HỌC VIỆN TÀI CHÍNH---- ----TIỂU LUẬN MÔN LỊCH SỬ CÁC HỌC THUYẾT KINH TẾ ĐỀ BÀI: Lý thuyết giá trị của các nhà kinh tế tư sản Cổ điển.. Tài liệu tham khảo:...11 1 MỞ ĐẦU Sau một thời gia
Trang 1HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
TIỂU LUẬN MÔN LỊCH SỬ CÁC HỌC THUYẾT KINH TẾ
ĐỀ BÀI: Lý thuyết giá trị của các nhà kinh tế tư sản Cổ điển C.Mác đã
kế thừa và phát triển lý thuyết này như thể nào? Sự vận dụng lý thuyết này ở Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0
Họ và Tên : Nguyễn Thùy Trang
Mã sinh viên : Khóa lớp tín chỉ :
Niên chế : Ngày thi : 18/12/2021 Giờ thi : 8h30
ID phòng thi : Bài thi môn : Lịch sử các học thuyết kinh tế Hình thức thi : Tiểu luận
Thời gian làm bài : 3 ngày
Hà Nội, Ngày 18 tháng 12 năm 2021
MỤC LỤ
Trang 2I. MỞ ĐẦU 2
II. NỘI DUNG 3
2.1 Nội dung các học thuyết của các đại biểu tư sản cổ điển 3 2.1.1 Hoàn cảnh ra đời, đặc điểm của các học thuyết kinh tế 3
2.1.2 Lí thuyết giá trị lao động của W.Petty 4
2.1.3 Lí thuyết giá trị của A.Smith 5
2.1.4 Lý thuyết giá trị lao động của D.Ricardo 5
2.1.5 Lý thuyết giá trị của Simonde 6
2.2 C.Mác kế thừa và phát triển những lí tuyết của các đại biểu tư sản cổ điển 2.2.1 Hoàn cảnh ra đời 7
2.2.2 Đặc điểm 7
2.2.3 Cách vận dụng lí thuyết giá trị đối với Việt Nam 8
III. KẾT LUẬN 10
IV. Tài liệu tham khảo: 11
1 MỞ ĐẦU
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu môn học lịch sử các học thuyết kinh tế, tôi thấy rằng kinh tế chính trị tư sản cổ điển là tư tưởng kinh tế của giai cấp tư sản nhưng đó là những tư tưởng kinh tế của giai cấp tư sản trong giai đoạn chống chế độ phong kiến và thiết lập phương thức sản xuất TBCN Giai cấp tư sản đang đóng vai trò cách mạng trong lịch sử, tư tưởng của nó phản ánh sự tiến bộ chung của xã hội Kinh tế chính trị tư sản cổ điển là một trường phái khoa học trong lịch sử các học thuyết kinh tế Họ đã nghiên cứu những mối quan hệ nội tại của các quan hệ sản xuất tư sản, nghiên cứu để
Trang 3vạch ra bản chất của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa Với một hệ thống lý luận đã đặt nền móng cho khoa học kinh tế, điều này có ý nghĩa đặc biệt đối với sự phát triển của kinh tế học hiện đại ở tất cả nước đang thực hiện nền kinh tế thị trường, trong đó có nước ta
Tuy học thuyết của họ đứng trên lập trường của giai cấp tư sản và còn có những hạn chế nhất định, song những thành tựu mà họ đạt được có ý nghĩa hết sức to lớn đối với các nhà nghiên cứu kinh tế sau này Và có thể nói, học thuyết kinh tế của các nhà tư sản cổ điển là nền tảng lý luận để C.Mác -Ănghen và sau này là Lênin kế thừa và phát triển thành một hệ thống lý luận
có ý nghĩa mang tầm giá trị vượt thời đại và không chỉ là nền tảng cho việc phát triển kinh tế ở các nước XHCN mà cả cho các nước trên thế giới Chính
vì thế tôi chọn đề tài về các lý thuyết giá trị của các nhà kinh tế tư sản Cổ điển
và cách C.Mác đã kế thừa, phát triển lý thuyết này Từ đó Việt Nam ta có thể học hỏi và vận dụng lí thuyết đó trong bối cảnh đất nước có những sự chuyển biến về hội nhập toàn cầu cũng như cuộc cách mạng công nghiệp thời kì 4.0
Trang 42 NỘI DUNG.
