1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

33 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“Lồng ghép giáo dục kỹ năng sống trong giảng dạy văn bản Ngữ văn ở lớp 81 Trường THCS Bạch Đằng” NỘI DUNG SÁNG KIẾN I ĐẶT VẤN ĐỀ 1 Sự cần thiết của đề tài “Kỹ năng sống” (được nhắc đến như một thuật ngữ), là cụm từ hay “xuất hiện” những năm gần đây trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, cộng đồng Kỹ năng sống là gì? Đó “là một tập hợp các kỹ năng mà con người có được thông qua giảng dạy hoặc kinh nghiệm trực tiếp được sử dụng để xử lý những vấn đề, câu hỏi thường gặp trong cuộc sốn.

Trang 1

“Lồng ghép giáo dục kỹ năng sống trong giảng dạy văn bản Ngữ văn ở lớp

8/1 Trường THCS Bạch Đằng”

NỘI DUNG SÁNG KIẾN

I ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Sự cần thiết của đề tài

“Kỹ năng sống” (được nhắc đến như một thuật ngữ), là cụm từ hay “xuấthiện” những năm gần đây trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội,

cộng đồng Kỹ năng sống là gì? Đó “là một tập hợp các kỹ năng mà con người

có được thông qua giảng dạy hoặc kinh nghiệm trực tiếp được sử dụng để xử lý những vấn đề, câu hỏi thường gặp trong cuộc sống hàng ngày của con người”

(Bách khoa toàn thư mở Wkipedia) Theo Tổ chức y tế Thế giới WHO định

nghĩa, kỹ năng sống là “khả năng thích nghi và hành vi tích cực cho phép cá nhân có khả năng đối phó hiệu quả với nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày” Theo các định nghĩa trên và với mục tiêu giáo dục là nhằm giúp

học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài

về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, góp phần hìnhthành nhân cách con người…thì các nhà trường phổ thông hoàn toàn có thể vàcần thiết, thậm chí cấp bách để đưa giáo dục kỹ năng sống vào các môn họcnhằm đáp ứng mục tiêu giáo dục toàn diện một cách hợp lý, nhẹ nhàng và hàihòa hơn

Tuy vậy, vấn đề trên không phải lúc nào cũng được chú trọng thườngxuyên, kỹ lưỡng và hiệu quả thiết thực Nói cách khác, nhà trường phần lớn chỉthiên về kỹ năng học tập và giáo dục tư tưởng đạo đức, đơn thuần là “dạy chữ”,

“dạy văn hóa” chứ chưa đi sâu vào “dạy kỹ năng sống” theo đúng nghĩa của nó

dù là qua các môn học được lồng ghép Chính vì thế, theo chuyên viên tâm lýHuỳnh văn Sơn, cố vấn Trung tâm chăm sóc tinh thần Ý tưởng Việt: “hiện nay,thuật ngữ kỹ năng sống được sử dụng khá phổ biến nhưng có phần bị “lạm

Trang 2

dụng” khi chính những người huấn luyện hay tổ chức và các bậc cha mẹ cũngchưa thật hiểu về nó”

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở nước ta đang phát triển mạnh

mẽ, đời sống nhân dân được nâng cao kèm theo những mặt trái của xã hội đã tácđộng không nhỏ đến suy nghĩ và hành động của học sinh, cộng với việc thiếu sựquan tâm chăm sóc động viên, giáo dục từ gia đình nên nhiều em còn thiếu hiểubiết về pháp luật, đạo đức, lối sống Đặc biệt kỹ năng sống (KNS) còn yếu kém,chưa biết ứng xử với lối sống có văn hóa, nhiều em học sinh chưa nhận thứcđược việc vi phạm đạo đức của mình, chưa phân biệt được điều hay lẽ phải vàcác sai phạm của mình, chủ yếu sống đua đòi, vi phạm một cách hồn nhiên Đãvậy một bộ phận các em cũng ít chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà sốngbuông thả theo thị hiếu tầm thường Nhiều em gia đình có điều kiện kinh tế,được ha mẹ quan tâm đến “cưng chiều”, học lực khá, dù nhận thức được nhưnglại ỉ lại, thiếu ý chí vươn lên trong học tập cũng như rèn luyện Tâm lý chungcủa các em trong độ tuổi Trung học cơ sở (THCS) là muốn tự xem xét sự việcxảy đến với bản thân trong cuộc sống, không muốn có sự can thiệp của ngườikhác, kể cả bố mẹ Sự phát triển của “tự ý thức” đòi hỏi thiếu niên luôn muốnthoát khỏi những mối quan hệ phụ thuộc trước kia để trở thành cá thể độc lập…Nhưng những mong muốn mang tính chủ quan cá nhân và những thách thứccuộc sống đôi lúc không có sự tương ứng nên các em rơi vào trạng thái có thái

