CHƯƠNG III CHƯƠNG IV KẾT QUẢ THẢO LUẬN 4 1 Đặc điểm dinh dưỡng 4 1 1 Hình thái giải phẫu hệ thống ống tiêu hóa cá Kết Kết quả quan sát hệ thống ống tiêu hóa cá Kết (Kryptopterus bleekeri) cho thấy Miệng Cá Kết có miệng rộng, miệng trên không co duỗi được, rạch miệng gần như nằm ngang, góc miệng chưa chạm tới bờ trước của mắt Răng Cá Kết có răng hàm nhỏ nhọn mọc thành nhiều hàng trên hàm, ngọn răng hướng vào xoang miệng, răng vòm miệng mọc thành một đám hình vòng cung Với đặc điểm miệng, răng như.
Trang 1CHƯƠNG IV KẾT QUẢ THẢO LUẬN4.1 Đặc điểm dinh dưỡng
4.1.1 Hình thái giải phẫu hệ thống ống tiêu hóa cá Kết
Kết quả quan sát hệ thống ống tiêu hóa cá Kết (Kryptopterus bleekeri) cho
thấy:
- Miệng: Cá Kết có miệng rộng, miệng trên không co duỗi được, rạch miệng
gần như nằm ngang, góc miệng chưa chạm tới bờ trước của mắt
- Răng: Cá Kết có răng hàm nhỏ nhọn mọc thành nhiều hàng trên hàm, ngọn
răng hướng vào xoang miệng, răng vòm miệng mọc thành một đám hình vòngcung Với đặc điểm miệng, răng như trên có thể bước đầu dự đoán cá Kếtthuộc loài cá ăn động vật
Hình 4.1: Hình thái răng, miệng cá Kết
- Lược mang: Lược mang cá Kết cứng, dài, mảnh, xếp thưa nằm trên xương
cung mang hướng vào xoang miệng hầu Ở cung mang thứ nhất có 14 - 17lược mang
- Thực quản: là phần nối tiếp xoang miệng hầu Thực quản ngắn, có vách dày,
mặt trong thực quản có nhiều nếp gấp nên co giản được Điều này giúp cá Kết
có thể nuốt được mồi to
Hình 4.2: Cấu tạo lược mang cá Kết (Kryptopterus bleekeri)
- Dạ dày: là phần nối tiếp thực quản, dạ dày có hình chữ J, to, vách dày, mặt
trong có nhiều nếp gấp, có thể giãn nở và lực co bóp rất lớn
- Ruột: Là đoạn cuối của ống tiêu hóa Nhiệm vụ tiêu hóa thức ăn và hấp thu
chất dinh dưỡng Ruột cá Kết gấp khúc, ngắn, vách tương đối dày
Hình 4.3: Cấu tạo ống tiêu hóa cá Kết (Kryptopterus bleekeri)
Trang 2Một chỉ số thường sử dụng để xác định tính ăn của cá là chỉ số tương quangiữa chiều dài ruột và chiều dài thân Theo Alikunhi và Rao (1951) cho rằngchiều dài ruột của các loài động vật thì phụ thuộc vào loại thức ăn tự nhiên màchúng tiêu thụ, chiều dài ruột tăng theo sự gia tăng tỉ lệ các loại thức ăn thựcvật trong khẩu phần ăn của cá (trích từ Phạm Thanh Liêm và Trần Đắc Định,2004).
