Tuy nhiên, luận điểm này mâu thuẫn với quan điểm giá trị hàng hóa do lượng lao động hao phí sản xuất ra hàng hóa quyết định của ông.. A.Smith nêu ra hai quy luật quyết định giá trị hàng
Trang 1Họ và tên: Lương Phương Quỳnh Mã sinh viên: 2173403010701 Khóa/Lớp: (tín chỉ) CQ59/20.17 LT1 (niên chế): CQ59/20.17
Ngày thi: 27/12/2021 Ca thi: 13h30
BÀI THI MÔN: LỊCH SỬ HỌC THUYẾT KINH TẾ
Hình thức thi: Tiểu luận Thời gian thi: 3 ngày
Đề 1
Đề bài: Lý thuyết giá trị của các nhà kinh tế tư sản Cổ điển Anh C.Mác đã kế thừa và phát triển lý thuyết này như thế nào? Sự vận dụng lý thuyết giá trị của C.Mác ở Việt Nam hiện nay
Trang 2HỌC VIỆN TÀI CHÍNH KHOA KẾ TOÁN
-*** -TIỂU LUẬN MÔN: LỊCH SỬ HỌC THUYẾT KINH TẾ
ĐỀ BÀI:
Lý thuyết giá trị của các nhà kinh tế tư sản Cổ điển Anh C.Mác đã kế thừa và phát triển lý thuyết này như thế nào?
Sự vận dụng lý thuyết giá trị của C.Mác ở Việt Nam hiện nay.
Người thực hiện: Lương Phương Quỳnh
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN I: LỜI NÓI ĐẦU 4
PHẦN II: NỘI DUNG 5
1 LÝ THUYẾT GIÁ TRỊ CỦA CÁC NHÀ KINH TẾ TƯ SẢN CỔ ĐIỂN ANH 5
1.1LÝ THUYẾT GIÁ TRỊ LAO ĐỘNG( GIÁ TRỊ) CỦA WILLIAM PETTY 5
1.2LÝ THUYẾT GIÁ TRỊ CỦA ADAM SMITH 6
1.3LÝ THUYẾT GIÁ TRỊ CỦA DAVID RICARDO 6
2 SỰ KẾ THỪA VÀ PHÁT TRIỂN GIÁ TRỊ CỦA C.MÁC 8
2.1SỰ KẾ THỪA CỦA C.MÁC 8
2.2SỰ PHÁT TRIỂN CỦA C.MÁC 8
2.2.1 TÍNH CHẤT HAI MẶT CỦA HÀNG HÓA 8
2.2.2 LƯỢNG GIÁ TRỊ CỦA HÀNG HÓA 9
3.ỨNG DỤNG LÝ LUẬN GIÁ TRỊ CỦA C.MÁC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 9
PHẦN III: KẾT LUẬN 11
TÀI LIỆU THAM KHẢO 12
Trang 4PHẦN I:
LỜI NÓI ĐẦU
Các học thuyết kinh tế tư sản cổ điển ra đời vào cuối thế kỷ XVII, phát triển mạnh mẽ trong thế kỷ XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX Trường phái kinh tế chính trị tư sản cổ điển xuất hiện và phát triển mạnh nhất ở nước Anh và Pháp
Các nhà kinh tế tư sản tiêu biểu: W.Petty, A.Smith, D.Ricardo( người Anh)
và Sismonde( người Pháp)
Cuối thế kỷ XVII, nhiệm vụ của tích lũy nguyên thủy tư bản về cơ bản đã hoàn thành, vai trò của tư bản thương nghiệp giảm sút, lý luận trọng thương không còn đủ sức thuyết phục Thực tiễn đó đòi hỏi phải có lý luận mới thay thế cho lý luận trọng thương
Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, các công trường thủ công tư bản chủ nghĩa ra đời ngày càng nhiều cho thấy nguồn gốc của cải không phải sinh ra từ lưu thông mà từ sản xuất Điều này đã giúp các nhà kinh tế tư sản cổ điển đưa ra các học thuyết kinh tế khẳng định lao động làm thuê của những người nghèo là nguồn gốc làm giàu của các nhà tư bản
Trường phái kinh tế chính trị cổ điển ra đời đáp ứng được các yêu cầu đó Đặc biệt là những lý luận về giá trị của các nhà kinh tế tư sản Cổ điển Anh Ở Anh phải kể trước hết tới W.Petty, ông vẫn được coi là người sáng lập trường phái kinh tế học cổ điển nói chung, sau đó là A.Smith, linh hồn thực sự của kinh
tế học cổ điển, người thực hiện đầu tiên trong bước ngoặt đầu tiên trong lịch sử
tư tưởng kinh tế của nhân loại và đặc biệt là D.Ricardo, người phát triển các tư tưởng kinh tế học cổ điển tới đỉnh cao rõ nhất trước khi trường phái này bước vào thời kỳ khủng hoảng C.Mác đã kế thừa, phát triển lý thuyết giá trị ấy Qua tiểu luận, chúng ta sẽ tìm hiểu về những lý thuyết ấy cũng như vận dụng lý thuyết giá trị của C.Mác ở Việt Nam hiện nay
Trang 5PHẦN II:
NỘI DUNG
1 LÝ LUẬN GIÁ TRỊ CỦA CÁC NHÀ KINH TẾ TƯ SẢN CỐ ĐIỂN ANH 1.1 LÝ LUẬN GIÁ TRỊ LAO ĐỘNG( GIÁ TRỊ) CỦA WILLIAM PETTY.
W.Petty là người đặt nền móng cho lý thuyết giá trị lao động, ông là người đầu tiên xác định đúng đắn vai trò của lao động trong việc tạo ra giá trị, lao động
là nguồn gốc thực sự của của cải
Nghiên cứu giá trị lao động, ông dùng thuật ngữ giá cả bao gồm giá cả tự nhiên và giá cả chính trị Theo ông, giá cả tự nhiên do lượng lao động hao phí để sản xuất ra hàng hóa quyết định Giá cả chính trị( giá cả thị trường) do nhiều yếu
tố chi phối cho nên khó xác định chính xác
W.Petty quan niệm chỉ có lao động khai thác bạc( tiền) mới tạo ra giá trị Theo ông, giá trị của hàng hóa là sự phản ánh giá trị của tiền giống như ánh sáng mặt trăng là sự phản chiêu sánh sáng mặt trời vậy
Nghiên cứu quan hệ giữa năng suất lao động và giá trị hóa, W.Petty cho rằng giá cả tự nhiên của hàng hóa tỉ lệ nghịch với năng suất lao động Đây là quan điểm đúng được nhiều nhà kinh tế kế thừa và phát triển
W.Petty đưa ra luận điểm nổi tiếng: Lao động là cha, đất đai là mẹ của mọi của cải Tuy nhiên, luận điểm này mâu thuẫn với quan điểm giá trị hàng hóa do lượng lao động hao phí sản xuất ra hàng hóa quyết định của ông
1.2 LÝ LUẬN GIÁ TRỊ CỦA ADAM SMITH.
A.Smith phân biệt giá trị sử dụng với giá trị trao đổi và kết luận giá trị sử dụng không quyết định giá trị trao đổi Ông kịch liệt phê phán quan điểm của một số nhà kinh tế cho rằng ích lợi của sản phẩm quyết định giá trị trao đổi A.Smith nêu lên hai định nghĩa giá trị hàng hóa:
Thứ nhất: Giá trị hành hóa do hao phí lao động để sản xuất ra hàng hóa
quyết định Lao động là thước đo của mọi giá trị
Thứ hai: Giá trị hàng hóa được quyết định bởi số lượng lao động có thể mua
được hàng hóa này
Trang 6A.Smith cho rằng, trong chủ nghĩa tư bản, giá trị được quyết định bởi thu nhập, bao gồm tiền lương, lợi nhuận và địa tô Như vậy, nếu “mượn” công thức giá trị hàng hóa của C.Mác thì theo A.Smith giá trị hàng hóa = v + m
Theo A.Smith, giá cả tự nhiên là biểu hiện bằng tiền của giá trị, giá cả thị trường phụ thuộc vào nhiều yếu tố như quan hệ cung - cầu, độc quyền A.Smith cho rằng, khi năng suất lao động tăng thì giá trị hàng hóa giảm
A.Smith nêu ra hai quy luật quyết định giá trị hàng hóa: Trong sản xuất hàng hóa giản đơn, giá trị do lao động quyết định; Trong sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa, giá trị do các nguồn thu nhập quyết định
Như vậy, lý thuyết giá trị của A.Smith đã kế thừa và phát triển lý thuyết giá trị lao động của W.Petty Tuy vậy, do tính hai mặt trong phương pháp luận cho nên lý thuyết giá trị của A.Smith vẫn còn một số điểm hạn chế