2.1 Nội dung các học thuyết của các đại biểu tư sản cổ điển.
thuyết kinh tế.
2.1.1.1 Hoàn cảnh ra đời
Đến những năm 40 của thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản đã giành được địa
vị thống trị Sự ra đời của chủ nghĩa tư bản làm thay đổi căn bản cơ cấu giai cấp xã hội Trong xã hội tư bản chủ nghĩa có hai giai cấp cơ bản là giai cấp tư sản giữ vị trí thống trị và giai cấp vô sản Mâu thuẫn vốn có của CNTB đặc biệt là mâu thuẫn giữa giai cấp tư bản và vô sản ngày càng sâu sắc Phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại chế độ bóc lột áp bức tư bản chủ nghĩa càng lên cao, điển hình là cuộc khởi nghĩa của thợ dệt Lyon ở Pháp, phong trào Hiến chương ở Anh trong những năm 30-40 của thế kỷ XIX Phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản đi từ tự phát đến tự giác, từ đấu tranh kinh tế đến đấu tranh chính trị Điều đó đòi hỏi phải có lý luận cách mạng làm
vũ khí tư tưởng cho giai cấp vô sản - chủ nghĩa Mác ra đời
2.1.1.2 Đặc điểm
Thứ nhất, chuyển đối tượng nghiên cứu từ lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vực sản xuất, nghiên cứu các vấn đề kinh tế của nền sản xuất TBCN đặt ra Thứ hai, lần đầu tiên họ xây dựng được một hệ thống các phạm trù và các quy luật của nền kinh tế thị trường, như phạm trù giá trị giá cả, lợi nhuận, tiền lương, địa tô, lợi tức, các quy luật giá trị, cung cầu, lưu thông tiền tệ Thứ ba, đề cao tính quy luật trong nền kinh tế, cho rằng các quy luật kinh tế của chủ nghĩa tư bản có tính tự nhiên, tuyệt đối, vĩnh viễn, hợp lí và tất yếu Như vậy, những kết luận của họ mang tính phi lịch sử lẫn lộn giữa yếu tố khoa học và yếu tố tầm thường
Trang 5Thứ tư, áp dụng rộng rãi phương pháp khoa học mới, phương pháp của khoa học tự nhiên, là nghiên cứu một cách khách quan các sự vật, hiện tượng,
sử dụng rộng rãi phương pháp trừu tượng hóa khoa học trong nghiên cứu kinh tế
Thứ năm, họ ủng hộ tư tưởng tự do kinh tế, chống lại sự can thiệp của Nhà nước vào kinh tế
Khi nghiên cứu về giá trị lao động, ông dùng thuật ngữ “giá cả” và chia thành “giá cả chính trị” và “giá cả tự nhiên” Theo ông giá cả chính trị là “giá
cả thị trường" nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố ngẫu nhiên, thường xuyên thay đổi nên rất khó xác định.Còn giá cả tự nhiên là do thời gian lao động hao phí quyết định và năng suất lao động có ảnh hưởng đến mức hao phí đó Như vậy, W.Petty là người đầu tiên tìm thấy cơ sở của giá cả tự nhiên là lao động Ông kết luận rằng: số lượng lao động bằng nhau bỏ vào sản xuất là cơ sở để so sánh giá trị hàng hoá Giá cả tự nhiên tỉ lệ nghịch với năng suất lao động khai thác bạc hay vàng W.Petty đặt vấn đề nghiên cứu lao động giản đơn và lao động phức tạp nhưng không thành Tuy nhiên, lý thuyết giá trị lao động của ông còn chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa trọng thương Ông chỉ thừa nhận lao động khai thác vàng bạc là nguồn gốc của giá trị, còn giá trị các hàng hoá khác chỉ được xác định nhờ quá trình trao đổi với vàng bạc, nói một cách khác là lao động trong các ngành khác chỉ tạo nên của cải khi so sánh với lao động tạo ra tiền Mặt khác ông có luận điểm nổi tiếng là: “Lao động là cha, còn đất là mẹ của mọi của cải vật chất” Về phương diện của cải vật chất, đó
