1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

quy hoạch đội ngũ cán bộ chủ chốt thuộc diện ban thường vụ tỉnh uỷ bắc giang quản lý trong giai đoạn hiện nay - những vấn đề lý luận và thực tiễn

126 1,6K 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quy hoạch đội ngũ cán bộ chủ chốt thuộc diện ban thường vụ tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý trong giai đoạn hiện nay - Những vấn đề lý luận và thực tiễn
Trường học Trường Đại Học Bắc Giang
Chuyên ngành Quản lý Nhà nước / Quản trị hành chính công
Thể loại Nghiên cứu / Báo cáo / Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Bắc Giang
Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 0,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ yêu cầu khách quan của công cuộc đổi mới đất nước, yêucầu nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị nơi mình đang công tác, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Quy hoạch đội ngũ cán b

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hơn 77 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, dântộc Việt Nam đã liên tiếp giành được những thắng lợi vẻ vang, từ một nướcthuộc địa nửa phong kiến, Việt Nam đã trở thành một quốc gia hoàn toàn độclập, thống nhất, cả nước cùng đi lên CNXH Công cuộc đổi mới đất nước đã

và đang giành được những thành tựu to lớn, được bạn bè trên thế giới hết sứckhâm phục, vị thế nước ta trên trường quốc tế ngày càng được nâng lên.Những thắng lợi trên trước hết bắt nguồn từ đường lối chính trị đúng đắn và

từ việc dày công xây dựng, rèn luyện đội ngũ cán bộ của Đảng

Vấn đề cán bộ và công tác cán bộ là một vấn đề hệ trọng, từ lâu đãđược các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác-Lênin đề cập tới trong các tácphẩm của mình Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Cán bộ là cái gốccủa mọi công việc” [45, tr.269] và “Muôn việc thành công hoặc thất bại đều docán bộ tốt hay kém”[45, tr.240] Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 BCHTW (khoáVII) đã chỉ rõ: “cán bộ có vai trò cực kỳ quan trọng hoặc kìm hãm hoặc thúcđẩy tiến trình đổi mới” [13], Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 BCHTW (khoáVIII) về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước khẳng định: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng,gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ ” [13]

Để làm tốt công tác cán bộ, đòi hỏi chúng ta phải thực hiện đồng bộnhiều nội dung, nhiều khâu, nhưng một trong những nội dung trọng yếu làcông tác QHCB, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 BCHTW (khoá VIII) nêu rõ:

“Công tác QHCB là một nội dung trọng yếu của công tác cán bộ, bảo đảmcho công tác cán bộ đi vào nền nếp, chủ động có tầm nhìn xa, đáp ứng cảnhiệm vụ trước mắt và lâu dài” [13] Có làm tốt QHCB mới từng bước nângcao được chất lượng, đảm bảo số lượng, cơ cấu đội ngũ cán bộ; đảm bảo tínhliên tục, kế thừa và phát triển, tránh tình trạng hẫng hụt, bị động, chắp vá vàkhông đồng bộ trong công tác cán bộ Làm tốt công tác QHCB sẽ tạo cơ sở,

Trang 2

điều kiện, tiền đề để làm tốt các khâu khác trong công tác cán bộ như: ĐTBD,điều động, luân chuyển, đề bạt, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử và thựchiện chính sách cán bộ Khắc phục tình trạng ĐTBD cán bộ tràn lan, không cótrọng tâm, trọng điểm; lúng túng trong lựa chọn, phân công, bố trí cán bộ…

Những năm qua, Đảng ta đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết, quyếtđịnh, thông tri về công tác QHCB: Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng vàsửa đổi Điều lệ Đảng tại Đại hội IV của Đảng đã chỉ rõ: Xây dựng và chỉ đạothực hiện tốt QHCB là một biện pháp đặc biệt trọng yếu, có tính quyết định đểtăng cường công tác cán bộ về mọi mặt Ngày 02/6/1978, BCHTW (khoá IV) đã

ra Chỉ thị số 45-CT/TW “Khẩn trương đẩy mạnh việc xây dựng QHCB lãnhđạo, cán bộ quản lý” Ngày 12/11/1983 Ban Bí thư TW Đảng (khoá V) ra Thôngtri số 31-TT/TW về việc “Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng QHCB lãnh đạo và cán

bộ quản lý ở các ngành, các cấp” Năm 1998, Bộ Chính trị (khoá VI) có Quyếtđịnh số 55-QĐ/TW về “Công tác QHCB lãnh đạo các cấp từ nay đến năm

1990” Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 BCHTW (khoá VIII) đề ra yêu cầu: “Cán

bộ chủ trì phải điều hành, thực hiện quy hoạch chung về công tác cán bộ, đồngthời trực tiếp bồi dưỡng người kế cận thay mình Trong một năm phải có ít nhấtmột lần kiểm điểm việc thực hiện quy hoạch của mình và kiểm tra việc thực hiện

quy hoạch của cấp dưới để kịp thời bổ sung, điều chỉnh” [13] Ngày 30/11/2004

Bộ Chính trị có Nghị quyết số 42-NQ/TW về công tác QHCB lãnh đạo quản lýthời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Nhờ vậy công tác QHCB đã có chuyểnbiến tích cực, góp phần đổi mới từng bước công tác cán bộ nói chung Tuy nhiênđứng trước bối cảnh thế giới và trong nước có nhiều diễn biến phức tạp, yêu cầungày càng cao của công cuộc đổi mới đất nước thì công tác QHCB vẫn là mộtkhâu yếu, chất lượng và hiệu quả còn hạn chế Hội nghị lần thứ 3, BCHTW(khoá VIII) đã đánh giá: “Nhiều cấp uỷ, tổ chức đảng và cán bộ lãnh đạo chưachủ động xây dựng QHCB, không tích cực chuẩn bị người kế nhiệm” [13] Dovậy sắp tới “Mỗi cấp, mỗi ngành phải có kế hoạch tạo nguồn cán bộ định kỳkiểm tra, tổng kết và nâng cao chất lượng công tác QHCB” [13]

Trang 3

Quán triệt những quan điểm của Đảng, từ nhiều năm nay BTV Tỉnh uỷBắc Giang đã quan tâm đến công tác QHCB, tích cực, tập trung lãnh đạo côngtác QHCB ở tỉnh, do đó công tác QHCB đã bước đầu đi vào nền nếp, đạtđược kết quả nhất định, góp phần làm tốt công tác cán bộ của tỉnh Tuy vậycông tác QHCB trong thời gian qua cũng bộc lộ không ít những thiếu sót,khuyết điểm cần sớm được khắc phục.

Là một tỉnh miền núi, mới được tái lập từ ngày 01/01/1997, với diệntích 3.882, 6 km2, dân số trên 1,5 triệu người, địa hình phức tạp, mặc dù tìnhhình chính trị-an ninh, trật tự, xã hội tương đối ổn định, kinh tế tăng trưởngvới tốc độ cao, song nhìn chung nền kinh tế của tỉnh chủ yếu vẫn là nôngnghiệp, công nghiệp nhỏ bé, nguồn thu ngân sách hạn hẹp, GDP bình quânđầu người còn thấp hơn nhiều so với bình quân chung của cả nước Nhiệm vụphát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với đội ngũCBCC nói chung, trước hết là đội ngũ cán bộ thuộc diện BTV Tỉnh uỷ quản lý,bởi lẽ đây là ĐNCBCC của hệ thống chính trị ở tỉnh và cấp huyện, là lực lượngchủ yếu, lãnh đạo, tổ chức thực hiện các chỉ thị, nghị quyết, quyết định củaĐảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước ở địa bàn tỉnh Muốn có đội ngũ cán

bộ ngang tầm, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trước mắt và lâu dài thì trước hết phảithực hiện tốt quy hoạch đội ngũ cán bộ thuộc diện BTV Tỉnh uỷ quản lý

Xuất phát từ yêu cầu khách quan của công cuộc đổi mới đất nước, yêucầu nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị nơi mình đang công tác, tôi

mạnh dạn chọn đề tài “Quy hoạch đội ngũ cán bộ chủ chốt thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý trong giai đoạn hiện nay” làm luận

văn tốt nghiệp khoá học thạc sỹ chuyên ngành xây dựng Đảng tại Học ViệnChính trị -Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của công tác QHCB, mà nhiều cơquan, nhà khoa học, nhiều cán bộ, đã tập trung nghiên cứu vấn đề này, đã cókhông ít đề tài, báo cáo, bài viết và công trình nghiên cứu về công tác QHCB

Trang 4

với các góc độ, khía cạnh, phạm vi, thời gian khác nhau được công bố, chẳnghạn như:

-“Xây dựng đội ĐNCBCC trước hết là người đứng đầu” của đ/c Chu

- “Công tác quy hoạch và đào tạo cán bộ chủ chốt cấp tỉnh ở Đồng Nai trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn thạc sĩ của Trần Minh Thấu, Học viện

Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2000

- “Quy hoạch ĐNCBCC của hệ thống chính trị các xã ở tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn thạc sĩ của Trần Thị Mỹ Trang,

Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2004

- “Quy hoạch đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của Bộ Lao Thương binh và xã hội trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn thạc sĩ của

động-Nguyễn Xuân Lập, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2006

- “Công tác QHCB lãnh đạo, quản lý cấp quận, huyện thuộc diện BTV Thành uỷ Hà Nội quản lý trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn thạc sĩ của

Nguyễn Thị Thắng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2006

Trang 5

- “Quy hoạch ĐNCBCC thuộc diện Quận uỷ Ba Đình, Thành phố Hà Nội quản lý trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn thạc sĩ của Lưu Tiến Định,

Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2006

Tuy nhiên, những đề tài nghiên cứu, những công trình, bài viết đó mớichỉ đề cập vấn đề QHCB nói chung hoặc là QHCB riêng của một số địaphương, đơn vị Cho đến nay chưa có tác giả nào công bố đề tài về quy hoạchĐNCBCC thuộc diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý trong giai đoạn hiệnnay Luận văn này sẽ kế thừa, tiếp thu một cách có chọn lọc các công trìnhnghiên cứu của các nhà khoa học, các tác giả có liên quan về công tác QHCB,

để tập trung nghiên cứu sâu vấn đề trên, góp phần làm tốt công tác QHCB củatỉnh trong giai đoạn hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

* Mục đích nghiên cứu:

Mục đích của luận văn chủ yếu là đi sâu làm rõ những cơ sở khoa học

và đề xuất những giải pháp chủ yếu, góp phần nâng cao chất lượng quy hoạchĐNCBCC thuộc diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý trong giai đoạn hiện nay

* Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác quy hoạch ĐNCBCCthuộc diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý trong giai đoạn hiện nay

- Đánh giá đúng thực trạng ĐNCBCC và quy hoạch ĐNCBCC thuộcdiện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý từ khi tái lập tỉnh (01/01/1997) đến nay;chỉ ra nguyên nhân những ưu điểm, tồn tại, thiếu sót, rút ra những kinhnghiệm trong quy hoạch ĐNCBCC thuộc diện BTV Tỉnh uỷ quản lý hiện nay

- Đề xuất phương hướng và những giải pháp chủ yếu có tính khả thi,nhằm nâng cao chất lượng quy hoạch ĐNCBCC thuộc diện BTV Tỉnh uỷ BắcGiang quản lý trong giai đoạn hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu cụ thể là ĐNCBCC thuộc diện BTV Tỉnh uỷquản lý (theo quyết định về phân cấp quản lý cán bộ) bao gồm các chức danh:

Trang 6

Bí thư, phó bí thư Tỉnh uỷ, chủ tịch, phó chủ tịch HĐND, UBND tỉnh; trưởng,phó các ban, cơ quan của Tỉnh uỷ, MTTQ và các đoàn thể nhân dân tỉnh;giám đốc, phó giám đốc các sở, ban, ngành tỉnh và tương đương; bí thư, phó

bí thư, uỷ viên BTV huyện uỷ, thành uỷ, đảng uỷ trực thuộc Tỉnh uỷ; chủ tịch,phó chủ tịch HĐND, UBND các huyện, thành phố Không đi sâu nghiên cứuđội ngũ CBCC nói chung, cán bộ lãnh đạo, quản lý các chức danh khác ở tỉnh

và cấp huyện hoặc ĐNCBCC ở cơ sở, xã, phường, thị trấn

- Phạm vi nghiên cứu: Công tác quy hoạch ĐNCBCC thuộc diện BTVTỉnh uỷ Bắc Giang quản lý, từ năm 1997 đến nay

5 C¬ së lý luËn vµ ph¬ng ph¸p nghiªn cøu

* Cơ sở lý luận:

Luận văn được thực hiện trên cơ sở những nguyên lý và phương phápluận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm củaĐảng Cộng sản Việt Nam về cán bộ, công tác cán bộ nói chung và công tácQHCB nói riêng, có kế thừa các công trình khoa học đã được công bố liênquan đến đề tài

* Phương pháp nghiên cứu:

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duyvật lịch sử, luận văn sử dụng các phương pháp cụ thể như: Lôgíc- lịch sử,thống kê số liệu, khảo sát thực tế; phương pháp phân tích - tổng hợp, kháiquát hoá, gắn lý luận với thực tiễn, coi trọng tổng kết thực tiễn

