1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

document

61 6 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 10,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 61 62

Trang 1

BQ GIAO THONG VAN TAI TRUONG CAO DANG GIAO THONG VAN TAI TRUNG UONG I

GIAO TRINH MON HOC

THI CONG MONG MO TRU

CAU LAP GHEP

TRINH DQ CAO DANG NGHE: XAY DUNG CAU DUONG

Ban hành theo Quyết định số 1955/QĐ-CĐGTVTTWI-ĐT ngày

21/12/2017 của Hiệu trưởng Trường Cao đăng GTVT Trung ương I

Hà nội, 2017

Trang 2

BQ GIAO THONG VAN TAI

TRUONG CAO DANG GIAO THONG VAN TAI TRUNG UONG I

GIAO TRINH

Môn học: Thi công móng mô trụ cau

lắp ghép NGHE: XAY DUNG CAU DUONG

TRINH DO: CAO DANG

Hà Nội — 2017

Trang 3

LOI MO DAU

Thi công mố trụ cầu lắp ghép và cầu dây là môn học bắt buộc trong chương trình dạy nghề dài hạn, nhằm trang bị cho người học nghề một số kiến thức, kỹ năng cơ bản về công tác mồ trụ cầu lắp ghép và cầu dây từ khâu thiết

kế, thi công công trình cầu

Hiện nay các cơ sở dạy nghề đều đang sử dụng tài liệu giảng dạy theo nội

dung tự biên soạn, chưa được có giáo trình giảng dạy chuẩn ban hành thống nhất, vì vậy các giáo viên và sinh viên đang thiếu tài liệu để giảng dạy và tham khảo

Nhằm đáp ứng yêu cầu giảng dạy và học tập trong giai đoạn mới của nhà trường, tập thể giáo viên khoa Công trình đã biên soạn giáo trình môn học mố trụ cầu lắp ghép và cầu dây hệ Cao đẳng nghề, giáo trình này gồm những nội dung chính như sau:

Bài 1: Công tác đo đạc trong thi công nền và móng

Bài 2: Thi công trụ cầu cao và trụ tháp

Bài 3: Thi công mồ trụ cầu lắp ghép và bán lap ghép

Trong quá trình biên soạn chúng tôi đã tham khảo các nguồn tài liệu sẵn

có trong nước và với kinh nghiệm giảng dạy thực tế Mặc dù đã có nhiều nỗ lực,

tuy nhiên không tránh khỏi thiếu sót

Chúng tôi rất trân trọng và cám ơn những ý kiến đóng của đồng nghiệp

và các nhà chuyên môn để giáo trình Thi công mồ trụ cầu lắp ghép và cầu dây đạt được sự hoàn thiện trong những lần biên soạn sau nay

Chân thành cảm ơn !

Nhóm tác giả !

Trang 4

MUC LUC Bai 1: Công tác đo đạc trong thi công móng mồ trụ cầu - 6

1 Định vị mố, trụ trước khi thi công 6

2 Công tác đo đạc trong quá trình thi công

3 Độ chính xác trong đo đạc

Bài 2: Thi công trụ cầu cao và trụ tháp

1 Cấu tạo ván khuôn leo và ván khuôn trượt

2 Ván khuôn leo theo khung chôn sẵn:

3 Ván khuôn nâng bằng cần cầu leo:

4 Ván trượt theo thân tháp bằng kích:

5 Biện pháp thi công phân thân trụ

6.Biện pháp thi công trụ tháp

Trang 5

Bài 1: Công tác đo đạc trong thi công móng mố trụ cầu

Trong thi công cầu, công tác đo đạc nhằm mục đích lam cho công trình và

các chỉ tiết cửa công trình có vị trí, hình dáng, kích thước hình học đúng như

thiết kế Kết quả đo thiếu chính xác dẫn đến sự sai lệch vị trí, thay đổi kích thước hình học cửa kết cấu, gây khó khăn cho việc thi công bước tiếp theo, làm

thiệt hại về khối lượng thi công và giảm sát chất lượng, rút ngắn tuổi thọ công trình.Công tác đo đạc cần được tiến hành thường xuyên trong suốt thời gian thi

công, tuân theo kế hoạch đã vạch từ trước với yêu cầu chặt chẽ về độ chính xác

Nội dung cửa công tác đo đạc bao gồm:

- Kiểm tra và xác định lại hệ thống cọc mốc và mốc cao đạc do tư vấn thiết kế

- Lập hệ thống cọc mốc cầu gồm: mốc khống chế tim cầu, đường trục khống chế

tìm mố, tim trụ các cọc mốc đường dẫn,đường nhánh và công trình hướng

- Định vị trên thực địa các công trình phụ tạm trong thi công như đường tránh,

đường công vụ, bến bốc dỡ, kho bãi vật liệu

Ngoài ra, công tác đo đạc còn có nhiệm vụ xác định khối lượng công tác hoàn

thành phục vụ nghiệm thu Trong những trường hợp đặc biệt cần lập một chương trình đo đạc dé theo dõi biến dạng cửa công trình trong một thời gian dài

1 Định vị mố, trụ trước khi thi công

- Xây dựng hệ thống cọc mốc xác định vị trí tim cầu Công tác đo đạc, xây dựng

hệ thống cọc mốc căn cứ trên những tài liệu cơ bản sau:

- Bình đồ khu vực xây dựng cầu, trên đó chỉ rõ đường tim tuyến, đường tim cầu Trường hợp cầu xây dựng ở nơi có điều kiện thiên nhiên phức tạp, bãi sông rộng hơn 100m, nơi các cọc mốc dễ bị thất lạc cần xác định thêm đường tim phụ song song với đường tim chính cho tuyến và cho cầu

- Sơ đồ đường sườn đo đạc và các thuyết minh kèm theo

- Bản sao toạ độ, cao độ cửa các cọc thuộc đường sườn đo đạc

- Các yếu tố cửa đường sườn như: cọc mốc, mốc cao đạc, điểm khống chế tim

tuyến, tim cầu Ti lệ cửa bình đồ, số lượng cọc mốc căn cứ theo độ lớn cửa công trình và tham khảo theo bảng I-1

Trang 6

Bang 1-1: Qui định về tỉ lệ bình đồ và số lượng cọc mốc đường sườn

Tỉ lệ Loại công Số lượng cọc Vật liệu

Đường vào - Ít nhất 2 cọc trên -Ítnhấtcó I cọc Gỗ

- Trên đoạn đường - Ở vị trí cách

cong phải có các CỌC đường trục

ở tiệp đầu, tiệp cuôi, <40m ngoài

đường phân giác VỀ phạm vi của nền

điêm ngoặt của tuyên đường, rãnh đọc

- Cọc cửa đường sườn không được thất lạc, phải cố định suốt trong thời gian thi

công cho đến khi bàn giao công trình Các cọc và mốc cao đạc cần đặt ở nơi có

nền đất chắc chắn, không ngập lụt hoặc đặt trên nền các công trình đã ồn định Tuy theo mitre độ quan trọng và thời gian sử dụng, các cọc mốc có thể được làm

bằng gỗ, bằng thép hay bê tông cốt thép

- Cọc mốc cần được chôn sâu từ 0,3 đến 0,5m và nhô cao khỏi mặt đất từ 10 đến

15cm, trên đó có ghi kí hiệu tên cọc Các mốc quan trọng, thời gian tồn tại kéo dài nhiều năm cần được xây dựng chắc chắn, có nấp che ( hình 1.1) Các cọc

