trang Quang Lang (thời Trần) Thời

Lê là một trong 629 làng xã của huyện Thuy

Anh, phủ Thái Bình, trấn Sơn Nam, thời

Nguyễn thuộc tổng Hổ Đội với ba thôn:

thôn Đông, thôn Đoài và thôn Tam Đồng về

sau có thêm một thôn nữa là Tân Sơn do

dân đánh cá ở Đồ Sơn, Hải Phòng di cư về

lập thành Trong suốt thời kì kháng chiến

chống Pháp, Mĩ, Thuy Hải gồm bảy thôn

hợp thành trong đó có Quang Lang Năm

1969, Thuy Anh sáp nhập với Thái Ninh,

thành huyện mới là Thái Thuy, xã Thuy

Hải chỉ còn hai thôn: Quang Lang và Tam

Đồng Sau đó thôn Tân Sơn được cắt về thị

trấn Diêm Điền và từ năm 2002, thôn

Quang Lang được chia thành Quang Lang

Đông va Quang Lang Doai

(*) Vién Nghién ctiu van hoa

PHAN THI HOA LY

Quang Lang là một làng biển thuần chất, không hề dính dáng đến bất cứ một nghề sản xuất nông nghiệp nào Người dân

ở đây sống bằng nghề truyền thống là đánh

cá, chế biến thuỷ sản, thu nhập bình quân

đầu người đạt 350.000d/1người/1tháng,

thuộc mức cao ở Thái Bình Kinh tế Quang

Lang phát triển mạnh mẽ

Lao động ở đây có sự phân công khá rõ: đàn ông thì đi biển; phụ nữ, người già và

trẻ em thì ở nhà nội trợ, chế biến, tiêu thụ hải sản Trước kia, Quang Lang cũng có làm muối nhưng hiện nay diện tích đồng muối và đầm hồ nuôi trồng thuỷ sản không đáng kể Nếu như Quang Lang chủ yếu là đánh bắt và chế biến hải sản thì Tam Đồng lại chủ yếu là làm muối và nuôi trồng thuỷ

sản

Tính cách người Quang Lang là “tính cách biển”: năng động, mạnh mẽ, phóng

khoáng và thẳng thắn, hồn hậu, đặc biệt là tình đoàn kết, đồng cam cộng khổ (có lẽ

được hình thành từ việc đi biển theo đoàn

và cùng nhau chống chọi với những thách

thức của biển cả chăng?)

So với các làng quê khác ở Thái Bình, Quang Lang có số dân khá đông (3262

nhân khẩu của 861 hộ gia đình - số liệu điều tra năm 2001) Có vị trí giáp biển,

giáp thị, thuận tiện cho việc giao lưu kinh

tế, văn hoá, lại sống bằng việc bán các sản

phẩm ngư nghiệp, diêm nghiệp nên nhịp

điệu đô thị hoá ở đây khá nhanh Làng

giống như một thị trấn, hai bên đường dì

nhà cửa san sát và rất nhiều hàng quán

Từ quán nước, quán ăn, quán bán hàng

khô, các nhu yếu phẩm cho sinh hoạt hàng ngày đến các hiệu may mặc, hiệu sửa chữa