6 Đóng góp về mặt khoa học của luận văn

- Cung cấp những luận cứ khoa học, làm rõ quan niệm, quan điểm,nguyên tắc, phương châm, quy trình về quy hoạch ĐNCBCC thuộc diện BTVTỉnh uỷ Bắc Giang quản lý trong giai đoạn hiện nay

- Đánh giá đúng thực trạng công tác quy hoạch ĐNCBCC thuộc diệnBTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý trong thời gian 10 năm qua Đề xuất phươnghướng, nhiệm vụ và những giải pháp chủ yếu có tính khả thi nhằm nâng cao

Trang 7

chất lượng quy hoạch ĐNCBCC thuộc diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lýtrong giai đoạn hiện nay, góp phần đổi mới công tác cán bộ của tỉnh, đáp ứngyêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

7 ý nghÜa lý luËn vµ thùc tiÔn cña luËn v¨n

- Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần cung cấp luận cứ khoa họccho việc hoạch định, điều chỉnh, bổ sung, cụ thể hoá chủ trương, chính sáchcủa Đảng và Nhà nước về quy hoạch ĐNCBCC thuộc diện BTV Tỉnh uỷquản lý

- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu nghiên cứu, phục vụ cho việc

sơ, tổng kết về công tác cán bộ nói chung và công tác quy họạch cán bộ củatỉnh và làm cơ sở để xây dựng một số kế hoạch, đề án…về quy hoạch, ĐTBD,luân chuyển, bổ nhiệm, bố trí, sắp xếp và thực hiện chính sách đối với đội ngũcán bộ lãnh đạo, quản lý ở các cơ quan, sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh và ở cấphuyện trong giai đoạn từ nay đến năm 2010 và những năm tiếp theo

- Luận văn cũng có thể sử dụng làm tư liệu tham khảo trong giảng dạycho đội ngũ cán bộ ở Trường Chính trị tỉnh và trung tâm bồi dưỡng chính trịcấp huyện

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dungcủa luận văn chia làm 2 chương, 4 tiết

Trang 8

Chương 1 QUY HOẠCH ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT THUỘC DIỆN BAN THƯỜNG VỤ TỈNH UỶ BẮC GIANG QUẢN LÝ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

VÀ THỰC TIỄN

1.1 ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT, QUY HOẠCH ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT THUỘC DIỆN BAN THƯỜNG VỤ TỈNH UỶ BẮC GIANG QUẢN LÝ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

1.1.1 Quan niệm, vai trò và đặc điểm đội ngũ cán bộ chủ chốt thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý hiện nay

1.1.1.1 Một số khái niệm

- Cán bộ là một danh xưng rất đẹp, đầy niềm tự hào và vinh dự trong

nhân dân ta Nó xuất hiện trong đời sống xã hội nước ta khoảng mấy chụcnăm gần đây, để chỉ một lớp người là những chiến sĩ cách mạng, lớp ngườimới, luôn gắn bó với nhân dân, sẵn sàng chịu đựng gian khổ, hy sinh, vì sựnghiệp độc lập, tự do của dân tộc Tên gọi cán bộ đã để lại dấu ấn đẹp đẽtrong lịch sử nước ta từ khi có Đảng lãnh đạo đến nay Cho đến nay hai từ

"cán bộ " đã rất thân thuộc đối với những đảng viên cộng sản nói riêng vànhân dân Việt Nam nói chung Tuy nhiên khi nghiên cứu, đề cập đến kháiniệm "cán bộ " vẫn còn những ý kiến, quan điểm chưa đồng nhất

Xuất phát từ đặc điểm, truyền thống dân tộc và lịch sử từng quốc gianên việc xác định đối tượng cán bộ ở mỗi nước có khác nhau Từ trước đếnnay khái niệm cán bộ thường được dùng phổ biến trong các nước XHCN, các

tổ chức thuộc phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, còn ở các nướcphương Tây như: Mỹ, Anh, Pháp, Đức thường dùng khái niệm công chức, ở

Nhật dùng khái niệm quan chức Theo Từ điển Từ Hải của Trung Quốc, từ

cán bộ được giải thích là: Xuất phát từ tiếng Pháp, được dịch ra tiếng Nhật.Như vậy từ này do người Nhật sử dụng đầu tiên, sau đó được chuyển sangTrung Quốc, và từ Trung Quốc du nhập vào nước ta Trong tiếng Pháp, cũng

Trang 9

như tiếng Anh, từ "cán bộ " có nhiều nghĩa, nhưng có hai nghĩa chủ yếu đượcchuyển vào từ "cán bộ" của Nhật, Trung Quốc và Việt Nam Nghĩa thứ nhất là

cái khung (ảnh), cái khuôn Nghĩa thứ hai là người nòng cốt, những người chỉ huy trong quân đội trong một số tổ chức làm nòng cốt.

Ở nước ta, từ "công chức" cũng được dùng từ lâu và có nhiều văn bản

đã quy định Năm 1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký ban hành Sắc lệnh số76/SL về quy chế công chức Năm 1991, Hội đồng bộ trưởng (nay là Chínhphủ) ban hành Nghị định 169/HĐBT quy định đối tượng công chức Ngày09/3/1998 Uỷ BTV Quốc hội ban hành Pháp lệnh cán bộ công chức, trong đó tạiĐiều 1 nêu: “Công chức là những người làm việc trong các cơ quan nhà nướcđược tuyển dụng, bổ nhiệm làm nhiệm vụ thường xuyên trong biên chế, đượchưởng lương từ ngân sách nhà nước, theo ngạch, bậc lương được pháp luật quy

định” [52] Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, năm 2002, ghi công chức là:

"Người được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong cơ

quan nhà nước, hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp" [65, tr.207] Tuy

vậy trong thời gian dài từ công chức ít được sử dụng, từ cán bộ gần như đượcdùng thay thế cho từ công chức, vì hình ảnh công chức trong xã hội cũ thường

bị coi là xấu "sáng vác ô đi, tối vác ô về" Từ những năm 90 của thế kỷ XX,trở lại đây đã có người ta thường gọi những người công tác trong các cơ quannhà nước là công chức, những người đang công tác trong các cơ quan Đảng,đoàn thể là cán bộ Song tiêu thức phân biệt giữa khái niệm cán bộ và kháiniệm công chức chưa thực sự rõ ràng

Trong Đại từ điển tiếng Việt của Nguyễn Như Ý chủ biên, xuất bảnnăm 1999, từ cán bộ được định nghĩa là:

1 Người làm việc trong cơ quan nhà nước

2 Người giữ chức vụ, phân biệt với người bình thường không giữ chức

vụ trong các cơ quan tổ chức nhà nước [19, tr.249]

Trong cuốn "Từ điển tiếng Việt", Nxb Đà Nẵng, năm 2002, nêu cán bộ

có hai nghĩa:

Trang 10

1 Người làm công tác có nghiệp vụ, chuyên môn trong cơ quan nhànước Cán bộ nhà nước Cán bộ khoa học Cán bộ chính trị

2 Người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chứcphân biệt với người thường không có chức vụ Đoàn kết giữa cán

bộ và chiến sĩ Họp cán bộ và công nhân nhà máy Làm cán bộĐoàn thanh niên [65, tr.109]

Ở đây hàm nghĩa thứ nhất, cán bộ được xem như là người làm hànhchính công trong các cơ quan Nhà nước, bao gồm cả những người có chức vụhành chính cao nhất đến những người không có chức vụ hành chính nào, tất

cả đều nằm trong bộ máy, có nghĩa vụ, trách nhiệm trong bộ máy Nhà nước

và được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước theo ngạch lương nhất định doNhà nước quy định Nghĩa thứ hai, cán bộ được coi như là người có chức vụ

và trách nhiệm cao hơn người khác trong bộ máy tổ chức Điều này phản ánhnghĩa gốc của từ cán bộ, bởi vì chính những người có chức vụ, trách nhiệmcao mới có vai trò là nòng cốt, là người chỉ huy và đây chính là một góc độtrong cách hiểu thông thường

Hai định nghĩa nêu trong từ điển nói trên so với các định nghĩa trongmột số thời điểm khác có sự phát triển và hợp lý hơn, nhưng cũng cần lãm rõnội hàm và cả ngoại diên của khái niệm cán bộ hơn nữa:

Một là, nói cán bộ là người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn, cần

chỉ rõ là được đào tạo thông qua hệ thống nhà trường để có trình độ (tốtnghiệp) từ trung cấp, cao đẳng, đại học trở lên mới gọi là cán bộ để phân biệtvới người dưới trình độ này gọi là nhân viên

Hai là, nói cán bộ là người làm công tác có chức vụ để phân biệt với

người không có chức vụ Nhưng cần nói rõ là chức vụ được hình thành thôngqua con đường bầu cử dân chủ, hoặc đề bạt, bổ nhiệm Mặt khác nói cán bộ làngười làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức thì phải nóicủa cả hệ thống chính trị Thực tế, từ cán bộ không chỉ có đối tượng là cáccông chức nhà nước mà là toàn bộ những người làm việc trong hệ thống chính

Trang 11

trị Điều này xuất phát từ chỗ sự hình thành và phát triển của hệ thống chínhtrị ở các nước XHCN trong đó có Việt Nam là: Đảng, Nhà nước, các tổ chứcchính trị - xã hội đều là các tổ chức thành viên của hệ thống chính trị, tất cảnhững người làm việc trong các tổ chức đó đều được tuyển chọn, quản lý vàhưởng quyền lợi theo quy chế chung thống nhất

Ba là, nói đến cán bộ là nói đến con người và người cán bộ ở nước ta

phải được đặt trong các mối quan hệ xác định Trước hết là trong mối quan hệvới đường lối, nhiệm vụ chính trị của Đảng trong từng thời kỳ, quan hệ với tổchức và cơ chế chính sách, quan hệ với thực tiễn và phong trào cách mạngcủa quần chúng nhân dân Trong xã hội có giai cấp, cán bộ phải mang bảnchất của giai cấp cầm quyền Người cán bộ cách mạng phải là người trungthành, tận tuỵ vì lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của

cả dân tộc Chính vì vậy Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, viết từ năm

1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra khái niệm: “Cán bộ là những ngườiđem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ vàthi hành Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, choChính phủ rõ, để đặt chính sách cho đúng” [45, tr.269]

Trước đây, trong chiến tranh cách mạng, cán bộ được coi là tất cảnhững người thoát ly, làm việc trong bộ máy chính quyền, đảng, đoàn thể,quân đội Hiện nay, mặc dù hoàn cảnh thực tế khác đi và trong nhận thức củacon người cũng có nhiều thay đổi, nhưng trong cách hiểu thông thường nhất,

từ cán bộ trước hết vẫn đề phân biệt những người làm việc trong các cơ quan,

đơn vị của Đảng, Nhà nước, đoàn thể nằm trong biên chế, với những ngườidân không nằm trong các tổ chức trên

Trong cuốn "Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũcán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước", từ cán bộ được dùngvới rất nhiều nghĩa khác nhau:

- Trong các tổ chức Đảng, đoàn thể, từ cán bộ được dùng với hai nghĩa:

Trang 12

Một là, chỉ những người được bầu vào các cấp lãnh đạo, chỉ huy từ cơ

sở đến TW (cán bộ lãnh đạo) để phân biệt với đảng viên thường, đoàn viên,hội viên; hai là, người làm công tác chuyên trách có hưởng lương trong các tổchức này

- Trong quân đội là những chỉ huy từ tiểu đội trưởng trở lên (cán bộ tiểuđội, cán bộ đại đội, cán bộ tiểu đoàn ) và thường là sĩ quan từ cấp uý trở lên

- Trong hệ thống Nhà nước, từ cán bộ được hiểu cơ bản trùng với từ công chức, chỉ những người làm việc trong các cơ quan hành chính, cơ quan

tư pháp Đồng thời cán bộ cũng được hiểu là những người có chức vụ chỉ huy,phụ trách, lãnh đạo (trưởng, phó phòng )

Dù cách dùng, cách hiểu trong các trường hợp, các lĩnh vực cụ thể cókhác nhau, nhưng về cơ bản từ cán bộ bao hàm nghĩa chính của nó là bộkhung, là nòng cốt là chỉ huy Như vậy có thể quan niệm một cách chungnhất, "cán bộ là khái niệm chỉ những người có chức vụ, vai trò và cương vịnòng cốt trong một tổ chức và có tác động ảnh hưởng đến hoạt động của tổchức và các quan hệ trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành, góp phần

định hướng cho sự phát triển của tổ chức" [62, tr.18].

Trong pháp lệnh CBCC Việt Nam năm 1998, đã xác định đối tượng làCBCC bao gồm những người:

Trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước; nhữngngười được bầu cử, được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giaonhiệm vụ thường xuyên… trong các cơ quan Nhà nước, các tổ chứcchính trị, các tổ chức chính trị - xã hội và trong các cơ quan, đơn vị

quân đội nhân dân và công an nhân dân [52, tr.5-6].

