Các nhiệm vụ, biện pháp chủ yếu về: quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội của các huyện, thành phố; quy hoạch ngành; phát triển một số ngành, lĩnh vực kinh tế- xã hội quan trọng
Trang 1
LUẬN VĂN:
Bổ nhiệm cán bộ diện Ban Thường vụ Tỉnh uỷ
Bắc Giang quản lý giai đoạn hiện nay
MỞ ĐẦU
Trang 2
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cán bộ và công tác cán bộ luôn là vấn đề quan trọng quyết định đến sự thành bại của cách mạng Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc" [38, tr.269], "Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém " [38, tr.240] Cán bộ và công tác cán bộ càng có ý nghĩa quan trọng hơn khi đất nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế Nghị quyết hội nghị lần thứ ba BCH Trung ương (khoá VIII) về chiến lược cán bộ trong thời kỳ mới tiếp tục khẳng định: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và của chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng” [14, tr.66]
Để sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc đi đến thắng lợi, đòi hỏi phải huy động được sức lực, trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân; trong đó vấn đề có tính quyết định
là phải xây dựng được ĐNCB có đủ phẩm chất đạo đức, năng lực gánh vác nhiệm vụ được giao Muốn vậy cần phải thực hiện đồng bộ, khoa học tất cả các khâu của công tác cán bộ, gồm: Xây dựng tiêu chuẩn, đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm, điều động, luân chuyển, chính sách, kiểm tra và quản lý cán bộ Trong đó, BNCB có ý nghĩa quan trọng, quyết định trực tiếp đến hiệu quả, chất lượng của công tác cán bộ và
có ý nghĩa kiểm nghiệm các khâu khác trong công tác cán bộ
Thời gian qua, công tác cán bộ nói chung và BNCB nói riêng ở tỉnh Bắc Giang được các cấp uỷ đảng nhận thức tương đối đầy đủ và đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo đạt một số kết quả tích cực, góp phần xây dựng ĐNCB có phẩm chất, năng lực, trình độ, uy tín,
cơ bản đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của địa phương Tuy nhiên, công tác bổ nhiệm, bổ nhiệm lại cán bộ và giới thiệu cán bộ ứng cử còn bộc lộ một số hạn chế là: Nhận thức về BNCB và thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong BNCB có lúc, có nơi chưa sâu; thực hiện quy trình, quy chế, quy định về BNCB chưa thật sự đầy đủ, nghiêm túc, vẫn còn tình trạng bỏ sót; công tác đánh giá cán bộ phục vụ cho BNCB đôi khi còn chủ quan, chưa thật công tâm, tiêu chí đánh giá còn chung chung, thiếu cụ thể; một số trường hợp BNCB lãnh đạo, quản lý còn nặng về cơ cấu, chưa bảo đảm tiêu chuẩn, còn lúng túng, bị động và có biểu hiện cục bộ, hẹp hòi; vẫn còn tình trạng bố trí chưa đúng người, phân công
Trang 3
chưa phù hợp với năng lực, sở trường, chuyên môn đào tạo, dẫn đến công việc trì trệ; có trường hợp cán bộ vi phạm kỷ luật, uy tín giảm sút nhưng chưa kịp thời thay thế…Hạn chế trên mặc dù không phổ biến, nhưng phần nào có ảnh hưởng đến chất lượng lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai, thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương
Nhận thức rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác cán bộ, BNCB trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt BNCB thuộc diện BTV Tỉnh uỷ quản lý, tác giả mạnh dạn đi sâu tìm
hiểu đề tài Bổ nhiệm cán bộ diện Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý giai
đoạn hiện nay, với hy vọng góp phần khắc phục hạn chế, xây dựng ĐNCB diện BTV
Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý trong sạch, vững mạnh, đáp ứng tốt yêu cầu của thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Thời gian qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết về công tác cán bộ và BNCB ở nhiều góc độ khác nhau Có thể nêu lên một số công trình nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến đề tài như:
- Bệnh quan liêu trong công tác cán bộ ở nước ta hiện nay - Thực trạng và giải pháp- PGS, TS Trương Thị Thông và TS Lê Kim Việt (đồng chủ biên), Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội, 2008
- Đổi mới mạnh mẽ, triển khai đồng bộ công tác tổ chức xây dựng Đảng - Nông Đức Mạnh, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 11, 2007
- Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng ĐNCB trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước - PGS, TS Nguyễn Phú Trọng và PGS, TS Trần Xuân Sầm (đồng chủ biên),
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003
- “Phát huy dân chủ công khai- Một biện pháp quan trọng trong công tác cán bộ”- Cao Ngọc Hải, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 7, 2006
- Quán triệt sâu sắc, thực hiện đúng, thống nhất các quy chế, quy định về công tác cán bộ - Hồ Đức Việt, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 10, 2007
- “Tiếp tục đổi mới công tác cán bộ”- Nguyễn Đức Hạt, Tạp chí cộng sản, số 776,
tháng 6-2007
Trang 4* Về đề tài khoa học, luận án, luận văn:
- "Cơ sở lý luận và thực tiễn đánh giá, luân chuyển cán bộ lãnh đạo quản lý trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước"- Đề tài khoa học cấp Nhà nước do PGS, TS Trần Đình
uỷ Bắc Giang quản lý nói riêng và đã có những đóng góp nhất định về mặt lý luận và thực tiễn Song đến nay chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu có hệ thống dưới góc
Trang 5
độ một luận văn khoa học về BNCB diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý, khi mà trong thực tiễn công tác BNCB đang đặt ra nhiều vấn đề rất mới cần được quan tâm
xem xét, giải quyết một cách đồng bộ, toàn diện
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, khảo sát, đánh giá đúng thực trạng BNCB diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý từ năm 2005 đến nay, luận văn đề xuất mục tiêu, phương hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả BNCB diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý giai đoạn hiện nay
ra những kinh nghiệm từ thực tiễn
- Đề xuất mục tiêu, phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng BNCB diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là BNCB diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản
Trang 6
Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về cán bộ và BNCB; đặc biệt chú ý các quan điểm của Đảng ta trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành, như: phân tích và tổng hợp, lôgíc và lịch sử, quy nạp và diễn dịch, thống kê, điều tra
6 Đóng góp của luận văn
- Luận văn góp phần đánh giá đúng thực trạng, bổ sung, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của BNCB diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản, có tính khả thi, góp phần thực hiện tốt việc BNCB diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý giai đoạn hiện nay
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong BNCB của các cấp uỷ đảng,
cơ quan tổ chức cán bộ và trong nghiên cứu, giảng dạy về công tác cán bộ của trường chính trị tỉnh, trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu gồm 2 chương, 5 tiết
Trang 7
Chương 1
BỔ NHIỆM CÁN BỘ DIỆN BAN THƯỜNG VỤ TỈNH UỶ
BẮC GIANG QUẢN LÝ - NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN
Đến cuối năm 2009, Đảng bộ tỉnh Bắc Giang có 15 đảng bộ trực thuộc (trong đó
10 đảng bộ huyện, thành phố; 05 đảng bộ trực thuộc), với 61.601 đảng viên, 824 tổ chức
cơ sở đảng (324 đảng bộ và 500 chi bộ), 3.768 chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở Bộ máy
cơ quan đảng, chính quyền, đoàn thể cấp tỉnh gồm: 08 ban, cơ quan của Tỉnh uỷ; MTTQ và 05 đoàn thể nhân dân; 12 hội quần chúng; 29 sở, ban, ngành trực thuộc HĐND, UBND tỉnh; 19 cơ quan ngành dọc Trung ương đóng trên địa bàn tỉnh
Những năm qua, Đảng bộ tỉnh đã luôn quán triệt, kiên định đường lối đổi mới; giữ vững nguyên tắc tổ chức của Đảng; phát huy dân chủ, truyền thống đoàn kết; triển khai lãnh đạo toàn diện các mặt công tác Trong từng giai đoạn đều đề ra nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm; trong đó luôn xác định rõ nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, xây dựng văn hoá là nền tảng, mục tiêu và động lực phát triển Hướng trọng tâm vào lãnh đạo phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Trang 8
và ngành nghề nông thôn; đồng thời, tập trung chỉ đạo phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá, nhằm đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH; gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá và giải quyết các vấn đề xã hội; bảo đảm giữ vững ổn định chính trị tại địa phương Do có sự tập trung lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh và sự phấn đấu nỗ lực của nhân dân các dân tộc trong tỉnh, Bắc Giang đã có bước tiến mới trên con đường CNH, HĐH và hội nhập quốc tế Chỉ tính riêng sau gần 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI (2006-2009), trong điều kiện phải chống chọi với bão lũ và ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu, song tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) của tỉnh vẫn ở mức khá, đạt trên 9%/năm; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng công nghiệp - dịch vụ tăng, tỷ trọng nông - lâm nghiệp giảm; các lĩnh vực giáo dục - đào tạo, y tế, văn hoá - xã hội có nhiều tiến bộ; đời sống nhân dân cơ bản ổn định; quốc phòng - an ninh được giữ vững
Mặc dù vậy, Bắc Giang vẫn là tỉnh nghèo, mức tăng trưởng kinh tế còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng; cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm; trình độ quản lý, năng lực cạnh tranh, khả năng hội nhập kinh tế còn thấp; cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng chưa theo kịp nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội Một số vấn đề về giáo dục, y tế, văn hoá, xã hội còn có mặt hạn chế, bất cập; đời sống nhân dân nhìn chung còn ở mức thấp (năm 2009 bình quân GDP/người mới đạt khoảng 530 USD) Công tác xây dựng các tổ chức trong hệ thống chính trị còn bộc lộ một số hạn chế: Một số cấp uỷ chưa thực hiện tốt việc đánh giá, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng cán bộ, nhất là cán bộ trẻ, cán bộ
nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số Việc đánh giá tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh ở một số nơi chưa sát thực chất; năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ
sở đảng chưa ngang tầm nhiệm vụ, nhất là ở khu vực nông thôn, đường phố, doanh nghiệp Chỉ đạo, điều hành của bộ máy chính quyền các cấp có mặt kém hiệu quả Hoạt động của MTTQ và các đoàn thể nhân dân ở một số nơi còn nặng về hành chính, sự vụ, chưa thật sự gần dân, gắn bó với cơ sở Công tác an ninh trật tự có mặt hạn chế, tình hình tội phạm và tệ nạn xã hội vẫn diễn biến phức tạp Đây chính là những lực cản trên
Trang 91.1.1.2 Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Bắc Giang- vai trò, chức năng, nhiệm vụ
Theo khoản 2, điều 9, chương II, Điều lệ Đảng (khoá X) quy định: “Giữa hai kỳ Đại hội, cơ quan lãnh đạo Đảng là Ban Chấp hành Trung ương, ở mỗi cấp là ban chấp hành đảng bộ, chi bộ (gọi tắt là cấp uỷ)” [16, tr.9] Như vậy, cấp uỷ là tên gọi tắt dùng
để chỉ tập thể BCH đảng bộ, chi bộ được đại hội đảng bộ, chi bộ bầu ra, có vai trò là cơ quan lãnh đạo cao nhất của đảng bộ, chi bộ đó giữa hai kỳ đại hội Đại hội đại biểu, hoặc đại hội đảng viên của đảng bộ, chi bộ thảo luận, biểu quyết nhiều nội dung tại đại hội, trong đó có bầu cử cấp uỷ
Điều 19 Điều lệ Đảng quy định: “Cấp uỷ tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi tắt là tỉnh uỷ, thành uỷ),…lãnh đạo thực hiện nghị quyết đại hội đại biểu; nghị quyết, chỉ thị của cấp trên” [16, tr.16]; Điều 20 Điều lệ Đảng ghi: “Hội nghị tỉnh uỷ, thành uỷ, …bầu ban thường vụ, bầu bí thư và phó bí thư trong số uỷ viên thường vụ” và
“Ban thường vụ lãnh đạo và kiểm tra việc thực hiện nghị quyết của đại hội đại biểu, nghị quyết, chỉ thị của cấp uỷ cùng cấp và cấp trên; quyết định những vấn đề về chủ trương, tổ chức, cán bộ” [16, tr.17]
Như vậy, theo Điều lệ Đảng, BTV cấp uỷ vừa là cơ quan lãnh đạo, vừa có nhiệm
vụ chỉ đạo, tổ chức triển khai, thực hiện các nghị quyết, chỉ thị được BCH đảng bộ giao
và là cơ quan thường trực để giải quyết các công việc giữa 2 kỳ họp BCH đảng bộ Tuỳ theo phân cấp quản lý, BTV cấp uỷ thay mặt BCH đảng bộ thực hiện công tác cán bộ của đảng bộ
Căn cứ quy định Điều lệ Đảng (khoá X) và quy định, hướng dẫn của Trung ương, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lần thứ XVI (năm 2005) đã bầu ra BCH Đảng bộ tỉnh gồm 49 uỷ viên Tại hội nghị lần thứ nhất, BCH Đảng bộ tỉnh đã bầu BTV Tỉnh uỷ
Trang 10
gồm 13 uỷ viên; bầu bí thư, 02 phó bí thư Tỉnh uỷ trong số uỷ viên BTV Tỉnh uỷ và đã được BCT Trung ương Đảng chuẩn y kết quả bầu cử Căn cứ quy định, hướng dẫn của Trung ương, BTV Tỉnh uỷ phân công các uỷ viên BTV như sau: Bí thư, kiêm chủ tịch HĐND tỉnh; 01 phó bí thư thường trực, phụ trách công tác xây dựng đảng, MTTQ, đoàn thể; 01 phó bí thư- Chủ tịch UBND tỉnh; 10 uỷ viên thường vụ phân công đảm nhiệm các chức vụ: phó chủ tịch HĐND tỉnh; phó chủ tịch UBND tỉnh; chủ nhiệm UBKT Tỉnh uỷ; trưởng các ban: tổ chức, tuyên giáo, dân vận; giám đốc Công an tỉnh; chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh; bí thư Thành uỷ Bắc Giang và bí thư Huyện uỷ Yên Thế
Cơ cấu độ tuổi của BTV Tỉnh uỷ thời điểm Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI (năm 2005) như sau: Từ 41 đến 50 tuổi có 04 đồng chí; từ 51-55 tuổi có 08 đồng chí; trên 55 tuổi
có 01 đồng chí Cả 13 đồng chí uỷ viên thường vụ Tỉnh uỷ đều là nam giới Về trình độ chuyên môn: 13 đồng chí đều có trình độ đại học; trong đó tiến sĩ 01 đồng chí Về lý luận chính trị: 13 đồng chí đều có trình độ cử nhân, cao cấp
Các đồng chí uỷ viên BTV Tỉnh uỷ đều là những cán bộ lãnh đạo tiêu biểu cho lòng trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng; gương mẫu về đạo đức lối sống; có tín nhiệm cao trong Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh; có tư duy chính trị nhạy bén, thể hiện qua thực tiễn điều hành công việc và giải quyết những vấn đề nảy sinh trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo
Trên cơ sở Quy định số 23-QĐ/TW ngày 31/10/2006 của BCT về thi hành Điều lệ Đảng (khoá X), các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương; ngày 23/01/2006 BCH Đảng bộ tỉnh Bắc Giang (khoá XVI) đã ban hành Quy chế làm việc số 01-QC/TU, sau đó sửa đổi, bổ sung quy chế trên và ngày 26/6/2009 ban hành Quy chế làm việc số 06-QC/TU Tại Điều 3, Quy chế làm việc số 06-QC/TU của BCH Đảng bộ tỉnh quy định: “BTV Tỉnh
uỷ là cơ quan thay mặt Tỉnh uỷ lãnh đạo, chỉ đạo các mặt công tác, hoạt động của Đảng bộ tỉnh giữa 2 kỳ hội nghị Tỉnh uỷ” [12, tr.3] Tại điều 4 Quy chế làm việc số 06-QC/TU quy định trách nhiệm, quyền hạn của BTV Tỉnh uỷ như sau:
1 Cụ thể hoá và có kế hoạch tổ chức thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương và nghị quyết của Tỉnh uỷ Thay mặt Tỉnh uỷ lãnh đạo, kiểm tra toàn diện các mặt công tác của Đảng, chính quyền và đoàn thể ở địa phương
Trang 11
2 Thảo luận, quyết định: Chương trình công tác hằng năm của BTV Tỉnh uỷ Các nhiệm vụ, biện pháp chủ yếu về: quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội của các huyện, thành phố; quy hoạch ngành; phát triển một số ngành, lĩnh vực kinh tế- xã hội quan trọng của tỉnh; hợp tác với nước ngoài; nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; công tác xây dựng đảng và tổ chức, cán bộ; các chương trình, kế hoạch về lãnh đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát hằng năm trong Đảng bộ tỉnh
- Chuẩn bị nhân sự để Tỉnh uỷ xem xét, đề nghị BCT, BBT Trung ương Đảng giới thiệu ứng cử các chức danh: Bí thư Tỉnh uỷ, Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh; giới thiệu nhân sự bổ sung tỉnh uỷ viên; bầu bổ sung uỷ viên BTV Tỉnh
uỷ, uỷ viên UBKT Tỉnh uỷ Giới thiệu nhân sự Phó Chủ tịch HĐND tỉnh và Phó Chủ tịch UBND tỉnh để HĐND tỉnh bầu (sau khi đã có ý kiến của Tỉnh uỷ)
- Đề nghị BCT, BBT Trung ương bố trí, phân công công tác; nhận xét, đánh giá; bổ nhiệm, miễn nhiệm; khen thưởng, kỷ luật; nghỉ hưu và thực hiện chính sách đối với các chức danh cán bộ của tỉnh thuộc quyền quyết định trực tiếp của BCT, BBT Trung ương: Bí thư Tỉnh uỷ, Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh và Chủ tịch UBND tỉnh
- Hiệp y về đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng đối với cán bộ là cấp
trưởng của một số cơ quan trực thuộc Trung ương đóng trên địa bàn và cấp trưởng,
cấp phó của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh, Công an tỉnh, theo phân cấp quản lý cán bộ của
BCT
- Quyết định thành lập, ban hành quy định chức năng, nhiệm vụ đối với các tổ chức đảng trực thuộc ở những nơi có đặc điểm riêng (không phải đảng bộ cấp huyện, thành phố)
Trang 12
theo quy định của Trung ương; thành lập, giải thể các ban cán sự đảng, đảng đoàn theo hướng dẫn của Trung ương Quyết định phân cấp quản lý cán bộ đối với các ban cán sự đảng, đảng đoàn ở các cơ quan, ban, ngành, MTTQ, đoàn thể tỉnh; các huyện uỷ, thành uỷ, đảng uỷ trực thuộc
- Định hướng nhân sự đại hội đại biểu các đảng bộ huyện, thành phố, đảng bộ trực thuộc, MTTQ và các đoàn thể nhân dân; các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội cấp tỉnh
- Cho ý kiến về công tác chuẩn bị và duyệt báo cáo chính trị trình đại hội đảng bộ các huyện, thành phố, đảng bộ trực thuộc
- Quyết định thành lập mới, sáp nhập hoặc giải thể các ban, cơ quan của Tỉnh uỷ Cho chủ trương về việc giải thể, sáp nhập, thành lập mới cơ quan, đơn vị thuộc UBND tỉnh quản lý, theo hướng dẫn của Trung ương
- Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy và mối quan hệ công
tác của các ban, cơ quan thuộc Tỉnh uỷ (trừ UBKT Tỉnh uỷ), MTTQ và các đoàn thể nhân
dân cấp tỉnh
- Khi cần thiết, ban hành một số quy chế phối hợp hoạt động giữa các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị của tỉnh
- Xét khen thưởng đối với tổ chức đảng và đảng viên; xem xét giải quyết khiếu nại,
tố cáo và quyết định kỷ luật theo quy định của Điều lệ Đảng
4 Chỉ đạo phương hướng giải quyết đối với các vụ án phức tạp liên quan đến chính trị, quan hệ đối ngoại và việc truy cứu trách nhiệm hình sự của các cơ quan pháp luật đối với cán bộ thuộc diện BTV Tỉnh uỷ quản lý
5 Nghe các báo cáo về: tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội và kiểm điểm sự chỉ đạo, điều hành của UBND tỉnh 6 tháng, 01 năm; kết quả thực hiện kế hoạch xây dựng cơ bản, chương trình mục tiêu hằng năm và phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu của năm sau; báo cáo tình hình dự toán thu, chi ngân sách của tỉnh 06 tháng
và hằng năm; báo cáo quyết toán ngân sách hằng năm; những công việc Thường trực Tỉnh
uỷ giải quyết hằng tháng; tình hình lãnh đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật và hoạt động của UBKT các cấp trong Đảng bộ tỉnh 6 tháng, một năm;
Trang 13
tình hình chấp hành pháp luật và hoạt động của các cơ quan tư pháp trên địa bàn tỉnh hằng năm; tình hình thu, chi ngân sách của Đảng bộ tỉnh hằng năm; các chính sách liên quan đến đông đảo nhân dân
6 Chuẩn bị nội dung các kỳ họp của Tỉnh uỷ Thay mặt Tỉnh uỷ báo cáo các mặt công tác định kỳ và đột xuất với BCT, BBT Trung ương; thông báo cho cấp uỷ trực thuộc tỉnh các nội dung theo quy định Báo cáo những công việc BTV Tỉnh uỷ đã giải quyết với Tỉnh uỷ