Bảng 4.1: Các thông số về chiều dài ruột và chiều dài thân của cá Kết
Chiều dài tổng (cm)
Chiều dài ruột (cm)
Tương quan chiều dài ruột/chiều dài tổng (RLG)
21,3 (48-7)17,4 (35,2-5,81)
0,830,10Kết quả nghiên cứu trên mẫu trung bình chiều dài ruột và chiều dài thân cá
Kết (Kryptopterus bleekeri) được thể hiện qua bảng 4.1 Chỉ số ở bảng 4.1 cho
thấy tương quan chiều dài ruột với chiều dài cơ thể cá là 0,83
Theo nhận định của Nikolxki (1963) là những loài cá có tính ăn thiên về độngvật sẽ có trị số Li/Lc 1; cá ăn tạp có Li/Lc = 1-3 và ăn thiên về thực vật
Li/Lc3 Điều này có thể sơ bộ kết luận rằng cá Kết (Kryptopterus bleekeri)
thuộc loài cá có tính ăn tạp thiên về động vật
4.1.3 Kết quả phân tích thức ăn bằng phương pháp tần số xuất hiện
Phương pháp tần số xuất hiện được thực hiện bằng cách đếm các loại thức ănhiện diện trong ruột cá Phương pháp này cho phép định tính thành phần thức
ăn và tần số xuất hiện của mỗi loại thức ăn trong số mẫu quan sát, giúp ta suyđoán được tính lựa chọn thức ăn của cá
Kết quả phân tích thức ăn bằng phương pháp tần số xuất hiện của cá Kết đượcthể hiện ở bảng 4.2 và hình 4.4 sau:
Bảng 4.2: Tần số xuất hiện các loại thức ăn ( n =222 )
Trang 3Hình 4.4: Tần số xuất hiện các loại thức ăn cá Kết
Qua bảng 4.2 và hình 4.4, cho thấy thức ăn trong dạ dày của cá Kết gồm cócác loại thức ăn sau: cá con, giáp xác, giun, nhuyễn thể, mùn bã hữu cơ và cácloại thức ăn khác Trong các loại thức ăn trên, mùn bã hữu cơ có tần số xuấthiện cao nhất với (83,3%), giáp xác (58,1%), cá con (53,6%), giun, nhuyễn thể
và các loại thức ăn khác xuất hiện với tần số thấp hơn lần lượt là: 31,53%;4,5% và 37,84% Tuy nhiên, khi kết hợp với quan sát các đặc điểm của hệthống tiêu hóa cá Kết cho thấy mùn bã hữu cơ không phải là thức ăn thíchhợp, có thể mùn bã hữu cơ có trong ống tiêu hóa của cá là do cá ăn vào cùngvới các loại thức ăn ở đáy như giun, nhuyễn thể…
Các loại thức ăn như cá con (53,6%), giáp xác (58,11%) xuất hiện với tần số
Trang 4giáp xác Khi kết hợp với quan sát hệ thống tiêu hóa của cá, có thể sơ bộ kếtluận cá kết là loài ăn động vật Tuy nhiên, để có một kết luận chính xác hơn vềtính ăn của cá Kết thì việc phân tích thức ăn bằng phương pháp khối lượng làthật sự cần thiết.
4.1.4 Kết quả phân tích thức ăn theo phương pháp khối lượng
Bảng 4.3: Thành phần và khối lượng thức ăn trong ống tiêu hóa của cá Kết
Theo Nikolxki (1963), phân chia thức ăn của cá ra thành bốn loại, căn cứ trêntầm quan trọng của loại thức ăn đó trong khẩu phần ăn của cá như:
trọng lớn nhất trong khối lượng thức ăn mà cá ăn vào;
Thức ăn thứ cấp: là loại thức ăn thường phát hiện trong ống tiêu hóacủa cá, nhưng với số lượng ít
Thức ăn ngẫu nhiên: là loại thức ăn chiếm số lượng ít trong ống tiêuhóa
Thức ăn cưỡng bức: là loại thức ăn được sử dụng khi thiếu thức ăn cơbản
Trang 5Thức ăn tự nhiên của cá phụ thuộc rất nhiều yếu tố, trong đó những yếu tố cótính quyết định như cấu trúc ống tiêu hóa của cá, sinh vật ở môi trường ngoài
và các giai đoạn phát triển khác nhau của cá Trên cơ sở hình thái giải phẫuống tiêu hóa và các số liệu phân tích của nghiên cứu và một số nghiên cứu