Từ những điều nêu trên, chúng ta có thể khẳng định: Cán bộ là một

phạm trù dùng để chỉ tất cả những người công tác ở các cơ quan tổ chức củaĐảng, Nhà nước, các đoàn thể, lực lượng vũ trang, nằm trong biên chế, cảnhững người giữ chức vụ lẫn những người làm công tác chuyên môn nghiệp

vụ không giữ chức vụ

Trang 13

Trong khoa học tổ chức chúng ta có thể phân chia cán bộ thành các loạikhác nhau tuỳ theo từng tiêu thức Thường người ta phân loại cán bộ theonhững cách sau:

- Cách 1: Phân theo lĩnh vực hoạt động chuyên môn: Cán bộ lãnh đạo,

cán bộ quản lý, cán bộ chủ chốt, lãnh đạo chủ chốt, cán bộ chính trị, cán bộquân sự, cán bộ kinh tế, cán bộ khoa học kỹ thuật…

- Cách 2: Phân loại theo chức vụ, cấp hàm trình độ tổ chức xã hội và vị

trí vai trò của cán bộ: Cán bộ cao cấp, trung cấp, sơ cấp

- Cách 3: Phân theo loại hình tổ chức trong hệ thống chính trị: Cán bộ

Đảng, cán bộ Nhà nước, cán bộ đoàn thể nhân dân

Ngoài ra có thể phân loại theo thẩm quyền chủ thể quản lý cán bộ(được quy định tại quyết định phân cấp quản lý cán bộ): Cán bộ thuộc diện

TW quản lý (Bộ Chính trị, Ban Bí thư TW), cán bộ thuộc diện BTV tỉnh uỷ(thành uỷ) quản lý, cán bộ thuộc diện BTV huyện uỷ (quận uỷ) quản lý Trên

cơ sở phân loại cán bộ như trên chúng ta thấy cần làm rõ khái niệm vị trí, vaitrò, đặc điểm của từng loại cán bộ, từ đó mới có cơ sở vững chắc để xâydựng, hoạch định các chủ trương, chính sách về công tác cán bộ Trong khuônkhổ giới hạn của đề tài, ở đây chúng ta đi sâu vào khái niệm sau:

- Khái niệm cán bộ chủ chốt:

Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nằng, năm 2002, định nghĩa: "Chủ chốtquan trọng nhất, có tác dụng làm nòng cốt Cán bộ chủ chốt của phong trào"[65, tr.174]

Trong mỗi tổ chức có những người lãnh đạo, nhiều tổ chức có tập thểlãnh đạo Những người đó là cán bộ chủ chốt Vậy cán bộ chủ chốt là nhữngngười đứng đầu quan trọng nhất, có tác dụng chi phối toàn bộ hoạt động củamột tổ chức nhất định

Khi nghiên cứu cán bộ chủ chốt cần phân biệt cán bộ chủ chốt với cán

bộ lãnh đạo chủ chốt Cán bộ lãnh đạo chủ chốt là người đứng đầu trong một

tổ chức, cán bộ chủ chốt là những người lãnh đạo của một tổ chức nhất định.Chúng ta đã biết rằng:

Trang 14

Trong các tổ chức thuộc hệ thống chính trị của nước ta hiện nayđược phân thành nhiều cấp và nhiều bộ phận khác nhau Nếu như ởmỗi cấp, mỗi bộ phận trong các hệ thống tổ chức đều có một tập thểlãnh đạo quản lý, thì những người đứng đầu quan trọng nhất, cóchức vụ cao nhất trong các tập thể ấy được gọi là cán bộ lãnh đạochủ chốt [57, tr.35].

Việc xác định cán bộ lãnh đạo chủ chốt không những phải gắn với một

hệ thống tổ chức nhất định mà còn phải căn cứ vào chức danh cụ thể của từngngười, bởi vì trong thực tế một người cán bộ "ở cương vị này, trong tổ chứcnày là chủ chốt, nhưng trong mối quan hệ khác, vị trí khác, thì lại không phải

là chủ chốt" [57, tr.35]

Khi nói đến cán bộ lãnh đạo chủ chốt người ta không coi họ chỉ lànhững người thực hiện các chức năng lãnh đạo đơn thuần, mà còn nhìn nhận

họ là những người có trách nhiệm cả về phương diện quản lý

Trên thực tế người ta quan niệm: Tất cả những đ/c là uỷ viên BTV tỉnh

uỷ, huyện uỷ đều là cán bộ chủ chốt vì:

Một là: Xét trong mối quan hệ tổ chức, cấp uỷ đảng là cơ quan lãnh

đạo cao nhất giữa hai kỳ đại hội Các đ/c cấp uỷ viên đều coi là cán bộ lãnhđạo của tổ chức Đảng Trong mỗi cấp uỷ bầu ra BTV để lãnh đạo tổ chứcĐảng giữa hai kỳ họp BCH Vì vậy, những đ/c uỷ viên ban thường vụ đều lànhững người có trọng trách là thành viên trong tập thể lãnh đạo của tổ chứcđảng

Hai là: Trong mối quan hệ với các tổ chức của hệ thống chính trị cùng

cấp, uỷ viên ban thường vụ thường được các tổ chức đảng giới thiệu ra ứng

cử và thông qua bầu cử dân chủ để trở thành người đứng đầu các tổ chứctrong hệ thống chính trị Do đó, những đ/c uỷ viên ban thường vụ cấp uỷ đảng

là những cán bộ chủ chốt của tổ chức đó

Cần phân biệt khái niệm cán bộ lãnh đạo chủ chốt và cán bộ chủ chốt:Cán bộ lãnh đạo chủ chốt là những người lãnh đạo nhưng là lãnh đạo toàn

Trang 15

diện, có thẩm quyền cao nhất, trọng trách nặng nề nhất trước tập thể lãnh đạo.Khái niệm cán bộ chủ chốt rộng hơn, có thể đồng nhất với cán bộ cấp trưởng,cấp phó ở mỗi cơ quan, tổ chức, có tác dụng chi phối mọi hoạt động của cơquan, tổ chức Mỗi cán bộ chủ chốt được gắn với một tổ chức và chức danh

cụ thể

- Khái niệm cán bộ chủ chốt thuộc diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý:

Có đội ngũ cán bộ, tất yếu phải có công tác quản lý cán bộ, cũngnhư trong QLNN, công tác quản lý cán bộ của Đảng bao giờ cũng đượcphân công, phân cấp giữa TW và các cấp uỷ, tổ chức đảng các ở cơ quan,đơn vị, địa phương, tuỳ thuộc vào tình hình và điều kiện cụ thể trong từngthời kỳ mà có những quy định cụ thể về phân cấp quản lý cán bộ Khi nóiđến ĐNCBCC thuộc diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý hiện nay, tức

là nói đến những người giữ các chức vụ cao nhất trong hệ thống chính trịcủa tỉnh và cấp huyện Số cán bộ này do BTV Tỉnh uỷ quy định tiêuchuẩn, xem xét quyết định đề bạt, bổ nhiệm, điều động, luân chuyển, giớithiệu ứng cử, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện các chính sách cán bộ,trên cơ sở Điều lệ Đảng, điều lệ của các đoàn thể và những quy định củaPháp luật BTV Tỉnh uỷ thông qua các cơ quan tham mưu của Tỉnh uỷ đểthực hiện chức năng quản lý: Nhận xét, đánh giá, quy hoạch, ĐTBD, bốtrí sử dụng cán bộ, theo dõi, kiểm tra, giám sát, quản lý hồ sơ lý lịch cánbộ nhằm không ngừng nâng cao phẩm chất, trình độ và năng lực cán bộthuộc diện quản lý của mình

Có thể hiểu khái niệm cán bộ chủ chốt thuộc diện BTV Tỉnh uỷ Bắc

Giang quản lý là những người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu các cơ

quan trong hệ thống bộ máy tổ chức: Đảng, chính quyền, MTTQ và các đoànthể chính trị - xã hội ở cấp tỉnh; những người đứng đầu, cấp phó của ngườiđứng đầu cấp uỷ đảng, chính quyền cấp huyện, chịu trách nhiệm tổ chức thựchiện đường lối, nhiệm vụ chính trị, điều hành công tác, chỉ đạo CBCC thuộc

Trang 16

quyền quản lý của mình thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị, kinh tế

-xã hội, an ninh quốc phòng của địa phương

Thực hiện Quyết định số 49-QĐ/ TW ngày 03/5/1999 của Bộ Chínhtrị, BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang đã ban hành Quy định số 135-QĐ/TU ngày03/12/1999 về phân cấp quản lý cán bộ của tỉnh, trong đó, tại Điều 8, quyđịnh cụ thể đối tượng cán bộ thuộc diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý là:

- Ở cấp tỉnh: Các đ/c uỷ viên BTV, uỷ viên BCH Đảng bộ tỉnh, uỷ viênUBND tỉnh, uỷ viên UBKT Tỉnh uỷ; các bí thư ban cán sự đảng, đảng đoàn;phó chủ tịch HĐND tỉnh, phó chủ tịch UBND tỉnh; trưởng ban, phó trưởngban của Tỉnh uỷ; chánh văn phòng, phó văn phòng Tỉnh uỷ; hiệu trưởng,Phó hiệu trưởng Trường Chính trị tỉnh; tổng biên tập, phó tổng biên tập BáoBắc Giang; chủ tịch, phó chủ tịch: Uỷ ban MTTQ, Liên đoàn Lao động, HộiNông dân; Hội LHPN, Hội Cựu Chiến binh tỉnh, Hội Đồng Thi đua Khenthưởng tỉnh; bí thư, phó bí thư Tỉnh đoàn; trưởng ban, phó trưởng ban củaHĐND tỉnh; chánh văn phòng, phó văn phòng UBND tỉnh; các giám đốc,phó giám đốc sở và Đài phát thanh - Truyền hình tỉnh; chánh thanh tra, phóchánh thanh tra tỉnh; trưởng ban, phó trưởng ban: Ban Dân tộc miền núi,Ban Tôn giáo Chính quyền, Ban Bảo vệ sức khoẻ cán bộ tỉnh; chủ nhiệm,phó chủ nhiệm: Uỷ ban Dân số Gia đình và trẻ em tỉnh; chủ tịch, phó chủtịch các hội: Hội Văn học Nghệ thuật, Hội Chữ thập đỏ, Hội nhà báo, Liênminh các hợp tác xã, Hội Liên hiệp Thanh niên, Liên hiệp các tổ chức hữunghị, Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật tỉnh; chánh án, phó chánh án, thẩmphán TAND tỉnh; viện trưởng, viện phó VKSND tỉnh; giám đốc, phó giámđốc: Bưu điện tỉnh, Bảo hiểm xã hội tỉnh, Chi nhánh Ngân hàng Nhà nướctỉnh; giám đốc các ngân hàng chuyên doanh, Kho bạc Nhà nước tỉnh; cụctrưởng, cục phó: Cục Thống kê, Cục Thuế tỉnh; Chi cục trưởng Chi cụcKiểm Lâm tỉnh; giám đốc chi nhánh Quỹ hỗ trợ phát triển; giám đốc Điệnlực tỉnh; chủ tịch Hội Khuyến học tỉnh

Trang 17

- Ở cấp huyện: Bí thư, phó bí thư, uỷ viên BTV huyện uỷ, thành uỷ,đảng uỷ trực thuộc Tỉnh uỷ; chủ tịch, phó chủ tịch HĐND; chủ tịch, phó chủtịch UBND huyện, thành phố.