độ phản kháng bằng các hình thức như lì lợm, lạnh nhạt, bất hợp tác, thậm chí là

tỏ thái độ bất cần đời… Gần đây chúng ta thường thấy thực trạng trẻ vị thànhniên có xu hướng gia tăng về bạo lực học đường, sống ích kỷ, vô tâm, khépmình… Các em đã và đang trở thành nạn nhân của các tệ nạn xã hội, trở thànhnhững học sinh (HS) không ngoan đến “bất trị”, thành người con hư của giađình, thậm chí còn vi phạm pháp luật ở tuổi vị thành nhiên Có nhiều nguyênnhân dẫn đến tình trạng này Một trong những nguyên nhân chính đó là HS ngàynay thiếu những KNS cần thiết Cuộc sống không phải lúc nào cũng suôn sẻ mà

Trang 3

trong đó những nguy cơ, chướng ngại, rắc rối, tình huống… luôn tiềm ẩn để sẳnsàng lấn tới khi con người không biết “ứng phó, thích nghi” và giải quyếtchúng, với thế hệ trẻ KNS như là “hành trang” không thể thiếu cho các em bướcvào đời.

Do vậy, ngoài việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng pháttriển năng lực học sinh thì việc giáo dục KNS cho cho học sinh cũng ngày càngđược quan tâm Từ năm học 2010 – 2011 Bộ giáo dục và đào tạo đã đưa chươngtrình “lồng ghép giáo dục kĩ năng sống“ vào các môn học nói chung, trong đó

có môn Ngữ văn Thực chất của giáo dục KNS cũng chính là giáo dục đạo đứclối sống cho HS trong trong trường học và phong trào “Xây dựng trường họcthân thiện, học sinh tích cực“ cũng không nằm ngòai mục tiêu đó

Bản thân tôi đã, đang đứng lớp và giảng dạy môn Ngữ văn 8 tại TrườngTHCS Bạch Đằng, tôi nhận thấy các em không chỉ mất hứng thú, xao nhãngviệc học; hơn thế các em gần như thiếu những kỹ năng cơ bản nhất như kĩ nănggiao tiếp ứng xử văn hóa, kĩ năng hợp tác, kỹ năng nhận thức, tự chủ, tự đánhgiá…Với phương châm:

Dạy văn là dạy đạo làm ngườiHọc văn là học đạo làm ngườiCho nên qua mỗi bài giảng ngoài rèn luyện kiến thức bản thân tôi luôn liên hệthực tiễn và rút ra những bài học giáo dục sâu sát để rèn KNS cho học sinh, giúpcác em có thêm hành trang vững bước vào tương lai

Xuất phát từ thực tế trên, tôi mạnh dạn lựa chọn nghiên cứu đề tài “Lồng ghép giáo dục kỹ năng sống trong giảng dạy văn bản Ngữ văn ở lớp 8/1 Trường THCS Bạch Đằng” nhằm đưa ra một số biện pháp giải quyết vấn đề

cụ thể mà tôi đã áp dụng thành công trong các tiết dạy văn bản năm học vừaqua

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trang 4

Giáo dục KNS thông qua các giờ học Ngữ văn theo phương pháp dạy họctích cực ở trường THCS nhằm giúp HS:

Về kiến thức:

+ Nâng cao hiểu biết về giá trị truyền thống của dân tộc cũng như những giá trịtốt đẹp của nhân loại; góp phần củng cố, mở rộng và bổ sung, khắc sâu kiếnthức đã học về quyền và trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, nhà trường và

xã hội, về nghề nghiệp

+ Nhận thức được sự cần thiết của các KNS giúp cho bản thân sống tự tin, lànhmạnh, phòng tránh được các nguy cơ gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển thểchất và tinh thần của bản thân và người khác

+ Nhận thức được những giá trị cốt lõi làm nền tảng cho các KNS

Về kĩ năng:

+ Có kĩ năng làm chủ bản thân, có trách nhiệm biết ứng xử linh hoạt, hiệu quả

và tự tin trong các tình huống giao tiếp hằng ngày

+ Có suy nghĩ và hành động tích cực, tự tin, có những quyết định đúng đắntrong cuộc sống

+ Có kĩ năng quan hệ tích cực và hợp tác, biết bảo vệ mình và người khác trướcnhững nguy cơ ảnh hưởng đế sự an toàn và lành mạnh của cuộc sống (tệ nạn xãhội, HIV/AIDS, bạo lực, nạn xâm hại tinh thần và thể xác…); giúp HS phòngngừa những hành vi, nguy cơ có hại cho sự phát triển của cá nhân

Trang 5

- Chủ thể: Lồng ghép giáo dục KNS trong giảng dạy văn bản Ngữ văn 8

- Lớp thực nghiệm: Học sinh lớp 8/1 - Trường THCS Bạch Đằng – Nha Trang –Khánh Hòa

- Lớp đối chiếu: Học sinh lớp 8/2 - Trường THCS Bạch Đằng – Nha Trang –Khánh Hòa

- Hình thức: Lớp thực nghiệm (lớp 8/1) tiến hành giảng dạy theo các giải pháp

của Sáng kiến kinh nghiệm, lớp đối chiếu (lớp 8/2 ) giảng dạy theo cách thứcchung của tiết dạy văn bản trong môn Ngữ văn

4 Phạm vi nghiên cứu:

- Các văn bản có nội dung lồng ghép giáo dục KNS trong bộ môn Ngữ văn 8

- Trường THCS Bạch Đằng – Nha Trang – Khánh Hòa.

5 Phương pháp nghiên cứu:

Trong quá trình nghiên cứu tôi thực hiện một số phương pháp sau:

- Tìm tòi, nghiên cứu nội dung để lồng ghép

- Khảo sát, điều tra, suy nghĩ, ghi chép, phân tích và tổng hợp

- Nắm bắt tình hình thực tiễn

- Đúc rút kinh nghiệm thực tiễn giảng dạy để tìm ra giải pháp

- Rút kinh nghiệm – đưa ra giải pháp sau khi đánh giá kết quả cụ thể từ so sánh,

đối chiếu, rút kinh nghiệm

- Trao đổi, thảo luận, góp ý thông qua sinh hoạt chuyên môn của nhóm Văn của

tổ Khoa học Xã Hội

6 Thời gian nghiên cứu

- Thời gian bắt đầu: tháng 09 năm 2018

- Thời gian kết thúc: tháng 05 năm 2019

II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1 Cơ sở thực hiện đề tài

1.1 Cơ sở lí luận thực hiện đề tài

Giáo dục trong xu hướng hiện nay không chỉ hướng vào mục tiêu tạo ranguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phất triển kinh tế xã hội, mà còn hướng đếnmục tiêu phát triển đầy đủ và tự do giá trị của mỗi cá nhân giúp cho con người

Trang 6

có năng lực để cống hiến, đồng thời có năng lực để sống một cuộc sống có chấtlượng và hạnh phúc.

Xã hội hiện đại luôn nảy sinh những vấn đề phức tạp và những vấn đề bấtđịnh đối với con người Nếu con người không có năng lực để ứng phó vượt quanhững thách thức đó và hành động theo cảm tính thì rất dễ gặp rủi ro

Chính vì vậy trong Diễn đàn thế giới về giáo dục cho mọi người họp tạiSenegan (2000) Chương trình hành động Dakar đã đề ra 6 mục tiêu, trong đó

mục tiêu 3 nói rằng “Mỗi quốc gia phải đảm bảo cho người học được tiếp cận chương trình giáo dục kĩ năng sống phù hợp” Còn trong mục tiêu 6 yêu cầu

“Khi đánh giá chất lượng giáo dục cần phải đánh giá kĩ năng sống của người học” Như vậy, học KNS trở thành quyền của người học và chất lượng giáo dục

phải được thể hiện cả trong kĩ năng sống của người học

Việc thực hiện đổi mới giáo dục phổ thông là đổi mới đồng bộ cácphương diện giáo dục từ mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện đếncách thức đánh giá, nhằm thay đổi lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạyhọc tương tác, giúp HS phát triển năng lực cá nhân, phát huy tính tích cực, tựgiác, chủ động, sáng tạo, bồi dưỡng phương pháp tự học, năng lực tự học, nănglực hợp tác, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, có tình cảmnhân văn và niềm vui, hứng thú trong học tập