1.3 LÝ LUẬN GIÁ TRỊ CỦA DAVID RICARDO.
Lý thuyết giá trị lao động giữ vị trí trung tâm trong các học thuyết kinh tế của D.Ricardo D.Ricardo đã rà soát lý thuyết giá trị của A.Smith, phê phán những quan điểm sai đồng thời kế thừa, phát triển những quan điểm đúng đắn, khoa học của A.Smith nên đạt tới đỉnh cao nhất so với những người trước và cùng thời với ông
D.Ricardo phê phán quan điểm nước đôi của A.Smith khi nêu ra hai định nghĩa giá trị hàng hóa Theo ông định nghĩa “ Giá trị hàng hóa do hao phí lao động quyết định” là đúng và định nghĩa còn lại là sai, cần vứt bỏ Quan điểm này của ông đã khẳng định nguyên lý: “Lao động là yếu tố duy nhất tạo ra giá trị hàng hóa” D.Ricardo định nghĩa: “Giá trị của hàng hóa hay số lượng của một hàng hóa nào khác mà hàng hóa đó trao đổi, là do số lượng lao động tương đối, cần thiết để sản xuất ra hàng hóa đó quyết định chứ không phải do khoản thưởng lớn hay nhỏ trả cho lao động quyết định”
D.Ricardo phân biệt giá trị sử dụng và giá trị trao đổi, khẳng định giá trị sử dụng không quyết định giá trị trao đổi Ông cho rằng, giá trị sử dụng là điều kiện cần thiết cho giá trị trao đổi, thước đo của giá trị trao đổi là hao phí để sản xuất
ra hàng hóa, lượng lao động đó tỉ lệ thuận với lao động tạo ra hàng hóa
Trang 7D.Ricardo cho rằng, lượng giá trị hàng hóa được quyết định bởi lao động đồng nhất của con người, chứ không phải lao động cá biệt Theo ông, giá trị hàng hóa được quyết định bởi lượng lao động hao phí trong điều kiện xấu nhất Ông đề cập tới làm lao động giản đơn và lao động phức tạp khi xác định giá trị hàng hóa, đồng thời khẳng định, cả trong sản xuất hàng hóa giản đơn và trong sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa, giá trị đều là do lao động quyết định
Về cơ cấu giá trị: Theo D.Ricardo, giá trị không chỉ được quyết định bởi lao động trực tiếp( lao động sống) mà còn bao gồm lao động cần thiết trước đó đã chi trong máy móc, công cụ sản xuất Ông đã chỉ ra rằng, giá trị hàng hóa không chỉ có tiền lương, lợi nhuận, địa tô mà còn có yếu tố lao động quá khứ Nếu
“mượn” công thức giá trị hàng hóa của C.Mác, thì theo D.Ricardo giá trị hàng hóa= (c1 + v + m)
D.Ricardo phân biệt giá cả tự nhiên và giá cả thị trường Ông cho rằng, không có một hàng hóa nào mà giá cả không bị ảnh hưởng của những biến động ngẫu nhiên hay tạm thời Việc tăng giá cả có thể là một nhân tố điều tiết một lượng cung không đủ so với cầu, điều tiết tiền tệ sụt giá, việc đánh thuế vào những vật phẩm thiết yếu Theo ông, giá cả không phải do cung cầu quyết định
mà cung cầu chỉ ảnh hưởng đến giá cả hàng hóa
D.Ricardo nêu ra hai quy luật quyết định lượng giá trị hàng hóa: Đối với hàng hóa phổ cập, giá trị do lao động quyết định; Đối với hàng hóa khan hiếm giá trị do giá trị sử dụng quyết định
Khi nghiên cứu mối quan hệ giữa năng suất lao động và giá trị hàng hóa, D.Ricardo tán thành quan điểm A.Smith: khi năng suất lao động tăng lên, giá trị hàng hóa giảm xuống và ngược lại
Trang 8Tuy lý thuyết giá trị của D.Ricardo có nhiều tiến bộ và đạt đến đỉnh cao tiến gần đến C.Mác song vẫn còn những giới hạn nhất định Do chưa nhận thức được tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa nên khi nghiên cứu lý luận giá trị D.Ricardo mới dừng lại ở lượng giá trị, chưa nghiên cứu chất của giá trị, đồng thời cho rằng, giá trị là một phạm trù vĩnh viễn và giá trị của những hàng hóa khan hiếm sẽ do giá trị sử dụng quyết định Mặt khác, D.Ricardo chưa phân biệt được giá trị hàng hóa với giá cả sản xuất