đồ điện đều có cả Người dân không ăn

sáng ở nhà Đồ ăn sáng khá phong phú với

đủ các loại ngô, khoai luộc, các loại bánh,

xôi đến mì, phở, bún Thậm chí, bữa ăn

chính cũng có nhiều người không nấu ăn

Trang 2

Nghiên cứu trao đổi

mà đi ăn ở quán cơm bụi hay chỉ nấu cơm

còn thức ăn sẵn thì mua từ quán về Do

giáp biển nên nguồn nước mạch ở đây bị

nhiễm mặn Mấy năm lại đây, Quang Lang

đã có nước máy của nhà máy nước cung cấp

cho sinh hoạt hằng ngày

Tôn giáo, tín ngưỡng ở Quang Lang

khá thuần nhất Người dân thờ cúng tổ tiên

và thờ các vị tổ nghề gắn với nghề nghiệp

sinh tồn của họ Họ có một cuộc sống tỉnh

thần sôi động với nhiều lễ hội phong phú,

hấp dẫn Dường như họ là những người

thích hội hè, đình đám và hát ca, đặc biệt

là hát đò đưa Hằng năm Quang Lang có 4

kì hội truyền thống lón được tổ chức long

trọng Đó là hội Rước nước cầu vang (rước

nước cầu trời yên bể lặng) vào ngày 25/1

âm lịch, hội V@¿ râu ba đình vào ngày 12/3

âm lịch với tục giết trâu tế thành hoàng,

hoi Ong Ding ba Da (tt 19 đến 14/4 âm

lịch) gắn với tục thờ bà chúa nghề muối có

tên là Nguyễn Thị Nguyệt Ảnh và hội Rước

nước reo ống (từ ngày 10 đến 12 tháng bảy

hội điệu đấm,

hấp dẫn không chỉ với Thái Bình mà còn

âm lịch)” Đây là những lễ

đối với cä nước ta

ll NGHỀ ĐÁNH BẮT VÀ CHẾ BIẾN HẢI SẢN

Ở QUANG LANG

Nghề cá là sinh nghiệp của dân Quang

Lang từ thuở khai cơ lập làng Ngày nay,

người ta vân kể cho nhau nghe truyền

thuyết về ông tổ của nghề cá Chuyện kể

rằng, ông tổ có tên là Nguyễn Hữu Thắng,

sinh năm Kỉ Sửu (929), mất ngày 1/12 năm

Ất Sửu (1005), là người quê ở Sơn Tây Ông

sinh ra trong một gia đình Nho giáo, bố

làm nghề địa lí và bốc thuốc còn mẹ thì

chăn tằm, dệt vải Nguyễn Hữu Thắng là

người con duy nhất nên được học hành cẩn

thận, văn hay võ giỏi Khi ông 17 tuổi thì

mẹ mất, vài năm sau thì cha qua đời Làm

tròn chữ hiếu xong, ông xin theo học nghề

37

một người đánh cá trong làng Một lần, đi

qua vùng đất này, thấy phong cảnh hữu

tình ông bèn dừng thuyền Đêm đó, trong giấc mơ, ông thấy có một vị thần linh đến mách rằng nếu ông đưa gia đình đến đây

dựng trại, lập làng thì sẽ được phù hộ, dòng

đõi đề đa, phúc lộc Tỉnh dậy, ngắm bãi đất

thấy có thế "lưỡng long triều nguyệt" ông

bèn làm theo lời thần, về quê đón vợ con

cùng một số người thân, xóm làng tới đây

sinh sống Ông dạy dân đan lưới, đóng thuyền và đánh cá Họ lấy bột của cây báng

(có tên Hán Việt là guang lang, một loại cây thuộc họ dừa nước, trong thân có bột như bột đao) làm lương thực Dần dần, dân sinh sôi, nảy nở, làng xóm được hình thành Cái tên trang Quang Lang cũng ra đời từ

đó Ngày nay, ở từ đường của dòng họ

Nguyễn Hữu vẫn còn đôi câu đối ca ngợi công lao của vị tổ nghề như sau:

Mở đất, khai trang, xây nhất miếu Đóng thuyền, truyền nghiệp, dựng

tam thôn

1 Nghề đánh bắt

Thuở ban đầu, ngư dân Quang Lang

đánh bắt hải sản bằng những phương pháp

thủ công, rất thô sơ Đó là cách dùng tay để

bắt cua, mò ngao, mò hến ở gần bờ Dần dần, họ biết làm những chiếc cào để cào

don, dùng đèn để soi cua hay đi lưới, đi te,

đi kheo Thân kheo là một đoạn tre tròn, độ dài tuỳ ý, đường kính chừng 3 - 5cm Bàn

kheo là một miếng gỗ phẳng, kích thước

chừng 15x30cm được đóng ở phía dưới thân

kheo để đỡ lấy bàn chân của người đi Độ

cao của bàn kheo này phụ thuộc vào chủ ý của người làm Phần thân kheo có những

vòng dây hoặc vòng khuy bằng kim loại để giữ phần bắp chân và đầu gối người đi gắn với kheo Đầu kia của kheo có gắn nửa vòng

khuy để đỡ phần cùi tay và lui xuống đưới thân kheo một chút có một thanh ngang

làm tay cầm.