thuộc đường tim cầu,tim tuyến phải gắn vào lý trình chung cửa tuyến đường

Trang 7

Hinh 1.1 Cấu tạo mốc trắc đạc đối với trục chính 1- nắp đậy 2- vữa bê tông

- Định vị tim mồ trụ cầu.Trong thi công cầu,công tác định vị tim mồ trụ thường

gặp nhiều khó khăn, nhất là đối với những công trình cầu lớn, sông sâu, nước

chảy xiết hoặc qua vực sâu hiểm trở.Công việc đo đạc xác định vị trí tim mồ trụ đòi hỏi phải được thực hiện nghiêm túc, thận trọng, có phương pháp và làm

nhiều lần bằng những thiết bị khác nhau để so sánh, kiểm tra và đạt được kết quả

đo tin cậy Tuỳ theo nhiệm vụ đo đạc cụ thể, có thể áp dụng các phương pháp

định vi tim mé trụ trực tiếp hay gián tiếp

1.1 Phương pháp đo trực tiếp:

- Việc xác định chiều dai cầu và định vị tim mồ trụ cửa cầu trên tuyến thẳng có chiều dài đưới 100m nên thực hiện bằng phương pháp đo trực tiếp Chiều dài cầu và khoảng cách giữa tim các mồ trụ được đo bằng thước thép kết hợp với máy kinh vĩ ngắm hướng thẳng Trong phạm vi ngập nước, việc đo và đánh dấu

được tiến hành trên cầu tạm Cầu tạm thường dựng bằng gỗ bên cạnh dọc theo

cầu chính Cầu này còn có thể phục vụ đi lại trong thời gian thi công thi công

- Trụ cầu tạm thông thường làm bằng gỗ tròn Ø 12 đến 16cm hoặc gỗ hộp

10x10, 15x15cm, đóng ngập sâu vào nền từ 2,0 dén 2,5m Mat cầu lát ván dày 4cm Tim dọc phụ đặt trên mặt cầu tạm và được đánh dấu cố định bằng đỉnh

đóng cách nhau 3 đến 5m

a) Định vị cầu nhỏ:

Đối với các cầu nhỏ có dòng chảy nhỏ, nước không ngập sâu, có thể đóng các

cọc mốc tương đối dễ dàng Từ cọc mốc gần nhất dẫn ra tất cả các vị trí tim mố,

tim trụ bằng cách đo 2 lần có kinh vĩ ngắm hướng Đặt máy kinh vi tai tim của từng mồ và trụ dé xác định vị trí các cọc ở hai phía thượng và hạ lưu cầu, mỗi

phía đóng 2 cọc để khống chế đường tim mó, tim trụ Thông thường ngắm theo

Trang 8

hướng vuông góc với tim cầu, trừ những cầu đặt chéo tim trụ hợp với tim cầu

b) Định vị cầu trung và cầu lớn ngay trên mặt bằng thực địa:

- Các cầu trung và cầu lớn chỉ sử dụng được phương pháp đo trực tiếp khi có thể

đo khoảng cách bằng thước

- Đường tim dọc cầu dựa theo hệ thống cọc mốc do thiết kế lập từ trước mà xác

định

- Chiều dài cầu, khoảng cách lẻ từ cọc mốc đầu đến tim mồ và khoảng cách giữa

các tim mồ, trụ được đo bằng thước thép có kinh vĩ ngắm hướng Do dai hai 1an

theo hướng đi và hướng về, kết quả cần được hiệu chỉnh theo nhiệt độ môi

trường tại thời điểm đo, độ dốc địa hình và lực kéo căng thước khi đo Tốt nhất

là kéo thước theo phương ngang với lực kéo qui định và dùng dây rọi đánh dấu

điểm kéo thước Các lần đo đều do một người có kinh nghiệm kéo

Trang 9

Hình 1.3 - Sơ đồ định vị mồ trụ trên cầu tạm

a) Trụ tạm song song với trục cầu chính

b) Trục cầu tạm không song song với trục cầu chính

1- cọc mốc đã có 2- cọc định vị 3- phạm vi móng mồ và trụ

- Sau khi đã có các cọc mốc tim mồ trụ, phải xây dựng hệ thống cọc định vị như

đối với cầu nhỏ đã nói ở trên

c) Dinh vi cau trung, cầu lớn khi có cầu tạm:

Những cầu qua nơi có nước,mức nước không sâu có thể dựng cầu tạm cách cầu

chính từ 20 + 30m dé do đạc và đi lại Thông thường tim cầu tạm song song với

tim cầu chính

+ Khi cầu tạm song song với tim cầu chính (hình 1.3 a) cách đo như sau:

Từ các cọc mốc A,B đã có lập trục phy A’,B’ trên cầu tạm bằng hệ đường sườn

đo đạc hình chữ nhật ABA”B' Trên trục A°B đo cự ly xác định hình chiếu của các tim mé, trụ cầu chính M0”, T1’,T2’ Mn’ Dat máy kinh vĩ tại các điểm vừa xác định ngắm góc 90° so với trục A'B', đóng các cọc định vị tim mồ, trụ ở hai

phía thượng và hạ lưu cầu Giao điểm cửa hướng ngắm trục AB và đường gióng các cọc định vị tương ứng sẽ cho vị trí tìm mó, trụ

+ Khi trục cầu tạm không song song với trục cầu chính, trường hợp này gặp

phải khi bên cạnh cầu chính có một cầu cũ đang khai thác, ta sử dụng lề người đi

cửa cầu này để dựng đường trục phụ A°B' ( hình 1.3 b), hợp với trục cầu chính

một góc y

y=œ~90° =8 ~00° -—Ẻ (1.1)

Khoảng cách giữa 2 mốc A, B 1a:

AB=A’B’ cosy (1.2)

+ Cự ly hình chiếu cửa các m6, trụ trên trục phụ A”B' là khoảng cách thiết kế

(thie) chia cho cosy Vi dy T1’T2’ = T1T2/ cosy

+ Đặt máy kinh vĩ tại các điểm đã xác định được trên cầu tạm, mở goc a so

với trục A*B', xác định các cọc định vị như phần trên đã trình bày

1.2 Phương pháp đo gián tiếp:

- Đối với những cầu trung và cầu lớn có địa hình phức tạp, nước ngập sâu và dòng chảy xiêt, sông có thông thuyên không thê áp dụng phương pháp đo trực tiêp Định vị mô, trụ và đo chiêu dài băng phương pháp gián tiệp là sử dụng máy kinh vĩ đo trên mạng tam giác đạc

10

Trang 10

- Trên bờ sông, chọn nơi thích hợp lập mạng lưới đo đạc là tam giác hoặc tứ

giác.Mạng lưới đo đạc cần được xác định với độ chính xác cao các cự ly đài và cao độ các đỉnh Qui đổi toạ độ các đỉnh theo một hệ toạ độ qui ước thuận lợi

Hình 1.4 - Các dạng đồ hình mạng lưới đo đạc 1- cơ tuyến 2- tim cầu

- Đơn giản nhất là lập mạng đo đạc chỉ có một tam giác với một cơ tuyến và đo

2 góc đỉnh (hình 1.4 a) Để nâng cao độ chính xác và kiểm tra lẫn nhau dùng

mạng lưới đo đạc gồm 2 tam giác với 2 cơ tuyến ( hình 1.4 b), hoặc hay dùng hơn cả là mạng lưới đo đạc tứ giác với 1 cơ tuyến (hình 1.4 c) hay 2 cơ tuyến (hình 1.4 d)