là công lao to lớn của ông Nhưng sai lầm là ông đã coi hai yếu tố cả lao động
và đất đai là nguồn gốc của giá trị
Ông thừa nhận lý luận giá trị của W.Petty và chỉ ra rằng: tất cả các loại lao động đều tạo ra giá trị Lao động là thước đo cuối cùng của giá trị A.Smith phân biệt giá trị sử dụng với giá trị trao đổi và kết luận giá trị sử dụng không
Trang 6quyết định giá trị trao đổi A.Smith nêu lên hai định nghĩa giá trị hàng hoá: Thứ nhất: Giá trị hàng hoá do hao phí lao động để sản xuất ra hàng hoá quyết định Lao động là thước đo của mọi giá trị Thứ hai: Giá trị hàng hoá được quyết định bởi số lượnglao động có thể mua được hàng hoá này
Bàn về cơ cấu giá trị hàng hóa, A.Smith cho rằng, trong chủ nghĩa tư bản, giá trị được quyết định bởi thu nhập, bao gồm tiền lương, lợi nhuận và địa tô Như vậy, nếu “mượn " công thức giá trị hàng hóa của C.Mác thì theo A.Smith giá trị hàng hóa = v+m
Ông phân biệt giá cả tự nhiên và giá cả thị trường Theo ông: Giá cả tự nhiên là biểu hiện bằng tiền của giá trị Giá cả thị trường là giá bán Giá cả tự nhiên có tính chất khách quan, giá cả thị trường phụ thuộc vào nhiều yếu tố như quan hệ cung - cầu, độc quyền
A.Smith nêu ra hai quy luật quyết định giá trị hàng hóa: Thứ nhất: Trong sản xuất hàng hóa giản đơn, giá trị do lao động quyết định Thứ hai: Trong sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa, giá trị do các nguồn thu nhập quyết định Bàn về mối quan hệ giữa giá trị hàng hóa và năng suất lao động A.Smith cho rằng, khi năng suất lao động tăng thì giá trị hàng hóa giảm
Ông phân biệt rõ 2 thuộc tính của hàng hoá là giá trị sử dụng và giá trị trao đổi và chỉ rõ giá trị sử dụng là điều kiện cần thiết cho giá trị trao đổi, nhưng không phải là thước đo của nó Ricardo còn đặt vấn đề về giá trị tuyệt đối Giá trị trao đối là hình thức cần thiết và có khả năng duy nhất để biểu hiện giá trị tuyệt đối Ông nêu ra là định nghĩa “Giá trị lao động hao phí quyết định” là đúng, còn định nghĩa “Giá trị lao động mà người ta có thể mua được bằng hàng hoá này quyết định” là sai Theo ông, không phải chỉ trong nền sản xuất hàng hoá giản đơn mà ngay cả trong nền sản xuất lớn TBCN, giá trị vẫn
do lao động quyết định
Ricardo cũng khẳng định “Giá trị là do lao động hao phí quyết định” và cấu tạo giá trị hàng hoá bao gồm 3 bộ phận là: c+v+m, nhưng ông cũng chưa phân tích được sự dịch chuyển “c” vào sản phẩm mới diễn ra như thế nào
Trang 7Phương pháp nghiên cứu của ông còn có tính siêu hình Ông coi giá trị là phạm trù vĩnh viễn Ông chưa phân biệt được giá trị hàng hoá và giá cả sản xuất, chưa thấy được mâu thuẩn giữa giá trị và giá trị sử dụng vì chưa có được
lý thuyết tính hai mặt của lao động
Ông thấy được mâu thuẫn giữa giá trị sử dụng và giá trị của hàng hoá Ông đã tiến thêm 1 bước so với D.Ricardo là đưa ra thước đo giá trị hàng hoá:
“thời gian lao động xã hội cần thiết” Do đó, ông đã qui lao động thành mối liên hệ giữa nhu cầu xã hội và thời gian lao động xã hội cần thiết để thoả mãn nhu cầu
Tuy nhiên, so với D.Ricardo thì Sismondi còn có chỗ thụt lùi: D.Ricardo coi giá trị tương đối của hàng hoá được đo bằng lượng lao động chi phí để sản xuất ra hàng hoá, còn Sismondi, giá trị tương đối của hàng hoá được qui định
