Bài tập cá nhân Văn bản quy phạm pháp luật Câu 1 Những nhận định sau đây đúng hay sai, giải thích tại sao? 1 Văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước, các cá nhân, tổ chức ban hành Sai Vì văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà được ban hành hoặc phối hợp ban hành ( không phải tất cả các cơ quan nhà nước mà là các cơ quan nhà nước được quy định trong luật ban hành 2015) 2 Văn bản quy phạm pháp luật không thể điều chỉnh những quan hệ xã hội xuất hiện trước khi văn bản đó được ban.
Trang 1Bài tập cá nhân: Văn bản quy phạm pháp luật
Câu 1: Những nhận định sau đây đúng hay sai, giải thích tại sao?
1.Văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước, các cá nhân, tổ chức ban hành Sai Vì văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà được ban hành hoặc phối hợp ban
hành ( không phải tất cả các cơ quan nhà nước mà là các cơ quan nhà nước được quy định trong luật ban hành 2015)
2 Văn bản quy phạm pháp luật không thể điều chỉnh những quan hệ xã hội xuất hiện trước khi văn bản đó được ban hành.
Sai: Thông thường, văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực áp dụng trong khoảng thời gian
từ ngày văn bản có hiệu lực cho đến ngày văn bản hết hiệu lực, trừ một số trường hợp ví dụ như: Một phần nội dung của văn bản có hiệu lực trở về trước: Phần nội dung có hiệu lực trở
về trước đó sẽ được áp dụng trước thời điểm văn bản có hiệu lực
3 Trong những trường hợp thật cần thiết, các văn bản quy phạm pháp luật đều có thể quy định hiệu lực trở về trước (hiệu lực hồi tố).
Đúng Vì đây là những trường hợp cần thiết
4 Tất cả các văn bản do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành thì đều là văn bản quy phạm pháp luật
Sai Vì các văn bản quy phạm pháp luật ban hành do các cơ quan Nhà nước được chỉ định
ban hành
5 Các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở trung ương ban hành thì đều có hiệu lực trên phạm vi cả nước.
Đúng Vì theo nguyên tắc chung các văn bản QPPL của CQNN trung ương có hiệu lực trong
phạm vi cả nước và được áp dụng đối với mọi cơ quan , tổ chức , cá nhân
Câu 2: Dựa trên các đặc điểm của văn bản quy phạm pháp luật, hãy xác định văn bản nào dưới đây được xem là văn bản quy phạm pháp luật, giải thích tại sao:
+ Thông báo số 195/TB-UBND của UBND Tp Hà Nội ngày 31/7/2008 về việc treo cờ tổ quốc.
+ Quyết định 43/2008/QĐ-UBND của UBND Tp Hà Nội ngày 03/7/2008 về việc phê chuẩn
và ban hành điều lệ tổ chức và hoạt động của Công ty TNHH một thành viên Điện ảnh Hà Nội.
+ Quyết định 02/2008/QĐ-UBND của UBND Tp Hà Nội ngày 09/01/2008 Ban hành quy định về quản lý hoạt động bán hàng rong trên địa bàn Tp Hà Nội
=>Văn bản thứ 2 và 3 là văn bản QPPL vì đây là quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành về việc quản lý và phát triển kinh tế-xã hội, an ninh… ở địa phương và có những đặc điểm của văn bản QPPL như:
+ Văn bản pháp luật được ban hành bởi chủ thể có thẩm quyền
+ Nội dung của văn bản pháp luật là ý chí của Nhà nước
+ Văn bản pháp luật được ban hành theo thủ tục do pháp luật quy định
+ Văn bản pháp luật được trình bày theo hình thức do pháp luật quy định
+ Văn bản pháp luật luôn mang tính bắt buộc và được bảo đảm thực hiện bởi Nhà nước
Câu3 : Hiệu lực hồi tố là gì? Cho ví dụ? Việt Nam có áp dụng hiệu lực hồi tố không? Cho ví dụ?
-Hồi tố được hiểu là hiệu lực trở về trước của một hoặc nhiều quy phạm pháp luật hình sự đối với hành vi được pháp luật hình sự quy định là tội phạm so với quy phạm pháp luật hình
sự tại thời điểm có hiệu lực thi hành Điều này thường áp dụng trong các văn bản quy phạm pháp luật, và đặc biệt luật hình sự thì thường gặp nhiều hơn
Trang 2-Ví dụ: Ngày 30/12/2020 Nghị quyết 03/2020/NQ_HĐTP hướng dẫn áp dụng quy định của Bộ luật hình sự trong xét xử tội phạm tham nhũng và tội phạm khác về chức vụ Ngày có hiệu lực 15/02/2021
-Luật hình sự Việt Nam không có hiệu lực hồi tố và cũng không có một văn bản cụ thể nào xác định khái niệm hay đặc điểm của hồi tố Đơn giản tội được quy định trong các văn bản pháp luật tức không có tội nếu không có luật Theo nguyên tắc này đạo luật hình sự chỉ có hiệu lực thi hành đối với tội phạm xảy ra khi đạo luật đó có hiệu lực thi hành và trước khi khi đạo luật đó mất hiệu lực Nếu hành vi đã được thực hiện trước khi có luật thì không thể áp dụng điều luật đó để buộc họ chịu trách nhiệm hình sự.Tuy nhiên,vì những lý do nhân đạo khi những quy định của luật mới khoan hồng hơn so với luật cũ và sự cần thiết bảo vệ lợi ích Nhà nước của xã hội và lợi ích của công dân thì việc áp dụng hiệu lực hồi tố là cần thiết.Song việc áp dụng hiệu lực hồi tố cũng bó hẹp trong một vài trường hợp
-Ví dụ: Ngày 27/11/2015, Quốc hội thông qua Bộ luật Hình sự 2015, trong đó Điều 321 quy định: “Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng, đã
bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa
án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm ” Bộ luật này có hiệu lực từ 01/01/2018.Tuy nhiên, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn, kể từ ngày 01/7/2016 (Bộ luật Hình sự 2015 chưa có hiệu lực), nếu hành vi đánh bạc trái phép dưới 05 triệu đồng, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi tổ chức đánh bạc hoặc chưa bị kết án về tội đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc hoặc đã bị kết án về tội đánh bạc hoặc tội tổ chức đánh bạc nhưng đã được xóa án tích mới
bị phát hiện thì áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 để tuyên bị cáo không phạm tội và đình chỉ vụ án (theo Bộ luật Hình sự 1999, đánh bạc bằng tiền, hiện vật từ 01 triệu đồng đã bị xử lý hình sự).Như vậy, trong trường hợp nêu trên, Tòa án nhân dân tối cao đã cho phép áp dụng văn bản chưa có hiệu lực nhưng có lợi cho người thực hiện hành vi