Luật Giáo Dục 2005 (Điều 5) qui định, “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên ” Với mục tiêu giáo dục phổ thông là “giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ” Chương trình giáo dục phổ thông ban

Trang 7

hành kèm theo quyết định số 16/2006/ QĐ-BGDĐT ngày 5/5/2006 của Bộ

Trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã nêu: “phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học, bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh” Nghị Quyết TW 2 khóa 8 cũng khẳng định “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp Giáo dục, đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh … ”

Cho nên, giáo dục KNS cho học sinh đang trở thành một nhiệm vụ quantrọng đối với giáo dục cả nước Giáo dục phải mang lại cho mọi người khôngchỉ kiến thức mà cả KNS một cách trực tiếp, hay gián tiếp Vì thế việc vận dụngcác biện pháp và hình thức tổ chức giáo dục KNS cho học sinh là việc làm cầnthiết, thông qua các hoạt động cũng như các hình thức giáo dục mà các KNScủa HS sẽ được hình thành và phát triển

1.2 Cơ sở thực tiễn thực hiện đề tài

Có thể nói, KNS cần cho mọi người, mọi lứa tuổi, mọi ngành nghề khácnhau trong đời sống xã hội Thực tế cho thấy, có khoảng cách giữa nhận thức vàhành vi của con người, có nhận thức đúng chưa chắc đã có hành vi đúng Ví dụ:nhiều người biết hút thuốc lá có hại cho sức khỏe, có thể gây ung thư phổi, ungthư vòm họng nhưng họ vẫn hút thuốc; Có những người là luật sư, công an,thẩm phán… họ hiểu biết rất rõ về pháp luật nhưng vẫn vi phạm pháp luật (nhưchạy án, dung túng, tiếp tay cho tội phạm…) đó chính là vì họ thiếu KNS Lúcnày KNS trở thành nhịp cầu giúp con người biến kiến thức thành hành vy, thái

độ và thói quen tích cực, lành mạnh Ngược lại nếu thiếu KNS thì con người sẽ

bị vấp váp, dễ thật bại trong cuộc sống Như vậy KNS không chỉ thúc đẩy sự

Trang 8

phát triển của cá nhân mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội, giúpngăn ngừa các vấn đề xã hội và bảo vệ quyền con người.

Các em HS chính là những mầm non tương lai của đất nước, là nhữngngười sẽ quyết định sự thịnh vượng của đất nước trong những năm tới Nếukhông có KNS các em sẽ không thể thực hiện tốt trách nhiệm với bản thân, giađình, cộng đồng và đất nước Bởi vậy hơn ai hết, KNS đặc biệt cần thiết đối vớilứa tuổi học sinh (đặc biệt là Tiểu học và Trung học cơ sở); bởi các em còn làlứa tuổi “ăn chưa no lo chưa tới”, khả năng và điều kiện sống gần như hoàn toànphụ thuộc vào cha mẹ, người lớn và gia đình Thậm chí có khi cha mẹ, ngườilớn vẫn không theo kịp những biến động xã hội ngày càng dồn dập và diễn biếnphức tạp, khó lường Thêm nữa, với sự bùng nổ thông tin, các em tiếp cận với

đủ loại tác động tốt lẫn xấu; có khi các em phải rời bỏ gia đình để bươn chảikiếm sống, phải làm cả trách nhiệm của người lớn Lúc đó có nhiều việc các emphải một mình quyết định nên không thể biết được thế nào là điều hay lẽ phải…Đây cũng là lúc các em sẽ cần đến KNS nhiều hơn để có thể có khả năng hànhđộng đúng theo nhận thức Chính lẽ đó nhà trường sẽ là nơi dẫn dắt, địnhhướng, tạo điều kiện giúp đỡ các em “tham gia cuộc sống” một cách tích cực đểgiải quyết những nhu cầu và thách thức của đời sống xã hội, nhất là xã hội hiệnđại, phát triển

Vấn đề giáo dục và rèn luyện KNS cho HS không phải là điều hoàn toànmới lạ nếu như không muốn nói là cũ mòn vì đây là vấn đề được Bộ giáo dục vàđào tạo chỉ đạo đưa vào lồng ghép trong các môn học từ những năm học 2010 –