trước đây có thể khẳng định rằng khi trưởng thành cá Kết (Kryptopterus
1.86 5.60 0.06
1.06 27.47
63.94
Cá con Giáp xác Giun Nhuyễn thể MBHC Thức ăn khác
Trang 6bleekeri) là loài cá ăn động vật Cá con và giáp xác là hai loại thức ăn quan
trọng của cá Kết
4.2 Sinh trưởng cá Kết
4.2.1 Mối tương quan giữa chiều dài và khối lượng
Sinh trưởng là quá trình gia tăng về kích thước và tích luỹ thêm về khối lượng cơthể Quá trình này đặc trưng cho từng loài cá và thể hiện qua mối tương quangiữa chiều dài và khối lượng (Nikolxki, 1963; Nguyễn Bạch Loan, 1997)
Dựa vào số liệu thu thập chỉ tiêu hình thái của cá Kết (Kryptopterus bleekeri),
mối tương quan giữa chiều dài và khối lượng thể hiện qua phương trình hồiqui W=0,0083L2,9185 với hệ số tương quan R2=0,9782 Hình 4.6 cho thấy có sự
tương quan chặt chẽ giữa chiều dài và khối lượng của cá Kết (Kryptopterus
bleekeri) với số mẫu n=186, chiều dài cơ thể từ 7- 48 cm, tương ứng với khối
lượng cơ thể từ 3,8-706 g
Hình 4.6 : Tương quan chiều dài và khối lượng cá Kết
4.2.2 Biến động kích thước quần thể theo mùa
Biến động kích cỡ quần thể là quá trình thay thế các thế hệ một cách liên tụctheo thời gian, cũng như tự sản sinh, tăng trưởng và tử vong của cá Các yếu tốcủa quá trình này cũng chịu ảnh hưởng bởi sự thích nghi và liên quan đến sựthay đổi của các yếu tố những biến động trong năm Trong một hệ sinh tháikhông bị xáo trộn, một quần thể sẽ tăng trưởng đến kích cỡ tối đa theo khảnăng mà chúng có thể đạt được, nhưng thực tế thì điều đó không thể xảy ra, vì
do có rất nhiều tác động lên quần thể Kích thước mà một quần thể cuối cùng
Trang 7có thể đạt được là kết quả tổng hợp của quá trình tăng trưởng và sự suy giảm
do ảnh hưởng của việc sinh sản, tử vong và di cư (Võ Thành Tiếm, 2004)
Biến động quần thể theo chiều dài của cá Kết (Kryptopterus bleekeri) được thể
* Số trong dấu ngoặc là số mẫu cá nghiên cứu
Nhóm cá có chiều dài từ > 20 cm có nhiều ở các tháng 5, 6, 7 và 9, 10 với tỷ lệcao; đây là nhóm cá có khả năng tham gia sinh sản cao Vì vậy, theo nhận định
bước đầu mùa vụ sinh sản của cá Kết (Kryptopterus bleekeri) rất có khả năng
vào các tháng này
Bảng 4.6: Khối lượng trung bình và phân nhóm khối lượng cá Kết theo thờigian
Trang 8Thời gian thu
mẫu
lượng (g)p<40 40p<100 100p<200 200p<300 P300
Qua bảng 4.6 cho thấy, ở các tháng 2, 3, 4 và 8 cá Kết có khối lượng trungbình nhỏ hơn các tháng khác, điều này là do ở những tháng này thu đượcnhiều cá có khối lượng nhỏ, chứng tỏ những tháng này có sự bổ sung của mộtthế hệ cá mới được sinh ra trước đó 1 đến 2 tháng
Nhóm cá có khối lượng lớn (> 100 g) xuất hiện với tỉ lệ cao ở các tháng 6 và
9, 10, 11 Vì ở những tháng này có thể cá đang ở mùa vụ sinh sản và những cácon được sinh sản từ những tháng trước đã sinh trưởng được 4-6 tháng nên cá
* Số trong dấu ngoặc là số mẫu cá nghiên cứu
Trang 9đã đạt kích cỡ trưởng thành Thêm nữa những cá tham gia sinh sản vào cáctháng 6 và 7 đang tích lũy dinh dưỡng để chuẩn bị cho một chu kỳ sinh sảntiếp theo vào các tháng 9, 10 và 11.