1.1.1.2 Vai trò của cán bộ chủ chốt thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh

uỷ Bắc Giang quản lý

Ở thời kỳ nào, quốc gia nào, cũng vậy, cán bộ và công tác cán bộ đều làvấn đề hết sức hệ trọng, liên quan trực tiếp đến vận mệnh của đất nước, sựtồn, vong của chế độ, sự thành bại của cách mạng

C.Mác và Ph Ăngghen, là những người đặt nền móng cho vấn đề cán

bộ của giai cấp vô sản Hai ông không chỉ là những người sáng lập ra chủnghĩa xã hội khoa học, mà còn là những người đem lý luận khoa học kết hợpvới phong trào công nhân lập nên tổ chức cộng sản đầu tiên trên thế giới Từkinh nghiệm lịch sử của xã hội loài người và từ chính quá trình nghiên cứu,truyền bá lý luận khoa học vào phong trào công nhân C Mác đã khẳng định:

"Tư tưởng căn bản không thể thực hiện được gì hết, muốn thực hiện tư tưởngthì cần có những con người sử dụng lực lượng thực tiễn" [42, tr 181]

V.I.Lênin là người kế thừa và phát triển sáng tạo tư tưởng của C.Mác

và Ph.Ăngghen, xây dựng một đảng cách mạng của giai cấp công nhân Bảnthân V.I Lênin vừa là lãnh tụ của Đảng, đồng thời cũng là một lãnh tụ củanhà nước XHCN đầu tiên trên thế giới Trong di sản lý luận của người vềđảng kiểu mới, những quan điểm về cán bộ, vai trò của cán bộ có ý nghĩa thựctiễn sâu sắc Ngay từ những ngày đầu chuẩn bị cho việc thành lập một Đảngcách mạng của giai cấp công nhân Nga, trong bài "Những nhiệm vụ bức thiếtcủa phong trào chúng ta" đăng trên tờ báo "Tia lửa" số 1 (tháng chạp năm1900) V.I Lênin đã chỉ rõ: "Trong lịch sử chưa hề có một giai cấp nào đượcquyền thống trị, nếu nó không đào tạo ra được trong hàng ngũ của mình nhữnglãnh tụ chính trị, những đại biểu tiên phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạophong trào" [32, tr.473] Theo Người, với lôgíc đó, giai cấp công nhân Nga chỉ

có thể lật đổ chế độ Nga Hoàng, giành chính quyền khi xây dựng cho mình được

Trang 18

một đội ngũ những nhà cách mạng chuyên nghiệp cho phong trào vô sản Đó làđội ngũ cán bộ nòng cốt đầu tiên của Đảng Cộng sản Bônsêvích Nga, nhữngngười giúp Đảng "đảo ngược nước Nga lên" [33, tr.162], "những nhà chính trịcủa giai cấp thực sự của mình, những nhà chính trị vô sản và không thua kémnhững nhà chính trị tư sản" [37, tr.80-81] Sau khi đã giành được chínhquyền, Người khẳng định: "nghiên cứu con người tìm những cán bộ có nănglực, biết làm việc, thực chất vấn đề hiện nay chính là ở những chỗ đó, nếuthiếu những điểm này thì tất cả mọi mệnh lệnh, mọi quy định sẽ chỉ là mớgiấy lộn" [32, tr.449] Trong hoạt động thực tiễn, Người đã trực tiếp tiến hànhnhìn nhận đánh giá, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ lãnh đạo, tổ chức ĐTBD cán

bộ để lãnh đạo giai cấp công nhân, nhân dân lao động Nga hoàn thành cuộcCách mạng Tháng Mười vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại

Như vậy, C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I Lênin đã thống nhất cách nhìnnhận và đánh giá vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ, nhất là những người lãnhđạo chủ chốt trong sự nghiệp cách mạng của giai cấp vô sản và các đảng cộngsản, đó là lực lượng biến "tư tưởng", "mệnh lệnh", các "quyết định" của Đảngthành hiện thực

Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh tụ kiệt xuất của nhân dân Việt Nam, làngười vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin, phù hợp vớiđiều kiện cụ thể ở Việt Nam và hình thành nên một tư tưởng cách mạng đặcsắc - tư tưởng Hồ Chí Minh Người xem xét vai trò của cán bộ, kể cả cán bộchủ chốt, bất kể là ở cấp nào đều thể hiện rõ qua các mối quan hệ cơ bản sau:

1 - Là người lãnh đạo, họ nhân danh Đảng, nhân danh tổ chức làm đầutàu dẫn dắt mọi phong trào cách mạng của quần chúng, làm gương cho quầnchúng và trong mọi việc "đảng viên đi trước, làng nước theo sau"

2 - Là cầu nối giữa Đảng với quần chúng, họ "đem chính sách của Đảng,Chính phủ giải thích cho quần chúng hiểu rõ và thi hành", đồng thời "đem tìnhhình của quần chúng báo cáo cho Đảng, Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sáchcho đúng" [45, tr269] và với vị trí đó làm cho cán bộ trở thành cầu nối và giữmối dây liên hệ qua lại chặt chẽ giữa Đảng và quần chúng nhân dân

Trang 19

3 - Là người đầy tớ của nhân dân, phụng sự nhân dân, bảo vệ lợi ích vàphát huy quyền làm chủ của nhân dân Người nhấn mạnh: "Chủ tịch, Bộ trưởng,Thứ trưởng, Uỷ viên này khác là làm gì ? Làm đầy tớ cho nhân dân" [47, tr.373]

Trên cơ sở những quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng HồChí Minh, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn coi công tác cán

bộ là một trong những vấn đề đặc biệt quan trọng Vấn đề cán bộ và công táccán bộ đã được đề cập đến trong nhiều văn kiện quan trọng của Đảng, Tronggiai đoạn cách mạng hiện nay, Đảng ta nhiều lần xác định: "phát triển kinh tế

là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt Trong xây dựngĐảng thì công tác cán bộ là một lĩnh vực quan trọng nhất, là khâu then chốt

của vấn đề then chốt” [58, tr.8].

Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh những luận điểm củaC.Mác, V.I Lênin, của Hồ Chí Minh và của Đảng ta về vai trò của đội ngũcán bộ là hoàn toàn đúng đắn

Trong đội ngũ cán bộ công chức của tỉnh nói chung thì ĐNCBCC thuộcdiện BTV Tỉnh uỷ quản lý là những người đứng đầu, cấp phó của người đứngđầu một ngành, một địa phương, một đơn vị trong hệ thống chính trị ở tỉnh vàcấp huyện, có vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp cách mạng, xâydựng, bảo vệ đất nước nói chung và quê hương Bắc Giang nói riêng, vai trò

đó thể hiện ở những điểm chủ yếu sau:

Một là, ĐNCBCC thuộc diện BTV Tỉnh uỷ quản lý là lực lượng đi đầu,

nòng cốt trong việc tổ chức nghiên cứu, quán triệt, cụ thể hoá đường lối, chủtrương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước,thông qua quá trình hoạch định, xây dựng các nghị quyết, quyết định, kếhoạch, chương trình hành động, chính sách cụ thể trên tất cả các lĩnh vực củađời sống xã hội ở địa phương, đơn vị Do những chủ trương, chính sách củaĐảng và Nhà nước, phần lớn là ở tầm vĩ mô, mang tính bao quát, đòi hỏi phảiquán triệt sâu sắc, vận dụng một cách sáng tạo, linh hoạt, phù hợp với điều

Trang 20

kiện, hoàn cảnh cụ thể của từng địa phương, đơn vị thì mới đi vào cuộc sống,đem lại hiệu quả thiết thực

ĐNCBCC thuộc diện BTV Tỉnh uỷ quản lý còn thể hiện vai trò to lớn

có tính quyết định của mình trong việc tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối,chủ trương của TW Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cũng như cácnghị quyết, quyết định, kế hoạch, đề án, chương trình hành động của tỉnh Vì

họ là những người lãnh đạo, trung tâm định hướng, điều khiển toàn bộ hoạtđộng của Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh; các cơ quan, sở, ban, ngành, đoàn thểtỉnh; cấp uỷ, HĐND, UBND các huyện, thành phố, đảng uỷ trực thuộc Tỉnh

uỷ Thông qua quá trình chỉ đạo hoạt động thực tiễn họ tổng kết được nhữngkinh nghiệm, bài học, góp phần bổ sung, hoàn thiện các chủ trương, chínhsách của Đảng và Nhà nước

Vai trò này xuất phát từ mối quan hệ giữa cán bộ với đường lối, chínhsách và từ vị trí của đội ngũ cán bộ này trong hệ thống chính trị

Hai là, ĐNCBCC thuộc diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý đóng vai

trò nòng cốt trong việc xây dựng hệ thống chính trị của tỉnh vững mạnh Họ làngười đứng đầu các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị ở cấp tỉnh vàcấp huyện, chịu trách nhiệm chính trong việc tuyên truyền, tổ chức, hướngdẫn, kiểm tra các hoạt động của cán bộ, đảng viên và nhân dân trong tỉnh, chỉđạo xây dựng và củng cố, kiện toàn hệ thống tổ chức, bộ máy; xây dựng độingũ đảng viên, đoàn viên, hội viên; tuyển chọn, ĐTBD, bố trí sắp xếp đội ngũcán bộ và đề ra các chủ trương, giải pháp nhằm không ngừng đổi mới, nângcao chất lượng hoạt động của cơ quan, tổ chức mình, đáp ứng yêu cầu nhiệm

vụ trong từng thời kỳ

Ba là, ĐNCBCC thuộc diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý có vai

trò quan trọng trong việc xây dựng và giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trongĐảng, trong đội ngũ cán bộ công chức và nhân dân trong tỉnh Đội ngũ cán bộnày nếu có đủ phẩm chất chính trị, đạo đức; trình độ, năng lực tốt, đồng đềuthì cấp uỷ, HĐND, UBND tỉnh, huyện, thành phố, bộ máy lãnh đạo của các

Trang 21

cơ quan, sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh sẽ mạnh, quy tụ được đội ngũ cán bộđảng viên, nội bộ đoàn kết Nhưng nếu thoái hoá về phẩm chất, trình độ, nănglực không tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ thì sẽ có kết quả ngược lại và cácquyết định thường sẽ thiếu tính hiệu lực và hiệu quả, thậm chí gây mất đoànkết và phá hoại tổ chức Do đó, trong giai đoạn cách mạng hiện nay, đòi hỏiĐNCBCC thuộc diện BTV Tỉnh uỷ quản lý phải có đủ phẩm chất, trình độ,năng lực ngang tầm nhiệm vụ mới; phải là tấm gương trong học tập, côngtác và sinh hoạt để những người dưới quyền và quần chúng nhân dân noitheo, là trung tâm đoàn kết, tập hợp mọi nguồn nhân lực, trí lực, vật lực ởđịa phương, phát huy sức mạnh tập thể, động viên mọi người ra sức thựchiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của tỉnh.

Bốn là, ĐBCBCC thuộc diện BTV Tỉnh uỷ quản lý là những người có

vai trò quan trọng nhất trong việc quan tâm chăm lo, bảo vệ lợi ích chínhđáng về tinh thần và vật chất của cán bộ đảng viên và mọi người dân, pháthuy dân chủ trong Đảng, động viên và phát huy tinh thần làm chủ của nhândân tích cực tham gia các phong trào hoạt động, nhằm xây dựng và bảo vệ Tổquốc, phát triển kinh tế- xã hội ở địa phương

Năm là, ĐNCBCC thuộc diện BTV Tỉnh uỷ quản lý còn là nguồn bổ

sung cán bộ cho các cơ quan, bộ, ban, ngành, đoàn thể TW Bởi vì hầu hếtcán bộ trong đó đã trưởng thành từ các phong trào cách mạng ở địa phương,được đào tạo cơ bản về các mặt, thường xuyên rèn luyện, tu dưỡng phẩm chấtđạo đức, trải qua quá trình công tác ở địa phương đã tích luỹ được nhiều kinhnghiệm thực tiễn, nhiều đ/c độ tuổi còn trẻ, có nhiều triển vọng, có thể đảmđương được chức vụ cao hơn

1.1.1.3 Đặc điểm chủ yếu của đội ngũ cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý hiện nay

- ĐNCBCC thuộc diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý là đội ngũ cán

bộ giữ các chức vụ quan trọng nhất trong hệ thống chính trị ở tỉnh và cấphuyện, đại đa số các đ/c đều kiêm nhiệm một hoặc một số chức vụ khác trong

Trang 22

công tác Đảng, chính quyền, đoàn thể Do vậy có ảnh hưởng lớn đối với độingũ cán bộ của tỉnh Đây là đội ngũ cán bộ có số lượng không nhiều, thường

từ 300 đến 350 người, chiếm khoảng 1% tổng số CBCC, viên chức toàn tỉnh.Song lại có vị trí rất quan trọng trong việc xây dựng các nghị quyết, quyếtđịnh, lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế- xã hội của địaphương trong từng thời kỳ

- Đây là đội ngũ cán bộ hiểu biết sâu, rộng về đường lối, chủ trương,chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, am hiểutình hình chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng ở trong nước

và ở địa phương; có kiến thức, kinh nghiệm hoạt động trong công tác xâydựng đảng, đoàn thể, vận động quần chúng, QLKT, QLNN; có năng lực tổchức, quản lý, chỉ đạo tổng kết kinh nghiệm thực tiễn; có khả năng nghiêncứu khoa học, chủ trì xây dựng hoặc thẩm dịnh các đề án, chuyên đề công tácliên quan đến lĩnh vực được phân công phụ trách

- Phần lớn số cán bộ này đã được rèn luyện, thử thách, trưởng thànhtrong thực tiễn đấu tranh cách mạng của đất nước và trong phong trào củaquần chúng, hơn 70% cán bộ trong số đó đã có thời gian tham gia trực tiếpchiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu chống đế quốc Mỹ và các đội quân xâmlược khác để bảo vệ tổ quốc, xây dựng tổ quốc XHCN do vậy mà lập trường,bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định với mục tiêu và con đường XHCN,trung thành với Đảng với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,quyết tâm thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới của Đảng, tích cực đấu tranhvới những luận điểm sai trái Hầu hết các đ/c đều nêu cao ý thức tổ chức kỷluật, tinh thần trách nhiệm, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; giữ gìnphẩm chất đạo đức của người cán bộ, đảng viên, gương mẫu trong thực hiệncác nhiệm vụ được giao

- Đội ngũ cán bộ thuộc diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý luônđược BTV Tỉnh uỷ quan tâm thường xuyên lãnh đạo chỉ đạo xây dựng, củng

Trang 23

cố, kiện toàn, vì vậy số lượng đã được tăng lên, cơ cấu ngày càng hợp lý hơn,chất lượng được nâng lên rõ rệt