7 Chỉ đạo làm thử, rút kinh nghiệm những vấn đề mới và quan trọng trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh uỷ Tổ chức sơ kết, tổng kết việc thực hiện nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, Tỉnh uỷ và BTV Tỉnh uỷ Tham gia hoặc kiến nghị với Trung ương những vấn đề về chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật thuộc thẩm quyền của cấp trên
8 Ban hành nghị quyết hoặc thông báo ý kiến lãnh đạo về quy hoạch, kế hoạch phát triển các ngành và các lĩnh vực, các địa bàn trọng yếu; về việc vận dụng các cơ chế, chính sách của Nhà nước, hoặc cơ chế, chính sách kinh tế - xã hội lớn của tỉnh có ảnh hưởng sâu rộng lớn đến đời sống nhân dân; về chủ trương huy động các nguồn lực, vay vốn để đầu tư phát triển; về chủ trương đầu tư một số dự án quan trọng, sử dụng nhiều đất, hoặc ảnh hưởng đến quyền lợi của nhiều đối tượng xã hội, đến an ninh, quốc phòng, đối ngoại trên địa bàn, phù hợp với tình hình thực tiễn của tỉnh; định hướng đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, khuyến khích phát triển và quản lý kinh tế ư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở địa bàn tỉnh Thảo luận và quyết định những vấn
đề cần thiết khác do Đảng đoàn HĐND tỉnh, Ban Cán sự đảng UBND tỉnh, các tổ chức đảng trực thuộc đề nghị
9 BTV Tỉnh uỷ có thể uỷ nhiệm cho các uỷ viên BTV Tỉnh uỷ thực hiện một số công việc cụ thể Các uỷ viên BTV Tỉnh uỷ có trách nhiệm tổ chức thực hiện, báo cáo tình hình kết quả thực hiện nhiệm vụ và chịu trách nhiệm trước BTV Tỉnh uỷ về nhiệm vụ được giao Đồng chí Uỷ viên BTV Tỉnh uỷ là Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh uỷ và Chủ nhiệm UBKT Tỉnh uỷ được thay mặt BTV Tỉnh uỷ ký một số văn bản theo sự uỷ quyền của BTV Tỉnh uỷ
Trang 14
Như vậy, là cơ quan lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh giữa hai kỳ họp BCH Đảng bộ tỉnh,
BTV Tỉnh uỷ có vai trò rất quan trọng, lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện các mặt công tác và hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị của tỉnh, từ lãnh đạo phát triển kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng…, đến công tác xây dựng đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân Căn cứ các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, BTV Tỉnh uỷ đề ra các chủ trương, nhiệm vụ, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chính trị của địa phương trong từng thời gian Mọi công việc có hoàn thành và đạt được kết quả tốt, đều phụ thuộc vào quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của BTV Tỉnh uỷ
1.1.2 Cán bộ và đội ngũ cán bộ diện Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý - quan niệm, vai trò, đặc điểm
1.1.2.1 Quan niệm, vai trò của cán bộ
+ Vấn đề cán bộ đã được khá nhiều công trình nghiên cứu khoa học đề cập, nhưng trong phạm vi luận văn này, để hiểu rõ đối tượng, vai trò, đặc điểm của ĐNCB diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý, rất cần được nhận thức đúng về danh từ “cán bộ”
Các nhà nghiên cứu đã xác định: Danh từ "cán bộ" được du nhập vào nước ta từ những năm 30 của thế kỷ XX và được nhân dân ta sử dụng khá phổ biến để chỉ những người đi hoạt động cho cách mạng Sau khi cách mạng giành được thắng lợi, nhà nước dân chủ nhân dân được thành lập, hệ thống chính trị được xây dựng, phát triển và hoàn thiện cùng với sự phát triển của ĐNCB, công chức, viên chức, thì danh từ "cán bộ" vẫn được sử dụng để chỉ tất cả những người làm việc trong bộ máy của hệ thống chính trị
Trong cuốn “Từ điển tiếng Việt” của Viện ngôn ngữ học, xuất bản năm 2000, giải thích khái niệm "cán bộ" có 2 nghĩa: “1 Người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nước; 2 Người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người thường, không có chức vụ” [55, tr.109] Theo giải thích trên, danh từ “cán bộ” được hiểu theo nghĩa thứ nhất là người làm công tác có chuyên môn đơn thuần trong cơ quan nhà nước; còn hiểu theo nghĩa thứ hai là người có chức vụ, có thể từ cấp phó trở lên, phân biệt với người làm việc chuyên môn đơn thuần không có chức vụ
Trang 15
Như vậy, khái niệm trên tuy đã có sự phát triển hơn, nhưng chưa làm rõ được những người làm việc chuyên môn đơn thuần trong các cơ quan Đảng, đoàn thể và cũng chưa phân biệt được người làm việc chuyên môn có trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên với người có trình độ trung cấp trở xuống Nếu phân biệt “cán bộ” là người có chức vụ với người không có chức vụ, thì lực lượng này chiếm số ít trong ĐNCB và chủ yếu hình thành qua con đường bổ nhiệm, bầu cử trong cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống chính trị,
và đây mới chỉ là cách định nghĩa chung nhất, khi sử dụng vào từng trường hợp cụ thể cần phải định nghĩa lại cho sát hợp hơn
Khi xây dựng Đề án Pháp lệnh cán bộ, công chức, do hệ thống chính trị nước ta
có những đặc điểm riêng, nên BCT (khoá VIII) đã có ý kiến chỉ đạo:
Ở nước ta, sự hình thành ĐNCB, viên chức có đặc điểm khác các nước Cán bộ làm việc ở các cơ quan Nhà nước, Đảng và đoàn thể là một khối thống nhất trong
hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo Bởi vậy, cần có một pháp lệnh có phạm vi điều chỉnh chung đối với cán bộ trong toàn bộ hệ thống chính trị bao gồm: các công chức nhà nước (trong đó có công chức làm việc ở cơ quan quân đội, cảnh sát, an ninh…), cán bộ làm việc chuyên trách trong các cơ quan Đảng, đoàn thể [22, tr13] Như vậy, theo tinh thần chỉ đạo của BCT thì khái niệm “cán bộ” của ta bao hàm
cả công chức, viên chức hoạt động trong các tổ chức Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân
Còn theo Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức được ban hành ngày 08/5/2003, thì cán bộ, công chức là công dân Việt Nam, trong biên chế, bao gồm có 8 nhóm đối tượng Nhưng cách định nghĩa này còn quá rộng và một số chức danh có nên gọi là cán bộ không, như giáo viên làm công tác chuyên môn đơn thuần chẳng hạn
Trong Sửa đổi lề lối làm việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Cán bộ là những
người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu
rõ, để đặt chính sách cho đúng” [38, tr.269]
Trang 16
Từ nhận định và phân tích trên, có thể hiểu quan niệm về “cán bộ” dưới góc
độ: 1 Là người làm công tác chuyên môn trong cơ quan, tổ chức của hệ thống chính trị; 2 Là người có chức vụ, có vai trò lãnh đạo, quản lý, điều hành phối hợp hoạt động của các cá nhân trong đơn vị, cơ quan, tổ chức nhằm giải quyết quan hệ công tác theo mục tiêu đã đề ra; 3 Là người được tuyển dụng, bổ nhiệm, bầu cử trong cơ quan, tổ chức của hệ thống chính trị
Cũng cần phân biệt cán bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý, cụ thể như sau:
Thông thường, khái niệm cán bộ lãnh đạo vẫn được hiểu đó là những người giữ
chức vụ và có trách nhiệm cao trong một tổ chức, có tầm ảnh hưởng lớn đến hoạt động của tổ chức, của bộ máy và có vai trò tham gia định hướng, điều khiển hoạt động của cả
bộ máy, chẳng hạn như: các uỷ viên BCH, BTV cấp uỷ đảng; trưởng, phó các đoàn thể…đó là những người đứng đầu quan trọng nhất, có chức vụ cao nhất trong một tập thể, có quyền đề ra những quyết định về chủ trương công tác, có trách nhiệm và quyền hạn điều hành một tập thể, một đơn vị trong thực hiện nhiệm vụ và có thể chi phối, dẫn dắt toàn bộ hoạt động của một tổ chức nhất định
Theo Từ điển bách khoa toàn thư của Liên Xô (trước đây) thì cán bộ lãnh đạo có hai nghĩa: 1.Chỉ người đứng đầu của một tổ chức, một phong trào; 2.Là người làm thức tỉnh hành vi của người khác
Như vậy có thể hiểu, cán bộ lãnh đạo là người đứng đầu một tổ chức, cơ quan,
một phong trào, có thẩm quyền ra các quyết định định hướng, điều hành hoạt động của
tổ chức, cá nhân Còn cán bộ quản lý cũng là người đứng đầu một tổ chức, nhưng nhấn
mạnh việc điều hành hoạt động của tổ chức, việc sử dụng công cụ phương tiện để điều khiển một loại hoạt động nào đó
Giữa cán bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý có điểm giống nhau là: Cán bộ lãnh đạo
và cán bộ quản lý đều là chủ thể ra quyết định, điều khiển hoạt động của một tổ chức; người cán bộ lãnh đạo cũng phải thực hiện chức năng quản lý và người cán bộ quản lý cũng phải thực hiện chức năng lãnh đạo, cho nên khó có thể phân biệt rạch ròi đầu là người lãnh đạo, đâu là người quản lý
Trang 17
Tuy nhiên, hai khái niệm trên không hoàn toàn đồng nhất với nhau: Hoạt động lãnh đạo chủ yếu là định hướng cho khách thể thông qua hệ thống cơ chế, đường lối, chủ
trương, chính sách "làm thức tỉnh" hành vi của đối tượng, định hướng hoạt động của đối
tượng và xã hội; còn hoạt động quản lý mang tính điều khiển, vận hành thông qua những
thiết chế có tính pháp lệnh được quy định từ trước Cán bộ quản lý còn được hiểu là nhà điều hành, nhà quản lý; họ là những người có chức trách, nhiệm vụ điều khiển, tổ chức, phối hợp hoạt động chuyên môn trong một khâu, một công đoạn, một chương trình, dự
án Xét trên tổng thể, quá trình quản lý là sự tiếp tục của quá trình lãnh đạo, là khâu tất yếu để thực hiện sự lãnh đạo Sự khác nhau giữa cán bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý chỉ là tương đối, nhưng lại rất cần thiết cho công tác tổ chức cán bộ
Cũng cần hiểu rõ thêm khái niệm “cán bộ lãnh đạo chủ chốt” Trước hết, cần làm
rõ “chủ chốt” là gì? Trong “Từ điển tiếng Việt” của Viện ngôn ngữ học ghi: “Chủ chốt quan trọng nhất, có tác dụng làm nòng cốt Cán bộ chủ chốt của phong trào” [55, tr.174]
Trong mỗi tổ chức đều có người lãnh đạo, nhiều tổ chức có tập thể lãnh đạo Trong tập thể lãnh đạo có người đứng đầu Người đó là cán bộ lãnh đạo chủ chốt Vậy,
cán bộ lãnh đạo chủ chốt là người đứng đầu quan trọng nhất, có tác dụng chi phối chính toàn bộ hoạt động của một tổ chức nhất định Khi xác định cán bộ lãnh đạo chủ
