T¹p chÝ y d−îc häc qu©n sù sè 2 2017 24 HIỂU BIẾT, THÁI ĐỘ VÀ MỨC TIÊU THỤ NƯỚC NGỌT CÓ GA KHÔNG CỒN Ở HỌC SINH HAI TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TẠI HÀ NỘI NĂM 2015 Nguyễn Thanh Hà*; Lê Thị Thu Hà*; Hà[.]
Trang 1HIỂU BIẾT, THÁI ĐỘ VÀ MỨC TIÊU THỤ NƯỚC NGỌT CÓ GA KHÔNG CỒN Ở HỌC SINH HAI TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
TẠI HÀ NỘI NĂM 2015
Nguyễn Thanh Hà*; Lê Thị Thu Hà*; Hà Anh Đức**
TÓM TẮT
Mục tiêu: mô tả hiểu biết, thái độ và tần suất, lượng tiêu thụ nước ngọt có ga không cồn (NNCGKC) tại hai trường phổ thong trung học (PTTH) tại Hà Nội năm 2015 Phương pháp:
nghiên cứu mô tả cắt ngang và điều tra tần suất bán định lượng tiêu thụ thực phẩm trên 620 học sinh ở 2 trường THPT Hà Nội năm 2015 (1 trường ở khu vực nội thành và một trường khu
vực ngoại thành) Kết quả và kết luận: hiểu biết về nguy cơ đối với sức khỏe của NNCGKC ở
học sinh rất thấp (11.9% học sinh liệt kê đủ thành phần NNCGKC; 2.7% kể đủ 8/8 nguy cơ sức khỏe khi sử dụng) 31.4% học sinh không đồng tình từ bỏ uống nước ngọt có ga kể cả khi biết nguy cơ đối với sức khỏe 83.1% học sinh có sử dụng nước ngọt có ga trong vòng 1 tháng trước cuộc điều tra, trong đó mức độ thường xuyên uống NNCGKC cao nhất là 1 - 2 lần/tuần (21,3%) Trung bình 1 học sinh tiêu thụ 2.094 ml nước ngọt có ga trong vòng 1 tháng trước cuộc điều tra, học sinh ngoại thành uống nhiều hơn so với nội thành và nam uống nhiều hơn nữ (p < 0,01)
* Từ khóa: Nước ngọt có ga không cồn; Học sinh phổ thong trung học; Hiểu biết; Thái độ;
Tần xuất; Mức tiêu thụ
Knowledge, Attitude, Frequency and Level of Consumption Regarding Non-Alcoholic Carbonated Soft Drinks among Pupils from Two High Schools in Hanoi in 2015
Summary
Objectives: To describe the knowledge, attitude and frequency and level of non-alcoholic carbonated soft drink (NCSD) consumption among pupils from two high schools in Hanoi in 2015 Methods: We used a cross-sectional study design and conducted a semi-quantitative food frequency survey with the participation of 620 pupils from two high schools in Hanoi in 2015 (one school in the urban area and the other in the suburban area) Results and conclusion: The high school pupil’s knowledge of health risk related to the consumption of NCSD was very poor (11.9% of the pupils gave a full list of ingredients in NCSD; 2.7% mentioned all of the eight health risks when consuming NCSD) Of all the pupils participated in the study, 31.4% refused
to quit the habit of consuming NCSD although they were already aware of health risks related to NCSD consumption One month prior to the study, 83.1% of the pupils consumed NCSD, in which the proportion of pupils taking in NCSD 1 - 2 times/week was the highest (21.3%) On average, one pupil consumed 2,094 ml NCSD within one month prior to the study, suburban pupils drank more than urban ones, and male pupils drank more than female ones (p < 0.01)
* Key words: Non-alcoholic carbonated soft drink; pupils of high schools; Knowledge; Attitude; Frequency; Level of consumption
* Học viện Quân y