- Đội ngũ cán bộ thuộc diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý chủ yếuđược hình thành từ nguồn cán bộ trong quy hoạch tại chỗ, một số đ/c được điềuđộng, luân chuyển từ nơi khác đến song vẫn là trong nội bộ giữa các cơ quan,đơn vị, địa phương trong tỉnh Tuy quê quán, nơi sinh của cán bộ có khác nhau,

từ nhiều miền quê trong cả nước như: Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Dương, HưngYên, Thái Bình, Nam Định, Vĩnh Phúc nhưng hầu hết đều xuất thân từ nôngthôn, gia đình nông dân, công nhân và đều có quá trình làm ăn sinh sống, họctập, công tác nhiều năm ở tỉnh Mặt khác xuất phát từ những đặc điểm riêng về

tự nhiên, kinh tế, văn hoá xã hội địa phương mà đội ngũ cán bộ của tỉnh luôn

có truyền thống yêu quê hương, đất nước, cần cù chịu khó lao động, sản xuất,

cố gắng, tích cực học tập công tác để vươn lên, chủ động sáng tạo trong côngviệc, có tinh thần tương thân, tương ái, đoàn kết gắn bó với cộng đồng, gần gũivới quần chúng nhân dân, được quần chúng nhân dân tín nhiệm

- ĐNCBCC thuộc diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý đều do tập thểBTV Tỉnh uỷ xem xét ra nghị quyết, quyết định luân chuyển, bổ nhiệm, bổnhiệm lại hoặc giới thiệu ứng cử Do vậy đều là đối tượng điều chỉnh của quychế bổ nhiệm, quy chế bầu cử hiện hành, được thực hiện theo một quy trìnhchặt chẽ có xem xét đánh giá phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, năng lựctrình độ, kết quả hoàn thành nhiệm vụ, quan hệ với quần chúng Trong quátrình đó họ một mặt chịu sự chi phối trực tiếp hoặc gián tiếp của BTV Tỉnh

uỷ Đồng thời họ phải chịu sự giám sát, kiểm tra, đánh giá của các cơ quan, tổchức có liên quan và quần chúng nhân dân nơi công tác và nơi cư trú

- ĐNCBCC thuộc diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý có đặc điểm làtuổi đời bình quân cao, phần lớn đều trên 50 tuổi, vì vậy phần nào ảnh hưởngđến sức khoẻ, năng lực công tác Là tỉnh miền núi nhiều dân tộc anh em cùngchung sống, nhưng số cán bộ là người dân tộc thiểu số còn ít, tỷ lệ cán bộ nữkhông cao Một số đ/c còn chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng phong kiến lạc hậu tư

Trang 24

tưởng tiểu nông, sản xuất nhỏ, biểu hiện ra thành những bệnh cá nhân chủnghĩa như: Hẹp hòi, ích kỷ, gia trưởng, trọng nam khinh nữ, kinh nghiệm, cục

bộ, địa phương

- Trong đội ngũ cán bộ thuộc diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lýnhiều đ/c đã trải qua thời gian công tác trong quân đội, thanh niên xungphong, tham gia kháng chiến giải phóng dân tộc hoặc các cuộc chiến tranhbảo vệ tổ quốc nên ít có điều kiện học tập chính quy có hệ thống tại cáctrường đại học, trung học chuyên nghiệp, mà chủ yếu là học tập các hệ ĐTBDkhông chính quy, trong thời gian tại chức sau này và tích luỹ kinh nghiệmtrong hoạt động thực tiễn; trình độ ngoại ngữ, tin học của đội ngũ cán bộ trêncũng còn bất cập trước yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ hội nhập quốc tế vềkinh tế Điều đó đòi hỏi trong những năm tới phải tăng cường công tác quyhoạch, ĐTBD cán bộ, từng bước bố trí xắp xếp, đội ngũ cán bộ hợp lý hơn

1.1.2 Quan niệm về quy hoạch cán bộ, vai trò, quan điểm, nguyên tắc, phương châm, phương pháp, quy trình quy hoạch cán bộ chủ chốt thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý hiện nay

* Quan niệm về QHCB:

Trong "Đại Từ điển tiếng Việt" Nxb văn hoá thông tin năm 1999 hai từ

"quy hoạch" được định nghĩa như sau:

"1 Bố trí sắp xếp kế hoạch dài hạn;

2 Kế hoạch tổng thể trong thời gian dài" [19, tr.1380]

Trong Từ điển tiếng Việt (2002) Nxb Đà Nẵng nêu: quy hoạch là "bốtrí, sắp xếp theo một trình tựh hợp lý trong từng thời gian, làm cơ sở cho lập

kế hoạch daìi hạn, quy hoạch các vùng kinh tế, quy hoạch trị thuỷ một consông, quy hoạch đào tạo cán bộ " [65, tr.813]

Từ đây có thể hiểu quy hoạch theo nghĩa thông thường là bố trí, sắpxếp toàn bộ theo một trình tự hợp lý trong từng thời gian, làm cơ sở cho việclập các kế hoạch cụ thể, dài hạn và ngắn hạn, ta hay nói quy hoạch đô thị, quyhoạch giao thông, quy hoạch các khu công nghiệp Khác với các quy hoạch

Trang 25

đó QHCB là một loại quy hoạch đặc biệt đối tượng của nó không phải là cơ

sở vật chất, công trình mà là cán bộ, là con người, họ vừa là chủ thể vừa là đốitượng của quy hoạch

QHCB là việc lập dự án thiết kế xây dựng tổng hợp đội ngũ cán bộ, dựkiến bố trí, sắp xếp tổng thể đội ngũ cán bộ theo một ý đồ nhất định với mộttrình tự hợp lý, trong một thời gian nhất định, làm cơ sở cho việc lập kế hoạchxây dựng đội ngũ cán bộ

Nội dung lập dự án thiết kế xây dựng tổng hợp đội ngũ cán bộ rất gầnvới chiến lược cán bộ, cụ thể hoá những quan điểm, phương châm, nguyên tắc

và mục tiêu, giải pháp trong chiến lược cán bộ Nội dung này phải xác định:

Một là, mục tiêu của quy hoạch: Tuỳ theo phạm vi, tính chất của QHCB

mà mục tiêu sẽ khác nhau Ví dụ QHCB cấp tỉnh có mục tiêu khác cấp huyện,QHCB của ngành, huyện này có mục tiêu khác ngành, huyện kia

Hai là, quán triệt cơ cấu cán bộ trong quy hoạch: Trong quy hoạch phải

xác định cơ cấu, tỷ lệ 3 độ tuổi, đảm bảo tính đồng bộ, tính kế thừa và pháttriển, tránh tình trạng "hẫng hụt" cán bộ Quy hoạch còn phải chú trọng cơ cấugiai cấp, dân tộc, giới tính hợp lý

Ba là, xác định rõ tiêu chuẩn từng chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý, lấy

đó làm cơ sở thực hiện việc đánh giá cán bộ, lựa chọn đúng cán bộ đưa vào quyhoạch và ĐTBD cán bộ theo tiêu chuẩn

Bốn là, xác định đúng nguồn cán bộ phạm vi và đối tượng quy hoạch

Quan niệm về QHCB có nội dung thứ hai là dự kiến bố trí, sắp xếptổng thể đội ngũ cán bộ theo một ý đồ nhất định với một trình tự hợp lý, trongmột thời gian nhất định, đó là:

- Các chức danh trong quy hoạch phải được xác định rõ ràng, cụ thểnhư: Cán bộ Đảng, chính quyền hay đoàn thể, cán bộ cấp trưởng hay cấp phó

- Cần đặt QHCB trong mối quan hệ hữu cơ với các khâu khác của công

tác cán bộ, như khâu đánh giá cán bộ để làm cơ sở cho việc lựa chọn cán bộ

Trang 26

quy hoạch; khâu ĐTBD cán bộ, luân chuyển cán bộ, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ đểtừng bước đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn chức danh đã quy hoạch

* Vai trò của công tác quy hoạch cán bộ:

Để hiểu rõ vai trò của QHCB trong công tác cán bộ chúng ta cần phânbiệt rõ QHCB với chiến lược cán bộ và các kế hoạch về công tác cán bộ

Chiến lược cán bộ thường đề cập những quan điểm, chủ trương, phươnghướng, phương châm có tính chất tổng thể, xác định mục tiêu chủ yếu và sự sắpxếp lực lượng trong suốt cả một thời kỳ cách mạng Chiến lược cán bộ có đặcđiểm là đề cập đến những vấn đề lớn có tính bao quát, định hướng chung trongmột khoảng thời gian dài, nội hàm của nó rộng lớn hơn QHCB Chiến lược cán

bộ là cơ sở vững chắc để tiến hành xây dựng QHCB

Kế hoạch cán bộ là toàn bộ những nội dung về công tác cán bộ dự địnhthực hiện trong một thời gian nhất định, được vạch ra theo một hệ thống, vớinhững cách thức, trình tự, thời hạn tiến hành cụ thể So với QHCB thì kế hoạch

về công tác cán bộ có nội hàm hẹp hơn Thường thì trên cơ sở QHCB, người tatiến hành xây dựng các kế hoạch về công tác cán bộ như: Kế hoạch ĐTBD cán

bộ, kế hoạch luân chuyển cán bộ, kế hoạch tuyển chọn cán bộ

Như vậy giữa chiến lược cán bộ, QHCB, và kế hoạch cán bộ có mối qua

hệ biện chứng, gắn bó hữu cơ với nhau, chất lượng của công tác cán bộ phụthuộc vào việc xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược cán bộ, QHCB và các

kế hoạch về công tác cán bộ

Trong công tác cán bộ, QHCB có vai trò rất quan trọng, thể hiện chủ yếu

ở những điểm sau:

Một là, để tạo nguồn cán bộ dồi dào, chuẩn bị cán bộ lãnh đạo, quản lý

một cách chủ động có tầm nhìn xa, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cả trước mắt vàlâu dài, bởi vì:

- Nếu không có QHCB, không chủ động tạo nguồn cán bộ thì khi cầnthay thế, bố trí, sử dụng cán bộ sẽ gặp khó khăn, bị động lúng túng, đội ngũcán bộ sẽ bị hụt hẫng, chắp vá, không đảm bảo tính liên tục, tính kế thừa và

Trang 27

phát triển, cơ cấu cũng thiếu tính đồng bộ Thực tế những năm qua không ítnhững đơn vị địa phương khi cần thay thế cán bộ hay mỗi khi chuẩn bị nhân

sự đại hội đảng, đoàn thể, nhân sự bầu cử HĐND, UBND thì không biết lấy

từ nguồn ở đâu, không thể lựa chọn được những người có đủ tiêu chuẩn theoquy định, dẫn đến đội ngũ cán bộ có thế nào thì dùng thế đó, bố trí cán bộgượng ép, nguyên nhân là đã không làm tốt công tác QHCB

- Khác với công tác nhân sự, QHCB cán bộ không chỉ tạo nguồn cán bộ

kế cận đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trước mắt, mà quan trọng hơn là nó chuẩn

bị cán bộ dự nguồn từ xa, phục vụ công tác nhân sự cho những nhiệm kỳ tiếptheo, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ lâu dài của các cơ quan, đơn vị, địa phương

Hai là, QHCB là một nội dung trọng yếu của công tác cán bộ, bảo đảm

cho công tác cán bộ đi vào nền nếp, theo quy trình chặt chẽ, có tính khoa họcchất lượng ngày càng nâng cao Làm tốt công tác QHCB sẽ tạo cơ sở, điềukiện, tiền đề để làm tốt các khâu khác trong công tác cán bộ như: ĐTBD, điềuđộng, luân chuyển, đề bạt, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử và thực hiệnchính sách cán bộ Khắc phục tình trạng ĐTBD cán bộ tràn lan, không cótrọng tâm, trọng điểm; đề bạt, bổ nhiệm, phân công, bố trí cán bộ tuỳ tiện,không đúng người, đúng việc

Ba là, QHCB còn là một động lực mạnh mẽ, thúc đẩy đội ngũ cán bộ

công chức nói chung và cán bộ dự nguồn trong quy hoạch các chức danh lãnhđạo, quản lý nói riêng, tích cực tu dưỡng, rèn luyện về phẩm chất chính trị,đạo đức, giữ gìn lối sống lành mạnh, giản dị, hăng hái học tập, công tác, phấnđấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, để từng bước đáp ứng yêu cầu tiêuchuẩn chức danh cán bộ quy hoạch

*Quan điểm cơ bản trong công tác quy hoạch ĐNCBCC:

Quán triệt Nghị quyết số 42-NQ/TW của Bộ Chính trị, công tác quyhoạch ĐNCBCC diện BTV Tỉnh uỷ quản lý phải xuất phát từ những quanđiểm cơ bản của Đảng ta về công tác cán bộ là:

Trang 28

- Lấy việc phục vụ nhiệm vụ chính trị trong từng thời kỳ cách mạng đểxây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý; thông qua thực tiễn của sự nghiệpđổi mới, phong trào thi đua yêu nước của quần chúng nhân dân để phát hiệnnhững người có phẩm chất và năng lực, nhất là năng lực chỉ đạo thực tiễn tốt,làm việc năng động, sáng tạo, có hiệu quả, cũng như các nhân tố mới có nhiềutriển vọng phát triển để đưa vào QHCB lãnh đạo, quản lý.