chốt cần đặt cán bộ trong một tổ chức nhất định Có thể có cán bộ ở tổ chức này, trong mối quan hệ này là cán bộ chủ chốt, nhưng trong tổ chức khác, trong mối quan hệ khác lại không phải là cán bộ chủ chốt
+ Cán bộ, công tác cán bộ có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng và luôn được các nhà
lãnh đạo của giai cấp vô sản quan tâm hàng đầu
C.Mác và Ph.Ăngghen là những người đặt nền móng cho vấn đề cán bộ và xây dựng ĐNCB của giai cấp vô sản Từ kinh nghiệm rút ra trong lịch sử phát triển của
xã hội loài người và qua quá trình truyền bá lý luận khoa học vào phong trào vô sản, hai ông khẳng định: “Tư tưởng căn bản không thực hiện được gì hết, muốn thực hiện
tư tưởng thì cần có những con người sử dụng lực lượng thực tiễn” [37, tr.181] Theo luận điểm trên, “Lực lượng thực tiễn” được hiểu là toàn bộ quần chúng vô sản và các tầng lớp nhân dân lao động bị áp bức, bóc lột đang hành động với những hình thức
Trang 18
khác nhau trong cuộc đấu tranh với giai cấp tư sản và các giai cấp bóc lột khác Còn
“những con người sử dụng lực lượng thực tiễn” được hiểu là những người định hướng, dẫn dắt hành động của quần chúng vô sản, đó là những đại biểu ưu tú nhất, lãnh tụ của phong trào công nhân đã được giác ngộ lý luận của chủ nghĩa xã hội khoa học và là những người cộng sản đầu tiên của giai cấp vô sản
Kế thừa, phát triển tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về vấn đề cán bộ, V.I.Lênin cho rằng: “Trong lịch sử, chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền thống trị, nếu nó không đào tạo ra được trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiền phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào” [32, tr.473] Như vậy, theo Lênin, mỗi giai cấp muốn giành được quyền thống trị thì trong hàng ngũ của mình phải có những nhà lãnh đạo có khả năng dẫn dắt phong trào và khi
đã có đường lối đúng thì cán bộ là khâu quyết định để biến đường lối đó thành hiện thực cách mạng
Khi đã giành được chính quyền, lãnh đạo công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, V.I.Lênin lại khẳng định: “Nghiên cứu con người, tìm những cán bộ có bản lĩnh, hiện nay đó là then chốt; nếu không thế thì tất cả mọi mệnh lệnh và quyết định sẽ chỉ là mớ giấy lộn” [35, tr.449] Lênin cho rằng, nhiệm vụ chính của cách mạng lúc này không chỉ
là ra nghị quyết, mà cần phải có những người tổ chức thực hiện nghị quyết, những cán
bộ cách mạng Như vậy, theo Lênin, vị trí, vai trò của cán bộ gắn chặt với vai trò lãnh đạo của Đảng Đường lối chủ trương của Đảng có trở thành hiện thực cách mạng? Vai trò lãnh đạo và sức mạnh của Đảng có được tăng cường? Đảng có tồn tại, phát triển? chính là ở ĐNCB
Vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện, hoàn cảnh
cụ thể ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xem: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc" [38, tr.269], "Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém" [38, tr.240] Người còn quan niệm: cán bộ là tiền vốn của Đảng, có vốn mới làm ra lãi Người chỉ rõ vai trò cán bộ thể hiện qua các mối quan hệ cơ bản, đó là: 1 Là người lãnh đạo, họ nhân danh Đảng, nhân danh tổ chức làm đầu tàu dẫn dắt phong trào cách mạng của quần chúng, làm gương cho quần chúng, với phương châm “đảng viên đi trước,
Trang 19
làng nước theo sau”; 2 Là cầu nối giữa Đảng với quần chúng, họ “đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho quần chúng hiểu rõ và thi hành”, đồng thời “đem tình hình của quần chúng báo cáo với Đảng, Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng” [38, tr.269]; 3 Là người đầy tớ của nhân dân, phụng sự nhân dân, bảo vệ lợi ích
và phát huy quyền làm chủ của nhân dân Người nhấn mạnh: “Chủ tịch, bộ trưởng, thứ trưởng, uỷ viên này khác là làm gì? Làm đầy tớ cho nhân dân” [39, tr.373]
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn ý thức rõ ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng của cán bộ và công tác cán bộ Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 (khoá VIII) về Chiến lược cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã xác định: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và của chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng” [14, tr.66] Tính then chốt của cán bộ xuất phát từ các mối quan hệ biện chứng giữa cán bộ với đường lối, nhiệm vụ chính trị, với tổ chức
và với phong trào cách mạng của quần chúng Kinh nghiệm thực tiễn đã chỉ rõ, mức độ đúng đắn của đường lối và việc cụ thể hoá đường lối chính xác, kịp thời, cũng như việc
tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách đều tuỳ thuộc ở chất lượng ĐNCB Vì vậy, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X tiếp tục nhấn mạnh: “Nhiệm vụ quan trọng nhất là xây dựng ĐNCB lãnh đạo, trước hết là cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược và người đứng đầu tổ chức các cấp, các ngành của hệ thống chính trị” [15, tr.293]
Như vậy, có thể khẳng định rằng ở bất kỳ giai đoạn nào trong sự nghiệp cách mạng của Đảng thì cán bộ và công tác cán bộ luôn có vai trò quyết định đến sự thành công hay thất bại trong lãnh đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị và quyết định trực tiếp đến sự nghiệp cách mạng của Đảng ta
1.1.2.2 Quan niệm, vị trí, vai trò, đặc điểm của đội ngũ cán bộ diện Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý
a) Quan niệm cán bộ diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý
Do ĐNCB trong hệ thống chính trị rất đông, được hình thành ở nhiều cấp, nhiều địa phương và trong phạm vi cả nước, nên muốn quản lý cán bộ chặt chẽ, rất cần thiết phải phân công, phân cấp quản lý cán bộ Chính xuất phát từ yêu cầu đó, ngày
Trang 20- Giám đốc, phó giám đốc Công an tỉnh và các sở trực thuộc UBND tỉnh; Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Chi nhánh tỉnh Bắc Giang, Kho bạc Nhà nước tỉnh, Bảo hiểm Xã hội tỉnh;
- Chỉ huy trưởng, phó chỉ huy trưởng, Chính uỷ, phó chính uỷ Bộ Chỉ huy Quân
sự tỉnh;
- Chánh án, phó chánh án Toà án nhân dân tỉnh;
- Viện trưởng, phó viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh;
- Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng Trường Chính trị tỉnh; Tổng Biên tập, phó tổng biên tập Báo Bắc Giang;
Trang 21- Trưởng, phó trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội chuyên trách;
- Chánh Thanh tra, phó chánh Thanh tra tỉnh;
- Cục trưởng, phó cục trưởng: Cục Thuế, Cục Thống kê;
- Chủ tịch, phó chủ tịch các hội: Hội Văn học Nghệ thuật, Hội Nhà báo, Liên hiệp Các hội khoa học kỹ thuật tỉnh, Liên minh Hợp tác xã tỉnh, Hội Liên hiệp Thanh niên Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ tỉnh;
- Giám đốc: Chi nhánh Ngân hàng Chính sách- Xã hội, Ngân hàng Phát triển, Ngân hàng Công thương, Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT, Ngân hàng Đầu tư- Phát triển tỉnh; Bưu điện tỉnh; Viễn thông Bắc Giang; Điện lực tỉnh; Ban Quản lý Dự án Đầu
tư Xây dựng tỉnh
* Ở huyện, thành phố, đảng uỷ trực thuộc Tỉnh uỷ: Bí thư, phó bí thư, uỷ viên
BTV huyện uỷ, thành uỷ, đảng uỷ trực thuộc Tỉnh uỷ; chủ tịch, phó chủ tịch HĐND, UBND huyện, thành phố
Cũng theo Quyết định số 67-QĐ/TW của BCT, quy định công tác quản lý cán bộ
diện BTV tỉnh uỷ quản lý bao gồm 07 nội dung chính sau:
1 Tuyển chọn, bố trí, phân công, điều động và luân chuyển cán bộ, phân cấp quản lý cán bộ; 2 Đánh giá cán bộ; 3 Quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; 4 Bổ nhiệm, miễn nhiệm cán bộ; 5 Khen thưởng, kỷ luật cán bộ; 6 Thực hiện chế độ, chính sách cán bộ; 7 Kiểm tra, giám sát công tác cán bộ; giải quyết khiếu nại, tố cáo về cán bộ [18, tr.1]
Qua phân tích trên, có thể hiểu: Cán bộ diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý là những cán bộ lãnh đạo, quản lý; những người đứng đầu trong hệ thống chính trị của tỉnh và huyện, chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện đường lối, nhiệm vụ chính trị, điều hành công tác, lãnh đạo, chỉ đạo cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý thực hiện hoàn thành các nhiệm vụ chính trị của từng tổ chức, cơ quan, đơn vị, góp phần thực hiện thắng
Trang 22
lợi nhiệm vụ chung của Đảng bộ tỉnh đề ra Cán bộ diện BTV Tỉnh ủy Bắc Giang quản lý
là những người được BTV Tỉnh uỷ trực tiếp quyết định đề bạt, bổ nhiệm, giới thiệu bầu
cử, bố trí, sắp xếp, điều chuyển, thi hành kỷ luật và thực hiện những chính sách khác BTV Tỉnh ủy còn trực tiếp chỉ đạo thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát, quản lý hồ sơ nhằm theo dõi, nắm tình hình những cán bộ này
b) Vị trí, vai trò của ĐNCB diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý
Căn cứ quy định về phân cấp quản lý cán bộ, ĐNCB diện BTV tỉnh Bắc Giang quản lý là những cán bộ lãnh đạo, quản lý đang công tác ở các cơ quan cấp tỉnh và huyện, nên có vị trí, vai trò rất lớn trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ
chính trị của Đảng bộ tỉnh Vị trí, vai trò đó được thể hiện qua các nội dung sau:
Một là, ĐNCB diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý có vai trò quan trọng trong
việc nghiên cứu, quán triệt, nắm vững chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, để vận dụng đề ra chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội, an ninh- quốc phòng ở địa phương Do những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước phần lớn là
ở tầm vĩ mô, mang tính bao quát, nên đòi hỏi phải quán triệt sâu sắc, vận dụng sáng tạo, phù hợp thì mới đi vào cuộc sống và mang lại hiệu quả thiết thực