** Bộ Khoa học Công nghệ
Người phản hồi (Corresponding): Nguyễn Thanh Hà (nth1@heph.edu.vn)
Ngày nhận bài: 24/11/2016; Ngày phản biện đánh giá bài báo: 06/01/2017
Ngày bài báo được đăng: 20/01/2017
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Nước ngọt có ga không cồn là loại nước
uống được ưa chuộng phổ biến trên thế
giới, đặc biệt đối với trẻ em, thanh thiếu
niên nên một lượng rất lớn NNCGKC
được tiêu thụ hàng năm Trong NNCGKC,
ngoài một phần nước tinh khiết hoặc một
số loại có thêm nguyên liệu tự nhiên,
phần còn lại đều là các chất như hương
vị, chất màu, chất bảo quản [6]
Trên thế giới, trung bình mỗi người
tiêu thụ khoảng 36 lít NNCGKC năm 1997
và đã tăng lên nhanh chóng (43 lít) vào
năm 2010 [4] Nghiên cứu về sử dụng
NNCGKC ở Mỹ năm 2012 cho thấy, 42%
người trưởng thành uống ít nhất 2 lần/tuần
[2], còn nghiên cứu ở Úc trên nhóm 16 -
18 tuổi, mỗi lần uống 364 ml NNCGKC,
trong đó nam uống khoảng 480 ml và nữ
uống khoảng 240 ml [8]
Nhiều nghiên cứu đã cảnh báo một số
tác hại đến sức khỏe người dùng nếu sử
dụng hàng ngày hoặc quá mức như: gây
béo phì, mỡ máu, tiểu đường, bệnh gout
và tăng nguy cơ bị ung thư [4, 5, 7] Bên
cạnh đó, có một số nghiên cứu trên thế
giới đề cập đến kiến thức và thái độ của
người tiêu dùng về NNCGKC và đều thấy
kiến thức và thái độ của đối tượng nghiên
cứu về NNCGKC còn hạn chế [3, 9]
Ở Việt Nam, tỷ lệ sử dụng NNCGKC
rất cao trong các dịp lễ hội, liên hoan
(75.8%) Tần suất tiêu thụ NNCGKC cao
nhất 3 - 4 lần/tuần và 1 - 2 lần/tuần chiếm
khoảng 28,6%, trong đó nam uống nhiều
hơn nữ [6] Việc xác định lượng tiêu thụ
NNCGKC ở Việt Nam chủ yếu dựa vào
sản lượng bán trên thị trường Rất ít
nghiên cứu ở Việt Nam đề cập đến hiểu
biết và thái độ của người tiêu dùng về
NNCGKC, đặc biệt ở đối tượng học sinh,
là nhóm có xu thế sử dụng loại nước này nhiều nhất trong quần thể Bài báo này
nhằm: Mô tả hiểu biết, thái độ và xác định
tần suất, lượng tiêu thụ NNCGKC trong vòng 1 tháng trước cuộc điều tra của học sinh 2 trường THPT tại Hà Nội, năm 2015
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, bao gồm phỏng vấn kiến thức, thái độ của học sinh
về NNCGKC và điều tra tần suất tiêu thụ thực phẩm bán định lượng được tiến hành ở hai trường THPT tại Hà nội từ tháng 2 đến tháng 8 - 2015 (thời gian thu thập số liệu trong nửa đầu tháng 5 - 2015)
* Cỡ mẫu và chọn mẫu:
Áp dụng cỡ mẫu ước lượng cho 1 tỷ lệ, với các giá trị: Z1-α/2: giá trị giới hạn tương ứng với độ tin cậy 95% (α = 0,05) thì Z1-α/2 = 1,96; p = 0,273 [10]: tỷ lệ học sinh có hiểu biết chưa đúng về sử dụng NNCGKC;
d = 0,05 (sai số cho phép) và DE = 2 (hiệu lực thiết kế), tính được cỡ mẫu 610 người, ước tính có 5% đối tượng từ chối tham gia, nên tổng số học sinh cần lấy
645 người, Như vậy, mỗi trường cần có
320 học sinh
Sử dụng phương pháp chọn mẫu nhiều giai đoạn Chọn 2 trường THPT tại Hà Nội:
1 trường nội thành (Trường Trần Nhân Tông T) và 1 trường ngoại thành (Trường Ứng Hoà A) bằng phương pháp bốc thăm Mỗi lớp của trường có trung bình khoảng
50 - 55 học sinh Vì vậy, cần chọn 6 lớp ở mỗi trường (mỗi khối lớp 10, 11 và 12 chọn 2 lớp bằng phương pháp bốc thăm ngẫu nhiên), sau đó chọn toàn bộ học sinh của 6 lớp đã được chọn Trên thực