Trang 3

38

Lê hội reo ống rước nước ở làng Quang Lang Ảnh: Hoa Lý

Khi đi kheo, người ta luồn chân vào

bàn kheo, kéo vòng dây hoặc khuy buộc vào

bắp chân rồi đứng lên mà đi Kheo càng cao

thì đi càng khó Người đi phải bám vào

tường hoặc cây mới đứng lên được Dùng

kheo, ngư dân có thể đánh bắt xa bờ chừng

60m Dụng cụ này giúp cho việc đi lại trong

nước trở lên dễ dàng Là ngư cụ cá nhân

nên nó rất thích hợp với việc đánh bắt

riêng lẻ của các hộ gia đình Thêm nữa,

kheo lại đơn giản, không tốn kém, ngư dân

có thể tự làm được Tuy nhiên, năng suất

đánh bắt mà nó đem lại không cao, không

bắt được các loại cá lớn, có giá trị, ở khơi xa

Loại hình đánh bắt này có từ rất xa xưa và

tồn tại ở Quang Lang đến khoảng đầu thế

kỉ XX

Bên cạnh đó, họ còn dùng ống luồng và

sào tre để ra biển đánh cá Đây là một

phương thức đánh bắt cổ truyền rất độc

đáo Có sách viết là đi gieo với sự cắt nghĩa

rằng gieo là thả chiếc ống từ trên cao xuống

(thả từ thuyền xuống mặt biển) Tuy nhiên,

nhiều ngư dân ở đây cho biết reo là reo hò,

tạo tiếng động để xua cá vào khu vực thả

lưới Bởi thế mà khi dùng phàng (xuồng) để

thay cho ống bắt cá người ta cũng gọi là reo

phùng

PHAN THỊ HOA LÝ

Reo cũng là tên để gọi

một đội (hay một tổ, nhóm)

người cùng tham gia đánh bắt Thường thì một người khá giả bỏ vốn liếng ra mua

sắm thuyền, lưới, ống và

thuê người đi đánh bắt cho

mình Người chủ đó được gọi

là reo chú hoặc chủ reo, nhóm người đó được gọi là một reo Thường thì giữa reo

chủ với những người làm thuê có quan hệ huyết tộc

hoặc láng giềng, có thể làm

ăn với nhau truyền từ đời nọ

sang đời kia Chủ reo được hưởng 1/3 sản

phẩm, 2/3 còn lại được chia đều cho những

người làm thuê, riêng người chỉ huy được

phần nhiều hơn vì đây là người phát hiện luồng cá và chỉ huy đánh bắt giống như

một vị tướng vậy

Ống là một đoạn cây luồng lớn (ngư dân gọi là luồng gộc) được chọn mua từ các

cánh rừng già ở tận Hà Giang, Tuyên Quang và được phơi khô trước khi đem sử dụng Ông có chiều dài chừng 6 - 8m,

đường kính thân ống chừng 17 - 20em

Người lái ngồi ở vị trí 1/3 thân ống (theo

chiều dài ống kể từ phần gốc), hai chân duõi, chân này vắt lên trên chân kia và giữ

lấy ống Cũng có khi họ thả hai chân trong

nước, quặp lấy ống Hai tay ngư dân cầm cây sào, tay phải úp, cầm ở vị trí cách phần gốc của sào chừng 40em, tay trái cầm ngửa