ĐNCB diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý còn thể hiện vai trò quan trọng trong việc tổ chức thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối của Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Trung ương và Tỉnh uỷ; đồng thời trên cơ sở thực tiễn mà đề xuất điều chỉnh các chủ trương, chính sách ngày càng phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ ĐNCB này là những người lãnh đạo, trung tâm định hướng, điều khiển toàn bộ hoạt động của Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh; các cơ quan, sở, ban, ngành, MTTQ, đoàn thể tỉnh; cấp uỷ, HĐND, UBND các huyện, thành phố, đảng uỷ trực thuộc Tỉnh uỷ; ĐNCB này có đủ tầm tri thức và phẩm chất đạo đức, kết hợp với uy tín, trách nhiệm của bản thân để tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân cùng tham gia Vai trò trên vừa là kết quả tất yếu của mối quan hệ giữa cán bộ với đường lối, nhiệm vụ; vừa là kết quả của vị trí cấp tỉnh trong hệ thống chính trị ở nước ta
Hai là, ĐNCB diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý là cầu nối giữa Đảng với
quần chúng nhân dân, giữa Trung ương với tỉnh, huyện và cơ sở Vai trò này được thể
Trang 23Ba là, do ĐNCB diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý là những cán bộ chủ chốt
của các cơ quan, sở, ban, ngành, đoàn thể ở tỉnh và cấp uỷ, HĐND, UBND huyện, thành phố, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy nên có vai trò rất lớn trong xây dựng, củng cố, nâng cao chất lượng hệ thống chính trị của tỉnh và huyện, là hạt nhân đoàn kết trong cơ quan, đơn vị và quần chúng ĐNCB này có đóng góp quan trọng vào công tác xây dựng các chi bộ, đảng bộ cơ sở trong sạch, vững mạnh; đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao năng lực quản lý, điều hành của các cơ quan nhà nước trên địa bàn tỉnh; đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả của các phong trào thi đua yêu nước và xây dựng, củng
cố, nâng cao chất lượng hoạt động của các đoàn thể nhân dân trong tỉnh…
Bốn là, ĐNCB diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý là nguồn để bổ sung vào
cấp uỷ, các chức danh chủ chốt Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh Bởi vì, cán bộ có trưởng thành, phát triển, nâng cao năng lực toàn diện được hay không phụ thuộc rất lớn từ sự được giáo dục, rèn luyện, thử thách qua phong trào hành động cách mạng ở địa phương,
cơ sở Từ sự lớn mạnh của tổ chức, của phong trào cách mạng là căn cứ để lựa chọn, cung cấp, bổ sung nguồn cán bộ chủ chốt kế cận của tỉnh Muốn vậy cấp uỷ tỉnh, nhất là BTV Tỉnh uỷ phải làm tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển cán bộ,
để có được một ĐNCB có chất lượng, đáp ứng yêu cầu đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập quốc tế của địa phương
Tóm lại, qua phân tích trên, ĐNCB diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý có vị
trí, vai trò quan trọng trong định hướng lãnh đạo, tổ chức chỉ đạo thực hiện và tạo động lực cho sự phát triển của tỉnh; đó là lực lượng trụ cột, hạt nhân lãnh đạo trong các tổ chức của toàn bộ hệ thống chính trị của tỉnh, là chỗ dựa tin cậy của Tỉnh uỷ, HĐND và UBND tỉnh
Trang 24
c) Đặc điểm của ĐNCB diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý
Bắc Giang có đặc thù là tỉnh miền núi; từ khi tái lập tỉnh (01/1997) đến nay, ĐNCB diện BTV Tỉnh uỷ quản lý luôn được quan tâm xây dựng, củng cố và kiện toàn;
đã có bước trưởng thành cả về số lượng và chất lượng, cơ bản đáp ứng yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ tỉnh Trong giai đoạn
hiện nay, ĐNCB diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý có một số đặc điểm cơ bản sau:
Một là, đa số cán bộ trực tiếp hoặc gián tiếp có nguồn gốc hình thành từ nông dân
và nông thôn; một bộ phận đã từng tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và trong thời kỳ đổi mới, được rèn luyện, thử thách và từng bước trưởng thành Từ nguồn gốc hình thành và điều kiện, hoàn cảnh trưởng thành đó đã có ảnh hưởng đến hình thành nhân cách và sự phát triển về kỹ năng lãnh đạo, quản lý của mỗi người và qua đó cũng ảnh hưởng đến năng lực hoạt động thực tiễn của họ Trong ĐNCB diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý có một bộ phận trưởng thành từ hoạt động thực tiễn, có kinh nghiệm, nhưng lại không có điều kiện học tập qua trường lớp một cách cơ bản, có hệ thống, nên kiến thức lý luận và chuyên môn nghiệp vụ còn hạn chế Bên cạnh đó, bộ phận cán bộ
nữ đã từng góp phần không nhỏ vào sự lãnh đạo chung của Đảng bộ tỉnh; nhưng nguồn cán bộ nữ để phát triển thành cán bộ lãnh đạo quản lý còn hạn chế, tỷ lệ cán bộ nữ trong
cơ cấu ĐNCB diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý đạt thấp
Hai là, cán bộ diện BTV Tỉnh uỷ quản lý hiện nay phần lớn được phân công
kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ công tác, trước hết là phải kiêm nhiệm giữa công tác chuyên môn với công tác Đảng, đoàn thể, hoặc tham gia các ban chỉ đạo, hội đồng tư vấn Điều này thể hiện sự thống nhất phân công của BTV Tỉnh uỷ đối với ĐNCB thuộc diện quản lý, nhằm bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện; qua đó ĐNCB có điều kiện được tu dưỡng, rèn luyện và hoàn thiện phẩm chất đạo đức, năng lực công tác; góp phần làm cho việc triển khai các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trên địa bàn tỉnh đạt được hiệu quả Nhưng bên cạnh đó, do kiêm nhiệm làm cho mỗi cán bộ phải đảm đương quá nhiều việc, không có điều kiện đi sâu từng vấn đề
cụ thể và không có thời gian cần thiết cho việc nghiên cứu, học tập để nâng cao trình độ hiểu biết về lý luận, mở rộng tầm nhìn và hoàn thiện kỹ năng lãnh đạo, quản lý
Trang 25
Ba là, ĐNCB diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý được hình thành chủ yếu
thông qua chế độ “bổ nhiệm và giới thiệu bầu cử”; được BTV Tỉnh uỷ trực tiếp bổ nhiệm hoặc giới thiệu để bầu cử vào các chức vụ lãnh đạo, quản lý của các tổ chức đảng, chính quyền và đoàn thể nhân dân Chế độ này được thực hiện theo các quy định hiện hành của Đảng, Nhà nước và điều lệ của từng tổ chức chính trị xã hội Việc thực hiện chế độ này được gắn liền với đánh giá năng lực, phẩm chất, kết quả công tác trong thực tế của mỗi cán bộ và liên quan trực tiếp đến các quyết định bổ nhiệm lại, luân chuyển, điều động, đề bạt, khen thưởng, thi hành kỷ luật cán bộ Trong quá trình thực hiện chế độ này, mỗi cán bộ diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản
lý, một mặt phải chịu sự chi phối trực tiếp hoặc gián tiếp bởi thẩm quyền quản lý của BTV Tỉnh uỷ, hoặc có thể BTV Tỉnh uỷ phân cấp cho cơ quan tham mưu, cấp uỷ trực thuộc, ban cán sự đảng, đảng đoàn theo dõi, quản lý; mặt khác, họ cũng phải chịu sự giám sát, đánh giá, kể cả những ý kiến phản ánh, kiến nghị của các tổ chức,
cơ quan, đơn vị nơi đang công tác và cư trú
Bốn là, ĐNCB diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý có đặc điểm là tuổi đời bình
quân cao, gần 60% cán bộ trên 50 tuổi, vì vậy phần nào có ảnh hưởng đến sức khoẻ, khả năng công tác, mức độ hoàn thành nhiệm vụ Là tỉnh miền núi, dân số đông (gần 1,6 triệu người), có nhiều dân tộc anh em cùng chung sống, nhưng số cán bộ người dân tộc thiểu số còn ít, tỷ lệ cán bộ nữ không cao Do một bộ phận xuất thân từ nông dân nên còn có tư tưởng phong kiến, tiểu nông, sản xuất nhỏ, biểu hiện ra thành bệnh cá nhân chủ nghĩa như: hẹp hòi, gia trưởng, kinh nghiệm, cục bộ địa phương, trọng nam khinh nữ…
Các đặc điểm chủ yếu trên cần quan tâm khi xây dựng, triển khai công tác quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm đối với ĐNCB diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý, nhất là khi xác định nội dung, chương trình cụ thể nhằm đáp ứng với đòi hỏi của từng đối tượng cán bộ
1.2 QUAN NIỆM, MỤC ĐÍCH, VAI TRÒ, NGUYÊN TẮC, ĐIỀU KIỆN
VÀ QUY TRÌNH BỔ NHIỆM CÁN BỘ DIỆN BAN THƯỜNG VỤ TỈNH UỶ BẮC GIANG QUẢN LÝ
Trang 26
1.2.1 Quan niệm về bổ nhiệm, bổ nhiệm lại cán bộ
Để nghiên cứu BNCB diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý, cần có quan niệm đúng và đầy đủ về bổ nhiệm, bổ nhiệm lại cán bộ
BNCB là động từ thường được dùng trong lĩnh vực tổ chức- cán bộ và thường được hiểu là giao cho ai giữ một trọng trách, một vị trí ở từng cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị Nhưng nếu chỉ hiểu theo nghĩa đơn thuần thì chưa thể hiện được đầy đủ nội dung sâu xa của BNCB, dễ đánh đồng với khái niệm đề bạt, cất nhắc, bố trí cán bộ
Theo Từ điển tiếng Việt của Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia thì: “Đề bạt cán bộ” là “cử (ai đó) vào một chức vụ cao hơn” như đề bạt giám đốc xí nghiệp [50, tr.546] “Cất nhắc cán bộ” là “đưa lên một chức vụ cao hơn” [50, tr.241]
“Bố trí cán bộ” là “sắp xếp theo một trật tự và với một dụng ý nhất định” [50, tr.162]
“Bổ nhiệm” là một từ ghép của hai từ với hai ý nghĩa khác nhau “Bổ” có nghĩa
là phân bổ, bổ sung, giao cho; “nhiệm” được hiểu là nhiệm vụ, trách nhiệm, nhiệm kỳ…; ghép lại hai từ trên ta có thể hiểu đó là việc phân bổ hay giao cho ai một nhiệm
vụ, trách nhiệm và trong một thời hạn cụ thể “BNCB” có nghĩa: “Cử cán bộ giữ một chức vụ trong bộ máy nhà nước” [50, tr.161]; tức là giao cho cán bộ giữ một chức vụ có thể là cao hơn, nhưng cũng có thể đó là chức vụ tương đương
Theo tập bài giảng “Nghiệp vụ công tác cán bộ, đảng viên” của Viện xây dựng Đảng, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh thì khái niệm "BNCB" được nêu:
BNCB là quyết định cử cán bộ giữ một chức vụ lãnh đạo trong bộ máy tổ chức, thực chất là giao trách nhiệm, quyền hạn cho cán bộ lãnh đạo của một ban, một bộ, một ngành, một cơ quan đơn vị…Đây là khâu quyết định trong công tác cán bộ [29, tr.27]
Có thể khái quát BNCB được thể hiện qua ba đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất, BNCB là quyết định cử cán bộ giữ một chức vụ lãnh đạo, quản lý trong cơ