2011 Cũng không thể phủ nhận rằng: rèn KNS cho HS thực sự có tác dụng tốtđến việc giáo dục đạo đức HS trong nhà trường, không chỉ giúp các em cónhững kỹ năng ứng xử, giao tiếp mà còn tạo thành thói quen phân tích đánh giátình hình, thói quen chủ động vươn lên xử lý tình huống một cách hợp lí Song,

có lẽ do “sức ép” thực tế quá lớn của chương trình, điểm số, thi cử, thành tích,lối học “hàn lâm”…, việc giáo dục KNS không phải không bị xao nhãng, hời

Trang 9

hợt ở từng lúc, từng nơi Điều đó làm cho các em vốn không có KNS lại cànghạn chế, bất lợi hơn và thuật ngữ KNS đôi khi trở thành…xa lạ với các em.Điều đó cho thấy cách dạy và học theo kiểu cũ (giảng suông, sáo mòn, máymóc, áp đặt, học vẹt) sẽ làm hạn chế rất nhiều đối với việc giáo dục và rèn luyệnKNS, như một rào cản khiến các em càng trở nên thụ động Với ý nghĩa và quanniệm đó, qua thực tế giảng dạy cũng như việc học tập của học sinh, tôi mongmuốn từng bước đưa việc giáo dục KNS (bằng cách lồng ghép) vào bộ mônNgữ văn Trung học cơ sở (THCS) theo yêu cầu đổi mới phương pháp giảng dạytrong nhiều năm qua Như đã nói, dù đó không phải là điều hoàn toàn mới lạ,nhưng vấn đề là tiềm năng để thực hiện, nhằm khắc phục những hạn chế đã nêu,phần nào cải thiện được tình hình mà tôi cảm thấy chưa hài lòng với bản thântrong quá trình dạy học bộ môn Ngữ văn, nhất là việc giáo dục, rèn luyện KNScho các em Cũng nói thêm, với đặc trưng khá “nhạy cảm”, môn Ngữ văn cóphần thuận lợi hơn trong việc giáo dục, rèn KNS cho học sinh so với các mônhọc khác Bởi bản thân môn Ngữ văn đã chứa đựng trong đó yếu tố có thể baohàm KNS Thậm chí, việc tưởng như đơn giản, chỉ một câu chào hỏi thân thiện,chỉ một lời “cảm ơn, xin lỗi”, một cử chỉ, hành động thích hợp trong tình huốngnào đó…đều chứa đựng nội dung ít nhiều từ KNS Nói cách khác, môn Ngữ văndạy cho các em biết nói “không” với sự “vô cảm” Đó là tính nhân văn, “dạyngười” mà bản thân đặc trưng môn học có được.

Tóm lại: Với những đặc trưng riêng của một môn học về Khoa học xã hội

và nhân văn, môn Ngữ văn bên cạnh nhiệm vụ hình thành và phát triển năng lực(năng lực sử dụng tiếng Việt, năng lực tiếp nhận văn bản…), còn giúp học sinh

có những hiểu biết về xã hội, nội tâm con người Vì thế môn Ngữ văn phải làmôn đi đầu trong việc lồng ghép giáo dục KNS cho học sinh trong nhà trườngnói chung và đặc biệt là trường THCS nói riêng

2 Thực trạng của vấn đề cần giải quyết

2.1 Thực trạng vấn đề

Trang 10

Trường THCS Bạch Đằng là một ngôi trường nằm trên đảo Trí Nguyên,địa phận vừa được chính phủ công nhận là xã đảo Vĩnh Nguyên Trường có 8lớp học với số lượng HS dao động từ 200 đến 250 học sinh tùy mỗi năm học.Tại địa phương, tuy đã được chính quyền quan tâm, vận động, nâng cao tầmquan trọng của việc học và rèn luyện đạo đức, nhưng trên thực tế công tác giáo dụcvẫn còn gặp rất nhiều khó khăn Thêm vào đó, hầu hết kinh tế gia đình các em cònbếp bênh không ổn định nên cha mẹ các em dành nhiều thời gian để làm việc kiếmtiền, không quan tâm nhiều đến việc giáo dục con cái

Trong khi ở bậc THCS, học sinh lớp 8 là đối tượng có nhiều chuyển biến tâm

lí Các em không chỉ tăng vọt về thể chất mà đây là lứa tuổi “bất trị” “khủng hoảng”

và “khó bảo” nhất Lúc này các em đã ý thức về giới tính, phân biệt tình bạn và tìnhyêu rất rõ Bởi vậy việc giáo dục KNS cho các em càng trở nên bức thiết hơn baogiờ hết Tuy nhiên thời lượng của một tiết học chỉ 45 phút để giáo viên vừa truyềnđạt kiến thức cơ bản cho các em, vừa lồng ghép giáo dục KNS là điều không dễdàng