- Có quan điểm giai cấp công nhân trong công tác QHCB: Chú ý pháthiện, bồi dưỡng cán bộ trưởng thành từ thực tế CNH, HDH; chủ động và sớmphát hiện cán bộ có triển vọng, các tài năng trẻ nhằm sớm đưa vào quy hoạch

dự nguồn cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý để có kế hoạch ĐTBD nhântài cho đất nước; quan tâm tạo nguồn để tăng tỷ lệ cán bộ lãnh đạo, quản lý trẻ,xuất thân từ công nhân, nông dân, con em các gia đình có công với cáchmạng, cán bộ dân tộc thiểu số, cán bộ nữ, không phân biệt đảng viên hay quầnchúng ngoài Đảng

*Những nguyên tắc trong công tác QHCB chủ chốt:

Quy hoạch ĐNCBCC diện BTV Tỉnh uỷ quản lý phải giữ vững nguyêntắc công tác cán bộ của Đảng, cụ thể là:

- Phải đặt dưới sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của các cấp uỷ đảng,đồng thời có sự phân cấp hợp lý về thẩm quyền QHCB, phù hợp với phân cấpquản lý, sử dụng cán bộ

- Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác QHCB; Đảngthống nhất lãnh đạo và quản lý đội ngũ cán bộ, bảo đảm vai trò lãnh đạo tậptrung của cấp uỷ đi đôi với việc phát huy trách nhiệm của các tổ chức trong hệthống chính trị, nhất là người đứng đầu; đồng thời mở rộng dân chủ trong việcphát hiện nguồn, phát hiện tài năng

* Phương châm, phương pháp, quy trình quy hoạch:

Về phương châm:

Trang 29

- Quy hoạch ĐNCBCC diện BTV Tỉnh uỷ quản lý phải thực sự gắn kếtvới các khâu khác trong công tác cán bộ như: nhận xét, đánh giá cán bộ;ĐTBD cán bộ; luân chuyển, sắp xếp, bố trí, sử dụng cán bộ Đánh giá đúngcán bộ là khâu quan trọng nhất, là tiền đề cho việc bố trí cán bộ và choQHCB; đồng thời QHCB là cơ sở để thực hiện luân chuyển, đào tạo cán bộcho nhu cầu trước mắt và lâu dài.

- Thực hiện quy hoạch “động” và "mở": một chức danh có thể quyhoạch nhiều người và một người có thể quy hoạch nhiều chức danh; quyhoạch phải luôn được xem xét, đánh giá để bổ sung, điều chỉnh hàng năm,đưa ra khỏi quy hoạch những người không còn đủ tiêu chuẩn và điều kiện, bổsung vào quy hoạch những nhân tố mới có triển vọng

- QHCB phải đồng bộ từ trên xuống dưới; cấp trên chỉ đạo, hướng dẫncấp dưới QHCB, lấy QHCB cấp dưới làm cơ sở cho QHCB cấp trên; quyhoạch cấp trên thúc đẩy quy hoạch cấp dưới

- QHCB phải mang tính khoa học và thực tiễn, vừa tạo nguồn cho việcđào tạo đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, vừa tạo động lực thúc đẩy, phát huynhân tố chủ quan, phấn đấu vươn lên của cán bộ, bảo đảm sự đoàn kết trong

sự phát triển của toàn đội ngũ cán bộ, đề phòng tư tưởng cơ hội; không cứngnhắc, máy móc trong xây dựng và thực hiện quy hoạch

- Thực hiện công khai trong công tác QHCB; cơ quan có thẩm quyềnquyết định quy hoạch thì quyết định phạm vi, đối tượng, thời điểm, mức độ vàcách thức công khai quy hoạch

Phương pháp, quy trình quy hoạch: Trên cơ sở đáp ứng mục đích, yêu

cầu và các quan điểm, nguyên tắc xây dựng quy hoạch đã nêu ở trên, công tácquy hoạch ĐNCBCC diện BTV Tỉnh uỷ quản lý, cần đổi mới phương pháp, quytrình tiến hành, cụ thể:

- Quy trình QHCB phải bảo đảm mở rộng dân chủ, khách quan trong việcphát hiện nguồn, có sự tham gia của cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân,mặt trận, các đoàn thể trong việc nhận xét, đánh giá và giới thiệu cán bộ; lấy kết

Trang 30

quả nhận xét, đánh giá cán bộ thường xuyên và định kỳ làm cơ sở để lựa chọncán bộ đưa vào quy hoạch; bảo đảm quyền tập trung của tập thể BTV các cấp uỷđảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng uỷ, lãnh đạo các ban đảng, các cơ quan,ban, ngành, mặt trận, đoàn thể trong việc QHCB; đồng thời có cơ chế để nhândân, mặt trận, các đoàn thể giám sát việc xây dựng và thực hiện QHCB.

- Quy trình phải đạt được cơ cấu cán bộ hợp lý, bố trí kết hợp giữa 3 độtuổi, thực hiện trẻ hoá, độ tuổi trung bình khoá sau thấp hơn khoá trước; có tỷ lệcán bộ nữ, cán bộ trẻ, cán bộ xuất thân công nông thích đáng; ở những nơi cónhiều đồng bào dân tộc thiểu số cần có tỷ lệ hợp lý cán bộ dân tộc thiểu số; mỗinhiệm kỳ đổi mới không dưới 1/3 tổng số uỷ viên BCH

- Định kỳ tiến hành QHCB phù hợp với nhiệm kỳ của Quốc hội, HĐND,UBND và đại hội đảng các cấp Các cấp uỷ, các cấp lãnh đạo phải làm QHCBngay từ đầu nhiệm kỳ; hàng năm phải rà soát, xem xét lại quy hoạch; hết nhiệm

kỳ phải tổng kết, đánh giá lại quy hoạch và bàn giao cho cấp uỷ, lãnh đạo khoámới để tiếp tục rà soát, bổ sung và tiếp tục thực hiện QHCB

1.2 THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT VÀ CÔNG TÁC QUY HOẠCH ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT THUỘC DIỆN BAN THƯỜNG VỤ TỈNH

UỶ BẮC GIANG QUẢN LÝ TỪ 1997 ĐẾN NAY

1.2.1 Thực trạng đội ngũ cán bộ chủ chốt thuộc diện Ban Thường

vụ Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý từ khi tái lập tỉnh (01/01/1997) đến nay

Theo số liệu tổng hợp của BTC Tỉnh uỷ Bắc Giang: Tính đến ngày30/12/2006 ĐNCBCC thuộc diện BTV Tỉnh uỷ quản lý có 331 đ/c, tăng20,3% so với ngày đầu tái lập tỉnh (01/01/1997) Phân tích cụ thể như sau:

- Trình độ văn hoá: 99,4% đã tốt nghiệp, còn 02 đ/c = 0,6 % chưa tốtnghiệp phổ thông hoặc bổ túc trung học, số này năm 1997 là 5,2%

- Trình độ chuyên môn: Trên đại học (thạc sỹ, tiến sỹ): 33 đ/c = 10%,tăng 7,8% so với năm 1997 Đại học, cao đẳng: 275 đ/c = 83,1%, tăng 7,1%

so với năm 1997 Trung cấp: 12 đ/c = 3,6%, giảm 11,6% so với năm 1997 Sơcấp trở xuống: 11 đ/c = 3,3%, giảm 1,4% so với năm 1997

Trang 31

- Về trình độ LLCT: Cử nhân, cao cấp: 308 đ/c = 93,1%, tăng 49,7% sovới năm 1997 Trung cấp: 23 đ/c = 6,9%, giảm 27,1% so với năm 1997 Sơ cấp:không còn đ/c nào, trong khi đó năm 1997 vẫn còn 22,6%.

- Về độ tuổi: Tuổi đời bình quân là 52,6 cao hơn năm 1997 là 2,3 tuổi,Trong đó từ 30-40: 09 đ/c = 2,7 %, giảm 1,8% so với năm 1997 Tuổi từ 41-45: 46 đ/c = 13,9%, tăng 2,4% so với năm 1997 Tuổi từ 46 - 50: 101 đ/c =30,5%, giảm 4% so với năm 1997 Tuổi từ 51-55: 111 đ/c = 33,5%, tăng 8,2% sovới năm 1997 Tuổi trên 55: 64 đ/c = 19,3%, tăng 6,3% so với năm 1997

- Giới tính, dân tộc: Nam: 305 đ/c = 92,1%; nữ: 26 đ/c = 7,9%, tăng2,06% so với năm 1997 Số cán bộ là người dân tộc thiểu số: 16 đ/c = 4,8%,giảm 0,68% so với năm 1997 [5]

1.2.1.1 Mặt mạnh, ưu điểm và nguyên nhân

Qua số liệu tổng hợp trên cho thấy: Trong 10 năm qua, kể từ khi tỉnhđược tái lập đến nay, ĐNCBCC thuộc diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý

đã có sự phát triển cả về số lượng và chất lượng Mặt mạnh cơ bản, nổi bậttrong những năm qua là:

- Về phẩm chất: Nhìn chung các đ/c đều có lập trường, bản lĩnh chính

trị vững vàng, kiên định với mục tiêu con đường XHCN, trung thành với lýtưởng cộng sản và những mục tiêu cơ bản của sự nghiệp cách mạng, tin tưởngvào khả năng lãnh đạo của Đảng trong thời kỳ đổi mới và quyết tâm vượt quanhững khó khăn, thử thách phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng và nhândân giao cho Đại đa số cán bộ giữ gìn được phẩm chất đạo đức tốt đẹp củangười cán bộ đảng viên, lối sống lành mạnh, giản dị phù hợp với những giá trịvăn hoá truyền thống dân tộc, sống gần gũi nhân dân, là tấm gương về đạođức và lối sống được cán bộ, đảng viên và nhân dân tin yêu

- Về số lượng, cơ cấu: ĐNCBCC thuộc diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang

quản lý hiện nay đã lớn hơn nhiều so với 10 năm trước đây Cơ cấu cũng ngàycàng đồng bộ hơn, gồm nhiều thế hệ, được phân bố hợp lý trong các cơ quan,

tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể ở cấp tỉnh và cấp huyện, một số công tác ở

Trang 32

doanh nghiệp, thể hiện sự lãnh đạo toàn diện trên các lĩnh vực của BTV Tỉnh uỷ.

Tỷ lệ cán bộ dân tộc thiểu số, cán bộ nữ cũng được quan tâm hơn

- Trình độ về mọi mặt ngày càng được nâng cao: Tỷ lệ cán bộ có trình

độ chuyên môn tiến sỹ, thạc sỹ vàđại học, cao đẳng ngày càng nhiều; tỷ lệ cán

bộ có trình độ trung cấp và sơ cấp trở xuống ngày càng giảm đi; tỷ lệ cán bộ

có trình độ LLCT cử nhân, cao cấp ngày càng tăng; trình độ trung cấp ngàymột giảm, không còn đ/c nào trình độ sơ cấp Hầu hết các đ/c đã qua các lớpbồi dưỡng nghiệp vụ công tác xây dựng đảng, vận động quần chúng hoặc cáclớp bồi dưỡng kiến thức QLNN, QLKT, quốc phòng-an ninh Một số đ/c đã

cố gắng tranh thủ thời gian học tập để có chứng chỉ ngoại ngữ trình độ A, B,

C tiếng Anh, Nga, Trung Quốc và học tin học để sử dụng được máy vi tínhtrong chuyên môn Điều đó chứng tỏ rằng trong những năm qua BTV Tỉnh uỷBắc Giang đã rất quan tâm ĐTBD toàn diện về các mặt cho đội ngũ cán bộnày Mặt khác cũng thể hiện chính đội ngũ cán bộ này đã không ngừng nỗ,học tập lực rèn luyện nâng cao trình độ về mọi mặt Đây là điều kiện rất thuậnlợi cho công tác QHCB và đó cũng chính là nhân tố góp phần làm nên nhữngthành tựu của Bắc Giang trong thời gian qua

- Về năng lực hoạt động thực tiễn: ĐNCBCC thuộc diện BTV Tỉnh uỷ

Bắc Giang quản lý là những người đã trải qua thử thách trong chiến đấu, trongphong trào của quần chúng, đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm lãnh đạo,quản lý Đa số các đ/c đã kinh qua các chức vụ trưởng, phó phòng, hoặc chức

vụ tương đương ở tỉnh và cấp huyện, một số đ/c có nhiều năm làm cán bộlãnh đạo, quản lý ở các chức vụ khác nhau, thường thì cùng lúc kiêm nhiệmmột số chức vụ Chính điều đó đã làm cho đội ngũ cán bộ này không ngừnghoàn thiện về kiến thức và kỹ năng tổ chức lãnh đạo, nhất là trong việc tổchức lãnh đạo, chỉ đạo điều hành phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng- anninh, công tác xây dựng Đảng, vận động quần chúng, trong việc xây dựng vàđiều hành bộ máy, công tác cán bộ, công tác chính trị tư tưởng…

Trang 33

Những ưu điểm nổi bật trên là yếu tố quan trọng đảm bảo sự ổn định vềchính trị, xã hội và thúc đẩy sự nghiệp đổi mới ở tỉnh trong những năm tới.