cấu tổ chức nhất định Cụ thể là trong một cơ cấu tổ chức có nhiều chức danh cán bộ, những cán bộ được bổ nhiệm có nghĩa là được cất nhắc từ vị trí người bị lãnh đạo, bị quản
lý, lên vị trí của người lãnh đạo, quản lý; hoặc từ vị trí người lãnh đạo, quản lý cấp thấp, cất
Trang 27
nhắc lên vị trí người lãnh đạo, quản lý cao hơn Chính vì vậy, việc BNCB luôn là động lực tích cực khích lệ ĐNCB phấn đấu vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
Thứ hai, những cán bộ được bổ nhiệm lên vị trí mới được trao trách nhiệm và quyền
hạn tương xứng BNCB là quyết định trao cho cán bộ đó một quyền hạn mới, cao hơn cương vị công tác hiện tại, đồng thời đòi hỏi cán bộ đó phải phát huy trách nhiệm cá nhân tương xứng với quyền hạn được trao
Thứ ba, BNCB giữ vai trò quan trọng có ý nghĩa quyết định trong công tác cán
bộ Đây là cái đích của quản lý cán bộ, là công việc mang tính khoa học về tổ chức Độ chính xác của BNCB thể hiện chất lượng, hiệu quả của công tác quản lý Bổ nhiệm đúng cán bộ thì góp phần làm cho tổ chức phát triển ổn định, nhiệm vụ chính trị vì thế sẽ hoàn thành tốt; ngược lại bổ nhiệm sai cán bộ sẽ làm cho tổ chức trì trệ, rối loạn, nhiệm vụ bê trễ, khó hoàn thành
Như vậy, có thể hiểu rằng: BNCB là cấp có thẩm quyền đồng ý quyết định cử hoặc giao cho cán bộ thuộc quyền quản lý một chức vụ, một trọng trách trong cơ quan đơn vị, có thể là đề bạt, cất nhắc nhưng cũng có thể chỉ là bố trí cán bộ cho phù hợp, nhằm sử dụng hiệu quả ĐNCB hiện có trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị
Những trường hợp cần BNCB là: Khi có sự thay đổi tổ chức, hoặc thay đổi các chức danh lãnh đạo, quản lý trong tổ chức; khi khuyết các chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý cần bổ nhiệm cho đủ; khi thực hiện quy hoạch, sắp xếp cán bộ lãnh đạo chủ chốt, bảo đảm cho ĐNCB phát triển liên tục, kế tiếp nhau theo hướng dự định; hoặc khi rà soát, phát hiện những cán bộ lãnh đạo, quản lý đương chức không còn phù hợp cần thiết phải điều chỉnh,
bố trí công tác khác
Giữa BNCB với đề bạt, cất nhắc, bố trí cán bộ có mặt thống nhất nhưng không đồng nhất Bổ nhiệm cán bộ là bước tiếp theo của đề bạt, cất nhắc, bố trí cán bộ, nó cụ thể hoá các bước trên Thông thường BNCB được thể hiện bằng các văn bản mang tính chất pháp quy; cấp có thẩm quyền có thể quyết định trực tiếp việc BNCB, cũng có thể
ra nghị quyết giới thiệu để các cấp cùng quản lý căn cứ vào đó ra quyết định BNCB (như nghị quyết giới thiệu cán bộ để HĐND tỉnh bầu các chức danh chủ tịch, phó chủ tịch HĐND, UBND tỉnh chẳng hạn)
Trang 28vụ chính trị chung của Đảng bộ tỉnh
Qua khái niệm cho thấy, chủ thể quyết định BNCB là BTV tỉnh uỷ; bên cạnh đó, còn có một số tổ chức và cá nhân liên quan tham gia vào quá trình BNCB như: Cơ quan tham mưu về công tác tổ chức cán bộ; cấp uỷ trực thuộc tỉnh uỷ; người đứng đầu và các
tổ chức thành viên của hệ thống chính trị Đối tượng xem xét bổ nhiệm là những cán bộ có phẩm chất chính trị, trình độ, năng lực, uy tín và phải bảo đảm tiêu chuẩn quy định Vị trí được bổ nhiệm là các chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý cần bổ nhiệm trong các tổ chức của hệ thống chính trị trong tỉnh thuộc diện BTV tỉnh uỷ quản lý theo phân cấp quản lý cán
bộ Yêu cầu phải bổ nhiệm đúng người, đúng việc, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện tốt nhiệm vụ của từng tổ chức, cơ quan, đơn vị và góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chung của địa phương
* Cùng với BNCB, Quyết định số 68-QĐ/TW của BCT còn quy định về việc bổ nhiệm lại cán bộ; trong đó nhấn mạnh yêu cầu sau:
Khi hết thời hạn giữ chức vụ bổ nhiệm theo quy định, phải xem xét có hay không bổ nhiệm lại hoặc giới thiệu tái ứng cử Những cán bộ sau khi được
bổ nhiệm vì những lý do cụ thể, như: sức khoẻ không đảm bảo, không phù hợp với điều kiện làm việc, sinh hoạt, không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước…thì các cơ quan tham mưu đề xuất và cấp lãnh đạo có thẩm quyền cần xem xét, thay thế kịp thời, không chờ hết thời hạn giữ chức vụ bổ nhiệm [17, tr.7-8]
Như vậy, có thể hiểu: Bổ nhiệm lại cán bộ là quyết định cử cán bộ tái giữ một chức
vụ lãnh đạo, quản lý trong bộ máy tổ chức, là giao lại trách nhiệm, quyền hạn mà người cán bộ đó đã từng đảm nhiệm Bổ nhiệm lại thường được thực hiện khi hết nhiệm kỳ công
tác
Trang 29
1.2.2 Mục đích, vai trò của bổ nhiệm, bổ nhiệm lại cán bộ
Bổ nhiệm, bổ nhiệm lại cán bộ có mục đích chung gắn liền với mục đích của công tác cán bộ; đó là tạo ra một ĐNCB đồng bộ, có chất lượng, bảo đảm cho việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của các ngành, các cấp ở Trung ương, cũng như địa phương Ngoài ra, BNCB còn có mục đích cụ thể là để củng cố sự thiếu hụt ở từng chức danh cán bộ, kịp thời bổ sung, thay thế cán bộ, khắc phục sự yếu kém, thiếu khuyết trong ĐNCB, cũng như khắc phục sự yếu kém trong lãnh đạo, chỉ đạo điều hành thực hiện nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, địa phương Việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại cán bộ phải nhằm mục đích cuối cùng là nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy và của từng cán bộ
Trong công tác cán bộ, BNCB là khâu có vai trò hết sức quan trọng được thể
hiện ở một số nội dung chủ yếu sau:
Thứ nhất, BNCB kết hợp cùng với các khâu khác làm cho công tác cán bộ trở thành một hệ thống hoàn chỉnh và hợp lý
Công tác cán bộ gồm nhiều khâu: Xây dựng tiêu chuẩn, tuyển chọn, đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, điều động, luân chuyển, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, thực hiện chính sách cán bộ…Các khâu của công tác cán bộ có mối quan hệ biện chứng, ràng buộc lẫn nhau, khâu này là tiền đề, cơ sở của khâu kia; vì vậy, khi thực hiện công tác cán bộ cần tiến hành đồng bộ các khâu, không được coi nhẹ khâu nào và khi bổ nhiệm,
bổ nhiệm lại cán bộ rất cần thiết phải kết hợp thực hiện đầy đủ các khâu khác, như phải căn cứ vào tiêu chuẩn cán bộ, đánh giá cán bộ, quy hoạch cán bộ…
Thứ hai, trong công tác cán bộ thì BNCB là khâu có vị trí quan trọng, kiểm nghiệm tính đúng đắn của các khâu: xây dựng tiêu chuẩn, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, thực hiện chính sách cán bộ
Để BNCB chính xác, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, vấn đề quan trọng đầu tiên
là phải xây dựng được hệ tiêu chuẩn cán bộ đúng đắn, phù hợp từng chức danh cán bộ,
từ đó làm căn cứ để đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Bổ nhiệm đúng cán
bộ phải có sự đánh giá cán bộ chuẩn xác, khách quan, công tâm; chất lượng BNCB phụ thuộc vào việc đánh giá cán bộ Đã không ít trường hợp đánh giá cán bộ không đúng tài
Trang 30
năng, phẩm chất đạo đức, dẫn đến sử dụng sai người, sai việc Mỗi khâu trong công tác cán bộ đều có ý nghĩa giúp cho BNCB được chính xác, đúng người, đúng việc; hay nói cách khác BNCB là cái đích của hoạt động quản lý cán bộ
Mỗi cán bộ khi được cất nhắc, bổ nhiệm, tạo nên động lực tinh thần trong cuộc sống, cũng như trong sự nghiệp công tác; họ cảm thấy vinh dự khi những nỗ lực, cố gắng trong công việc của mình đã được tổ chức đánh giá đúng mức, từ đó tin tưởng vào
tổ chức và lãnh đạo, xoá bỏ được tư tưởng "Ba năm phấn đấu, không bằng một lần cơ cấu" và vì vậy công việc cũng được tiến hành nhanh chóng hơn, hiệu quả hơn Ngược lại, nếu do phe phái, bè cánh mà được bổ nhiệm thì bản thân người cán bộ đó sẽ có tư tưởng chủ quan, thiếu tôn trọng tổ chức và mọi người, coi thường hiệu quả công việc và như vậy nhiệm vụ chính trị cũng không thể nào hoàn thành tốt được
Chủ tịch Hồ Chí Minh mặc dù không sử dụng trực tiếp khái niệm "BNCB", nhưng quan điểm của Người về cất nhắc cán bộ cũng nói lên tầm quan trọng của công tác BNCB Theo Người, cất nhắc cán bộ là công việc cần kíp nhưng phải làm cho đúng Nếu cất nhắc không cẩn thận sẽ đem những người bô lô, ba la, chỉ nói mà không làm vào những địa vị lãnh đạo, như thế rất có hại Cất nhắc cán bộ phải vì công tác, tài năng
và có tác dụng cổ động cho đồng chí khác thêm hăng hái; như thế công việc nhất định chạy Cất nhắc cán bộ không nên làm như "giã gạo"; nghĩa là trước khi cất nhắc không xem xét kỹ, khi cất nhắc rồi không giúp đỡ họ, khi họ sai lầm thì đẩy xuống, chờ lúc họ làm khá lại cất nhắc lên Cán bộ bị nhắc lên thả xuống vài ba lần như thế là hỏng cả đời
Ảnh hưởng của việc bổ nhiệm đúng cán bộ không chỉ có tác dụng tới tinh thần, tâm lý của bản thân người được bổ nhiệm, mà còn tác động tới cả ĐNCB nơi có người được bổ nhiệm Có những nơi do bổ nhiệm không đúng cán bộ, cán bộ được bổ nhiệm không đúng với năng lực, sở trường, mức độ cống hiến hoặc không có tín nhiệm với quần chúng đã gây nên tình trạng hoang mang, dao động, chán nản trong ĐNCB; cán
bộ, đảng viên và quần chúng sẽ giảm sút niềm tin vào lãnh đạo, tổ chức và từ đó động lực phấn đấu cũng không còn, nhiệm vụ được giao cũng sẽ bê trễ, khó hoàn thành
Như vậy, BNCB có vai trò hết sức to lớn đối với công tác cán bộ, đối với từng cán
bộ và cả ĐNCB, đó là sợi dây thắt chặt tình đoàn kết, thống nhất trong cơ quan, tổ chức và
Trang 31BCH đảng bộ tỉnh căn cứ các quy định của Trung ương, cụ thể hoá thành mục tiêu, nhiệm vụ, biện pháp, chính sách, quy chế, quy định về công tác cán bộ cho cả hệ thống chính trị của tỉnh và thông qua các cấp uỷ, tổ chức đảng, đảng viên trong các cơ quan nhà nước, mặt trận, đoàn thể, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp để lãnh đạo tổ chức thực hiện các quyết định của BCH đảng bộ về cán bộ và công tác cán bộ Trực tiếp quản
lý ĐNCB lãnh đạo, quản lý, trước hết là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các ngành, các cấp; đồng thời phát huy trách nhiệm của các tổ chức thành viên trong hệ thống chính trị của tỉnh về BNCB cho hệ thống tổ chức của mình theo đúng quan điểm, quy chế, quy định, tiêu chuẩn cán bộ do Đảng, Nhà nước ban hành Phân công, phân cấp quản lý cán bộ cho các cấp uỷ và tổ chức Đảng; đồng thời thường xuyên kiểm tra việc thực hiện công tác cán bộ của các cấp, các ngành
Thứ hai, tập thể lãnh đạo các cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định một cách dân chủ, công khai, trên cơ sở phát huy đầy đủ trách nhiệm và quyền hạn của từng thành viên, nhất là của người đứng đầu cơ quan, đơn vị
Những vấn đề về đường lối, chủ trương, chính sách, đánh giá, lựa chọn, bổ nhiệm, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật cán bộ phải do tập thể cấp uỷ và tổ chức đảng
có thẩm quyền (theo phân cấp quản lý) thảo luận dân chủ và quyết định theo đa số Trường hợp có ý kiến khác nhau giữa người đứng đầu tổ chức đảng và lãnh đạo cơ quan, đơn vị thì phải báo cáo lên cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định
Trang 32
Người đứng đầu cấp uỷ, tổ chức đảng, cơ quan đơn vị có trách nhiệm phát hiện,
đề xuất cán bộ bổ nhiệm và tổ chức thực hiện các quyết định của tập thể về BNCB Cơ quan tham mưu giúp cấp uỷ thẩm định việc đề xuất nhân sự, trên cơ sở đó trình tập thể cấp uỷ quyết định Mỗi cấp chịu trách nhiệm về đề xuất, thẩm định, quyết định BNCB của mình
Thứ ba, phải xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của tổ chức, cơ quan, đơn vị; đồng thời căn cứ vào phẩm chất, đạo đức, năng lực, sở trường của cán bộ
Phải xuất phát từ công việc, chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức, chức trách nhiệm vụ, tiêu chuẩn đối với từng chức danh và kết quả đánh giá cán bộ mà BNCB đúng chỗ, đúng lúc, đúng sở trường, thực hiện “vì việc mà đặt người”, bảo đảm nguyên tắc “có lên, có xuống, có vào, có ra” Tránh BNCB vào vị trí mà bản thân cán bộ chưa được học, chưa từng làm hoặc chưa am hiểu Không điều động những cán bộ bị kỷ luật, không hoàn thành nhiệm vụ ở cơ quan, đơn vị này, sang nhận chức vụ tương đương hoặc cao hơn ở cơ quan, đơn vị khác Những nơi trì trệ, yếu kém, mất đoàn kết nội bộ phải củng cố tổ chức, xem xét thay đổi cán bộ lãnh đạo chủ chốt, sau đó mới BNCB Đồng thời, để tạo nguồn cán bộ kế tiếp, mạnh dạn bổ nhiệm những cán bộ trẻ, có triển vọng, được được đào tạo cơ bản, có đủ tiêu chuẩn và được rèn luyện, thử thách vào các chức vụ lãnh đạo, quản lý phù hợp
Thứ tư, phải bảo đảm sự ổn định, kế thừa và phát triển của ĐNCB, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của tổ chức, cơ quan, đơn vị
Khi thực hiện BNCB phải chú trọng đảm bảo tính đồng bộ của ĐNCB lãnh đạo, quản lý, có tính đến mối tương quan giữa trước mắt và lâu dài, đảm bảo tính liên tục, kế thừa vững chắc trong cả đội ngũ ĐNCB lãnh đạo, quản lý ở mỗi cấp cần bảo đảm hình thành ba độ tuổi kế tiếp nhau (dưới 40 tuổi, từ 40-50 tuổi và trên 50 tuổi); kết hợp hài hoà giữa bố trí cán bộ lớn tuổi, dày dạn kinh nghiệm, với BNCB trẻ được đào tạo cơ bản, đã qua rèn luyện thực tiễn
1.2.3.2 Điều kiện bổ nhiệm cán bộ
Quyết định số 68-QĐ/TW của BCT quy định cán bộ được bổ nhiệm cần bảo đảm các điều kiện sau:
Trang 33
Thứ nhất, bảo đảm tiêu chuẩn chung của cán bộ được quy định tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba BCH Trung ương (khoá VIII) và tiêu chuẩn cụ thể của chức danh cán bộ bổ nhiệm
Nghị quyết Hội nghị Trung ương ba (khoá VIII) xác định 03 nhóm tiêu chuẩn chung của ĐNCB trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH gồm cả đức và tài, trong đó đức
là gốc Cụ thể là:
- Có tinh thần yêu nước sâu sắc, tận tuỵ phục vụ nhân dân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phấn đấu thực hiện có hiệu quả đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
- Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư; không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng; có ý thức tổ chức kỷ luật; trung thực; không cơ hội, gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân tín nhiệm
- Có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; có trình độ học vấn, chuyên môn, đủ năng lực và sức khoẻ để làm việc có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao [14, tr.79-80]
Đồng thời xác định tiêu chuẩn đặc thù của 04 nhóm cán bộ chủ yếu là: cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đoàn thể nhân dân; cán bộ khoa học, chuyên gia; cán bộ lực lượng vũ trang; cán bộ quản lý doanh nghiệp
Ngoài ra, trong văn bản “Một số quy định, quyết định, quy chế hướng dẫn về công tác cán bộ” của Ban Tổ chức Trung ương còn xác định cụ thể tiêu chuẩn của đội ngũ công chức cấp chuyên viên, chuyên viên chính và chuyên viên cao cấp Trên cơ sở các văn bản này, các cấp, các ngành tuỳ theo phân cấp quản lý, có thể cụ thể hoá tiêu chuẩn cho từng chức danh thuộc thẩm quyền quản lý, làm cơ sở cho việc đánh giá, BNCB
Thứ hai, có đầy đủ hồ sơ cá nhân, lý lịch được cơ quan chức năng có thẩm quyền xác minh rõ ràng
Hồ sơ cá nhân của cán bộ có khá nhiều văn bản, phản ánh lịch sử chính trị của gia đình và bản thân, năng lực và phẩm chất, quá trình công tác, cống hiến, học tập và rèn luyện phấn đấu của cán bộ Trong các văn bản đó, lý lịch tự khai và lý lịch xác minh
Trang 34uỷ cơ quan, đơn vị nơi cán bộ đang công tác; bản nhận xét của đại diện cấp uỷ hoặc chính quyền cơ sở nơi cán bộ cư trú thường xuyên về tư cách công dân của cán bộ và gia đình cán bộ; biên bản tổng hợp phiếu lấy ý kiến BNCB của hội nghị cán bộ chủ chốt; bản xác nhận sức khoẻ do cơ sở y tế có thẩm quyền ban hành; bản kê khai tài sản,
có xác nhận của cấp uỷ, thủ trưởng cơ quan trực tiếp quản lý; tờ trình BNCB của tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị
Thứ ba, tuổi bổ nhiệm của cán bộ: Cán bộ các cơ quan trong hệ thống chính trị
được đề nghị bổ nhiệm vào vị trí lãnh đạo, quản lý lần đầu nói chung cần đủ tuổi để công tác trọn một nhiệm kỳ
Tại Hướng dẫn số 09-HD/BTCTW ngày 26/9/2007 của Ban Tổ chức Trung ương
Đảng về “Hướng dẫn thực hiện Quy định về phân cấp quản lý cán bộ, Quy chế BNCB và giới thiệu cán bộ ứng cử”, quy định tuổi bổ nhiệm cán bộ như sau:
Tuổi bổ nhiệm là tuổi đời của cán bộ tính đến thời điểm mà cán bộ được bổ nhiệm giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý (cấp trưởng hoặc cấp phó) trong các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị, doanh nghiệp nhà nước
Ở các cơ quan, tổ chức các cấp (cả Trung ương và địa phương), tuổi bổ nhiệm lần đầu nói chung không quá 55 tuổi đối với nam, 50 tuổi đối với nữ [4, tr.11]
Hướng dẫn 09-HD/BTCTW của Ban Tổ chức Trung ương cũng nêu rõ:
Trường hợp đặc biệt và thực sự cần thiết, đối với một số chức danh lãnh đạo chủ chốt (bí thư, phó bí thư cấp uỷ, chủ tịch HĐND, chủ tịch UBND địa phương, trưởng, phó các cơ quan, đơn vị ở Trung ương), tính đến thời điểm bổ nhiệm còn tuổi công tác ít nhất 2/3 nhiệm kỳ (đối với nhiệm kỳ 5
Trang 35
năm), có đủ năng lực, phẩm chất, sức khoẻ, được tín nhiệm, trong khi địa phương, đơn vị chưa có phương án nhân sự khác thích hợp, thì có thể xem xét từng trường hợp và hoàn cảnh cụ thể để bổ nhiệm vào vị trí lãnh đạo, quản lý Đối với các chức danh cán bộ có nhiệm kỳ bổ nhiệm ngắn hơn, thì cần đủ tuổi để công tác trọn một nhiệm kỳ Trường hợp cán bộ đã giữ chức
vụ lãnh đạo, quản lý, nay do nhu cầu công tác mà được giao giữ chức vụ mới tương đương, thì không tính tuổi bổ nhiệm lần đầu như quy định nêu trên [4, tr.11]
Xác định tuổi của cán bộ như sau: Tuổi của cán bộ được tính theo giấy khai sinh (bản chính hoặc bản sao có công chứng hợp lệ); nếu không có giấy khai sinh thì theo lý lịch gốc khai khi được tuyển dụng vào cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể, lực lượng vũ trang (có chứng nhận của cơ quan có thẩm quyền) Đối với cán bộ, công chức tham gia công tác trong các thời kỳ kháng chiến, không có giấy khai sinh, hoặc bị thất lạc, thì lấy tuổi tại lý lịch gốc; nếu không có lý lịch gốc thì lấy tuổi tại lý lịch khai khi vào Đảng (đối với đảng viên)
Thứ tư, cán bộ phải có đủ sức khoẻ để hoàn thành nhiệm vụ được giao Người
được giao chức vụ phải có giấy chứng nhận bảo đảm về mặt sức khoẻ do cơ quan y tế
có thẩm quyền cấp để thực hiện nhiệm vụ
Thứ năm, cán bộ bị kỷ luật bằng một trong các hình thức từ khiển trách trở lên thì không được bổ nhiệm vào các chức vụ cao hơn trong thời hạn ít nhất một năm, kể từ khi có quyết định kỷ luật (Điều 43 của Pháp lệnh cán bộ công chức) Riêng đối với đảng
viên còn phải thực hiện Điều lệ Đảng, trong đó quy định: “Đảng viên bị kỷ luật cách chức, trong vòng một năm, kể từ ngày có quyết định kỷ luật, không được giới thiệu bầu vào cấp
uỷ, không được bổ nhiệm vào chức vụ tương đương và cao hơn” (Điều 40 của Điều lệ Đảng) Đây là điều kiện để bảo đảm tính nghiêm minh kỷ luật của Đảng, Nhà nước
Bên cạnh năm điều kiện trên, Quyết định số 68-QĐ/TW của BCT còn quy định: người được giới thiệu để xem xét bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử vào chức vụ lãnh đạo quản lý
là cán bộ công tác trong cơ quan, đơn vị thì nói chung phải được quy hoạch vào chức danh
bổ nhiệm, ứng cử Trường hợp đặc biệt, vì yêu cầu đột xuất, đối với cán bộ chưa kịp bổ
Trang 36
sung vào quy hoạch, nhưng thực sự có năng lực thực tiễn và phẩm chất đạo đức tốt, có tín nhiệm cao trong Đảng và trong dân, có đủ sức khoẻ để hoàn thành tốt nhiệm vụ, thì cũng có thể bổ nhiệm, tuy không có trong quy hoạch vào chức danh bổ nhiệm, ứng cử
1.2.3.3 Điều kiện bổ nhiệm lại cán bộ
Quyết định số 68-QĐ/TW của BCT quy định có 03 điều kiện bổ nhiệm lại cán bộ là:
1 Hoàn thành nhiệm vụ trong thời hạn giữ chức vụ và vẫn đủ tiêu chuẩn, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong thời gian tới; 2 Cơ quan, đơn vị
có nhu cầu; 3 Đủ sức khoẻ để tiếp tục đảm nhiệm chức vụ cũ [17, tr.8]