tế tổng số học sinh của 2 trường tham gia nghiên cứu là 620 học sinh
Trang 3* Phương pháp và công cụ thu thập
số liệu:
Cuối mỗi buổi học, học sinh được mời
ở lại để cân đo, trả lời phỏng vấn Thu
thập hiểu biết và thái độ của học sinh đối
với NNCGKC bằng phiếu phỏng vấn đã
được thử nghiệm trên 15 học sinh và điều
chỉnh cẩn thận sau thử nghiệm
Tần suất và mức tiêu thụ NNCGKC
trong vòng 1 tháng trước cuộc điều tra
được phỏng vấn bằng phiếu hỏi ghi tần
suất tiêu thụ thực phẩm bán định lượng
Phiếu điều tra đã liệt kê tất cả loại nước
ngọt có ga đang tiêu thụ phổ biến trên thị
trường tại thời điểm nghiên cứu, điều tra
viên hỏi lần lượt từng loại về số lần tiêu
thụ theo ngày, theo tuần và theo tháng
hoặc trong các dịp liên hoan trong tháng
qua và số lượng mỗi lần tiêu thụ Để tránh
sai số nhớ lại, điều tra viên gợi ý các dấu
mốc quan trọng hay sử dụng nước ngọt
trong vòng 1 tháng trước cuộc điều tra
như ngày lễ, liên hoan, sinh nhật Điều tra
viên đã sử dụng ảnh các mẫu cốc, lon,
chai nước ngọt thông dụng nhằm giúp đối
tượng ước lượng một cách chính xác nhất
số lượng nước ngọt mỗi lần tiêu thụ Thống nhất cách ghi chép mức tiêu thụ là ml
* Phương pháp phân tích số liệu:
Số liệu được nhập bằng phần mềm Epi.data 3.0 và phân tích bằng phần mềm SPSS 19.0 Lượng nước ngọt có ga của
1 học sinh trong vòng 1 tháng trước cuộc điều tra được tính bằng = (lượng nước ngọt
có ga của uống theo ngày x 30) + (lượng nước ngọt có ga uống theo tuần x 4) + (lượng nước ngọt có ga uống theo tháng) + (lượng nước ngọt có ga thỉnh thoảng uống)
* Đạo đức của nghiên cứu:
Nghiên cứu đã được hội đồng Đạo đức của Trường Đại học Y tế Công cộng thông qua và được sự đồng ý của Ban giám hiệu 2 trường cho phép thực hiện Tất cả học sinh đều đọc và ký giấy chấp thuận nghiên cứu trước khi phỏng vấn Kết thúc điều tra, học sinh được nhóm nghiên cứu tư vấn về nguy cơ sức khoẻ đối với việc sử dụng NNCGKC
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bảng 1: Thông tin chung về học sinh
Lớp đang học
(n, %)
Giới (n,%)
Tự đánh giá về
kinh tế gia đình
(n, %)
(*: p < 0,05 so sánh giữa nội thành và ngoại thành)
Trang 4Tỷ lệ học sinh nam và nữ tham gia nghiên cứu lần lượt 43,5% và 56,5%, tỷ lệ học sinh tham gia nghiên cứu phân bố tương đối đều ở 3 khối lớp 10, 11 và 12 Đa số (77,6%) học sinh tự đánh giá kinh tế gia đình ở mức trung bình, trong đó tỷ lệ đánh giá kinh tế ở mức trung bình ở học sinh nội thành cao hơn so với học sinh ngoại thành (81,7% so với 73,6%)
1 Hiểu biết, thái độ của học sinh về NNCGKC
Bảng 2: Hiểu biết về thành phần NNCGKC
Hiểu biết về thành phần NNCGKC ở học sinh rất thấp, chỉ có 11,9% học sinh liệt kê
đủ tất cả thành phần của NNCGKC (tỷ lệ ở trường nội thành và ngoại thành lần lượt
là 9,9% và 14.0%) 3 thành phần được học sinh biết nhiều nhất là đường (78,7%),
CO2 và phẩm màu (cùng 69,2%) Đáng chú ý, vẫn còn 9% học sinh ở nội thành và 5,9% học sinh ở ngoại thành không biết thành phần của NNCGKC
Bảng 3: Hiểu biết về nguy cơ đối với sức khỏe khi uống nước ngọt có ga