* Nguyên nhân của những ưu điểm trên:

- Về mặt khách quan:

Thứ nhất, là do có sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, sự giúp đỡ của

nhân dân trong tỉnh: Trong bao nhiêu năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã đặcbiệt chú trọng đến công tác cán bộ, tích cực xây dựng, giáo dục, huấn luyệnđội ngũ cán bộ Những cán bộ thuộc diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lýhiện nay đều sinh ra và lớn lên khi cách mạng tháng 8/1945 thành công, đượcĐảng dìu dắt, nhân dân tin tưởng, đồng tình ủng hộ Đường lối đổi mới đấtnước do Đảng khởi xướng và lãnh đạo đã thu được những thành tựu hết sức tolớn trên các mặt đã củng cố lòng tin, tiếp thêm sức mạnh cho mỗi người cánbộ; thành quả của công cuộc đổi mới đất nước trong 20 năm qua đã đem lạiđời sống ấm no, hạnh phúc hơn nhiều cho hết thảy mọi người dân và độngviên từng người cán bộ hăng say nhiệt tình công tác

Thứ hai, do sự tác động của cơ chế, chính sách, sự giám sát chặt chẽ của

các cơ quan chức năng, ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường, của xu thế hộinhập quốc tế kinh tế, sự phá hoại của các thế lực thù địch…làm cho mỗi ngườicán bộ phải tự hoàn thiện mình, vươn lên, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ ngày càngcao trong tình hình mới

Thứ ba, do đặc điểm cụ thể của tỉnh là một tỉnh miền núi, diện tích chủ

yếu là đất đồi rừng, làm ăn khó khăn, kinh tế chậm phát triển, chủ yếu là nôngnghiệp thuần tuý, công nghiệp nhỏ bé Nhưng Bắc Giang cũng là một quêhương có truyền thống lâu đời đoàn kết, yêu nước và cách mạng, là vùng đấtmang đậm nét văn hoá dân gian đặc sắc, phong phú, đặc biệt là truyền thốnghiếu học, khoa bảng, cần cù yêu lao động…đã góp phần hình thành nên nhâncách tốt đẹp người cán bộ ở tỉnh

- Về mặt chủ quan:

Trang 34

Một là, trong những năm qua, nhất là từ khi có Nghị quyết TW ba

(khoá VIII) về chiến lược cán bộ, BTV Tỉnh uỷ và cấp uỷ, chính quyền, đoànthể các cấp các ngành, các địa phương trong tỉnh Bắc Giang đã quan tâm xâydựng và ban hành nhiều văn bản: Nghị quyết, quyết định, quy chế, quy định,

kế hoạch, đề án…về công tác tổ chức cán bộ; tăng cường quản lý cán bộ vàtích cực ĐTBD toàn diện về các mặt cho đội ngũ cán bộ nói chung, nhất là

ĐNCBCC thuộc diện BTV Tỉnh uỷ quản lý.

Hai là, bản thân mỗi người cán bộ có ý thức không ngừng vươn lên, nỗ

lực học tập nâng cao trình độ về mọi mặt, thường xuyên rèn luyện, tu dưỡnggiữ gìn phẩm chất đạo đức của người cách mạng, khắc phục mọi khó khăn,phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ được giao

1.2.1.2 Mặt hạn chế, khuyết điểm và nguyên nhân

ĐNCBCC thuộc diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý hiện nay tuy đã

có phát triển và trưởng thành nhiều hơn về số lượng, cao hơn về chất lượng sovới ngày đầu tái lập tỉnh, nhưng so với những yêu cầu của nhiệm vụ chính trị

cả trước mắt và lâu dài, đều còn những mặt hạn chế, đó là:

- Về phẩm chất: Bên cạnh những cán bộ trung thành với lý tưởng cộng

sản, kiên định với mục tiêu, con đường cách mạng mà Đảng và nhân dân ta đãchọn, trước sau vẫn một lòng vì dân, vì nước và vì sự tận tuỵ công việc, thìvẫn còn một số cán bộ có biểu hiện tư tưởng hoang mang dao động, băn khăn

lo lắng trước diễn biến phức tạp của tình hình hình thế giới và trong nước; lolắng khi thấy tình hình tiêu cực, tham nhũng, tệ nạn xã hội ngày càng giatăng, không kiên quyết đấu tranh chống những tư tưởng và hành động sai trái

Có những đ/c bằng lòng tự mãn với những gì đã có, không tích cực học tập vươnlên dẫn bị tụt hậu về nhận thức và thường giữ những thói quen kiểu cũ, áp đặt ýkiến cá nhân đối với tập thể, hạn chế dân chủ nội bộ, dẫn đến tập thể lãnh đạomất đoàn kết và trì trệ

Một số đ/c còn có biểu hiện tư tưởng cục bộ địa phương, gia trưởng bảothủ, trì trệ, trông chờ ỷ lại vào cấp trên, thiếu chủ động sáng tạo trong công

Trang 35

việc, ngại khó khăn, muốn ổn định công tác không muốn chuyển đi công tác

xa nhà đến vùng cao, vùng xa; hoặc tư tưởng chọn việc không muốn chuyểncông tác từ lĩnh vực QLNN, QLKT sang làm chuyên trách công tác Đảng,đoàn thể

Một số đ/c chưa chú trọng thực hiện tốt những nguyên tắc trong tổchức sinh hoạt Đảng, quy chế dân chủ ở cơ sở Thái độ tự phê bình và phêbình chưa cao, chưa quyết tâm đấu tranh chống những biểu hiện tiêu cựctrong hàng ngũ; bản thân và gia đình chưa gương mẫu chấp hành pháp luật.Đặc biệt một số ít đ/c có biểu hiện lợi dụng những sơ hở trong cơ chế quản lý

để vun vén cá nhân, tham nhũng, tiêu cực, làm xói mòn lòng tin của nhân dân.Một số cán bộ có thái độ thờ ơ đối với những tiêu cực xảy ra, vô cảm vớinhững vấn đề mà người dân đang bức xúc, kiến nghị đề xuất; có khi vì lợi ích

cá nhân và gia đình, dòng họ, bạn bè, người thân mà đi đến buông lỏng quản

lý, thiếu trách nhiệm trong giải quyết các vụ việc, thậm trí vi phạm nguyêntắc, kỷ luật Cũng có đ/c thiếu tu dưỡng rèn luyện phẩm chất về đạo đức, lốisống buông thả, xa hoa, lãng phí

Từ những hiện tượng không gương mẫu, không trong sạch của một sốcán bộ có chức có quyền, đã và đang gây nên sự nghi ngờ và mất lòng tin củaquần chúng đối với đội ngũ cán bộ và đối với một số chủ trương chính sáchcủa Đảng, Nhà nước Đây chính là một trong những mầm mống có thể gâynên sự bất bình, bất mãn trong xã hội, tạo những kẻ hở và môi trường thuậnlợi cho thế lực thù địch khai thác, lợi dụng nhằm tuyên truyền bôi nhọ vai tròlãnh đạo của Đảng, xuyên tạc bản chất của chế độ XHCN, gây dư luận xấutrong nhân dân

- Về trình độ kiến thức: Tuy nhìn chung mặt bằng về trình độ học vấn

chuyên môn cũng như LLCT, kiến thức QLNN của ĐNCBCC thuộc diệnBTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý hiện nay cao hơn nhiều so với 10 năm trướcđây, đa số có trình độ chuyên môn nghiệp vụ từ đại học trở lên Song sốngười được đào tạo tập trung chính quy dài hạn không nhiều, số tiến sỹ, thạc

Trang 36

sỹ còn ít, còn có sự mất cân đối giữa các ngành nghề được đào tạo, nhiều đ/cphải đảm nhận những nhiệm vụ chưa phù hợp với chuyên ngành đã học.Trình độ kiến thức thực tế của một số cán bộ chưa tương xứng với bằng cấpđược đào tạo; việc học tập, cập nhật kiến thức mới chưa thuờng xuyên; kiếnthức về lãnh đạo, quản lý trong nền kinh tế thị trường còn ít, kiến thức về hộinhập kinh tế quốc tế, về trình độ ngoại ngữ còn rất hạn chế Một số cán bộlãnh đạo chưa có kiến thức cơ bản chuyên sâu, toàn diện trong lĩnh vực đượcgiao phụ trách, chưa thường xuyên sâu sát cơ sở, ít quan tâm nghiên cứu lýluận, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, yếu kém trong lãnh đạo điều hành côngviệc nhất là trong lĩnh vực QLKT vĩ mô Sự hiểu biết về cơ chế thị trường củanhiều cán bộ hiện nay cũng còn hạn chế, phần lớn chỉ hiểu những vấn đề nàymột cách chung chung, không sâu sắc, dẫn đến tầm nhìn hạn chế, chưa thoátkhỏi cách nghĩ và cách làm cũ Một số đ/c chưa thực sự nhạy bén với tìnhhình chính trị kinh tế - xã hội của đất nước, của địa phương; trình độ và nănglực khai thác, xử lý các nguồn thông tin, khả năng ứng dụng những thành tựukhoa học kỹ thuật tiên tiến vào công việc còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng đếnhiệu quả lãnh đạo, quản lý

Về cơ cấu: Qua số liệu tổng hợp ở trên cho thấy: Cơ cấu đội ngũ cán bộ

diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý còn có yếu tố bất hợp lý, tỷ lệ cán bộ

nữ còn ít (7,2%), số cán bộ có độ tuổi cao (trên 50) ngày càng nhiều (52,8%);

số cán bộ trẻ (tuổi đời dưới 45) chiếm tỷ lệ thấp (16,6%), đặc biệt số cán bộtrẻ (tuổi đời dưới 40) chỉ chiếm tỷ lệ có 2,7% Đây là những nhân tố có ảnhhưởng không nhỏ đến công tác QHCB, vì số cán bộ còn độ tuổi tiếp tục đưavào quy hoạch cho nhiệm kỳ sau sẽ hạn chế Do đó, trong những năm tới, cầnphải chủ động tạo nguồn QHCB, đề phòng tình trạng hụt hẫng về nguồn cán

bộ thay thế

* Nguyên nhân của những mặt hạn chế, khuyết điểm:

- Về mặt khách quan:

Trang 37

Một là, do bối cảnh thế giới và trong nước có những diễn biến ngày

càng phức tạp Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch vẫn tiếp tục thựchiện âm mưu “diến biến hoà bình” không ngừng gia tăng những hoạt độngchống phá cách mạng nước ta, chúng không từ một thủ đoạn nào nhằm tuyêntruyền, kích động, gây rối nội bộ ta về trên nhiều mặt gây tâm lý hoang manggiao động trong đội ngũ cán bộ ta

Hai là, do tác động tiêu cực của môi trường sống, như: ảnh hưởng của

những tư tưởng phong kiến lạc hậu tàn dư của xã hội cũ để lại; hậu quả nặng

nề của những năm chiến tranh trước đây và do mặt trái của nền kinh tế thịtrường hiện nay đến tư tưởng của từng cán bộ

Ba là, do một số chủ trương, chính sách trong công tác cán bộ vẫn còn

có yếu tố bất hợp lý, thiếu tính hệ thống Chính sách tiền lương, phụ cấp hiệnhành mặc dù đã được đổi mới, nhưng nhìn chung thu nhập của người cán bộvẫn ở mức thấp, chưa thoả mãn nhu cầu sinh hoạt bình thường, làm cho một bộphận cán bộ chưa thật sự toàn tâm, toàn ý, tập trung vào công việc được giao

- Về chủ quan:

Trước hết, là do bản thân một số cán bộ chưa nỗ lực cố gắng học tập,

nghiên cứu nâng cao trình độ hiểu biết, không thường xuyên rèn luyện, tudưỡng, phấn đấu vươn lên

Thứ hai, là do việc xây dựng và tổ chức thực hiện các quy chế, quy

định cụ thể hoá đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước vềcông tác cán bộ ở tỉnh còn có những mặt hạn chế Công tác quản lý cán bộkiểm tra, giám sát, kỷ luật cán bộ chưa thật chặt chẽ Đánh giá cán bộ còn cóbiểu hiện nể nang, né tránh, chưa đúng thực chất Việc thực hiện quy trìnhtuyển chọn, đề bạt bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, giới thiệu cán bộ ứng cử vào cácchức vụ lãnh đạo có trường hợp còn chưa thực sự khách quan; có khi quantâm về cơ cấu lại xem nhẹ châm chước về tiêu chuẩn Một số quy định về chế

độ ưu đãi đối với cán bộ như: Chính sách đào tạo, thu hút nhân tài, chính sách

Trang 38

đối với cán bộ đi học, chính sách về đất, nhà ở cho cán bộ của tỉnh nói chungvẫn còn bất cập, chậm được bổ sung sửa đổi

1.2.2 Thực trạng công tác quy hoạch đội ngũ cán bộ chủ chốt thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý trong thời gian từ