- Nếu gần nơi xây dựng cầu có cầu cũ hay bãi nỗi thì nên tận dụng đặt cơ tuyến trên cầu cũ ( hình 4.4 e) hoặc trên bãi giữa ( hình 4.4 g) Khi sử dụng phương pháp tam giác đạc để đo khoảng cách giữa các mốc và tim mó, trụ mạng lưới tam giác đạc cần phải thoả mãn các điều kiện sau:

1- Hình thái mạng lưới tam giác đạc:

+ Cầu trung dùng mạng lưới 2 hoặc 4 tam giác

+ Cầu lớn dùng mạng lưới tứ giác Khi có bãi nỗi giữa sông thì dùng mạng

lưới trung tâm ( hình 4.4 h)

2- Điều kiện về các góc cửa mạng lưới đo đạc:

+ Nếu là tam giác,các góc không nhỏ quá 25° và không lớn qua 130°

11

Trang 11

+ Nếu là tứ giác, các góc không nhỏ quá 20°

3- Điều kiện mạng lưới chung:

+ Mạng lưới chung phải có ít nhất 2 điểm định vị đường tim cầu, mỗi bên bờ

một điểm

+ Bao gồm những điểm mà từ đó có thể định tâm mố trụ bằng giao tuyến

thắng và thuận lợi kiểm tra trong quá trình thi công Đường giao của hướng ngắm và tim cầu càng gần 900 càng tốt Chiều dài đường ngắm từ kinh vĩ đến

tâm trụ qui định không lớn hơn:

+ 1000m khi dùng kinh vĩ có sai số góc 1”°

+ 300m khi dùng kinh vĩ có sai số góc 10”’

+ 100m khi dùng kinh vĩ có sai s6 géc 30”

- Số lượng giao điểm bên sườn không được ít hơn 2 điểm Các đỉnh và điểm đo

cửa mạng lưới đo đạc cần được chôn cố định Mỗi lần ngắm máy cần dẫn tim

mốc lên đế máy Nếu không thể dẫn tìm mốc lên đế máy thì cần xác định các

yếu tố quay về tâm và điều chỉnh cho thích hợp Nếu địa hình phức tạp, các điểm ngắm bị che khuất trên mặt bằng thì trên tâm của điểm đo cần phải dựng

chòi dẫn mốc với độ cao cần thiết ( hình 1.5)

Hình 1.5- Chòi dẫn mốc

- Chiều đài cầu đưới 200m có thể dùng 1 cơ tuyến Nếu cầu dai hon phải dùng ít nhất 2 cơ tuyến Cơ tuyến cắm ở nơi bãi sông có độ dốc nhỏ hơn 1% Trong một

số trường hợp cho phép cắm một mạng cơ tuyến đặc biệt

- Chiều đài cơ tuyến nên lấy bằng nửa chiều đài cần xác định Độ chính xác khi

đo cơ tuyến lấy gấp đôi khi đo chiều dài thông thường

- Mỗi tim trụ mồ được giao hội tối thiểu của 3 đường ngắm từ 3 mốc đỉnh cửa

mạng Sai số của điểm giao hội khéng qua 1,5cm

12

Trang 12

- Cách xác định tim một trụ cầu bằng phương pháp giao hội tia ngắm trên mạng

lưới tam giác đạc có 2 cơ tuyến được chỉ ra trên hình 1.6

- Chiều dài cơ tuyén AC, AD va géc al, œ2 tương ứng cửa chúng với đường tim cầu đã được đo đạc và xác định từ trước Chiều dài AT2 xác định theo tài

liệu thiết kế Từ các yếu tố trên giải các tam giác ACT: , ADT;, tính được các

g6c Bim Va Bon Dat kinh vĩ tại đỉnh C và D ngắm về A mở lần lượt các góc

Bi và Bzr› giao hội với nhau và giao hội với tia ngắm của máy dat tai A

ngắm dọc theo tim cầu Sai số cho phép như đã trình bày ở trên

Hình 1.6 - Sơ đồ định vị tim mồ trụ bằng phương pháp giao hội tia ngắm

- Để định vị tạm thời, nếu T2 ở trên can thì dùng tiêu để xác định, nếu T2 nằm

trong khu vực ngập nước, với nước cạn dùng cọc tạm, với nước sâu phải dùng

bè phao

- Sau khi định vị tìm mố trụ, có thể đựa vào đó để xây dựng các công trình phụ

tạm như đắp đảo, đắp vòng vây đất, làm đà giáo Khi đã có các công trình phụ tạm, cần đo đạc định vị lại cho thật chính xác, từ đó mà xây dựng công trình chính

1.3 Xác định tìm mồ trụ cầu cong:

- Thông thường tim cầu cong được lấy dọc theo đường cong cửa tuyến, trục đọc cửa mồ trụ lấy theo hướng bán kính tương ứng cửa đường cong Thực tế, do điều kiện dòng chảy, điều kiện địa chất hoặc giao thông dưới cầu, trục dọc cửa

mồ trụ có thể lấy song song với hướng cửa dòng chảy, hướng cửa đường dưới cầu hay hướng phân giác góc đỉnh

- Để xác định tim mé tru cau cong can thống nhất:

+ Điểm giao cửa trục dọc đường cong và trục dọc mó, trụ là tim mồ trụ cầu

+ Trục ngang mồ trụ lấy vuông góc trục đọc tại tìm mé,try

+ Lấy tim đường cong trên cầu làm trục đọc cầu

+ Hướng bán kính đường cong là trục dọc mồ trụ

- Tiếp tuyến đường cong tại tim mồ trụ là trục ngang mồ trụ

13

Trang 13

- Trên cơ sở đó, các số liệu đề định vi méc va tim mé try là:

+ Các yếu tố đường cong đầu cầu và trên cầu

+ Khoảng cách tim các mé tru

+ Lý trình các điểm

+ Đường tên, cung tương ứng cửa nhịp cầu

- Định vi tim cầu cong có thể áp dụng nhiều phương pháp Tuỳ mức độ phức tạp

cửa công trình mà quyết định sử dụng phương pháp nào Thông thường định vị tim mố trụ cầu cong bằng những phương pháp sau:

- Phương pháp đa giác: Trên hình 1.7a thể hiện phương pháp đa giác định vị tim

mồ trụ cầu Coi vị trí tìm mồ trụ là các đỉnh cửa đa giác nội tiếp đường cong trục dọc cầu Dựa vào tài liệu thiết kế tính được các cạnh, góc cửa đa giác

- Khi định vị trên thực địa, vị trí tim mồ trụ được xác định lần lượt nên sai số bị

cộng dồn, vì vậy phương pháp này chỉ áp dụng cho những cầu không quá 3 nhịp

- Phương pháp tiếp tuyến: Vị trí của mồ trụ được xác định theo mốc Dựa vào góc đỉnh © và bán kính cong R xác định được T = Reotgs và các yếu tố đường cong khác Đặt máy kinh vi tai Mo xác định hướng tiếp tuyến, đo chiều dài T,

xác định được đỉnh Ð Đặt kinh vĩ tại Ð mở góc ố với tiếp tuyến MoÐ, đo chiều

dài T xác định được Mạ Vị trí tim trụ Tị, Ta được xác định bằng phương pháp

toạ độ vuông góc Trục toạ độ thường chọn là tiếp tuyến MoD, (hinh 1.7 b)