Trang 5Hiểu biết của học sinh về nguy cơ đối với sức khỏe rất hạn chế ở cả học sinh trường nội thành và ngoại thành 2 nguy cơ được học sinh biết nhiều nhất nhưng cũng chỉ đạt < 60% là mắc bệnh tiểu đường (59,7%) và đầy hơi, khó tiêu (54,8%) 14% học sinh không biết nguy cơ sức khỏe khi sử dụng NNCGKC và chỉ có 2,7% học sinh trả lời đúng và đủ 8/8 nguy cơ đối với sức khỏe
Bảng 4: Thái độ về sử dụng NNCGKC
Mức độ đồng tình về việc tiêu thụ nước ngọt có ga
Khu vực (n = 620)
Giới tính (n = 620)
Mức độ sẵn sàng bỏ nước ngọt có ga nếu biết nguy cơ đối với sức khỏe
Khu vực(n = 620)
Giới tính (n = 620)
( *: p < 0,05, so sánh giữa trường nội thành và ngoại thành)
Chỉ có 41,3% học sinh không đồng tình với việc sử dụng NNCGKC, trong đó tỷ lệ học sinh của trường ngoại thành không đồng tình cao hơn so với nội thành và nữ không đồng tình cao hơn so với nam (p < 0,05)
Kể cả khi biết nguy cơ về sức khỏe khi sử dụng NNCGKC, vẫn còn khoảng 1/3 số học sinh (31,4%) không đồng ý từ bỏ uống nươc ngọt có ga kể cả khi biết nguy cơ đối với sức khỏe Tỷ lệ này tương đương nhau ở học sinh trường nội thành và ngoại thành, cũng như giữa học sinh nam và nữ
Trang 62 Tần suất và lượng tiêu thụ NNCGKC
Bảng 5: Tần suất sử dụng NNCGKC trong vòng 1 tháng trước cuộc điều tra
Mức độ sử dụng Nhân Tông (n = 313) Trường Trần Hòa A (n = 307) Trường Ứng (n = 620) (n, %) Chung
Có sử dụng trong vòng 1 tháng trước
Tần suất sử dụng trong vòng 1 tháng trước cuộc điều tra (n = 515)
Chỉ sử dụng trong các dịp liên hoan,
100% học sinh đã từng sử dụng NNCGKC Tỷ lệ học sinh có sử dụng NNCGKC trong vòng 1 tháng trước cuộc điều tra là như nhau ở học sinh 2 trường (83,1%)
Về tần suất sử dụng NNCGKC trong 1 tháng trước cuộc điều tra, tỷ lệ học sinh sử dụng 1 - 2 lần/tuần cao nhất (21,6%), tiếp theo chỉ sử dụng trong các dịp liên hoan hội họp (17,0%), đứng thứ ba là sử dụng 3 - 5 lần/tuần (15,5%) Khoảng 8,5% học sinh trả lời dùng nước ngọt có ga hàng ngày
Bảng 6: Tổng lượng tiêu thụ NNCGKC trong vòng 1 tháng trước cuộc điều tra
Khu vực
< 0,05
Giới tính
< 0,01
Tính tổng tất cả các loại nước ngọt đã tiêu thụ trung bình trong vòng 1 tháng trước cuộc điều tra, trung bình 1 học sinh tiêu thụ 2.094 ml/tháng, tương đương khoảng 6 lon (330 ml/lon) Số lượng nước ngọt tiêu thụ khác biệt có ý nghĩa thống kê theo địa bàn nghiên cứu cũng như theo giới Trong đó, học sinh ở nội thành tiêu thụ nước ngọt ít hơn so với học sinh ngoại thành (1.630 ml và 2.568 ml) (p <0,05) Học sinh nam cũng uống nhiều hơn học sinh nữ khoảng 1,5 lần (2.833 ml và 1.525 ml) (p < 0,01)
Trang 7BÀN LUẬN
1 Hiểu biết của học sinh về nước
ngọt có ga
Ngày càng có nhiều người quan tâm
tới tới tác động có hại của nước ngọt có
ga đối với sức khỏe con người Kết quả
nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, hiểu
biết của học sinh 2 trường về thành phần
và nguy cơ đối với sức khỏe của nước
ngọt có ga đều rất thấp Kết quả này khá
tương đồng với nghiên cứu năm 2013
trên 110 đối tượng sinh viên đang học
Trường Y tại Ấn Độ: 100% đối tượng
tham gia nghiên cứu đã từng nghe nói tới
nước ngọt có ga, nhưng chỉ có 5,5% số