1997 đến nay, nguyên nhân ưu, khuyết điểm và những kinh nghiệm

QHCB là một chủ trương lớn và có từ lâu của Đảng, đã được đề cập,khẳng định trong nhiều văn bản, chỉ thị, nghị quyết của Đảng từ trước đếnnay Từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng, BCHTW Đảng,

Bộ Chính trị đã ban hành một số nghị quyết quan trọng để lãnh đạo các cơquan, bộ, ban, ngành đoàn thể ở TW và các tỉnh, thành phố trong cả nước làmtốt công tác tổ chức cán bộ nói chung và công tác QHCB nói riêng

Ở tỉnh Bắc Giang, từ nhiều năm nay, công tác QHCB đã được Tỉnh uỷ,cấp uỷ và chính quyền các cấp trong tỉnh quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thựchiện và đã đạt được kết quả bước đầu rất quan trọng Nhìn lại khoảng thờigian 10 năm gần đây, công tác QHCB ở tỉnh có những mặt ưu điểm, hạn chế,khuyết điểm chủ yếu sau:

1.2.2.1 Ưu điểm và nguyên nhân

Một là, đã tổ chức tốt việc học tập, nghiên cứu, quán triệt các chủ trương, nghị quyết của Đảng về công tác QHCB ở tỉnh:

Sau khi các nghị quyết, chỉ thị của BCHTW Đảng và Bộ Chính trị đượcban hành, thực hiện sự chỉ đạo của TW, Tỉnh uỷ Bắc Giang đã tổ chức hộinghị cán bộ chủ chốt của tỉnh (như hội nghị ngày 5/1/1998, hội nghị ngày24/5/2006 ) triển khai nghiêm túc việc nghiên cứu, học tập, quán triệt cácnghị quyết, chỉ thị của BCHTW Đảng, Bộ Chính trị, đến các đ/c tỉnh uỷ viên,

bí thư đảng đoàn, ban cán sự đảng; thủ trưởng các cơ quan, sở, ban, ngành,đoàn thể của tỉnh; các đ/c bí thư, phó bí thư, uỷ viên BTV huyện, thành uỷ,đảng uỷ trực thuộc Tỉnh uỷ Sau hội nghị cấp tỉnh, các cơ quan, sở, ban,ngành, đoàn thể của tỉnh, các huyện, thành uỷ, đảng uỷ trực thuộc Tỉnh uỷ đã

tổ chức học tập, quán triệt các nghị quyết, chỉ thị, chương trình, kế hoạch,

Trang 39

hướng dẫn của TW và của tỉnh đối với cấp mình, đồng thời chỉ đạo các cấp

uỷ cơ sở tổ chức cho toàn thể cán bộ, đảng viên được học tập, quán triệt tinhthần của nghị quyết

Nhìn chung việc tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt các nghị quyếtcủa TW ở các cấp, các ngành trong tỉnh được thực hiện nghiêm túc, đúng kếhoạch và đạt yêu cầu đề ra Số đảng viên tham gia các đợt học tập đạt từ 83%đến 92% BTV Tỉnh uỷ đã chỉ đạo các ngành chức năng, Báo Bắc Giang, ĐàiPhát thanh và Truyền hình tỉnh và ở cấp huyện đẩy mạnh công tác tuyêntruyền, góp phần chuyển biến nhận thức tư tưởng cho cán bộ, đảng viên vànhân dân Qua nghiên cứu, học tập, quán triệt, hầu hết cán bộ, đảng viên đềunhận thức sâu sắc hơn ý nghĩa, tầm quan trọng của công QHCB trong côngtác tổ chức cán bộ và trong trong tác xây dựng Đảng nói chung Thấy rõ mụcđích của công tác QHCB là tạo nguồn cán bộ, nhằm chủ động trong công táccán bộ, khắc phục tình trạng đến kỳ đại hội, kỳ bầu cử HĐND, UBND cáccấp, hay khi cần đề bạt, bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo quản lý, lại bị động, lúngtúng trong công tác nhân sự Đa số cán bộ, đảng viên trong tỉnh đều nhất trícao với sự đánh giá của TW về tình hình công tác QHCB thời gian qua vànhững quan điểm, phương châm nguyên tắc xây dựng QHCB hiện nay Từ đóxác định rõ trách nhiệm của mỗi cấp uỷ và từng cán bộ, đảng viên trong việc

tổ chức thực hiện nghị quyết của Đảng tại địa phương, đơn vị mình, tạo được

sự đồng tình ủng hộ của các tầng lớp nhân dân, góp phần tích cực đưa nghịquyết vào cuộc sống

Hai là, đã tích cực thể chế hoá các nghị quyết của TW:

Bên cạnh việc tổ chức học tập, nghiên cứu, quán triệt sâu sắc các nghịquyết, chỉ thị của BCHTW Đảng và Bộ Chính trị, BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang đãchủ động thể chế hoá các nội dung nghị quyết của TW thành các chươngtrình, kế hoạch, đề án cụ thể, sát hợp với điều kiện thực tiễn của tỉnh để thựchiện, như: Chương trình hành động số 04 CT/TU ngày 07/1/1998 của BTVTỉnh uỷ về thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 BCHTW (khoá VIII); Kế

Trang 40

hoạch số 07-KH/TU ngày 06/9/1998 về công tác QHCB; Quyết định số QĐ/TU ngày 09/9/1998 ban hành Quy định tạm thời tiêu chuẩn nghiệp vụ cácchức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý thuộc diện BTV Tỉnh uỷ trực tiếp quản lý;Báo cáo số 35-BC/TU ngày 26/3/2002, Kế hoạch số 26-KH/TU ngày23/10/2002 tiếp tục thực hiện Nghị quyết TW 3, khoá VII, Nghị quyết TW 3,Nghị quyết TW 7, khoá VIII về công tác tổ chức và cán bộ; Công văn số 532-CV/TU ngày 30/12/2003, Báo cáo số 207-BC/TU ngày 22/7/2005 về việc bổsung quy hoạch; Kế hoạch số 05-KH/TU ngày 09/5/2006 thực hiện Nghịquyết số 42-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác QHCB lãnh đạo quản lýthời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Từ khi có Nghịquyết Hội nghị lần thứ 3 BCHTW (khoá VIII) đến nay, BTV Tỉnh uỷ BắcGiang đã từng bước cụ thể hoá các nghị quyết, quyết định, quy định của

76-TW về công tác cán bộ, đã ban hành hơn 30 văn bản các loại để lãnh đạo xâydựng và quản lý đội ngũ cán bộ của tỉnh, trong đó đều có nội dung liên quanđến công tác QHCB

Về phía BTC Tỉnh uỷ Bắc Giang, là cơ quan có chức năng, nhiệm vụtham mưu giúp BTV Tỉnh uỷ về công tác cán bộ, cũng đã rất tích cực xây dựng

và ban hành nhiều văn bản như: Hướng dấn số 159-HD/TC ngày 29/9/1998;Công văn số 158-CV/TC ngày 26/8/2002, Công văn số 33-CV/TC ngày12/3/2003; công văn số 75-CV/TC ngày 15/5/2003; Thông báo số 22- TB/TCngày 22/12/2003; Công văn số 63-CV/TC ngày 15/10/2004, Hướng dẫn số 02-HD/TCTU ngày 20/7/2006, Báo cáo số 40-BC/TCTU ngày 23/5/2006, Côngvăn số 199-CV/TCTU ngày 04/10/2006; Công văn số 225- CV/TCTU ngày27/10/2006; Báo cáo số 82- BC/TCTU ngày 20/11/2006, Báo cáo số104-BC/TCTU ngày 02/01/2007, Công văn số 289- CV/TCTU ngày24/01/2007, Báo cáo số 153- BC/TCTU ngày 21/6/2007… Các văn bản trên đã

cụ thể hoá hơn một bước nội dung các nghị quyết của TW và kế hoạch của tỉnhnhằm để hướng dẫn chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra, tổng hợp báo cáo tình hình vềcông tác QHCB của tỉnh, nhất là quy hoạch ĐNCBCC thuộc diện BTV Tỉnh uỷ

Ngày đăng: 19/02/2014, 14:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Văn An (1998), "Tiếp tục đổi mới chỉnh đốn Đảng, làm tốt QHCB là nhiệm vụ trọng yếu của công tác xây dựng Đảng về tổ chức trong năm 1998", Tạp chí Xây dựng Đảng, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp tục đổi mới chỉnh đốn Đảng, làm tốt QHCB là nhiệm vụ trọng yếu của công tác xây dựng Đảng về tổ chức trong năm 1998
Tác giả: Nguyễn Văn An
Năm: 1998
2. Lê Văn Ấm (2003), Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt thuộc diện Tỉnh uỷ quản lý ở tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay, Luận văn cử nhân, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt thuộc diện Tỉnh uỷ quản lý ở tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Lê Văn Ấm
Năm: 2003
6. Báo cáo tổng kết công tác xây dựng đảng thời kỳ 1975 - 1995, Nxb Chính trị quốc gia, 1996, tr.111 - 137 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác xây dựng đảng thời kỳ 1975 - 1995
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
7. B.T.V (1998), "Kết quả bước đầu sau một năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khoá VIII)", Tạp chí Xây dựng Đảng, (6), tr.27-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả bước đầu sau một năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khoá VIII)
Tác giả: B.T.V
Năm: 1998
9. Phạm Minh Chiến (2002), Nâng cao chất lượng công tác QHCB chủ chốt Tỉnh uỷ quản lý của tỉnh Thái Bình trong giai đoạn hiện nay, Luận văn cử nhân, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng công tác QHCB chủ chốt Tỉnh uỷ quản lý của tỉnh Thái Bình trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Phạm Minh Chiến
Năm: 2002
10. Đinh Thế Chiều (2002), Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch đội ngũ cán bộ huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương giai đoạn 2001 - 2010, Luận văn cử nhân, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch đội ngũ cán bộ huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương giai đoạn 2001 - 2010
Tác giả: Đinh Thế Chiều
Năm: 2002
11. Trần Thị Kim Cúc (1998), "Quy hoạch đào tạo là một khâu quyết định của công tác cán bộ", Tạp chí Xây dựng Đảng, (5), tr.2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch đào tạo là một khâu quyết định của công tác cán bộ
Tác giả: Trần Thị Kim Cúc
Năm: 1998
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương (khoá VIII), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương (khoá VIII)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1999), Văn kiện hội nghị lần thứ sáu (lần 2) Ban chấp hành Trung ương (khoá VIII), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị lần thứ sáu (lần 2) Ban chấp hành Trung ương (khoá VIII)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1999
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thức IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thức IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Một số văn kiện xây dựng về tổ chức, cán bộ và về đảng viên, BTC Trung ương Đảng xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số văn kiện xây dựng về tổ chức, cán bộ và về đảng viên
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2003
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thức X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thức X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
19. Đại từ điển Tiếng Việt (1999), Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Đại từ điển Tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Văn hoá - Thông tin
Năm: 1999
20. Lưu Tiến Định (2006), Quy hoạch ĐNCBCC thuộc diện Quận uỷ Ba Đình quản lý trong giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ Xây dựng đảng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch ĐNCBCC thuộc diện Quận uỷ Ba Đình quản lý trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Lưu Tiến Định
Năm: 2006
21. Nguyễn Đức Hà (1998), "Kết quả và kinh nghiệm về công tác QHCB ở Thành phố Hồ Chí Minh", Tạp chí Xây dựng Đảng, (8), tr.29-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả và kinh nghiệm về công tác QHCB ở Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Đức Hà
Năm: 1998
22. Nguyễn Đức Hà (1998), "Kết quả bước đầu về công tác cán bộ và QHCB ở Yên Bái", Tạp chí Xây dựng Đảng, (11), tr.13-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả bước đầu về công tác cán bộ và QHCB ở Yên Bái
Tác giả: Nguyễn Đức Hà
Năm: 1998
23. Hồ Thị Hà (1999), "Một số kinh nghiệm về công tác quy hoạch và luân chuyển cán bộ ở Nghệ An", Tạp chí Xây dựng Đảng, (9), tr.16-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kinh nghiệm về công tác quy hoạch và luân chuyển cán bộ ở Nghệ An
Tác giả: Hồ Thị Hà
Năm: 1999
24. Tiến Hải (1997), "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc", Tạp chí Cộng sản, (6), tr.10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cán bộ là cái gốc của mọi công việc
Tác giả: Tiến Hải
Năm: 1997
25. Tiến Hải (1998), Dân chủ và công khai trong công tác QHCB, Kỷ yếu Hội thảo khoa học, chương trình khoa học xã hội cấp Nhà nước KHXH. 05 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân chủ và công khai trong công tác QHCB
Tác giả: Tiến Hải
Năm: 1998
26. Trần Đình Hoan (2004), Về QHCB lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, Kỷ yếu đề tài cấp nhà nước ĐTĐL - 2002/07, do Ban Tổ chức Trung ương là cơ quan chủ trì Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về QHCB lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
Tác giả: Trần Đình Hoan
Năm: 2004

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w