ào là một cây tre dài chừng 10m, đường

kính phần gốc chừng 4cm, phần ngọn nhỏ

dần Chiếc sào này vừa làm nhiệm vụ của

mái chèo vừa làm chiếc mõ Mỗi ống chỉ

một người ngồi và phải ngồi sẵn, cầm sào

để cho người khác thả chiếc ống đó từ

thuyền xuống biển Người ngồi ống dùng

cây sào lái ống đi theo hướng được chỉ dẫn

đồng thời dùng ngọn sào vụt mạnh vào mặt

Trang 4

Nghiên cứu trao đổi

nước vừa vụt vừa reo hò để cá sợ mà chạy

vào vùng lưới vây

Mỗi reo gồm 32 người, chia đều trên

hai thuyền Một thuyền chổ lưới còn

thuyền kia chở ống và các ngư cụ khác

Người chỉ huy thường ngồi ở thuyền lưới,

vừa di vita cham chú quan sát mặt biển để

tìm luồng cá Khi phát hiện ra luồng cá ông

dùng cờ ra hiệu thả ống 12 người ngồi trên

12 chiếc ống được chia làm hai tuyến tiến

theo hình chữ V từ thuyền ống Ống ở gần

thuyền nhất được gọi là uè nhất và theo thứ

tự đó là các vè nhì, vè ba, vè tư, về năm, vè

sáu Vè sáu là về ở xa thuyền nhất, xuống

trước nhất mà lại về sau cùng

Mỗi thuyền có 16 người Ở thuyền ống

12 người xuống ống, thuyền lưới thì 12

người kéo lưới Mỗi thuyền còn lại 4 người

trong đó một người chỉ huy, còn lại là lái

chính, lái phụ và người phụ các việc khác

như nấu ăn, thu cá,

Hai vè ống tiến theo hiệu lệnh của chỉ

huy từ hình chữ V chuyển dần sang hình

cánh cung rồi thu hẹp dần phạm vi Lúc

này người chỉ huy ra hiệu lệnh thả lưới

Ngay lập tức thuyền lưới chuyển 1/2 số lưới

sang thuyền ống rồi hai thuyền cùng

nhanh chóng thả lưới bủa vây theo hình

cánh cung, cụm vào với hai về ống thành

hình tròn Lúc này người ngồi ống phải đập

nước thật mạnh đồng thời reo hò thật to,

làm kinh động cả vùng để đuổi cá Lưới

khép dan lai thành vòng tròn Khi vòng

tròn lưới gần khép kín thì các ống được

lệnh rút lên thuyền ống Chỉ huy ra lệnh

kéo dò thật nhanh để thu cá Dò là đường

biên lưới ở trong lòng nước, được buộc chì

để kéo lưới chìm Cá và lưới được thu về

thuyền, kết thúc một mẻ reo Nếu cá chưa

đầy thuyền thì đội reo tiếp tục đánh thêm

những mẻ lưới khác Có khi gặp được luồng

39

cá thì chỉ một mẻ lưới là đầy 4p cả thuyền

cá, thậm chí phải thả bớt kẻo cá làm rách lưới mà thuyền thì không thể chở hết, nhưng cũng có khi đánh suốt cả ngày mà

chẳng được là bao

Đi reo thường người ta đi từ 4, 5h sáng Chủ reo thường thuê một cậu bé chừng 13

tuổi làm nhiệm vụ đến từng nhà có người

tham gia đội reo, đánh thức họ dậy để họ chuẩn bị Khoảng 1h sau cậu bé này lại đi

một vòng nữa để gọi họ xuống thuyền

Công việc này có tên là gọi bạn Đội reo thường chỉ đi trong một ngày và đánh bắt cách bờ chừng 10 km

Với reo phàng người ta dùng phàng

(xuồng hay thuyền nhỏ) thay cho ống Cách

thức đánh bắt cũng giống hệt như reo ống

Tất nhiên, từ reo ống đến reo phàng là một bước tiến bộ bởi xuồng không còn là một ngư cụ thô sơ nữa mà là sản phẩm của khoa học kĩ thuật hiện đại rồi

Hình ảnh chiếc ống đánh cá của ngư

dân Quang Lang không thể không khiến cho chúng tôi liên tưởng tới chiếc thuyền độc

mộc của người Việt cổ, tới thuở xa xưa, khi

họ tràn xuống đồng bằng sinh sống phải dùng đoạn luồng, khúc gỗ và cả thân cây chuối để vượt sông, suối Phải chăng, việc sáng tạo ra chiếc ống có sự kế thừa từ những sáng tạo trên và cải biến cho phù hợp với

việc đánh bắt cá trên biển Và như thế một

câu hỏi được đặt ra là: người Việt cổ với cư dân Quang Lang hiện nay có mối liên hệ như thế nào? Cội nguồn ấy được bảo lưu và

biến đổi như thế nào qua thời gian?

Phương thức reo ống tồn tại ở Quang

Lang cho đến tận những năm 50 - 60 của thế kỉ XX Xưa cả làng có chừng 7 - 8 đội reo Khi hình thức reo phàng xuất hiện cũng là lúc ra đời hợp tác xã Cho đến khoảng những năm 80 - 90 thì hình thức

Trang 5

40 PHAN THỊ HOA LÝ reo phàng này cũng không còn tồn tại nữa

Vết dấu của nghề reo ống được bảo lưu

trong lễ hội rước nước reo ống hằng năm

của làng Trong lễ hội ấy, người ta tổ chức

đi thuyền ra biển rước nước và diễn trò reo

ống để nhớ lại một phương pháp đánh bắt

cá dân gian cổ xưa Còn dấu vết của từ reo

được bảo lưu trong lời khấn cầu xin bà

chúa Muối phù hộ: “Chúng con lạy chúa,

chúng con đói lắm, reo con đói lắm, lạy

chúa phù hộ cho chúng con được cơm no áo

ấm"