- Phương pháp dây cung kéo thẳng (hình 1.7 c): Với các cầu cạn hoặc cầu có

sử dụng cầu tạm để đo đạc nên dùng phương pháp dây cung kéo thẳng Từ hồ sơ

thiết kế, có thê tính được dây cung M;Ms, chiều dài các đoạn kéo thẳng và cự ly

lẻ cửa các đoạn trên dây cung Các cự ly phải đo theo mặt phẳng nằm ngang Trên dây cung, xác định các điểm hình chiếu của mố trụ bằng thước thép, có máy kinh vĩ ngắm hướng Từ các điểm hình chiếu đã được xác định, đặt máy

kinh vĩ mở góc 90” so với dây cung, ngắm hướng để đo độ dài tung độ dóng từ dây cung, xác định vị trí tim trụ

- Phương pháp toạ độ cực: Dựa vào hồ sơ thiết kế, xác định được các yếu tố

cửa tam giác ABO (hình 1.7 đ), từ đó xác định tâm O trên thực địa Ngoài ra, cũng tính được các toạ độ cực của các tim mồ trụ với các ÓC ơi, 0a tương ứng

Dùng máy kinh vĩ đặt tại O mở các góc với OA là ơ¡, dạ xác định được vị trí

hình chiếu xuyên tâm cửa các trụ Tị, T›;,Ts là T¡?, T;), Tạ” trên dây cung AB

Dùng kinh vĩ đặt tại O, ngắm hướng để đo các toạ độ cực tương ứng xác định

được vị trí tim trụ Tì, T2,T3

- Phương pháp giao hội tia ngắm: Nếu cầu lớn địa hình phức tạp, nước ngập

14

Trang 14

sâu không áp dụng được những phương pháp định vị nói ở trên thì sử dụng một

hệ thống đường sườn, dùng máy kinh vĩ đặt trên các đỉnh đường sườn ngắm giao

hội không dưới 3 tia cho l tim mồ trụ Hệ thống đường sườn tối thiểu có 2 cơ

tuyến Các yếu tố hình học được tính toán dựa trên thiết kế Tốt nhất là xác định

toạ độ của tất cả các đỉnh theo một hệ toạ độ thuận lợi Thực hiện định vị tim trụ

bang giao hội tia ngắm như phan trên đã trình bay.MoT

c)

Tt aT T4

Hình 1.7 - Sơ đồ đo đạc các phương pháp định vị cầu cong

a) phương pháp đa giác b) phương pháp tiếp tuyến

©) phương pháp dây cung kéo thang

đ) phương pháp toạ độ cực e) phương pháp giao hội tia ngắm

- Những yêu cầu kỹ thuật khi định vị mồ trụ cầu cong:

+ Định vị mố trụ cầu cong bằng phương pháp dây cung kéo thẳng, phương pháp toạ độ cực hay phương pháp tiếp tuyến sử dụng máy kinh vĩ có độ chính xác <30'°, chiều đài đo theo phương nằm ngang sai số cho phép không quá

+0,5cm Chiều dài đo không được lớn hơn 2 lần chiều đài thước

+ Các kích thước đo dài phải được đo 2 lần ( bằng 2 cách khác nhau, hoặc từ 2

mốc khác nhau, hoặc do 2 nhóm đo khác nhau, thời điểm đo khác nhau để tránh

sai số lặp lại ) Nếu dùng phương pháp ngắm giao hội từ 1 mạng đường sườn đo

15

Trang 15

đạc phải ngắm mỗi điểm 3 lần, mỗi lần ít nhất 3 tia ngắm, 3 giao điểm sai không quá 3cm

1.4 Phương pháp đo cao độ:

- Trước và trong suốt quá trình thi công, ngoài công tác đo đạc định vị còn phải

đo đạc cao độ công trình

- Công tác đo cao độ được tiến hành bằng máy thuỷ bình

- Cao độ công trình phải thống nhất được dẫn về từ một mốc cao đạc (mốc này

có thể là mốc cao đạc Quốc gia hoặc mốc giả định được qui ước sử dụng) Để cho việc dẫn cao độ được chính xác, mau chóng đến mọi hạng mục cửa công

trình phải lập một hệ thống mốc cao đạc bổ sung phân bố hợp lý trên công

trường Hệ thống mốc cao đạc chính và phụ liên hệ thống nhất với nhau, có hồ

sơ lưu trữ đi kèm Mỗi bên mồ bắt buộc phải có một mốc cao đạc phụ Toàn bộ

hệ thống mốc cao đạc với sai số theo qui trình là + 20 L ( L - khoảng cách cao

đạc tính bằng Km, sai số tính bằng mm ) và trị tuyệt đối nhỏ hơn 10 mm

- Khi thi công trụ, để theo dõi được nhanh chóng và chính xác cao độ ở từng

thời điểm thi công, cần đặt những mốc ở mức thấp và mức cao

- Toàn bộ việc đo đạc cao độ công trình phải thực hiện 2 lần bằng máy thuỷ bình

có độ chính xác tương ứng theo yêu cầu

2 Công tác đo đạc trong quá trình thi công

- Công tác đo đạc phải đảm bảo cho công trình trình thi công đúng vị trí, chính xác về hình dạng và kích thước, đúng cao độ do vậy công tác này đòi hỏi trước hết phải được thực hiện một cách có kế hoạch, có phương pháp đúng đắn và tiến hành thường xuyên trong suốt quá trình thi công từ đào hố móng đến xây dựng

mé tru, lao lap kết cấu nhịp và hoàn thiện công trình Công tác đo đạc phải làm chính xác, mau chóng, đúng lúc, tạo điều kiện thuận lợi cho thi công, không ảnh

hưởng đến tiến độ và thực hiện bởi một nhóm cán bộ, công nhân có trình độ

chuyên môn về đo đạc

- Để làm tốt công tác này cần thực hiện nghiêm túc những nhiệm vụ sau:

+ Nghiên cứu kỹ và nắm vững đồ án thiết kế kỹ thuật và thiết kế tổ chức thi

công

+ Nghiên cứu kỹ thực địa, nắm vững điều kiện địa hình, điều kiện địa chất thuỷ văn, diễn biến thời tiết và tình hình mặt bằng công trường Từ đó đưa ra được biện pháp đo tốt nhất, đảm bảo độ chính xác

+ Xây dựng hệ thống mốc phụ hoàn chỉnh, đầy đủ làm cơ sở cho việc định vị, đo

đạc và kiểm tra

+ Chế sẵn các khung định vị, bàn gá, thanh mẫu, tắm dưỡng để giúp cho việc đo

16

Trang 16

đạc, lấy dấu và kiểm tra mau chóng, dé dang

+ Chuan bị đầy đủ các thiết bị và dụng cụ đo đạc như máy kinh vi, máy thuỷ

bình, thước thép, múa, tiêu, dây thép, quả rọi Thiết bị, dụng cụ phải ở trạng thái sẵn sàng làm việc Máy móc phải được kiểm tra định kỳ và hiệu chỉnh kịp thời

nếu có sai lệch

2.1 Đo đạc trong thi công móng khối:

- Thi công móng khối gồm 2 công đoạn chính là đào hố móng và xây dựng

móng Công tác đo đạc đáp ứng cho hai giai đoạn thi công nói trên

- Dựa vào vi tri tim mé, tru đã xác định được và dựa vào kích thước cửa hồ đào

trong bản vẽ thiết kế tổ chức thi công, đóng các cọc gỗ và dựng khung định vị xung quanh hố đào như hình 1.8 Theo trục doc va trục ngang cửa móng, đóng những hàng đinh trên giá để khống chế vị trí Giao điểm cửa dây căng theo 2

trục này là vị trí tim mồ, trụ Ngoài ra còn đóng đinh về hai phía của đường tim

để xác định kích thước hố đào, kích thước móng Vị trí thực đưới đáy móng

được xác định bằng quả dọi, dọi xuống từ giao điểm cửa các dây căng tương ứng

kéo theo các đỉnh lấy dấu đóng trên giá gỗ

- Sai số khi định vị móng khối là + 5cm

- Sau khi đào hố móng phải đo đạc xác định lại vị trí đáy móng đẻ việc xây lắp

tiếp theo được chính xác

- Đáy móng và đỉnh móng cần được cao đạc lại ở tất cả các góc

2.2 Đo đạc trong thi công móng cọc:

Biện pháp đo đạc trong thi công móng cọc tuỳ thuộc vào công nghệ hạ cọc a) Định vị trong thi công đóng cọc:

- Thông thường áp dụng phương pháp giao hội tia ngắm để xác định vị trí đóng

2 cọc đầu tiên, kết hợp với đo kiểm tra trực tiếp chiếu qua đường tim dọc và

đường tim ngang cửa mồ, trụ đã xác định từ trước Những cọc được chọn đóng

trước phải là cọc thắng đứng và cách xa nhau Từ hai cọc này đo dẫn ra các cọc

khác cửa cùng mé hay cùng trụ Khi dựng coc cần kiểm tra phương cửa cọc

bằng kinh vĩ, trong suốt thời gian đóng cọc liên tục theo dõi vị trí cửa cọc để phát hiện sớm các sai lệch và có biện pháp điều chỉnh kịp thời Gần vị trí nhóm

cọc dựng mốc cao đạc phụ để theo dõi cao độ đầu cọc trong quá trình đóng

- Trường hợp đóng cọc ở trên phao, để điều chỉnh giá búa đang treo cọc vào

đúng vị trí đóng, người ta dùng hệ thống neo tdi bé tri ở 4 góc cửa hệ nổi, khi đã

vào dung vi tri các tời được hãm lại và neo cố định giá búa ở một vị trí đóng

- Đối với cọc khoan nhồi cũng áp dụng biện pháp giao hội tia ngắm đề định vị

từng cọc

17

Trang 17

b) Định vị khi hạ cọc có khung dẫn hướng:

- Khi hạ cọc có khung dẫn hướng, việc đo đạc tập trung vào đo đạc trong khi chế

tạo khung và định vị khi lắp dựng tại vị trí móng

- Trong trường hợp móng không bị ngập nước, khung dẫn hướng được lắp ráp tại chỗ, sau đó chỉnh cho các đường tim cửa khung trùng với các đường tỉm cửa móng đã xác định từ trước và cố định bằng những cọc định vị không cho khung

Fo

Hình 4.8 - Xác định vị trí khung dẫn hướng 1 - cọc định vị khung dẫn hướng

- Trong phạm vi bị ngập nước,nếu mức nước cạn người ta áp dụng biện pháp

dap đảo hoặc dùng vòng vây đất, công tác đo đạc định vị tiến hành như đối với

trường hợp trên cạn Trường hợp nước ngập sâu, phải sử dụng hệ nổi để bố trí

các thiết bị hạ cọc Khung dẫn hướng được chế tạo, lắp ráp sẵn trên bờ ở phía hạ

lưu và dùng phao kèm và chở đến vị trí móng Thả 4 neo định vị ở 4 góc cửa hệ

nỗi để neo giữ tạm khung Dùng 3 máy kinh vĩ để định vị tìm và điều chỉnh cho hướng cửa khung trùng với các đường tim cửa móng, dùng 4 neo ở 4 góc hệ nỗi

để điều chỉnh Đóng các cọc định vị cửa khung dẫn hướng, những cọc này đóng cách các thanh cửa khung khoảng cách từ 10 đến 20cm để điều chỉnh sai lệch

Khi đã đạt được vị trí dùng gỗ độn vào khoảng hở và xiết chặt bu lông cố định vị

trí

18

Trang 18

Hình 1.9 - Định vị khung dẫn hướng trong vùng ngập nước

2.3 Do đạc trong thi công cọc ống đường kính lớn và giếng chìm:

- Hạ cọc ống đường kính lớn thường được thực hiện bằng búa rung kết hợp moi

đất trong lòng cọc, những cọc ống có đường kính trung bình vẫn cần có khung

dẫn hướng, cọc có đường kính lớn không sử dụng khung dẫn hướng Giếng chìm

hạ xuống nhờ trọng lượng bản thân giếng và moi đất trong lòng giếng

- Các đốt cọc đường kính lớn được đúc sẵn và chở nổi đến vị trí hạ, còn các đốt cửa giếng chìm có thể đúc sẵn và chở nổi dến nơi hạ như các đốt cọc hoặc đúc tại chỗ trên đảo nhân tạo Công tác đo đạc trong cả hai biện pháp thi công đều

gồm hai nội dung: định vị đốt đầu tiên và theo dõi quá trình hạ

- Trong biện pháp chở nổi, đốt cọc hay đốt giếng phải được định tâm bằng một

cọc tiêu dựng trên mặt giếng, nằm trên giao cửa hai đường trục cửa tiết điện cọc

( hoặc giếng) Các đường trục kéo dài đến mép thành và từ các điểm này kẻ các

vạch thắng đứng ở 4 phía thân cọc hay thân giếng Đốt cọc chở đến vị trí móng

và định vị bằng phương pháp giao hội tia ngắm, đưa cọc tiêu định tâm trùng với

vị trí tâm cửa móng trụ Phép đo giao hội được kiểm tra bằng các cọc trong hệ thống cọc định vị trụ đã được xác định từ trước, ngắm thông qua những vạch

thẳng đứng trên thành Công việc định vị này cần tiến hành thận trọng và chính

xác cho đến khi đốt cọc hay đốt giếng chạm xuống đáy sông Nếu đã chạm đáy

mà vẫn sai lệch phải nhắc lên điều chỉnh lại Đáy sông cần được cao đạc và san

19

Trang 19

phẳng trước Việc điều chỉnh nhờ hệ thống tời và neo đặt ở các góc của hệ nỗi

theo sự chỉ dẫn cửa các trạm máy kinh vĩ

- Trong biện pháp đúc tại chỗ trên đảo, công tác đo đạc định vị bao gồm VIỆC

xác định vị trí tim trụ trên mặt đảo, vị trí các đường trục chính, các đường trục cửa thành giếng Căn cứ vào bản vẽ thiết kế, phóng dạng tiết diện thân giếng trên mặt đảo để xếp đặt hệ thống tà vẹt lót đáy và lắp dựng ván khuôn đốt giếng Các đường tim giếng xác định bằng phương pháp giao hội tia ngắm, sau đó xác định vị trí và kích thước bằng phương pháp đo trực tiếp