người được hỏi biết được tất cả các nội
dung có trên chai nước ngọt 73% người
tham gia biết được tác hại của uống nước
ngọt có ga [3] Kết quả này cũng tương
đồng với nghiên cứu kiến thức của học
sinh và vị thành niên về tác động của
nước ngọt có ga đối với sức khỏe răng
miệng cũng hạn chế [9]
Mặc dù, đồ uống có ga được quảng
cáo rộng rãi trên các phương tiện thông
tin đại chúng, nhưng quảng cáo và thông
tin dường như chỉ “kích thích” người tiêu
dùng sử dụng và đưa ra các hình thức
khuyến mại hấp dẫn chứ chưa nêu đươc
nguy cơ khi sử dụng nước ngọt có ga
Đôi khi, việc quảng cáo trở nên quá mức,
khi các công ty sử dụng uy tín của thể
thao và các nhân vật phim để thu hút giới
trẻ [4, 9] Quảng cáo để lại một ấn tượng
lâu dài trong tâm trí của thế hệ trẻ và ảnh
hưởng đến thói quen sử dụng nước ngọt
có ga Vì vậy, mặc dù trong thời đại bùng
nổ về thông tin như hiện nay, vẫn rất cần
truyền thông cho các em về các tác hại
khi sử dụng nước ngọt có ga và cần nâng cao vai trò của cha mẹ và nhà trường trong việc cung cấp kiến thức về vấn
đề này
2 Thái độ của học sinh về tiêu thụ nước ngọt có ga
Chính vì kiến thức của học sinh còn rất thấp và không có nhiều thông tin về các tác hại khi sử dụng NNCGKC nên khi phân tích thái độ về việc tiêu thụ NNCGKC, kết quả cho thấy, khoảng một nửa học sinh của cả 2 trường nội và ngoại thành vẫn đồng tình trong việc tiêu thụ nước ngọt có ga (trên 60%), ngoài ra vẫn còn khoảng 1/3 học sinh không đồng tình từ bỏ uống NNCGKC kể cả khi biết nguy cơ đối với sức khỏe Kết quả này cũng khá tương đồng với nghiên cứu về kiến thức, thái độ và thực hành về tiêu thụ NNCGKC trên 110 sinh viên năm thứ hai Trường Y tại Ấn độ, theo đó, tỷ lệ học sinh cố gắng dừng hoặc từ bỏ uống nước ngọt có ga là 69,2%, tức là còn khoảng 30% không muốn dừng hoặc bỏ loại nước uống này [3]
3 Tần suất tiêu thụ và lượng tiêu thụ
Kết quả nghiên cứu cho thấy NNCGKC hấp dẫn và có mức độ sử dụng rất phổ biến trong nhóm nghiên cứu Mức độ thường xuyên uống NNCGKC cao nhất
1 - 2 lần/tuần, tương đồng với kết quả báo cáo ở Việt Nam, mức độ thường xuyên uống nước ngọt có ga cao nhất 3 - 4 lần/tuần và 1 - 2 lần/tuần cùng chiếm tỷ lệ 28,6% [6] Tuy nhiên, tần suất sử dụng NNCGKC trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn rất nhiều so với các nghiên cứu tại Ấn Độ, Mỹ [2, 9]
Trang 8Hiện có nhiều số liệu khác nhau về
lượng tiêu thụ trung bình nước ngọt có ga
ở người Việt Nam Một nghiên cứu ước
lượng dựa trên tổng số lượng nước ngọt
có ga bán trên thị trường Việt Nam năm
2013 là 927 triệu lít, tương đương 10
lít/người/năm [1].Theo một báo cáo khác,
tổng lượng tiêu thụ nước ngọt có ga liên
tục tăng và năm 2013 tổng sản lượng
nước giải khát có ga tiêu thụ trên toàn
quốc là 2.083 triệu lít [10], tương đương
với mỗi người tiêu thụ khoảng 23 lít/năm
Như vậy, lượng tiêu thụ nước ngọt trong
nhóm học sinh nghiên cứu 25 lít/người/năm,
cao hơn kết quả của 2 báo cáo nói trên
Điều này có thể lý giải, 2 báo cáo nói trên
tính lượng tiêu thụ trên sản lượng bán
cho tất cả người dân Việt Nam, bao gồm
cả trẻ nhỏ, người già và những người