4.3 Đặc điểm sinh sản
4.3.1 Xác định giới tính
Chỉ một số ít loài cá có sự khác nhau về hình dạng bên ngoài giữa con đực vàcon cái và một số loài chỉ khác nhau vào mùa sinh sản Tuy nhiên, đa số cácloài cá, đặc biệt các loài cá hoang dã sống ngoài tự nhiên, xác định giới tínhbằng cách quan sát các đặc điểm sinh thái bên ngoài thì rất khó và nhất là đốivới cá chưa thành thục Trong trường hợp không xác định được giới tính bằngcác đặc điểm hình thái bên ngoài, cá phải được giải phẫu để quan sát tuyếnsinh dục bằng mắt hoặc có thể sử dụng kính lúp
Cá Kết (Kryptopterus bleekeri) là loài cá khó xác định giới tính bằng các đặc
điểm hình thái bên ngoài Nhìn chung, các dấu hiệu sinh dục phụ của cá Kếtkhông rõ ràng, cá Kết đực có tuyến sinh dục phân thùy rất sâu nên không thểvuốt tinh ra được khi thành thục sinh dục Qua kết quả giải phẫu của nhiềumẫu cá Kết để quan sát tuyến sinh dục và kết hợp với quan sát hình thái bênngoài của cá Kết đực và cái cho thấy rằng, có một vài đặc điểm có thể xácđịnh được giới tính, tuy nhiên nếu không có kinh nghiêm thì độ chính xác củaviệc xác định giới tính không cao Các đặc điểm hình thái bên ngoài của cá
Kết (Kryptopterus bleekeri) để phân biệt đực cái được mô tả như sau:
đực
Cá Kết đực thành thục có gai sinh dục dài và nhọn hơn cá Kết cái
4.3.2 Đặc điểm hình thái tuyến sinh dục cá Kết
Trong khoảng thời gian thu mẫu chúng tôi đã bắt gặp tuyến sinh dục của cáKết ở nhiều giai đoạn thành thục khác nhau Chúng tôi nhận thấy các giai đoạntuyến sinh dục của cá Kết cái cũng tương tự như giai đoạn thành thục buồngtrứng cá nói chung mà Xakun và Buskaia đã mô tả 1968
4 3.2.1 Đặc điểm tuyến sinh dục cái
Trang 10Hình 4.11: Hình thái tuyến sinh dục cá cái của cá Kết
Buồng trứng có hình ống hơi dài, màu vàng nhạt Bên trong buồng trứng cóvách ngăn ngang (tấm trứng), có nhiều mạch máu và dây thần kinh phân bố.Đoạn cuối của buồng trứng kết hợp nhau và dẫn ra ngoài lỗ huyệt thông quaống dẫn trứng
- Giai đoạn 1: Buồng trứng chỉ là hai sợi mảnh, nhỏ, màu trắng xám Số cá cótuyến sinh dục ở giai đoạn 1 chiếm 47,67% Kích cỡ cá nhỏ nhất có tuyến sinhdục tương ứng chiều dài khoảng 16.8 cm, khối lượng 18g (Đường kính tế bàotrứng dao động trong khoảng 0,02 – 0,5mm.)