Hiện nay, các hợp tác xã đánh bắt cũng

không còn tổn tại nữa Đến giữa năm 2005,

các hợp tác xã này đã bị giải thể và tư nhân

hoá Quang Lang có 10 tàu đánh bắt xa bờ,

công suất từ 320cv đến 350cv, được trang bị

hiện đại Phương tiện đánh bắt trong lộng

và ở tầm trung khoảng 40 chiếc thuyền

máy, công suất 15ev - 80ev Tổng doanh

thu của ngành khai thác năm 2005 đạt gần

14 tỉ đồng Con số này phản ánh bước phát

triển đáng kể của ngành khai thác hải sản

ở Quang Lang

2 Nghề chế biến

Ở Quang Lang, chế biến hải sản là nghề đem lại nguồn thu nhập lớn hơn cả

Sản phẩm chế biến gồm mắm tôm khô,

nước mắm, cá khô các lọại Đặc biệt, loại cá

mai, cá cơm phơi khô tẩm gia vị đã trỏ

thành một mặt hàng xuất khẩu nổi tiếng là

thơm ngon Nước mắm ở đây cũng ngon

không kém gì nước mắm Cát Hải (Hải

Phòng) hay Phan Thiết Song nói đến đặc

sản của Quang Lang không thể không kể

đến mắm khô, nước mắm chắt và cá mai

khô xuất khẩu Nguyên liệu chủ yếu là từ

tôm moi Làm mắm khô người ta trộn 10kg

tôm với 1kg muối, ủ trong chum hai ngày,

tới ngày thứ ba, trộn thêm 1kg muối nữa và

ủ đến hôm sau thì đem giã nhuyễn Đổ

mắm giã nhuyễn này ra sàng, mài kĩ để mắm lọt xuống rồi đem phơi khô (khoảng 4

- 5 ngày) Hàng ngày, phơi đến chiều thì đem ủ mắm lại để được mắm có sắc hồng

tươi và đậm hương vị

Nếu làm nước mắm thì người ta trộn theo tỉ lệ 10kg tôm với 2kg muối, đem ủ hai ngày rồi trộn thêm 2kg muối nữa và ủ tiếp

một vài ngày Sau đó lấy mắm ra giã nhuyễn, rồi lọc lấy nước mắm, đem phơi từ

10 đến 12 ngày Thông thường 100kg tôm ủ

thì lọc được 15 - 20 lít nước mắm loại ngon

Trong quá trình phơi, người làm phải vót

váng muối đọng trên mặt nước mắm và đến

chiều thì phải ủ nước mắm trong chum để

lấy hương vị và màu sắc Nước mắm này có màu vàng óng ả và thơm ngon vô cùng

Để làm nước mắm chắt người ta lấy mắm khô ủ kín trong rổ lót vải Mắm tự

hấp hơi nước trong không khí rồi tạo thành nước mắm, chảy xuống chiếc chậu hứng ở

bên dưới Loại mắm này rất ngon, tuy

nhiên tỉ lệ mắm lọc được rất ít và các công đoạn đòi hỏi phải kì công nên giá thành cao

Trước kia, ngư dân Quang Lang chế biến hải sản bằng những công cụ thô sơ Họ nghiền tôm bằng bàn dập, sau đó phát triển hơn nữa là cối xay bằng tay và đến

nay thì họ xay bằng máy Tuy nhiên, người dân vẫn ủ cá, tôm bằng chum, vại, rổ, rá và làm cá khô bằng tay Họ dùng dao mài sắc

để mổ cá, xẻ cá thành từng lát mỏng rồi

đem phơi trên các nong, nia, phên đan

bằng tre, nứa Bởi vậy, có thể nói, chế biến hải sản ở đây vẫn mang đậm tính chất thủ công truyền thống Mặc dù vậy, chế biến hải sản ở đây vẫn là ngành có hiệu quả kinh tế lớn nhất Năm 2001 — 2002, Quang Lang được công nhận là làng nghề chế biến