Thực trạng dễ thấy nhất của học sinh lớp 8 trong trường THCS Bạch Đằng là:

- Ngoài số ít HS chăm ngoan, học giỏi thì phần nhiều là HS ham chơi, đi học bữađược bữa mất, không có ý thức học tập Trốn học chơi game, chát, xin tiền cha mẹđóng học nhưng lại dùng để tiêu xài cho những trò chơi vô bổ

- Kĩ năng giao tiếp của các em quá yếu, thường nói trống không với thầy côgiáo Ngay cả khi thầy cô giáo đang say sưa giảng bài các em vô tư cắt nganglời thầy cô với những câu nói không liên quan như những người vô ý hoặc thiếuvăn hóa giao tiếp vậy

- Trong lớp học, khi các thầy cô đang giảng bài các em vẫn vô tư nằm ra ghếhoặc nằm gập xuống bàn ngủ ngon lành Nếu không vậy thì lại ngồi vẽ bậy lênbàn ghế, sách vở hay chọc ngoáy các bạn xung quanh không cho các bạn đượcngồi yên học bài Ra ngoài lớp học, nhiều em nhìn thấy thầy cô giáo vừa dạymình đi qua cũng không một lời chào, hỏi

Trang 11

- Nói tục, chửi bậy trong trường trong lớp, vi phạm nội quy trường lớp

- Không tự giác, tích cực học tập Thậm chí có em đi học nguyên một năm học

mà không viết hết một quyển vở ô ly 100 trang Các em không có khái niệm đihọc để phấn đấu rèn luyện cho tương lai tốt đẹp Với các em đơn giản đếntrường chỉ để đi cùng bạn bè, chơi cùng bạn bè, vì ở nhà không biết làm gì

2.2 Số liệu điều tra về thực trạng của vấn đề

Để hiểu rõ thực trạng về KNS của học sinh lớp 8/1 ở Trường THCS BạchĐằng, ngay từ đầu năm học tôi đã tiến hành cho các em làm bài khảo sát về

KNS vào ngày 28 tháng 9 năm 2018, với câu hỏi: Em có suy nghĩ gì về tình mẫu tử thiêng liêng?

Kết quả thu được như sau:

Lớp / số

học sinh

Kĩ năng tốt Có hình thành kĩ năng Kĩ năng chưa tốt

Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ

Đánh giá kết quả: Đây là câu hỏi mở mà vấn đề trong đó gắn liền với

đời sống tình cảm của HS, đồng thời các em vừa được học văn bản “Trong lòngmẹ” ( Trích hồi kí Những ngày thơ ấu) của nhà văn Nguyên Hồng (Ngữ văn 8trang 15, tập 1) cũng với nội dung bài học về tình mẫu tử thiêng liêng Đối vớicâu hỏi này tôi hướng đến kiểm tra về kĩ năng giao tiếp, kĩ năng nhận thức giátrị bản thân… chỉ cần các em cho bản thân mình chút lắng đọng và nghĩ đếnđấng sinh thành của mình đang vất vả góp chắt từng đồng tiền để các em được

đủ đầy cơm áo và đến trường trong niềm hạnh phúc mà thôi; hoàn toàn khôngyêu cầu các em phải học thuộc bài, không hề nặng kiến thức lý thuyết Quabảng kết quả trên, tôi nhận thấy số học sinh nhận thức được giá trị của tình mẫu

tử thiêng liêng chỉ đếm trên đầu ngón tay, đó là các em đã mạnh dạn, chủ độngnói lên cảm xúc của chính mình; ngoài ra còn một số em đã bước đầu nhận thứcđược vấn đề và bước đầu có những KNS cơ bản nhưng chưa thực sự sâu sắc.Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều em học sinh chưa thật sự sâu sắc trong tình cảm,

Trang 12

thiếu tự tin, không biết biểu đạt cảm xúc hay suy nghĩ của bản thân về tình mẫutử… Hơn nửa số học sinh còn lại của lớp 8/1 (53,4 %) các em không bộc lộđược tình cảm của bản thân, nếu có thì cảm xúc còn hời hợt, thậm chí bí từ khinói về chính tình cảm của bản thân với gia đình đặc biệt là mẹ Để khắc phụctình trạng trên thì cả giáo viên và học sinh cần phải nỗ lực rất nhiều Đặc biệt từphía giáo viên cần có những biện pháp tích cực, phù hợp với HS trường đảo đểtạo hứng thú học tập cũng như rèn luyện KNS cho các em.