sống ở vùng sâu, vùng xa, nên lượng tiêu
thụ bình quân đầu người sẽ thấp đi do
ước lượng cho cả đối tượng ít sử dụng
và vùng khó khăn Còn nghiên cứu của
chúng tôi tiến hành trên địa bàn Hà Nội, là
nơi phát triển kinh tế văn hóa xã hội hàng
đầu cả nước, đối tượng nghiên cứu có
điều kiện để tiếp cận và sử dụng nước
ngọt có ga nhiều hơn, đồng thời đối tượng
nghiên cứu là nhóm được cho là có mức
tiêu thụ nước ngọt cao nhất trong quần
thể dân cư [1]
Nhưng khi so sánh kết quả nghiên cứu
của chúng tôi về lượng tiêu thụ với một
số nước trên thế giới thì lượng tiêu thụ ở
người Việt Nam và của nhóm nghiên cứu
thấp hơn nhiều, ví dụ tại Mỹ mỗi người tiêu
thụ trung bình khoảng 43 - 46 lít/người/năm,
Nhật là 23,1 lít/người/năm [7, 10]
KẾT LUẬN
Kiến thức và thái độ về NNCGKC của học sinh hai trường tham gia nghiên cứu còn hạn chế, trong đó kiến thức của học sinh 2 trường tương đương nhau, nhưng thái độ không đồng tình với việc sử dụng NNCGKC của học sinh trường ngoại thành cao hơn so với nội thành và nữ không đồng tình cao hơn so với nam (p < 0,05)
Hầu hết học sinh đã sử dụng NNCGKC trong vòng 1 tháng trước cuộc điều tra, nhưng tỷ lệ học sinh tiêu thụ hàng ngày không cao, lượng tiêu thụ ở học sinh trường nông thôn nhiều hơn thành phố và nam tiêu thụ nhiều hơn nữ Chính vì vậy, cần truyền thông và nâng cao nhận thức của học sinh để làm giảm nguy cơ đối với sức khỏe khi sử dụng NNCGKC Cần tiếp tục có các nghiên cứu ở quy mô lớn hơn và sâu hơn về lượng tiêu thụ nước ngọt có ga và nguy cơ đối với sức khỏe khi tiêu thụ nước ngọt có ga ở người Việt Nam
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Nguyen Thu Hang The soft drink industry
in Vietnam 2014
2 Agriculture and Agri- Food Canada
American eating trends report: carbonated soft drink 2012
3 Anup K et al Knowledge, attitude and
practices (KAP) regarding carbonated drinks among students of medical college of Western Maharashtra International Journal of Medical Science and Public Healt.h 2013, 2, pp.912-915
Trang 94 Basu S, McKee M, Galea G et al
Relationship of soft drink consumption to
global overweight, obesity, and diabetes:
A Cross-national analysis of 75 countries
American Journal of Public Health 2013, 103,
pp.2071-2077
5 Bawa S The role of the consumption of
beverages in obsity epidemic J R Soc Promot
Health 2005, 125, pp.124-128
6 International BM Vietnam food and drink
report London 2012
7 Kumar SG, Pan L, Park S et al
Sugar-sweetened beverage consumption among
adults - 18 States Morbidity and Mortality
Weekly Report 2012, 63, pp.682-716
8 Rangan A, Hector D, Louie J et al Soft
drink, weight status and health Sysney: NSW Centre for Public Health Nutrition 2009
9 Ravi G, Abhishek S, Swati S et al A
knowledge, attitude and practices of soft drinks among adolescent students and their dental health: A Questionnaire Study International
Journal of Dental Health Concerns 2015, 1,
pp.8-12
10 The Statistics Portal Producer Carbonated
soft drink (CSD) volume shares worldwide in
2013, by region Available from: 2013, http://www.statista.com/statistics/306876/csd-volume-shares-worldwide-by-region/