- Đo đạc trong quá trình hạ cọc nhằm đảm bảo hạ chính xác về vị trí trên mặt bang và theo phương thẳng đứng.Dùng máy kinh vĩ dõi theo những vạch thang

kẻ trên các mặt bên cửa đốt cọc như đã nói ở trên để phát hiện độ xê dịch cửa

cọc theo mặt bằng và độ nghiêng cửa cọc theo 2 mặt phẳng thẳng đứng Từ đó

điều chỉnh việc hạ cọc đảm bảo độ chính xác theo yêu cầu

- Trên các mặt bên cửa thành giếng hay cửa cọc kẻ những thước đo chiều cao dé

theo dõi chiều sâu hạ giếng, xác định cao độ đáy móng thực tế

2.4 Do đạc các kích thước kết cấu:

- Trong quá trình thi công cầu, định vị mồ trụ là công tắc rất quan trọng và gặp

nhiều khó khăn, ngoài ra để đảm bảo cho công trình thi công được, còn cần các

đo đạc xác định kích thước kết cấu chính xác Nội dung đo đạc các kích thước

kết cầu bao gồm:

+ Ðo đạc kích thước,cao độ cửa các phần móng,thân, mũ mồ trụ, vị trí đặt gối,

khoảng cach tim giữa các mồ trụ

+ Đo đạc kích thước, hình dạng cửa các kết cấu chế sẵn được đưa tới công

trường

20

Trang 20

+ Cao đạc những vị trí quan trọng, khống chế những vị trí khác cửa kết cấu nhịp

như đáy dầm,đỉnh dầm,mặt cầu

+ Đo đạc xác định kích thước, hình dạng cửa các cấu kiện đúc tại công trường như nhịp dầm BTCT, bản mặt cầu, lề người đi, dải phân cách, cột lan can + Đo đạc xác định vị trí,kích thước ván khuôn, cự ly đặt cốt thép trong khi thi

công

- Công tác đo đạc các bộ phận, chỉ tiết cần được tiến hành theo từng bước cùng với qua trình thi công

- Thông thường, khi đo đạc định vị móng mồ trụ, ban đầu do điều kiện khó khăn

nên có thé chưa chính xác Sau khi đào xong hố móng hoặc đóng xong cọc, tiến

hành xây bệ phải xác định lại để hiệu chỉnh cho vị trí chính xác hơn Sau khi xây

xong bệ móng cũng tiến hành như vậy đối với thân mồ và thân trụ Đối với cao

độ cũng phải kiểm tra theo từng giai đoạn thi công để kịp thời hiệu chỉnh, đảm

bảo kích thước xà mũ không bị thay đổi do sai số cộng dồn

- Với cầu thép lắp tại chỗ đòi hỏi đo đạc cự ly giữa các gối cầu thật chính xác

Do cao độ điểm kê tại các chồng nề để kiểm tra tạo độ vồng Đặc biệt quan

trọng là phải thường xuyên theo dõi độ võng cửa nhịp trong quá trình lắp hãng,

kịp thời xử lý khi thấy kết quả đo vượt quá trị số tính toán.Công tác đo đạc được tiến hành theo trình tự thiết kế đề ra, mỗi số liệu phải được đo ít nhất 2 lần

- Trong thi công đúc hãng kết cấu nhịp BTCT, cần đo kiểm tra ngay khi lắp dựng đà giáo và ván khuôn xác định chính xác các cao độ, hướng cửa nhịp và hình dạng kết cấu Sau khi đúc xong mỗi đốt, căng kéo mỗi đợt cốt thép đều phải đo kiểm tra lại cao độ và vị trí nhịp Những kết quả đo phải nằm trong dự kiến cửa thiết kế Trong biện pháp hãng, những sai lệch về vị trí sẽ gây những

khó khăn rất lớn cho giai đoạn hợp long Cần lập sơ đồ biến dạng cửa kết cấu

nhịp qua từng giai đoạn thi công để dễ dàng phân tích nguyên nhân sai lệch này

và tìm biện pháp khắc phục

- Đối với kết cấu nhịp thi công theo phương pháp đúc đầy cần chú ý những nội

dung đo đạc sau:

+ Vị trí và cao độ cửa bệ đúc

+ Vị trí và cao độ cửa các ụ trượt trên đỉnh trụ Độ chính xác lấy cao gấp 2 lần

so với đo đạc thông thường

3 Độ chính xác trong đo đạc

- Chất lượng cửa công tác đo đạc là độ chính xác Mỗi loại kết cầu và mỗi dạng

công trình đòi hỏi mức độ chính xác khác nhau Điều kiện để đảm bảo độ chính

xác theo yêu cầu là:

21

Trang 21

+ Người thực hiện phải có phương pháp làm việc đúng, có tỉnh thần trách nhiệm, có trình độ chuyên môn về nghiệp vụ đo đạc và hiểu biết về xây dựng cầu

+ Thiết bị, dụng cụ đo phải được hiệu chỉnh thường xuyên để đảm bảo chuẩn xác và làm việc ổn định với độ chính xác cửa máy tương ứng với độ chính xác

do công việc yêu cầu Trong thi công cầu, chủ yếu sử dụng các phép đo dài, đo

góc và cao đạc với yêu cầu độ chính xác như sau:

3.1 Độ chính xác đo dài:

- Dụng cụ đo trước khi sử dụng cần được chuẩn lại và hiệu chỉnh kết quả đo theo

những yếu tố ảnh hưởng sau:

+ Hiệu chỉnh do những lần đo khác nhau

+ Độ dãn dài của thước do chênh lệch nhiệt độ khi đo và khi chuẩn thước

+ Độ dốc cửa đường đo so với mặt bằng

- Nếu đo bằng một loại dụng cụ thì phải đo theo 2 hướng: hướng đi và hướng về

- Nếu đo bằng 2 hay nhiều loại dụng cụ thì chỉ cần đo theo một hướng

- Khi lập mạng lưới tam giác đạc, các sai số đo dài không được lớn hơn trị số trong bảng 1.2

- Đối với cầu đài không quá 100m, khi đo khoảng cách giữa các mốc định vị tìm

cầu, khoảng cách giữa các tim mồ trụ, sai số tương đối không được lớn hơn

1:5000

- Đối với cầu dài trên 100m, khoảng cách giữa các mốc định vị tim cau và phần

trên cửa trụ phải được đo đạc với sai số nhỏ hơn trị số cho phép duới đây:

- Cầu dầm thép và BTCT, vị trí tim đá kê gối xê dịch trong khoảng + 5cm

- Cầu vòm và cầu khung đúc tại chỗ, sai số đo đạc phải nhỏ hơn trị số tính được

Trong đó: Ln - Chiều dài mỗi nhịp đo (cm)

n - Số nhịp trên đoạn cần phải đo

Bảng 1.2

2

Trang 22

Chiéu dai cau (m) Sai số cho phép

Khi đo chiều dài cầu Khi đo chiều dài cơ tuyến

- Khi đo định vị tim móng mồ trụ, trị số sai số đo dài cho phép được lấy gấp đôi

- Các kết quả đo dài bằng thước thép với lực kéo căng tiêu chuẩn là 50N phải hiệu chỉnh theo nhiệt độ và độ dốc mặt đất dọc hướng đo theo công thức

L=n.l+ 1,25.10-5 (t- t9) n.l _ +d

1L

trong đó:

L - Chiều dài cần đo

n - Số lần kéo thước ( hết chiều dài của thước )

1 - Chiều dài thước đã được chuẩn

t- Nhiệt độ môi trường lúc đo

- Nhiệt độ môi trường lúc chuẩn thước

h- Mức chênh cao giữa hai đầu thước trong mỗi lần kéo thước

d- Đoạn dư lần kéo cuối

3.2.Độ chính xác đo góc:

Công trình càng lớn thì yêu cầu độ chính xác khi đo góc càng cao Ngoài trình

độ cửa bản thân người đo, độ chính xác cửa thiết bị rất quan trọng Sai số cho

phép khi đo góc trong mạng lưới đo đạc, độ khép góc đối với mỗi tam giác trong mạng và yêu cầu máy móc tương ứng với mỗi loại công trình lấy theo bảng 1-3

3.3 Độ chính xác khi đo cao độ:

- Cao độ cửa các mốc cao đạc trong phạm vi cầu phải được móc với nhau, sai số không được vượt quá trị số tính theo công thức:

Ah=+20L(mm) và không lớn hơn + 10mm

trong đó: L- khoảng cách cao đạc (km)

Trang 23

để xác định cao độ của các mốc này không ít hơn 3 lần, sai số bình quân không lớn hơn 10 mm

24

Trang 24

Bài 2: Thi công trụ cầu cao và trụ tháp

1 Cấu tạo ván khuôn leo và ván khuôn trượt

Đặc điểm thi công trụ cầu treo và cầu dây văng là đổ bê tông phần tháp cầu

phải vượt chiều cao rất lớn, phải chia thành nhiều đợt, do vậy công tác ván khuôn đòi hỏi phải được nghiên cứu sao cho việc tháo dỡ, lắp dựng được thuận

lợi và nhanh chóng Đáp ứng được yêu cầu trên có hai loại ván khuôn leo và ván khuôn trượt Cả hai loại ván khuôn này đều có khả năng tự di chuyển lên cao

nhưng mỗi loại có một hình thức di chuyển riêng

Ván khuôn leo (Climbing form) di chuyén theo từng đợt đổ bê tông, kết cấu

bê tông được chia thành từng đốt theo chiều cao và mỗi đợt đỗ một đốt Sau mỗi

đợt 46 bê tông, từng mặt ván khuôn hoặc một phần của mặt ván được tháo rời ra

khỏi khuôn và nâng lên cao lắp cho đốt tiếp theo Thiết bị cầu nâng tự leo lên theo chiều cao của phần bê tông đã đúc kéo theo hệ đà giáo thi công

Căn cứ vào biện pháp di chuyền, ván khuôn leo được chia thành ba loại sau đây:

2 Ván khuôn leo theo khung chôn sẵn:

Bộ phận quan trọng của bộ ván khuôn leo này là hệ khung thép chôn sẵn vào

trong kết cấu của tháp cầu Khung thép cấu tạo từ các thanh thép hình hàn thành

những cột chịu lực chôn vào giữa bê tông của thành hộp cột tháp, từng cặp cột thép kết hợp với thanh ngang lắp trên đầu cột làm thành giá long môn để treo puli chuyên hướng hoặc palăng kéo nâng từng mảnh của khuôn cùng với sàn

công tác lên đốt trên

Các cột chôn sẵn còn có vai trò như đà giáo đề neo giữ ván khuôn chống các tác động ngang

Cột thép hàn sẵn thành từng đốt, lắp nói dần lên cao theo chiều cao của tháp

và chôn vào trong bê tông cùng với khung cốt thép

Ván khuôn gồm các tắm ván đơn chế tạo sẵn ghép lại với nhau thành tắm lớn

có các nẹp tăng cứng liên kết vào ván đồng thời lắp sẵn giàn giáo làm sàn công tác Khi nâng từng mảng ván lên đến cao độ thiết kế, trước tiên lắp sàn công tác vào phần bê tông đã đúc bằng thanh giằng chôn sẵn, tắm ván phía trên tựa lên thanh đứng của khung giàn giáo và giằng với mặt ván đối diện hoặc với bulông

25

Trang 25

liên kết vào cột khung thép Các mảng ván nâng lên và ghép lại thành khuôn thông qua liên kết các phần khung nẹp lại với nhau

Hình 1- Cấu tạo và cách lắp dựng ván khuôn leo theo khung chôn sẵn

1- ván khuôn 2-sàn công tác 3-thanh giằng 4-thanh chống tăng đơ 5-cột thép

chôn sẵn 6- liên kết giằng các cột thép 7- thiết bị kéo nâng

Trường hợp thân tháp rỗng bên trong, ván khuôn có hai lớp trong và ngoài,

liên kết giữa hai lớp bằng bulông giằng xuyên qua chiều dày thành hộp

3 Ván khuôn nâng bằng cần cầu leo:

Di chuyển ván khuôn gồm hai nắc : nắc một là di chuyền cần cầu chân cứng bằng cách trượt lên theo đường ray lắp vào các chỉ tiết chôn sẵn (bu lông, thép

chờ) trong bê tông thân tháp và kéo lên bằng hệ thống tời, múp có ròng rọc cố

định treo vào dầm congxon lắp ở mặt đốt trên Dầm này chỉ lắp khi di chuyển

cần cầu sau đó tháo ra dé dé bê tông đốt tiếp theo Nac thứ hai là sử dụng cần

cau chân cứng đề tháo dỡ ván khuôn theo từng mảnh ván sau đó câu đưa lên lắp cho đốt trên

26

Trang 26

Biện pháp di chuyên này phù hop với cột tháp dạng chữ A, chữ Y ngược và

chữ H biến thể có hai bên nhánh cột xiên một góc so với phương thẳng đứng, mỗi bên nhánh cột bố trí một bộ ván khuôn và tổ chức thi công ở hai bên gần như đồng thời

Ván khuôn gồm hai tầng dé luân chuyển đúc hai đốt trụ tháp liền kề nhau,

trong khi bê tông tầng trên chưa đủ thời gian bóc ván khuôn thì tháo tầng dưới đưa lên lắp để đúc đốt trên tiếp theo Ván khuôn tầng dưới đỡ ván khuôn tầng trên Đường ray trượt lắp vượt lên cả phần chưa dỡ ván khuôn và nối dài liên tục

từ dưới lên đỉnh tháp, tại vị trí lắp đường ray trượt ván khuôn để lại và cấu tạo

a) Trường hợp cần cầu chân cứng lắp trên giá trượt

b) Cần cầu lắp bằng các thanh vạn năng

1-ván khuôn đốt đúc 2-thanh bu lông giằng 3-đường ray trượt 4- giá trượt 5-

dầm công xon 6- cần cầu chân cứng 7- hàm kẹp có định cần cầu 8- tời kéo 9-

Trang 27

Đường trượt là một dầm ray bằng thép chữ I trên mặt dầm có hàn ray để chạy bánh sắt của giá trượt Dầm ray liên kết vào bê tông trụ tháp bằng các bulông neo chôn sẵn xuyên qua ván khuôn Hệ thống bánh xe sắt của giá trượt có hàng bánh trên vừa tì lên mặt ray vừa cặp vào cánh dầm để chống kéo lật ra bên ngoài

và hàng bánh xe phía dưới lúc nào cũng tì chặt lên mặt ray Hệ thống hãm chống tụt xuống gồm hệ thống hàm kẹp vào cánh dầm I bé tri ở đầu dầm đỡ chính của giá trượt và các tắm guốc hãm hình nêm thường trực ở ngay phía dưới các hàng bánh xe