bởi cạnh tranh, bởi lượng cầu về hàng hoá
2.2 C.Mác kế thừa và phát triển những lí tuyết của các đại biểu tư sản cổ điển.
Những tư trưởng kinh tế xuất hiện từ thời cổ đại và nó không ngừng được phát triển qua xã hội phong kiến Đến chủ nghĩa tư bản các học thuyết kinh tế đã được hình thành: đầu tiên là học thuyết kinh tế trọng thương, trọng nông, tiếp đến là các học thuyết kinh tế tư sản cổ điển, học thuyết kinh tế tiểu
tư sản, học thuyết kinh tế không tưởng… Những học thuyết kinh tế này đã đạt được nhiều thành tựu khoa học, nhưng cũng còn có những hạn chế K.Marx, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin đã kế thừa những tinh hoa của các học thuyết kinh
tế đó, đồng thời bố sung, phát triển và đưa học thuyết kinh tế Mác - Lênin lên đỉnh cao của nhân loại
Trang 82.2.1 Hoàn cảnh ra đời
Những năm 40 của thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản đã xác lập được địa vị thống trị Trong xã hội tư bản hai giai cấp cơ bản đã hình thành: giai cấp tư sản và giai cấp vô sản làm thuê Giai cấp tư sản nắm toàn bộ tư liệu sản xuất
và quyền thống trị toàn bộ đời sống xã hội Giai cấp vô sản mất hết tư liệu sản xuất, muốn lao động để có thu nhập phải làm thuê cho giai cấp tư sản và chịu
sự bóc lột của giai cấp tư sản
Đây là thời kỳ đại công nghiệp tư bản của chủ nghĩa, giai cấp vô sản công nghiệp ngày càng lớn mạnh ở các nước tư bản Tây Âu Giai cấp tư sản
đã dựa vào nền đại công nghiệp cơ khí và sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật để tăng cường bóc lột giai cấp vô sản, làm cho mâu thuẫn giữa hai giai cấp ngày căng trở nên sâu sắc Giai cấp vô sản đã từng bước đứng lên đấu tranh với giai cấp tư sản và đã trở thành phong trào rộng lớn nhưng tất cả các phong trào đầu tranh của công nhân ở giai đoạn này đều mang tính tự phát, nên một yêu cầu khách quan là phải có lý luận cách mạng làm vũ khí tư tưởng cho giai cấp
vô sản Chủ nghĩa Mác ra đời để đáp ứng yêu cầu đó của thực tiễn cách mạng
2.2.2.1 Quan niệm mới về đối tượng và phương pháp của
kinh tế chính trị
Các nhà kinh tế trước đó coi đối tượng của kinh tế chính trị là phương thức làm tăng của cải, tìm cách để làm tăng lợi nhuận, hoặc là tìm cách phân phối hợp lý của cải đã được tạo ra, tức là các mối quan hệ kinh tế giữa người với người trong quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng Từ đó vạch rõ quy luật vận động, phát triển của quan hệ sản xuất tức là các quy luật kinh tế Đôi tượng nghiên cứu mới của kinh tế chính trị là các quan hệ của sản xuất và trao đổi trong phương thức sản xuất mà các quan hệ đó hình thanh và phát triển Với quan niệm như vậy, lần đầu tiên trong lịch sử của kinh tế chinh trị học, đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị được xác định một cách khoa học, toàn diện ở mức độ khái quát cao, thống nhất biện chứng giữa sản
Trang 9xuất và lưu thông Điều này thể hiện sự phát triển của lý luận kinh tế chính trị của C.Mác so với các lý luận kinh tế chính trị trước ông
Ông đã áp dụng phương pháp mới trong nghiên cứu kinh tế chính trị: Phương pháp trừu tượng hóa khoa học và sử dụng phương pháp duy vật biện chứng để phân tích các hiện tượng và quá trình kinh tế khách quan
2.2.2.2 Quan điểm lịch sử vào việc phân tích các phạm trù,
các quy luật kinh tế.