Hướng dẫn số 09-HD/BTCTW của Ban Tổ chức Trung ương, phần về bổ nhiệm lại cán bộ nêu rõ thêm: Riêng đối với cán bộ còn dưới 5 năm công tác mới đến tuổi nghỉ hưu (không đủ một thời hạn bổ nhiệm lại), sau đại hội đảng các cấp không tái cử cấp uỷ, thì cấp
có thẩm quyền phải xem xét, quyết định phân công công tác cụ thể, không nhất thiết kéo dài thời gian giữ chức vụ Nếu cán bộ không được bổ nhiệm lại, thì cơ quan có thẩm quyền quyết định bổ nhiệm ra quyết định bố trí công tác khác Đối với các chức vụ bổ nhiệm mà trước đây không quy định thời hạn bổ nhiệm, nay xem xét để bổ nhiệm lại, thì thời hạn bổ nhiệm lại tình từ ngày ký quyết định bổ nhiệm giữ chức vụ hiện tại
1.2.4 Quy trình bổ nhiệm, bổ nhiệm lại cán bộ
1.2.4.1 Quy trình bổ nhiệm cán bộ
Quy chế BNCB và giới thiệu cán bộ ứng cử, ban hành theo Quyết định số QĐ/TW của BCT quy định quy trình BNCB thuộc diện Trung ương quản lý; tại Điều 6 của Quy chế trên đã quy định về trình tự, thủ tục BNCB thuộc diện BCT, BBT trực tiếp quản lý như sau:
68-Căn cứ nhu cầu công tác, ban thường vụ hoặc ban chấp hành đảng bộ các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện các bước:
1- Trình cơ quan cấp trên có thẩm quyền (bằng văn bản) về chủ trương, số lượng và
dự kiến phân công công tác đối với cán bộ được đề nghị bổ nhiệm
2- Đề xuất nhân sự cụ thể sau khi được cơ quan có thẩm quyền đồng ý về chủ trương:
Trang 37
2.1- Đối với nguồn nhân sự tại chỗ:
a- Trên cơ sở nguồn cán bộ trong quy hoạch và đánh giá, nhận xét cán bộ, người đứng đầu và các thành viên lãnh đạo cơ quan, đơn vị và cơ quan tham mưu đề xuất phương án nhân sự
b- Tập thể lãnh đạo thảo luận, lựa chọn nhân sự và thông qua nhận xét, đánh giá
để đưa ra lấy ý kiến của cán bộ trong cơ quan, đơn vị Nhu cầu bổ nhiệm một người có thể lựa chọn một người hoặc nhiều người
c- Tổ chức hội nghị lấy ý kiến của cán bộ chủ chốt về nhân sự:
- Thành phần tham gia hội nghị lấy ý kiến ở tỉnh, gồm: Các đồng chí trong BCH đảng bộ tỉnh; chủ tịch, phó chủ tịch hội đồng nhân dân, UBND cấp tỉnh; trưởng các ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh; bí thư các đảng bộ trực thuộc; chủ tịch hội đồng nhân dân, UBND các huyện, thành phố trực thuộc tỉnh
- Trình tự lấy ý kiến: Trao đổi, thảo luận về yêu cầu bổ nhiệm và tiêu chuẩn cán
bộ (tiêu chuẩn chung và tiêu chuẩn cụ thể đối với từng chức danh cán bộ) Thông báo danh sách cán bộ do tập thể lãnh đạo giới thiệu; tóm tắt lý lịch, quá trình học tập, công tác; nhận xét, đánh giá ưu, khuyết điểm, mặt mạnh, mặt yếu, triển vọng phát triển và dự kiến phân công công tác Giới thiệu cán bộ bổ sung (ngoài danh sách nhân sự do tập thể lãnh đạo giới thiệu) Ghi phiếu lấy ý kiến (không phải ký tên)
Hướng dẫn số 09-HD/BTCTW của Ban Tổ chức Trung ương Đảng nêu rõ thêm:
Tổ chức lấy ý kiến của cán bộ chủ chốt phải đúng trình tự, đối tượng (quy định tại điểm c, mục 2-1, Điều 6 của Quy chế) nhằm bảo đảm thật sự dân chủ, khách quan Phiếu lấy ý kiến của cán bộ chủ chốt về nhân sự do tập thể lãnh đạo
dự kiến được in thành danh sách (xếp thứ tự ABC theo tên), ghi rõ tuổi, chức vụ, đơn vị công tác [4, tr.17]
Hình thức bỏ phiếu tín nhiệm bằng phiếu kín, không phải ký tên và có thể ghi thêm ý kiến đề xuất giới thiệu nhân sự ngoài danh sách dự kiến Phiếu lấy ý kiến được quản lý, lưu giữ theo chế độ tài liệu mật Kết quả phiếu tín nhiệm có giá trị tham khảo quan trọng, là một trong những căn cứ để xem xét, nhưng không phải là căn cứ duy nhất
và chủ yếu để quyết định BNCB
Trang 38
d- Người đứng đầu cùng với tập thể lãnh đạo: Phân tích kết quả tổng hợp phiếu lấy ý kiến tại hội nghị cán bộ chủ chốt Xác minh, kết luận những vấn đề mới nảy sinh (nếu có) Lấy ý kiến bằng văn bản của BTV đảng uỷ hoặc đảng uỷ cơ quan (những nơi không có BTV) về nhân sự được đề nghị bổ nhiệm Tập thể lãnh đạo thảo luận, nhận xét, đánh giá và biểu quyết nhân sự (bằng phiếu kín); nhân sự đề nghị bổ nhiệm phải được đa số các thành viên trong tập thể lãnh đạo tán thành
đ- Làm tờ trình đề nghị cấp trên bổ nhiệm: Trường hợp người đứng đầu cơ quan, đơn vị và tập thể lãnh đạo có ý kiến khác nhau thì cần báo cáo đầy đủ lên BCT, BBT xem xét, quyết định Trường hợp tập thể lãnh đạo giới thiệu hai người có số phiếu ngang nhau thì chọn nhân sự do người đứng đầu giới thiệu để trình, đồng thời báo cáo đầy đủ các ý kiến khác nhau để BCT, BBT xem xét, quyết định
2.2- Đối với nguồn nhân sự từ nơi khác:
a- Người đứng đầu, các thành viên lãnh đạo cơ quan, đơn vị đề xuất nhân sự, hoặc cơ quan tham mưu của Trung ương Đảng giới thiệu
b- Tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị thảo luận, thống nhất về chủ trương và chỉ đạo tiến hành một số công việc sau:
- Gặp cán bộ được đề nghị bổ nhiệm để trao đổi ý kiến về yêu cầu nhiệm vụ công tác
- Trao đổi ý kiến với tập thể lãnh đạo và thường vụ đảng uỷ cơ quan nơi cán bộ đang công tác về chủ trương điều động; lấy nhận xét, đánh giá của tập thể lãnh đạo và thường vụ cấp uỷ đối với nhân sự; xác minh lý lịch của cán bộ
- Thảo luận, nhận xét, đánh giá và biểu quyết nhân sự (bằng phiếu kín)
Trường hợp cơ quan cấp trên có dự kiến điều động, BNCB từ nguồn nhân sự ngoài cơ quan, đơn vị, thì trao đổi ý kiến với tập thể lãnh đạo của cơ quan tiếp nhận cán
bộ về dự kiến điều động (nếu cơ quan đó không chủ động đề nghị bổ nhiệm cán bộ)
c- Làm tờ trình đề nghị cấp trên bổ nhiệm Trường hợp cán bộ bảo đảm được tiêu chuẩn bổ nhiệm, nhưng chưa được cơ quan nơi cán bộ đang công tác nhất trí điều động, thì
cơ quan có yêu cầu bổ nhiệm, hoặc cơ quan tham mưu về công tác cán bộ vẫn có thể báo cáo đề nghị BCT, BBT xem xét, quyết định
Trang 39
Theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khoá X) về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và các hướng dẫn của Trung ương, trình tự BNCB được thực hiện như sau: Trường hợp cán bộ lãnh đạo quản lý thuộc các ban, cơ quan trực thuộc cấp uỷ đảng, thì sau khi thực hiện đầy đủ quy trình nhân sự, BTV cấp uỷ trực tiếp ra quyết định BNCB Trường hợp cần BNCB thông qua bầu cử, thì sau khi thực hiện đầy đủ quy trình nhân sự, BTV cấp uỷ ra nghị quyết giới thiệu nhân sự để các cấp chính quyền, đoàn thể (cơ quan dân cử) căn cứ quy định của pháp luật, hoặc điều lệ của mỗi đoàn thể để thực hiện việc bầu cử các chức danh lãnh đạo, quản lý
1.2.4.2 Quy trình bổ nhiệm lại cán bộ
Quyết định số 68-QĐ/TW của BCT quy định quy trình, thủ tục bổ nhiệm lại cán
bộ, gồm các nội dung sau:
1 Cán bộ làm báo cáo tự nhận xét, đánh giá việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ trong thời hạn giữ chức vụ; 2 Tập thể cán bộ công chức trong đơn
vị tham gia ý kiến bằng phiếu kín; 3 Cán bộ đứng đầu cơ quan, đơn vị trực tiếp sử dụng cán bộ nhận xét, đánh giá và đề xuất ý kiến có bổ nhiệm lại hay không Tập thể lãnh đạo xem xét quyết định, hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền quyết định theo phân cấp quản lý cán bộ [17, tr.8-9]
Hướng dẫn số 01-HD/BTCTU-SNV ngày 05/5/2009 của Ban Tổ chức Tỉnh uỷ -
Sở Nội vụ tỉnh Bắc Giang về BNCB và giới thiệu cán bộ ứng cử, nêu trình tự, thủ tục bổ nhiệm lại cán bộ như sau:
Trước thời hạn bổ nhiệm lại ít nhất 30 ngày, người đứng đầu cơ quan, đơn
vị yêu cầu cán bộ làm báo cáo tự nhận xét, đánh giá việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ trong thời hạn giữ chức vụ gửi đến cơ quan có thẩm quyền quản lý cán bộ, nếu tự xét thấy có đủ tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm lại thì đề nghị cấp
có thẩm quyền bổ nhiệm lại
Trước thời hạn bổ nhiệm lại ít nhất 20 ngày người đứng đầu cơ quan, đơn vị phải chủ động phối hợp với cơ quan tổ chức cán bộ có thẩm quyền, tổ chức hội nghị cán bộ để xin ý kiến bằng phiếu kín nhận xét, đánh giá cán bộ trước khi bổ nhiệm lại
Trang 40
Tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị trực tiếp sử dụng cán bộ họp để thảo luận, nhận xét, đánh giá cán bộ và biểu quyết bằng phiếu kín về việc có bổ nhiệm lại hay không bổ nhiệm lại Theo thẩm quyền được phân cấp về quản
lý cán bộ, người đứng đầu cơ quan đơn vị ra quyết định bổ nhiệm lại hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền quyết định
Đối với các chức danh cán bộ thuộc diện BTV Tỉnh uỷ quản lý thì làm đầy
đủ các thủ tục, hồ sơ đề nghị gửi về Ban Tổ chức Tỉnh uỷ để thẩm định, trình cấp
có thẩm quyền xem xét, quyết định [48, tr.13-14]
Như vậy, theo quy định của Trung ương, việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại cán bộ diện
BTV tỉnh uỷ quản lý được thực hiện theo đúng nguyên tắc, trình tự, thủ tục, bảo đảm thống nhất trong toàn Đảng Các cấp uỷ đảng căn cứ quy định, hướng dẫn của Trung ương để triển khai, thực hiện đạt kết quả, góp phần xây dựng ĐNCB lãnh đạo, quản lý ở các cấp thực sự trong sạch, vững mạnh, đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của tình hình, nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới
1.3 BỔ NHIỆM CÁN BỘ DIỆN BAN THƯỜNG VỤ TỈNH UỶ BẮC GIANG QUẢN LÝ - THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ KINH NGHIỆM
1.3.1 Thực trạng đội ngũ cán bộ diện Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Bắc Giang quản
lý
Theo số liệu tổng hợp của Ban Tổ chức Tỉnh uỷ Bắc Giang: Đến tháng 6/2009, tổng số cán bộ diện BTV Tỉnh ủy Bắc Giang quản lý có 322 đồng chí, chiếm khoảng 1,1% đội ngũ CBCC toàn tỉnh Phân tích cụ thể như sau:
- Về độ tuổi: Tuổi đời bình quân 51,5 tuổi; trong đó: từ 40 trở xuống có 14 đồng chí, bằng 4,3%; từ 41-50 tuổi có 123 đồng chí, bằng 38,2%; trên 50 tuổi có 185 đồng chí, bằng 57,5%
- Về trình độ chuyên môn: đại học có 260 đồng chí, bằng 80,7%; trên đại học có
62 đồng chí, bằng 19,3%
- Về lý luận chính trị: cao cấp, cử nhân có 303 đồng chí, bằng 94,1%; trung cấp
có 19 đồng chí, bằng 5,9%