Sàn công tác thường lắp sẵn vào với khung của cần cầu, khi kéo cần cầu lên đồng thời cả sàn công tác nâng theo để có mặt bằng thi công phục vụ lắp các

Hình 3- Hệ thống trượt và hãm của giá trượt cần cầu chân cứng

1-bê tông cột tháp 2- ván khuôn

3-dam I 4- ray.5-bulong neo 6-banh xe trên 7- bánh xe dưới

§-bánh xe bên treo 9-guốc hãm

10- thanh ngang có hàm kẹp

28

Trang 28

4.Ván trượt theo thân tháp bằng kích:

Loại ván khuôn này đi chuyên lên cao bằng hình thức trượt toàn bộ khuôn và

hệ sàn công tác lên đốt trên nhờ hệ thống kích đội từ dưới lên hoặc bằng kích

rút bám vào thân tháp rồi co rút lên kéo theo hệ đà giáo ván khuôn leo dần lên theo thân tháp

Bộ ván khuôn gồm khung giàn giáo bằng thép lắp thành giàn không gian bao

quanh thân tháp và vượt lên trên cao hơn khu vực đổ bê tông của đốt tháp, trên

đó có lắp các mặt ghép của ván khuôn và hệ sàn công tác xung quanh

Hệ thống kích đội bố trí ở tầng sàn công tác thấp nhất, trong ví dụ trên hình

vẽ 4 thể hiện cấu tạo của loại kích răng chạy bằng động cơ điện Phần thân kích

gắn vào với mặt sàn công tác và đồng thời với hệ giàn giáo thép, đi kèm thân kích là một khung thép có đầu dầm chìa sát vào mặt bê tông, đầu kích có thanh ngang áp sát vào với mặt bê tông thân tháp, cả đầu dầm chìa và đầu kích có thể liên kết được vào với bề mặt bê tông bằng bulông giằng Hành trình nâng trượt

lên của ván khuôn bằng hệ thống kích đội như sau:

Bước 1 : dầm chìa cố định vào thân tháp, lõi kích đây đầu kích vươn lên hết

tầm đến hàng bulông giằng phía trên và liên kết vào bê tông thân tháp

Bước 2: tháo đầu dầm chìa ra khỏi bê tông thân tháp, vận hành động cơ cho

thân kích leo theo lõi kích và kéo theo hệ thống ván khuôn lên cao đến vị trí bố

trí lỗ để lắp bu lông liên kết thì dừng lại và lắp bu lông liên kết vào với thân

Trang 29

a) Cấu tạo chung của bộ ván khuôn b) Cấu tạo và hành trình của kích đội :I-

trạng thái làm việc, II- vươn đầu kích lên vị trí mói II- Cố định đầu kích, kéo

ván khuôn leo lên

I-giàn giáo thép 2-ván khuôn 3-thanh giằng 4-cốt thép 5- kích răng 6- sàn

công tác (sàn nâng) 7-thanh đứng chịu lực chính của giàn giáo 8-dầm chìa 9-

thân kích 10- lõi kích có răng 11- đầu kích 12- động cơ điện 13- hộp số

truyền động 14-bu lông neo

Có thể thay thế kích đội bằng kích hai chiều thông tâm kéo rút thanh

Maccaloy treo sàn công tác Ván khuôn trượt (Slipping ƒorm) là loại ván khuôn

di chuyển lên cao liên tục trong suốt quá trình đổ bê tông nhờ hệ thống kích nâng Ván khuôn trượt sử dụng đẻ đồ bê tông cột tháp cầu treo và cầu dây văng, trụ cầu cao Trong xây dựng dân dụng và công nghiệp ván khuôn trượt dùng để thi công lõi chịu lực nhà cao tang, tháp nước và các xi lô trong nhà máy

Khác với biện pháp sử dụng ván khuôn leo, khi sử dụng ván khuôn trượt bê

tông được đồ liên tục cho đến cao độ dự kiến mới dừng Trong quá trình đó ván khuôn từ từ trượt lên theo một tốc độ bình quân được tính toán trước sao cho khi

phần bê tông ở phía dưới bắt đầu tách ra khỏi ván là đã có khả năng chống được

lực nở hông và tiếp tục quá trình ninh kết, phía trên vữa bê tông vẫn tiếp tục rot vào khuôn Cốt thép nối theo từng đốt, khi ván trượt gần đến nơi thì tiến hành nối khung cốt thép của đốt tiếp theo phối hợp với tóc độ đồ bê tông

Cấu tạo của bộ ván khuôn trượt gồm bốn bộ phận chính :

Kích trượt chia thành hai nhóm : kích trượt kiểu vít và kích thủy lực

Kích trượt kiểu vít gồm Ống vít tiện ren ngoài, phía trên có tay quay hoặc

bộ phận truyền động dé xoay ống vít, phía dưới lắp vào đầu cặp bằng liên kết khớp quay Đầu cặp bám chắc vào thanh trụ kích không cho trượt xuống mà chỉ cho phép trượt lên nhờ cặp cá hãm có lò xo luôn ép vào hai phía của thanh này Ống vít lắp vào vòng đai ốc, vòng đai liên kết với khung chữ II treo đà giáo vào hệ thống kích trượt Thanh trụ kích xuyên qua lòng kích

30

Trang 30

Hình 5- Cấu tạo và vận hành của kích trượt kiểu vít

1-ống vít.2-tay quay 3-đầu cặp của kích 4- cá hãm 5- vòng đai ốc 6- đầu

cặp của đà giáo treo 7- đà giáo treo 8- thanh trụ kích

Đà giáo treo đủ cứng để treo toàn bộ ván khuôn và sàn công tác phục vụ thi công đồng thời kéo theo toàn bộ kết cấu đà giáo và ván khuôn di chuyển lên cao Thanh ngang chịu lực chính của đà giáo treo liên kết vào đầu cặp có

cấu tạo giống như đầu cặp của kích để cặp chặt vào thanh trụ kích giữ cho cả

bộ ván khuôn không bị trượt xuống khi chỉ có ống kích di chuyển lên phía

trên Hành trình của kích bao gồm hai bước :

Bước I : xoay tay quay ngược chiều kim đồng hồ, ống kích theo đường

ren tiến lên phía trên , vòng ren và đà giáo đứng tại chỗ

Bước II : xoay tay quay theo chiều kim đồng hồ, do đầu cặp không cho ống kích đi xuống phía dưới nên đai ốc phải tiến lên phía trên kéo theo đà giáo cùng với ván khuôn trượt lên phía trên

Kích trượt thúy lực có câu tạo là một kích hai chiều thông tâm, thanh trụ

đi xuyên qua lòng kích Các bộ phận của kích bao gồm xi lanh gắn với đà

giáo treo có thể nâng đà giáo cùng với ván khuôn trượt lên theo, phía dưới xi

lanh có kẹp hình nêm ôm lấy thanh trụ kích giữ cho xi lanh và đà giáo không

bị trượt xuống Pítông có ống trục rỗng lòng dé thanh trụ kích xuyên qua và gồm ba phần, phía dưới trục pfttông lồng khít vào đoạn that hep của xi lanh

31

Ngày đăng: 26/04/2022, 08:44

w