Các nhà kinh tế học tư sản coi các phạm trù kinh tế tồn tại bên cạnh nhau, không có sự phát triển và chuyển hóa từ phạm trù kinh tế này sang phạm trù kinh tế khác Họ đồng nhất các quy luật kinh tế của CNTB với các quy luật tự nhiên và do đó coi CNTB tồn tại vĩnh viễn… Trái lại, C.Mác đã vạch rõ các phạm trù kinh tế không phải lúc nào cũng tồn tại song song với nhau, mà còn có sự phát triển, chuyển hóa từ hình thái này sang hình thái khác Chẳng hạn, các hình thái phát triển của giá trị không những chỉ là các hình thái khác nhau, mà còn phản ánh trình độ phát triển khác nhau của sản xuất và trao đổi hàng hóa
C.Mác thực hiện một cuộc cách mạng về học thuyết giá trị - lao động Các nhà kinh tế học trước C.Mác chỉ phân biệt rõ hai thuộc tính của hàng hóa: Giá trị sử dụng và giá trị trao đổi có mâu thuẫn (Sismonde) Trái lại, C.Mác khẳng định rằng hàng hóa là sự thống nhất biện chứng của hai thuộc tính: Giá trị sử dụng và giá trị Ông là người đầu tiên đưa ra lý luận về tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa, là lao động cụ thể và lao động trừu tượng Đây là chìa khóa để giải quyết một loạt các vấn đề khác trong kinh tế chính trị như: Chất lượng, sự hình thành các bộ phận giá trị (c+v+m)… giá trị hàng hóa; nguồn gốc của giá trị và giá trị sử dụng Ông là người đầu tiên vạch rõ nguồn gốc và bản chất của tiền tệ Đây là một trong những vấn đề bế tắc của các nhà kinh tế học cổ điển tư sản
Trang 102.2.3 Cách vận dụng lí thuyết giá trị đối với Việt Nam.
Nước ta hiện nay đang trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa “vận hành theo cơ chế thị trường theo định hướng XHCN" nên việc nghiên cứu lại những thành tựu về lý luận giá trị mà các nhà kinh tế tư sản cổ
- sự kế thừa của C.Mác về thành tựu ấy là rất cần thiết cho việc sản xuất trao đổi và lưu thông hàng hóa, nhất là trong thời kì cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 ngày nay
Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường
có sự quản lý của Nhà nước, định hướng xã hội chủ nghĩa Nền kinh tế vận động theo những kinh tế vốn có của kinh tế thị trường Các doanh nghiệp, hộ gia đình tự quyết định hành vi của mình để trả lời thỏa đáng 3 câu hỏi: sản xuất cái gì, sản xuất cho ai, sản xuất như thế nào Trên thị trường hàng hóa và dịch vụ, giá cả điều tiết cung cầu giúp lưu thông hàng hóa tạo sự tăng chưởng kinh tế cho đất nước
Mở rộng kinh tế đối ngoại, hội nhập vào thị trường khu vực và thế giới Chủ động hòa nhập, thực hiện đa dạng hóa kinh tế đối ngoại, tận dụng ngoại lực để phát huy nội lực, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế, định hướng đi lên xã hội chủ nghĩa
Đi cùng với sự phát triển của văn minh nhân loại đã chế tạo ra được nhiều những công cụ hỗ trợ sản xuất Điển hình là trong ngành công nghiệp
cơ khí - chế tạo, sự xuất hiện của những máy móc trang thiếy bị tân tiến đã không chỉ giúp làm gia tăng năng suất mà còn làm giảm đi chi phí sản xuất (giá trị lao động hao phí) từ đó mà thu được lợi nhuận nhiều hơn mà vẫn tiết kiệm được nhân công Hay trong ngành nông nghiệp cũng có sự thay đổi tích cực khi có sự tham gia của máy móc vào lao động sản xuất Không chỉ năng xuất sẽ tăng lên, giảm được chi phí lao động còn đem về nhiều lợi nhuận hơn
mà còn nâng cao chất lượng sản phẩm