hải sản Những năm gần đây, Quang Lang

Trang 6

Nghiên cứu trao đổi

xuất khẩu ngày càng nhiều hải sản, đặc

biệt là sản phẩm khô cá mai, sứa, tôm và

rong câu Năm 2001, công tì tư nhân mang

tên Biển Đông đã xây dựng một nhà máy

chế biến bột cá trên địa phận của làng Họ

thu mua cá vụn của Quang Lang đem về

sản xuất bột cá, bán ra thị trường, phục vụ

chăn nuôi Năm 2005, ngành chế biến hải

sản ở Quang Lang đạt giá trị thực lãi là 9,5

tỉ đồng

Chế biến hải sản ở Quang Lang mặc dù

vẫn mang đậm tính chất của một ngành

nghề thủ công truyền thống song nó lại

đang phát triển mạnh mẽ và ngày càng

chiếm lĩnh được thị trường không chỉ ở

trong nước mà còn ra cả nước ngoài

Ill NHỮNG KIÊNG KỊ VÀ LỄ HỘI CỦA NGHỀ

ĐI BIỂN Ở QUANG LANG

Ngư dân nơi đây có những kiêng kị

riêng của họ Trước mỗi chuyến đi, chủ

thuyền bao giờ cũng biện lễ cúng ở nhà và

lễ ở miếu Ba Thôn, cầu cúng cho chuyến di

được thuận buồm xuôi gió và đánh bắt được

nhiều cá tôm Khi thuyền cập bến, dù cá

được nhiều hay ít thì việc đầu tiên là họ

chọn con cá to nhất, ngon nhất, rửa sạch

sẽ, đem về miếu Ba Thôn cúng thành

hoàng làng Có khi được cá to phải mấy

người xúm vào khiêng Xưa kia, cá cúng

xong được dùng để biếu các chức sắc trong

làng và người thủ từ

Khi đi từ nhà đến bến để ra khơi, họ

kiêng gặp phụ nữ, kiêng phụ nữ xuống

thuyền Đặc biệt, khi người vợ sinh con thì

người chồng kiêng không đi biển một tuần

Nhưng nếu đang đi biển, được tin vợ để mà

không về nhà mình thì anh ta có thể di

đánh cá như thường lệ mà không phải

kiêng kị gì cả Khi vợ sinh được một tuần

rồi thì anh được phép về nhà và vẫn di

đánh cá như thường Nếu gặp phụ nữ và

41

chuyến đi biển thu được ít cá thì chủ thuyền thường đánh vía (hay còn gọi là

đánh phong long) Đánh vía được làm như

sau:

Chủ thuyền đem lưới ra bãi biển, trải thành đống rồi cắt lá dứa dại rắc xung quanh đám lưới đó Họ dùng dầu hoả tẩm

vào đẻ, đốt lên và đi xung quanh đám lưới, tay huơ lửa, miệng đọc những câu thần chú

để xua duổi vía xấu Người ta còn sắm lễ

đến miếu Ba Thôn để cầu cúng, mong sao

những chuyến đi sau sẽ đánh bắt được nhiều cá

Hằng năm, ngư dân Quang Lang có hai

kì lễ hội liên quan đến nghề cá Đó là hội

rước nước cầu uạng vào 25 tháng 1 âm lịch

và hội Rước nước reo ống vào ngày 13 tháng

7 âm lịch để kỉ niệm ngày hoá của Thành hoàng Xưa, hội rước nước cầu vạng diễn ra

ở đền Các Lái, nơi thờ ba vị: Đông Hải đại vương, Tây Hải đại vương và Nam Hải đại vương mà dân làng gọi là ba vị đức vua hay

ba vị đức ông Đền Các Lái, lúc đầu, nằm bên bờ biển ở phía đông của làng, sau do bão gió làm hư hại, đền được chuyển về bờ biển phía tây của làng Đến năm 1964, đền này lại bị đổ nát, nhân dân bèn chuyển về thờ tạm ở một gian trong chùa Hưng Quốc,

sau đó lại chuyển ra miếu Hiện nay nghỉ lễ

này được tổ chức tại miếu Ba Thôn, nơi thờ

Thành hoàng làng

Trong lễ hội này “các lái” (tức các chủ thuyền) mua lễ vật dâng cúng các vị thần,

cầu xin trời yên bể lặng, đánh bắt được

nhiều cá tôm Họ tổ chức thành một đoàn

thuyền rước bình nước thờ của năm cũ ra biển làm lễ tống cựu, sau đó ra xa hơn làm

lễ tế rồi múc nước mới vào bình, rước về đặt

trước ban thờ ba vị đức vua với tâm niệm

“rước nước năm trước, hưởng lộc năm sau”

(Xem tiếp trang ð1)