2.3 Nguyên nhân dẫn đến thực trạng vấn đề

Bằng kinh nghiệm của bản thân qua các năm giảng dạy và tìm hiểu đốitượng HS, tôi nhận thấy nguyên nhân của thực trạng trên là:

- Về phía học sinh: HS lớp 8 là lứa tuổi có sự biến đổi tâm sinh lý bản

thân và sự biến đổi trong các mối quan hệ Tình trạng chung của HS ở đảo TríNguyên là không coi trọng việc học tập và không phấn đấu học ở bậc học caohơn, các em hoàn toàn buông lỏng suy nghĩ về tương lai Đặc biệt là HS nam, sốnhiều là theo nghề biển cùng gia đình, có nhiều em sáng đến trường, chiều vàtối tranh thủ đi ghe đánh cá gần bờ cùng cha Trong khi các em HS trong thànhphố phần đa được cha mẹ quan tâm sát sao trong việc học tập, rèn luyện, thậmchí cha mẹ các em còn đưa đón mỗi ngày đến trường để quản lý chặt chẽ quỹthời gian của con em mình thì các em học sinh trường đảo Trí Nguyên phần đa

là phải tự chăm sóc bản thân, tự chủ động đi học chứ cha mẹ các em ít khi nhắcnhở, quản lý hay quan tâm, có khi em nghỉ học mà gia đình không hay biết

- Về phía phụ huynh học sinh: Gia đình của các học sinh trường THCS

Bạch Đằng nói chung, trong đó có học sinh lớp 8 sống trên địa bàn đảo, kinh tếgia đình của các em hầu như phụ thuộc vào nuôi trồng và đánh bắt trên biển.Nhiều gia đình đi đánh bắt xa bờ rất dài ngày, có những chuyến đi kéo dài hơn

cả tháng hoặc hai, ba tháng là bình thường Trong những chuyến xa khơi đểmưu sinh như vậy họ thường gửi con cái ở nhà nhờ ông bà trông, hoặc anh chị

em tự chăm sóc lẫn nhau, có trường hợp một số học sinh còn phải tự ở nhà một

Trang 13

mình và tự lo cho bản thân Thêm vào đó phụ huynh học sinh trình độ dân trí

thấp, phụ huynh không khuyến khích con cái học tập, chưa có nhận thức đầy đủ

về nhiệm vụ giáo dục KNS cho con em mình, chưa thực sự gương mẫu cho các

con noi theo Không phối hợp với nhà trường giáo dục các em Phó mặc nhiệm

vụ giáo dục học sinh cho giáo viên và nhà trường

- Về phía môi trường xã hội: Sự phát triển nhanh về kinh tế - văn hóa –

xã hội tại địa phương đồng thời đem lại nhiều hệ lụy cho HS Các tụ điểm vuichơi game, Internet; Bi-a … quanh cổng trường hút tầm nhìn và kích thích trí tò

mò, lòng ham chơi của các em Đa số HS trong khối 8 đang học tại TrườngTHCS Bạch Đằng đều có điện thoại thông minh để chơi game, lướt feabook…Tất cả như một cánh tay khổng lồ lôi kéo HS rời xa học tập đồng thời tạo ranhiều nguy cơ tấn công vào tâm lý, sức khỏe của HS

Như vậy, nguyên nhân quan trọng dẫn đến vấn đề trên là do các em họcsinh còn coi nhẹ việc học, buông lỏng việc rèn luyện mọi mặt của bản thân Vớinhững nguyên nhân này thì tác động quan trọng nhất giúp các em tiến bộ đó là

sự tâm huyết, sát sao hướng dẫn từng bước của giáo viên bộ môn với nhữngphương pháp phù hợp với HS trường đảo

3 Giải pháp thực hiện đề tài lồng ghép giáo dục KNS trong giảng dạy văn bản Ngữ văn ở lớp 8/1 Trường THCS Bạch Đằng

3.1 Các địa chỉ lồng ghép giáo dục KNS trong giảng dạy văn bản Ngữ văn 8

Lồng ghép giáo dục KNS cho HS thông qua các môn học phải được thựchiện thật sự có hiệu quả, đặc biệt ở những bài học có yêu câu lồng ghép Sauđây là các địa chỉ lồng ghép giáo dục KNS trong môn Ngữ văn 8:

(Theo sách Giáo dục kĩ năng sống trong môn Ngữ văn ở trường THCS – tài liệugiành cho giáo viên, NXB Giáo dục Việt Nam, xuất bản năm 2010 - từ trang 55đến trang 66)

STT Tên văn bản Các kĩ năng cơ bản được giáo dục

Trang 15

12 Quê hương - Giao tiếp

*Bước 1: Chuẩn bị nội dung lồng ghép KNS

Bước này được tiến hành khi ta soạn giáo án và được xem là bước khởi đầuquan trọng Muốn nội dung lồng ghép đạt hiệu quả giáo dục không mang tínhchất gượng ép mà rất tự nhiên, không làm đứt mạch bài giảng hay ảnh hưởngđến thời gian, thì khi soạn giáo án giáo viên cần có sự cân nhắc và lựa chọn đốivới từng bài cụ thể nên lồng ghép giáo dục KNS gì? Lồng ghép ở phần nào?Lồng ghép bằng cách nào? Như vậy nội dung lồng ghép đã được chuẩn bị cụthể, giáo viên chủ động tiến hành

*Bước 2: Thực hiện lồng ghép KNS trong bài giảng

Trang 16

Khi giáo viên đã có sự chuẩn bị trong giáo án thì đối với việc thực hiện lồngghép KNS trong giờ giảng được tiến hành quá thuận lợi và linh hoạt ở bất cứphần nào, có điều, nó tùy thuộc vào từng bài cụ thể, chẳng hạn:

+ Lồng ghép ở phần giới thiệu bài: Giáo viên xây dựng tính huống phản ánh

đúng nội dung giáo dục từ bài học và khéo léo dẫn dắt các em vào bài Điều này

sẽ tạo được hứng thú học tập cho các em ngay từ bước đầu và kích thích kĩ năng

tư duy sáng tạo, khám phá của các em

+ Lồng ghép trong quá trình giảng dạy: Ngoài việc hướng dẫn các em chủ động

chiếm lĩnh hệ thống trí thức của bài học, giáo viên đan xen các câu hỏi lồngghép và liên hệ giáo dục KNS sẽ làm cho bài giảng thêm phần sinh động, họcsinh sẽ thấy thoải mái hơn…

+ Lồng ghép trong phần luyện tập: Việc lồng ghép ở phần này có cái hay ở chỗ

giúp các em khắc sâu hơn các nội dung, giá trị của cả bài học và lồng ghép KNStrong phần thực hành Nhưng có điều nó còn tùy thuộc vào thời gian mỗi tiếthọc giành cho phần luyện tập như thế nào…

Như vậy, trong giờ giảng Văn, việc dạy học lồng ghép giáo dục KNS chohọc sinh nên thực hiện ở khâu nào tùy thuộc vào sự bố trí, sắp xếp của từng giáoviên

3.3 Một số giải pháp thay thế

3.3.1 Tổ chức những hoạt động đối thoại đa dạng trong giờ dạy học

Nội dung của hoạt động đối thoại rất đa dạng, phong phú: thường là vấn

đề kiến thức bộ môn, có khi là hiểu biết về đời sống, có khi là kiến thức về kĩnăng diễn đạt, có khi là sự kết hợp của các vấn đề trên, … Để nêu vấn đề đốithoại, giáo viên sử dụng các dạng câu hỏi khác nhau để nêu vấn đề cần đốithoại Câu hỏi nêu vấn đề để thực hiện đối thoại cần phù hợp, vừa sức và pháthuy được trí tuệ và năng lực, các năng lực tổng hợp của HS Qua hoạt động đốithoại giáo viên truyền thụ kiến thức bài học hay giáo dục năng lực đời sống vàrèn kĩ năng cho HS Tuy nhiên, giáo viên cũng cần lưu ý: Đối thoại giữa giáo

Ngày đăng: 27/04/2022, 21:14

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

+ Em thấy gì từ những hình ảnh trê n? - SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
m thấy gì từ những hình ảnh trê n? (Trang 21)
Giáo viên đưa ra những hình ảnh minh họa sau đó đặt câu hỏi để các em bày tỏ ý kiến của mình. - SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
i áo viên đưa ra những hình ảnh minh họa sau đó đặt câu hỏi để các em bày tỏ ý kiến của mình (Trang 21)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w