- Giai đoạn 2: Buồng trứng có kích thước lớn có nhiều mạch máu, màu hồngnhạt (Đường kính tế bào trứng dao động trong khoảng 0,05 – 0,12mm)
- Giai đoạn 3: Thể tích buồng trứng tăng lên, bề mặt buồng trứng có màu xámnhạt Mắt thường đã phân biệt được đực cái (Đường kính tế bào trứng daođộng trong khoảng 0,2 – 0,45mm)
- Giai đoạn 4: Buồng trứng chiếm phần lớn xoang bụng, nhìn rõ hạt, hạt trứngtròn và căng, màu vàng nhạt (Đường kính tế bào trứng dao động trong khoảng0,6 – 0,8 mm)
- Giai đoạn 5: Buồng trứng đạt kích thước lớn nhất và ở tình trạng sẳn sàng đẻ.( Đường kính tế bào trứng dao động trong khoảng 0,7 – 1,3mm)
- Giai đoạn 6: Trứng đã được đẻ ra ngoài, buồng trứng teo nhỏ lại Toàn bộbuồng trứng mềm nhão, có màu đỏ bầm Trong buồng trứng còn lại các hạttrứng ở các giai đoạn khác nhau
Sự sinh sản ở cá thường mang tính chu kỳ, các thông tin về chu kỳ thành thục
và thóai hóa của tuyến sinh dục giúp chúng ta chủ động trong sản xuất, cũngnhư đánh giá sự thay đổi và phát triển của một quần thể cá trong tự nhiên Chu
kỳ sinh sản của cá thường được xác định bằng việc khảo sát về hình thái và tổchức mô của tuyến sinh dục Các kết quả giải phẫu tuyến sinh dục và quan sát
Trang 11mô học phôi của cá Kết (Kryptopterus bleekeri) trong thời gian nghiên cứu
được mô tả và trình bày qua bảng hình 4.1
Bảng hình 4.1: Các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục và tế bào
trứng cá Kết
Các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục cá cái
(giai đoạn từ I-VI)
Các giai đoạn phát triển của
tế bào trứng qua quan sát môhọc (giai đoạn từ 1-5)
Giai đoạn 1: Tế bào sinh dục là các nguyên
bào và các noãn bào Noãn bào có nhiều gốc
cạnh, kích thước rất nhỏ tế bào chất ưa kiềm
nên bắt màu tím của hematoxylin mạnh, nhân
ưa kiềm yếu nên bắt màu nhạt, số tiểu hạch ít
khá lớn, màng của noãn bào mỏng, tổ chức
liên kết nhiều Tế bào chất không xuất hiện
noãn hoàng Nhân tròn rõ, ưa kiềm và bắt
màu nhạt, có 6–8 tiểu hạch, các tiểu hạch di
chuyển dần ra phía ngoài màng nhân
sang giai đoạn sinh trưởng chất dinh dưỡng,
noãn bào bắt đầu giai đoạn tích lũy, xuất hiện
nhiều không bào (không bắt màu), nhân lớn
bắt màu tím nhạt Kích thước noãn hoàng
tăng tròn Tế bào chất vẫn còn ưa kiềm nhưng
rất yếu, noãn hoàng xuất hiện nhiều bắt màu
hồng của eosin rất rõ, các hạt noãn hoàng to
nằm phía ngoài các hạt nhỏ nằm sát nhân
Giai đoạn 4: Kích thước của noãn bào gia
tăng rõ Kết thúc thời kỳ lớn nguyên sinh
noãn hoàng, số tiểu hạch trong nhân giảm và
từ từ tan biến bào dịch nhân, kích thước noãn
bào lúc này đạt cực đại
Trang 124.3.2.2 Đặc điểm tuyến sinh dục đực
Hình 4.12: Hình thái tuyến sinh dục đực của cá Kết (Kryptopterus bleekeri)
Buồng tinh là hai dãi nhỏ nằm sát hai bên xương sống màu trắng đục, bênngoài được bao phủ bởi lớp màng mỏng Một đầu dính vào lỗ sinh dục, mộtđầu tự do nằm giữa xoang nội quan
- Giai đoạn 1: Tế bào sinh dục chưa phát triển chỉ là hai sợi chỉ nhỏ nằm sáthai bên xương sống
- Giai đoạn 2: Buồng tinh có 2 dãy mỏng có màu hồng nhạt
- Giai đoạn 3: Buồng tinh có màu trắng phớt hồng, mạch máu phân bố nhiều
- Giai đoạn 4: Buồng tinh đạt kích thước lớn nhất, dạng dãy phân thùy rõ ràng
có màu trắng sữa
- Giai đoạn 5: Buồng tinh đang ở trạng thái sinh sản Tinh trùng chứa đầytrong ống dẫn tinh, sẳn sàng phóng tinh khi có hoạt động sinh sản Tinh trùnghoạt động khá mạnh
- Giai đoạn 6: Buồng tinh đã sinh sản xong, bề mặt tinh sào có màu đỏ hồngnhạt, mềm nhão
Trang 134.3.3 Sự biến động giai đoạn thành thục của cá Kết theo thời gian
Bảng 4 7: Các giai đoạn thành thục theo thời gian
Hình 4.13: Biến động các giai đoạn thành thục của cá kết theo thời gian
Kết quả từ bảng 4.7 và hình 4.13 cho thấy, ở tháng 04 mẫu cá thu được cótuyến sinh dục ở giai đoạn I-II chiếm tỉ lệ cao (100%) Ở tháng 05 thì tỷ lệ cá
có tuyến sinh dục thành thục ở giai đoạn III – IV tăng lên (22,01%) và(16,9%) Ở tháng 06 số cá có tuyến sinh dục từ giai đoạn III; IV và V chiếm tỷ
lệ tương đối cao với các giá trị lần lượt là 34,7%; 30,6% và 14,3% Tháng 7,bắt gặp được cá có tuyến sinh dục ở các giai đoạn III, IV, V và VI với các tỷ lệlần lượt là 24,8% ;14,7% ;12,4% và 3,4% Từ đó, cho thấy cá Kết có thể sinhsản vào tháng 05, 06 và 07
Trang 14Vào tháng 8, cá có tuyến sinh dục ở giai đoạn II tăng lên với tỷ lệ là 81,5% vàcác giai đoạn khác giảm xuống cụ thể là giai đoạn III (14,2%), IV (4,3%),V(0%) Tháng 9, cá có tuyến sinh dục giai đoạn II (91,1%) và III (8,9%),không có cá giai đoạn IV Điều này là do một số cá Kết đã tham gia sinh sảnvào các tháng 5, 6 và 7, buồng trứng đã chuyên sang giai đoạn II, III và chuẩn
bị tích lũy cho một chu kỳ sinh sản kế tiếp Để xác định chính xác hơn chúng
ta tiến hành khảo sát các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục của các tháng cònlại
Vào tháng 10, 11 và 12, cá Kết có tuyến sinh dục ở các giai đoạn III, IV và Vtăng lên đáng kể Cụ thể là vào tháng 10, cá Kết có tuyến sinh dục ở giai đoạn
IV (8,4%) và giai đoạn V (4,5%) ; tháng 11, cá có tuyến sinh dục ở giai đoạn
IV (13,8%) và V (10,3%) ; tháng 12, cá có tuyến sinh dục giai đoạn IV(12,5%) và V (4,2%) Điều này chứng tỏ, cá Kết có thể sinh sản vào các thángnày và cũng có thể những cá sinh sản này là cá đã tái phát dục từ vụ sinh sản ởcác tháng 5, 6 và 7
Từ những kết quả trên cho thấy, cá Kết ở sông Cửu Long khu vực Hồng Ngự Đồng Tháp và Châu Đốc - An Giang là loài cá sinh sản nhiều đợt trong năm và
-có thể sinh sản 2 đợt là đợt 1 tháng 5, 6, 7 và đợt 2 tháng 10, 11, 12
4.3.4 Biến động hệ số thành thục (GSI) của cá Kết theo thời gian
Hệ số thành thục là một trong các chỉ số để xác định mùa vụ sinh sản và làmột trong những điều kiện cần thiết để nhận biết mức độ chín muồi của sảnphẩm sinh dục
Hình 4.14: Hệ số thành thục cá Kết cái trung bình qua các tháng
Kết quả theo dõi sự thành thục ở cá Kết (Kryptopterus bleekeri) cái qua các
tháng được trình bày ở hình 4.14 Hình này cho ta thấy hệ số thành thục của cá
1.66
0.84 0.55 0.17 0.06
0.85
0.21 0.46
2.71 2.41
0.4 0.91
0 0.5 1 1.5 2 2.5 3