Trang 7

42

VỀ THỜI ĐIỂM XUẤT

HIEN VAN BAN TAY HO

CH/VA THAN CAU NHI

TRONG 79V HỒ CHÍ

DINH KHAC THUAN”

ye dé dén Than Cau Nhi 6 Hé Tây và

văn ban Téy Ho chi (THC) da có nhiều

bài viết và có không ít ý kiến trái ngược

nhau, thậm chí vượt qua khuôn khổ khoa

học thuần tuý Nhiều người đã né tránh vì

nhiều nhẽ, biết là vậy, song tôi không thể

không nhận lời viết bài này Thực tế, vấn

dé dén Than Cau Nhi không phải là việc

khó, song không dễ gì lí giải Bởi vậy, ở đây

tôi chỉ tiếp cận từ một khía cạnh nhỏ là

thời điểm xuất hiện văn bản THC và vấn

dé Than Cau Nhi trong THC

1 Tại kho sách Hán Nôm có 2 van ban

THC, ki hiéu A 3192/1 va A 3192/2 Ban

A 3192/2 la ban chép lai tt? ban A.3192/1

Ngoài ra sách này còn được Học viện Viễn

đông bác cổ Pháp (EFEO) cho lam Micro-

film, lưu trữ tại Việt Nam và Pháp với kí

hiéu MF.930 va Paris EFEO, MF.2/2/329

Chúng tôi khảo sát chủ yếu ở đây là ban có

kí hiệu A 3192/1 tại Viện Nghiên cứu Hán

Nom

Sách THC bản A.3192/1 được viết trên

giấy dó, khổ 26 x 16cm, gồm 130 trang,

không để tên tác giả, không có niên đại

biên soạn và xuất xứ sách, cũng không có

bài tựa, không có người hiệu chỉnh như

thường thấy ở những sách địa chí khác

Ngoài phần giới thiệu chung về sự tích Tây

TS Viện Nghiên cứu Hán Nôm

BINH KHAC THUAN

Hồ ngay dưới mục in chữ lớn THC ở trang đầu tiên, sách chia thành các mục như

Hình thế, Sơn xuyên, Cổ tích tập, Từ viện

tập, Đệ trạch, Sản vật, Nhân vật, Tiên

Thích tập, Văn chương Văn chương là

mục cuối cùng của tập sách, chỉ có 2 trang

và dường như đây chưa phải là phần kết của tập sách Như vậy, tên sách là THC, song không phải chỉ khảo riêng về Tây Hồ

mà là khảo chung về Thăng Long

Dù không ghi niên đại biên soạn, song

trong sách có chép đến một số nhân vật và

sự kiện xảy ra trong niên hiệu Minh Mệnh,

Tự Đức, tiêu biểu là sự kiện Kinh lược sứ Nguyễn Đăng Giai cho dựng Lãng Linh

viện thờ Quan phu tử vào năm Tự Đức thứ

6 (1858) (tờ 40a) Điều đó cho phép bước

đầu xác định niên đại biên soạn sách này

là không thể xuất hiện trước năm 1853

được, nên hoàn toàn không phải là cuối Lê đầu Nguyễn như một số bài viết đã ước đoán Xem xét kĩ nội dung văn bản, thấy

nhiều đoạn trong sách đã tham khảo và sử dụng tư liệu của một số sách địa chí khác, trong đó có Bắc thành địa dự chí lược (BTĐDCL) và Hoàng Việt địa dư chí

(HVĐDO) Đặc biệt là phần khảo về Hồ Tây, THC chép giống hệt trong HVĐDC, hơn thế nữa ở cuối đoạn văn này của THC

ghi rõ là theo HVĐDC, dù mấy chữ này đã

bị tác giả xoá đi Chúng ta hãy đọc một

đoạn ngắn sau:

Sách HVĐDC chép: “Nhất danh Lãng

Bạc (Hán thời danh), nhất danh Dâm Đàm

(Trần thời danh), tại Hoài Đức phủ Vĩnh

Thuận huyện, tây tiếp Sơn Tây Từ Liêm huyện giới, Nhị Hà bão kì bắc, Tô Lịch

nhiễu kì nam ” THC chép: “Hán thời (thì)