2 SỰ KẾ THỪA VÀ PHÁT TRIỂN LÝ THUYẾT GIÁ TRỊ CỦA C.MÁC 2.1 SỰ KẾ THỪA CỦA C.MÁC
Trước C.Mác, kinh tế chính trị học nói chung và lý luận về giá trị của các nhà kinh tế tư sản cổ điển Anh bắt đầu từ W.Petty và kết thúc ở D.Ricardo Dù đã
có nhiều nghiên cứu tuy nhiên cả ba đều có những hạn chế D.Ricardo cũng đã thấy được các thuộc tính của hàng hóa Nhưng ông lại không thể giải thích được vì sao có được hai mặt của thuộc tính đó
Sự kế thừa của C.Mác đó là đồng ý rằng giá trị trao đổi là một hình thái cần thiết và duy nhất có thể biểu hiện giá trị tuyệt đối của hàng hóa Có thể nói trường phái cổ điển Anh đã có công lao đóng góp lớn trong việc nghiên cứu ra phạm trù giá trị lao động làm tiền đề để Mác nghiên cứu và phát minh mới
2.2 SỰ PHÁT TRIỂN CỦA C.MÁC
Bên cạnh sự kế thừa, C.Mác đã phát triển thành lý thuyết giá trị của mình khi ông phát hiện ra tính hai mặt của hàng hóa
2.2.1 TÍNH CHẤT HAI MẶT CỦA HÀNG HÓA.
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa hai thuộc tính của hàng hóa với lao động sản xuất hàng hóa, C.Mác phát hiện ra rằng, sở dĩ hàng hóa có tính hai mặt: mặt
cụ thể và mặt trừu tượng của lao động
a) Lao động cụ thể:
Lao động cụ thể là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những nghề nghiệp chuyên môn nhất định, có mục đích riêng, đối tượng lao động, công cụ, phương pháp lao động riêng và kết quả riêng
Trang 9Mỗi loại lao động cụ thể tạo ra những sản phẩm có giá trị sử dụng khác nhau Phân công lao động xã hội càng phát triển, xã hội càng nhiều ngành nghề khác nhau, các hình thức lao động cụ thể càng phong phú, đa dạng, càng nhiều giá trị sử dụng Lao động cụ thể bảo tồn và di chuyển các giá trị cũ (C) và trong giá trị của sản phẩm mới
b) Lao động trừu tượng:
Lao động trừu tượng là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa không kể đến hình thức cụ thể của nó; đó là sự hao phí sức lao động của con người nói chung, với bất kể hình thức cụ thể như thế nào Lao động trừu tượng tạo ra giá trị mới của hàng hóa ( V+m)
Lao động trừu tượng là cơ sở để so sánh, trao đổi các giá trị sử dụng khác nhau
Toàn bộ giá trị hàng hóa do lao động làm ra trong quá trình lao động là(C+V+m) C.Mác là người đầu tiên phát hiện ra tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa, đã giúp ông hoàn thiện lý luận giá trị mà các nhà kinh tế trước đó không làm được Ngoài ra đó cũng là tiền để để ông xây dựng lý luận giá trị thặng dư, từ đó xây dựng nên phạm trù kinh tế chính trị
2.2.2 LƯỢNG GIÁ TRỊ CỦA HÀNG HÓA.
Lý luận giá trị của Mác có nội dung: “Giá trị hàng hóa là lao động của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa”
Lượng giá trị của hàng hóa tỉ lệ thuận với lượng lao động đã hao phí để sản xuất ra nó Trên thị trường, lượng giá trị trong một đơn vị hàng hóa được đo lường bởi thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa đó, nên sẽ
bị ảnh hưởng bởi các nhân tố năng suất và tính chất phức tạp của lao động Do
đó, muốn được lợi thì người sản xuất hàng hóa phải tập trung vào những yếu tố gây ảnh hưởng đến thời gian lao động, sao cho hao phí thời gian lao động cá biệt không được cao hơn thời gian lao động xã hội cần thiết
Trang 10Như vậy, dựa vào sự phát hiện tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa C.Mác đã hoàn thiện được lý thuyết giá trị lao động và khẳng định nguồn gốc của giá trị chính là lao động trừu tượng , lao động trừu tượng tạo
ra giá trị
3 ỨNG DỤNG LÝ LUẬN GIÁ TRỊ CỦA C.MÁC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.
Hiện nay nước ta đang trên đà hội nhập theo nền kinh tế thế giới với chính sách mở cửa hợp tác với các quốc gia Đảng ta đã đưa ra quan điểm "Một nền kinh tế phát triển theo mô hình nền kinh tế nhiều thành phần, theo định hướng
xã hội chủ nghĩa và dưới sự quản lý của nhà nước" Trong quá trình phát triển kinh tế, chúng ta chịu tác động của nhiều yếu tố khách quan Từ những lý luận giá trị của C.Mác chúng ta thấy lý thuyết đó là vô cùng thích hợp để Việt Nam ứng dụng nhằm phát triển đất nước trong thời đại công nghệ 4.0 hiện nay
Việt Nam tuy có xuất phát điểm chậm hơn so với các nước nhưng với sự
cố gắng, bản lĩnh và tinh thần dân tộc, từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu với 90% dân số làm nông nghiệp, Việt Nam đã xây dựng được cơ sở vật chất
-kỹ thuật, hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước đáp ứng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo ra môi trường thu hút nguồn lực xã hội cho phát triển dài hạn và bền vững Ngoài ra, chúng ta còn quan tâm đến phát triển khoa học công nghệ nhằm bảo đảm và phát huy giá trị sản xuất, mang lại nguồn thu cho nước nhà.Trong đó, tăng trưởng kinh tế với tốc độ khá cao trong khu vực và trên thế giới Năm 2017, tăng trưởng GDP của Việt Nam đạt 6,81%, cao nhất trong 10 năm trở lại đây.Lạm phát được kiểm soát tốt giúp kinh tế vĩ mô phát triển ổn định
Để ứng dụng tốt lý luận giá trị vào phát triển nền kinh tế thị trường ở nước
ta đặc biệt đề cập đến vai trò của Nhà nước Dù quy luật giá trị tồn tại một cách khách quan trong nền kinh tế, nhưng nhờ nắm vững tác dụng chủ đạo của các quy luật kinh tế, Nhà nước đã nâng cao dần trình độ công tác, kế hoạch hóa kinh
tế Đặc biệt trong thời điểm đại dịch COVID-19 vẫn đang có diễn biến phức tạp, nguy hiểm và khó lường tại Việt Nam Chính phủ cần có những chính sách để
Trang 11tháo gỡ khó khăn kịp thời, nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh, phục hồi kinh tế Hơn nữa còn góp phần củng cố niềm tin của người dân Điển hình
đó là tăng trưởng kinh tế 9 tháng đầu năm 2021 vẫn đạt 1,42%, đó là kết quả và nền tảng để chúng ta từng bước “bình thường mới” cuộc sống và phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu phát triển kinh tế
Ngoài ra các doanh nghiệp đã nâng cao sản xuất tạo ra nhiều sản phẩm chất lượng tốt để xuất khẩu đem lại nguồn ngoại tệ giá trị cho nước nhà
PHẦN III:
KẾT LUẬN
Qua bài tiểu luận, chúng ta đã hiểu thêm về lý thuyết giá trị của các nhà kinh tế tư sản cổ điển Anh được phát hiện bởi các nhà kinh tế nổi bật bao gồm: William Petty, Adam Smith và David Ricardo Từ đó ta đã thấy được những sự đóng góp và những mặt hạn chế còn tồn đọng lại của từng thuyết giá trị Chủ yếu nghiên cứu quá trình sản xuất và tái sản xuất hàng hóa trong nền kinh tế giản đơn nên chưa thấy được tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa Chưa nêu lên được bản chất của giá trị hàng hóa là do hao phí sức lao động tạo ra chứ không phải do lao động thuần túy tạo ra
Hơn nữa ta còn biết được C.Mác đã thành công trong việc kế thừa và phát triển những lý luận mà các bậc tiền bối để lại Ông phát hiện ra tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa Trên cơ sở này, Mác đã thực hiện một cuộc cách mạng trong kinh tế chính trị, ông đã xây dựng học thuyết giá trị lao động một cách có hệ thống và hoàn chỉnh
Bên cạnh đó, Việt Nam đã và đang ứng dụng lý thuyết giá trị của C.Mác trong thời điểm hiện tại Đặc biệt là thời kì dịch COVID-19 rất căng thẳng, nhưng kinh tế nước nhà vẫn luôn có điểm sáng, hướng tới phục hồi và phát triển đất nước