nhất danh Lãng Bạc, Trần thời (thì) nhất danh Dâm Đàm, tại Hoài Đức phủ Vĩnh

Thuận huyện, tây tiếp Sơn Tây Từ Liêm

huyện giới, Nhị Hà bão kì bắc, Tô Lich nhiễu kì nam ” Sau đoạn này, cả hai tập

sách đều chép đến sự tích cáo chín đuôi

Trang 8

Nghiên cứu trao đổi

người tự nhận thức Họ hay suy nghĩ, hay

tự nhìn lại chính mình để phán xét, sám

hối nhằm tự hoàn thiện mình trong cuộc

sống Tiêu biểu là các nhân vật trong tác

phẩm Cát đợi, Người đàn bè có ma lực,

Biển ấm (Nguyễn Thị Thu Huệ); Người đàn

bà uà những giấc mơ, Sau chớp là bão

giống (Ÿ Ban) Các nhân vật nữ ở đây đều

đã từng trải nghiệm qua những nỗi đau -

eó khi là nỗi đau do chiến tranh để lại, có

khi do gặp bị kịch trong tình yêu hoặc

trong hôn nhân v.v

Phác thảo tương đối có hệ thống chủ đề

phụ nữ trong lịch sử văn học Việt Nam (từ

văn học dân gian đến văn học hiện đại), dễ

dàng nhận thấy văn học ngày nay vẫn kế

thừa được những quan niệm tiến bộ của

cha ông ta về người phụ nữ Từ xưa đến

nay tuy người phụ nữ phần lớn đều phải

gánh chịu những nỗi đau khôn cùng, sự hi

sinh, mất mát lớn lao, nhưng dù trong

hoàn cảnh nào tâm hồn họ vẫn ánh lên vẻ

đẹp dịu dàng và nhân hậu, vị tha và bao

“than”

“thương” khôn cùng Văn học ngày nay tuy

viết về những khủng hoảng tỉnh thần (do

sự chi phối của hoàn cảnh mới), những mặt

trái của cơ chế thị trường, những bi kịch

tình yêu, sự rạn nứt gia đình truyền

thống nhưng trong sự “phải chịu đựng

ấy”, người phụ nữ hiện đại vẫn luôn bộc lộ

những vẻ đẹp mới: muốn tự khẳng định

mình, thể hiện mình và đám sống thực với

mình Cuối cùng có thể khẳng định thế giới

nội tâm phong phú và sự bí ấn của người

phụ nữ bao giờ cũng là một đề tài hấp dẫn

đối với văn học ở mọi thời đại - và như vậy

hi vọng bạn đọc hôm nay sẽ luôn luôn tim

thấy giá trị nhân đạo và nhân văn - một

nội dung cơ bản cấu thành đặc điểm từ văn

học dân gian đến văn học viết Việt Nam

hiện đại

T.N.D

NGHỀ ĐÁNH BẮT VÀ

(Tiếp theo trang 41)

Tháng 7, Quang Lang có hội ước nước reo ống Trong hội này, người ta chủ yếu tổ

chức tế lễ, nghi thức rước nước cũng giống như lễ rước trong hội tháng Giêng Hội có

các trò chơi như đánh cờ, chọi gà, tổ tôm

diém, Tu nam 1998 đến nay, khi ra biển rước nước, người ta tổ chức diễn trò reo ống

đánh cá Tuy nhiên, diễn trò này cũng cần nhiều chi phí để trang bị nên năm nào có điều kiện thì làng mới tổ chức

Quang Lang là một làng biển đặc sắc

với hai nghề chủ yếu là đánh bắt và chế biến hải sản Đến nay, hai nghề này đã có

sự phát triển mạnh mẽ, một số phương

thức sản xuất thô sơ, cổ xưa đã được thay

thế bởi các phương thức sản xuất mới, hiện đại Tuy nhiên, những kiêng kị, tục lệ và lễ hội của nghề cá thì ngày càng được thực hành một cách đầy đủ hơn, chu đáo hơn

Nghề cá nơi đây lại có cội nguồn hình

thành riêng, gắn chặt với con người và lịch

sử hình thành của làng Bởi vậy, có thể nói, Quang Lang là một làng biển cổ truyền và độc đáo

P.T.H.L

(1) Xem bài “Lễ hội Bà chúa Muối” đăng trên Tạp chí Nguồn sáng dân gian, số 3 năm

2004

(2) Phạm Minh Đức, Phạm Thị Nết, Phạm

Thị Lan, Hội lễ dân gian ở Thái Bình, Số Văn

hoá thông tin Thái Bình xuất bản, 1991, tr.90

(3) Theo Báo cáo sưu tầm: “Hội làng Quang Lang với tục múa ông Đùng bà Đà và tục rước

nước gieo ống trên biến” của Sở Văn hoá thông tin tỉnh Thái Bình, 1999

Ngày đăng: 30/04/2022, 01:33

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm