1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Kết quả ban đầu sinh sản nhân tạo cá trà sóc (Probarbus jullieni Sauvage, 1880)

12 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 569,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cá trà sóc (Probarbus jullieni Sauvage, 1880) được ghi vào sách đỏ về động vật bị đe dọa ở mức độ nguy cấp. Cá được thu thập từ tự nhiên vào nuôi lưu giữ trong ao vào năm 2005. Năm 2011 bắt đầu nghiên cứu cho cá sinh sản. Nuôi vỗ trong ao đất tỷ lệ thành thục đạt 60,3% khi nuôi bằng thức ăn viên và chất bổ sung (dầu mực, vitamin và khoáng).

Trang 1

KẾT QUẢ ban ĐẦU sinh sẢn nhÂn TẠo cá TRÀ sÓc

(Probarbus jullieni sauvage, 1880)

Thi Thanh Vinh1* và Phạm Cử Thiện2

TÓM TẮT

Cá trà sóc (Probarbus jullieni Sauvage, 1880) được ghi vào sách đỏ về động vật bị đe dọa ở mức độ

nguy cấp Cá được thu thập từ tự nhiên vào nuôi lưu giữ trong ao vào năm 2005 Năm 2011 bắt đầu nghiên cứu cho cá sinh sản Nuôi vỗ trong ao đất tỷ lệ thành thục đạt 60,3% khi nuôi bằng thức ăn viên và chất bổ sung (dầu mực, vitamin và khoáng) Khi nuôi vỗ bằng thức ăn viên, thịt ốc bươu và chất bổ sung (dầu mực, vitamin và khoáng) tỷ lệ thành thục tăng lên 64,6% Cá trà sóc thành thục

từ tháng 10 năm trước đến tháng 1 năm sau, mùa vụ cá sinh sản tập trung trong tháng 11 và 12 Độ tuổi thành thục lần đầu của cá trà sóc đực ở tuổi 4 + , cá cái 5 + Hệ số thành thục cá cái đạt 7,2-7,8%, sức sinh sản tương đối đạt 23.810 trứng/kg cá cái và sức sinh sản tuyệt đối đạt 102.387 trứng/cá cái (cá có trọng lượng 4,3 kg) Khi thành thục, trứng có đường kính 2,05 ± 0,16 mm Dùng LH-RHa + DOM + não thùy hoặc HCG + não thùy kích thích cá cái rụng trứng đạt trên 50% Tỷ lệ trứng thụ tinh đạt cao nhất là 59,2%, tỷ lệ nở 13,9% và tỷ lệ sống cá bột là 71% Ương cá trà sóc 20-25 ngày trong bể ở mật độ 500 con/m 2 , 1.000 con/m 2 và 1.500 con/m 2 đạt tỷ lệ sống lần lượt là 65,5%, 63,5

% và 55 % Ương cá trà sóc trong ao đất 60 ngày tuổi tăng trưởng trung bình đạt 0,13 g/ngày, trọng lượng trung bình 5,33 g/con

Từ khóa: Probarbus jullieni, sinh sản nhân tạo, kích dục tố, ương cá giống, tỷ lệ sống.

1 Trung tâm Quốc gia Giống Thủy sản Nước ngọt Nam Bộ, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 2

* Email: vinhthanhthi@yahoo.com

2 Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 2.

I GIỚI THIỆU

Cá trà sóc có tên khoa học là Probarbus

jul-lieni Sauvage, 1880 Ba loài thuộc giống

Pro-barbus (P jullieni; P labeaminor; ProPro-barbus

spp) đều được ghi vào sách đỏ của IUCN về

động vật bị đe dọa Kể từ năm 2000, P Jullieni

được phân hạng nâng lên mức độ nguy cấp và

đã được ghi trong phụ lục 1 của Công ước buôn

bán quốc tế những loài hoang dã có nguy cơ

(CITES) Hiện chúng là một trong những loài cá

quý của sông Mekong và là loài “Đầu tàu” của

khu vực (Mattson và ctv., 2002)

Cá trà sóc là đối tượng có nguy cơ tuyệt

chủng lớn trong danh sách ban hành của Bộ

Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn năm 2008

Về góc độ bảo tồn, cá trà sóc đang được chú trọng và là một trong những nguồn gen được bảo tồn lưu giữ tại Trung tâm Quốc gia Giống thủy sản nước ngọt Nam bộ

Trên thế giới, cá trà sóc được kích thích sinh sản nhằm mục đích nghiên cứu và phục hồi nguồn lợi Ở Việt nam, cá trà sóc chưa được kích thích sinh sản nên không có con giống phục

vụ nghiên cứu cũng như nghề nuôi Nghiên cứu sinh sản là phương pháp góp phần bảo vệ cá trà sóc tuyệt chủng và làm đa dạng sinh học giống loài cá nước ngọt Nam bộ, tiến đến tạo ra con giống chủ động phục vụ cho nghề nuôi

Trang 2

Nghiên cứu nhằm thực hiện 02 mục tiêu:

• Sinh sản nhân tạo cá trà sóc thành công và

xây dụng quy trình sản xuất giống

• Bảo vệ loài cá trà sóc khỏi nguy cơ tuyệt

chủng, khai thác và phát triển nguồn gen

phục vụ nuôi trồng thủy sản

Để thực hiện được những mục tiêu này nuôi

vỗ cá bố mẹ thành thục trong ao và kích thích

cá bố mẹ sinh sản nhân tạo đã được nghiên cứu

II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Thời gian và địa điểm

- Địa điểm: nghiên cứu được thực hiện tại

Trung tâm Quốc gia Giống thủy sản Nước ngọt

Nam bộ, xã An Thái Trung, huyện Cái Bè, tỉnh

Tiền Giang

- Thời gian: từ tháng 9 năm 2011 đến tháng

2 năm 2015

2.2 Vật liệu

Đàn cá nghiên cứu gồm có 102 con được

thu gom từ tự nhiên về nuôi lưu giữ trong ao tại

Trung tâm Quốc gia Giống thủy sản Nước ngọt

Nam bộ

Vật liệu phục vụ sinh sản: chất kích thích

cá sinh sản (HCG, não thùy, LH-RHa, DOM),

nước cất, ống kim tiêm, lưới bắt cá, bể cá đẻ,

bể ấp trứng cá, khay, thau, vợt, vv Hóa chất:

formol, dung dịch Bouin, dung dịch Davidson,

cồn 96%, thuốc gây mê (Ethylen glycol

mon-phenyl ether), dung dịch đẳng trương (Ringer

Lactate Aguettant) nồng độ NaCl 0,6%, v.v…

Dụng cụ dùng kiểm tra môi trường: máy đo ôxy

hiệu 315i, máy đo pH nước hiệu 315i (Đức sản

xuất), máy đo NH3 cầm tay, nhiệt kế thủy ngân

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Nuôi vỗ cá bố mẹ

Bố trí ao nuôi

- Đàn cá bố mẹ được chọn nuôi có tuổi ≥ 4

tuổi, trọng lượng 2,9-6,7 kg/con Mật độ nuôi vỗ

1 con/50 m2 ao Thời gian nuôi vỗ cá bố mẹ từ tháng 4 - 12 hàng năm

- Ao nuôi vỗ cá bố mẹ: ao đất có diện tích 5.000 m2, sâu 1,5- 2,0m, ao được chia làm 2 phần bằng nhau và bố trí nuôi theo 2 nghiệm thức khác nhau về thành phần thức ăn

Thí nghiệm 1 (TN1):

Cho cá ăn thức ăn viên công nghiệp có thành phần đạm 40%, béo 8% Từ tháng 4 - 8 nuôi vỗ tích cực cho cá ăn 3 – 4% trọng lượng thân, tháng 9 trở đi nuôi vỗ thành thục, cho cá

ăn thức ăn viên 1 – 2% trọng lượng thân, bổ sung dầu mực (3% tổng lượng thức ăn viên) và premix (0,5% tổng lượng thức ăn viên)

Thí nghiệm 2 (TN2):

Cho cá ăn với liều lượng và thành phần như thí nghiệm 1, ngoài ra còn cho thêm thịt ốc bươu bằng 20 % tổng lượng thức ăn cho cá

Cả 2 thí nghiệm đều cho cá ăn 2 lần trong ngày vào lúc 8 giờ sáng và 5 giờ chiều, buổi chiều lượng thức ăn chiếm 2/3 tổng lượng thức

ăn trong ngày

Chăm sóc, quản lý cá bố mẹ

Thường xuyên theo dõi hoạt động sống, hoạt động bắt mồi của cá Kiểm tra ngoại ký sinh trùng ký sinh trên thân và mang định kỳ mỗi tháng (kiểm tra từ 5-7 cá thể) kết hợp ng-hiên cứu sinh học Từ tháng 6-8, kiểm tra nội

ký sinh trong thịt (3-6 cá thể) Khi phát hiện

cá nhiễm ký sinh tùy mức độ cảm nhiễm có kế hoạch xử lý kịp thời

Theo dõi môi trường nước ao nuôi

Trong thời gian nuôi vỗ nước ao được thay 2 lần/tháng Lượng nước thay bằng 20

- 30% lượng nước ao, đến giai đoạn nuôi vỗ thành thục thì vận hành thêm máy bơm vào ban đêm từ 5 giờ chiều đến 6 giờ sáng để tạo dòng chảy bổ sung ôxy và kích thích cá thành thục nhanh hơn

Trang 3

Các chỉ tiêu môi trường nước: Nhiệt độ,

oxy hòa tan, pH được kiểm tra mỗi ngày 2 lần

lúc 6 giờ sáng và 2 giờ chiều, NH3 và NO2 mỗi

tuần kiểm tra 1 ngày (2 lần/ngày lúc 6 giờ sáng

và 2 giờ chiều) Thông qua kết quả đo đạc, kịp

thời điều chỉnh các chỉ tiêu môi trường nước

trong giới hạn cho phép để nuôi vỗ cá bố mẹ

2.3.2 Kích thích cá bố mẹ sinh sản

2.3.2.1 Chọn cá sinh sản

- Cá cái: Dựa vào giai đoạn thành thục của

tế bào trứng, độ đồng đều của tế bào trứng, mức

độ lệch của nhân tế bào trứng, kích thước của

trứng và màu sắc của trứng và kết hợp kiểm tra

ngoại hính như: bụng to, độ căng và mềm của

bụng để đánh giá mức độ thành thục của cá cái

- Cá đực chọn tham gia sinh sản bằng

phương pháp vuốt nhẹ lườn bụng về lỗ sinh dục

và có tinh dịch chảy ra Nếu tinh sánh đặc có

màu trắng đục là cá thành thục tốt

2.3.2.2 Kích thích cá sinh sản

- Kích thích cá sinh sản 2 đợt, mỗi đợt 1 - 2

cặp cá bố mẹ Cá bố mẹ sau khi kiểm tra đạt yêu

cầu về độ chín muồi sinh dục, cá được tiêm một

số chất kích thích sinh sản (KTSS) gồm: HCG,

LH-RHa + DOM và não thùy thể (PG) để thăm

dò hiệu ứng của việc phối hợp chất KTSS đến

quá trình rụng trứng và ảnh hưởng của chúng

đến các chỉ tiêu: tỷ lệ cá rụng trứng, tỷ lệ trứng

thụ tinh, tỷ lệ trứng nở và tỷ lệ sống cá bột

Cá cái: Áp dụng 2 nghiệm thức phối hợp

chất KTSS bằng cách tiêm 2 lần cách nhau 7

- 8 giờ

+ Nghiệm thức 1 (LH-RHa + DOM +

PG): Lần 1 tiêm 0,5 mg PG/kg, lần 2 tiêm 100

µg LH-RHa + 10 - 15 mg DOM/kg

+ Nghiệm thức 2 (HCG + PG): Lần 1 tiêm

0,5 mg PG/kg, lần 2 tiêm 2.000 IU HCG/kg

Cá đực: Tiêm 1 lần cùng với thời gian tiêm

lần 2 ở cá cái với cùng loại chất KTSS bằng ½

liều tiêm cá cái

Sau thời gian tiêm quyết định 6 giờ, tiến hành kiểm tra cá cái, nếu cá rụng trứng thì vuốt trứng

và áp dụng phương pháp gieo tinh nhân tạo

2.3.2.3 Thụ tinh và ấp trứng

Thụ tinh:

+ Tinh không để lẫn với nước, pha loãng

10 lần với nước muối sinh lý (0,9%) sau đó bảo quản ở nhiệt độ 4 - 50C để hạn chế tinh trùng vận động và kéo dài tuổi thọ của tinh trùng + Trứng được thu vào thau nhựa không để lẫn với nước Cho dung dịch tinh pha loãng vào trứng chứa trong thau với liều 1 ml dung dịch tinh/10g trứng, dùng lông vũ khuấy đều vài giây rồi cho nước sạch vào từ từ để tinh trùng vận động và thụ tinh với trứng

Ấp trứng: Trứng sau khi thụ tinh được

ấp trong bình Weiss 6 lít được thay đổi nước liên tục Mật độ trứng ấp 30.000 trứng/lít Số trứng được định lượng bằng phương pháp trọng lượng

2.3.3 Ương cá giống

2.3.3.1 Ương cá bột đến cá hương 21 ngày tuổi trên bể

Chuẩn bị dụng cụ và nước

Bể ương được ngâm trong dung dịch chlorine (nồng độ 100 ppm) trong 1 giờ, sau đó phơi trong nắng 1 ngày và giữ trong mát 3 ngày Nước được xử lý bằng chlorine (nồng độ 100 ppm) sục khí liên tục trong 3 ngày Cho nước đã được xử lý vào bể đủ 100 lít, đặt bể trong nhà

có lưới che để ổn định nhiệt độ và chắn giữ địch hại xâm nhập, mỗi bể được lắp 1 viên đá bọt cỡ trung bình để sủi khí nhẹ vừa đủ

Thả cá bột

Thí nghiệm 3 mật độ khác nhau: 500; 1.000

và 1.500 con/m3 Môi trường trong bể giữ cá bột và trong bể ương cá tương tự nhau Cá bột 3 ngày tuổi có chiều dài 1,1 mm Cá bột được thả lúc trời mát

Trang 4

Quản lý chăm sóc

Trong 10 ngày đầu cho cá ăn 3 lần/ngày,

7 giờ sáng cho cá ăn Moina (hoặc Artemia) và

thức ăn bột mịn, 2 giờ chiều cho cá ăn Moina

(hoặc Artemia) và lòng đỏ trứng, 8 giờ tối cho

cá ăn Moina (hoặc Artemia) và thức ăn bột mịn

Ngày thứ 11 trở đi cho cá ăn 2 lần/ngày Moina

(hoặc Artemia) cho vào bể ương đạt mật độ ≥ 2

con /ml, lòng đỏ trứng cho ăn với liều 10 g/bể/

ngày và thức ăn bột mịn 100 g/bể/ngày trong

10 ngày đầu, những ngày tiếp theo chỉ cho ăn

thức ăn viên mảnh theo khả năng sử dụng của

cá Theo dõi môi trường nước: Nhiệt độ và pH

được kiểm tra mỗi ngày 2 lần lúc 6 giờ sáng và

2 giờ chiều, DO và NH3-N mỗi tuần kiểm tra 2

lần trong ngày (lúc 6 giờ sáng và 2 giờ chiều)

Nước được cấp mỗi ngày để bù lượng nước mất

đi, 10 ngày thay 70% lượng nước trong bể từ

nguồn nước đã xử lý

Kiểm tra tăng trưởng về trọng lượng và

chiều dài 10 ngày/lần cùng thời điểm thay nước

Mỗi nhóm mật độ nuôi thu 3 mẫu từ 10 – 30

con/mẫu

Thu hoạch

Sau 20 ngày thu hoạch toàn bộ 27 bể ương

Tính tỷ lệ sống và tăng trưởng cho mỗi bể riêng

biệt Cá thu hoạch xong được chuyển xuống ao

đất ngay để ương giai đoạn tiếp theo lên cá giống

2.3.3.2 Ương cá hương đến cá giống 35

ngày tuổi trong ao đất

Chuẩn bị ao ương

Tát cạn ao, xử lý thuốc diệt cua, ốc là ký

chủ mang mầm bệnh, bón vôi Ca(OH)2 với liều

8 kg/100 m2, phơi nắng 2 - 3 ngày Cho nước vào

qua lưới lọc đến khi độ sâu mực nước đạt 1,2 m

Thả cá

Cá hương 21 ngày tuổi, trọng lượng trung bình 0,1 – 0,15 g/con, chiều dài 2,0 – 2,9 mm/ con Mật độ thả 50 con/m 2 ao Cá bột được thả lúc trời mát

Quản lý chăm sóc

Cho cá ăn 2 lần trong ngày lúc 7 - 8 giờ sáng và 4 - 5 giờ chiều Khẩu phần cho cá ăn bằng 10% trọng lượng thân Theo dõi môi trường nước: Nhiệt độ và pH được kiểm tra mỗi ngày 2 lần lúc 6 giờ sáng và 2 giờ chiều, DO

và NH3-N mỗi tuần kiểm tra 2 lần trong ngày (lúc 6 giờ sáng và 2 giờ chiều) Nước được cấp

đủ độ sâu trước khi thả cá và được cấp bổ sung khi độ sâu nước giảm Kiểm tra tăng trưởng về trọng lượng và chiều dài 10 ngày/lần, mỗi lần thu 30 mẫu

Thu hoạch

Sau 40 ngày thu hoạch toàn bộ Tính tỷ lệ sống và tăng trưởng

III KẾT QUẢ 3.1 Nuôi vỗ cá bố mẹ thành thục

3.1.1 Biến động các yếu tố môi trường nước trong quá trình nuôi vỗ

Trong thời gian nuôi vỗ định kỳ kiểm tra môi trường nước thông qua đo đạt (Bảng 1) Giá trị pH đo được trong suốt thời gian nuôi biến động không lớn và trung bình buổi sáng 7,5±0,2, buổi chiều 8,3±0,1 thích hợp cho sự phát triển và thành thục của cá DO trung bình trong ao vào buổi sáng 4,14±0,46 mg/l, buổi chiều 6,33±0,33 mg/l NH3-N trong ao nuôi vỗ trung bình ≤ 1 mg/lít là hoàn toàn thích hợp cho

cá nuôi

Trang 5

Bảng 1: Các yếu tố môi trường nước trung bình các tháng nuôi vỗ Tháng

nuôi

Nhiệt độ (0C) pH DO (mg/l) NH3 (mg/l) NO2 (mg/l) Sáng Chiều Sáng Chiều Sáng Chiều Sáng Chiều Sáng Chiều

5 29,0 31,6 7,4 8,2 4,1 6,1 0,09 0,12 0,13 0,13

6 28,7 31,1 7,6 8,4 3,4 6,4 0,08 0,08 0,13 0,13

7 28,7 31,1 7,6 8,2 3,9 7,1 0,09 0,08 0,15 0,10

8 28,6 31,5 7,4 8,1 4,1 6,2 0,06 0,06 0,13 0,10

9 28,2 30,4 7,3 8,2 4,6 6,2 0,08 0,09 0,12 0,12

10 29,2 31,9 7,9 8,5 4,9 6,2 0,10 0,13 0,13 0,15

11 29,1 31,4 7,5 8,3 4,5 6,2 0,11 0,17 0,10 0,08

TB 28,8 31,3 7,5 8,3 4,1 6,3 0,09 0,10 0,13 0,11

±0,4 ±0,5 ±0,2 ±0,1 ±0,5 ±0,3 ±0,02 ±0,04 ±0,01 ±0,02

3.1.2 Sự thành thục sinh dục của cá

Mùa vụ thành thục

Mùa vụ thành thục của cá trà sóc (Hình

1) cho thấy từ khi nuôi vỗ tháng 4 đến tháng

8, buồng trứng cá cái chỉ nằm ở giai đoạn II

Tháng 9 có 12,5% số cá cái có buồng trứng

phát triển đến đầu giai đoạn III (noãn bào

phase 4), tháng 10 có 41,4% buồng trứng phát

triển đến giai đoạn III-IV và tăng lên 55,5%

vào tháng 11 Cá có buồng trứng phát triển

đến giai đoạn III-IV cao nhất vào tháng 12 là

61,3% và giảm dần đến tháng 1 năm sau còn

34,5% Đến tháng 2 không còn cá có tuyến

sinh dục giai đoạn III-IV, tất cả cá cái tuyến

sinh dục trở về giai đoạn II và kết thúc mùa vụ

cá thành thục Đánh giá thành thục theo tế bào

trứng: chưa có noãn hoàng (chưa thành thục)

và có noãn hoàng (thành thục)

Hình 1 Sự thành thục cá cái qua các tháng

+ Tuổi và trọng lượng thành thục lần đầu

Cá đực thành thục lần đầu có trọng lượng ≥ 3,2 kg/ con và cá cái là ≥ 4,3 kg/con Tuổi thành thục lần đầu là 4+ đối với cá đực và 5+ đối với

cá cái

Bảng 2: Tuổi và trọng lượng cá trà sóc

thành thục Tuổi thành

thục lần đầu (năm)

Trọng lượng thành thục lần đầu (kg) Nguồn

Cá đực Cá cái Cá đực Cá cái

4+ 5+ ≥ 3,2 ≥ 4,3 nghiên cứuNhóm

5+ 5+ 2-7 5-10

Rodrarung

và Jensiri-sak (1990)

Trang 6

+ Tỉ lệ cá thành thục

Bảng 3: Tỷ lệ cá trà sóc thành thục Năm NT1 (thức ăn viên và chất bổ sung) NT2 (thức ăn viên, thức ăn tươi và chất bổ sung)

2013

Cá cái thành thục (%) 27,8 37,0

Cá đực thành thục (%) 50,0 71,4

Cá cái và đực

thành thục (%) 38,9b 54,2b

2014

Cá cái thành thục (%) 65,0 66,7

Cá đực thành thục (%) 55,6 62,5

Cá cái & đực

thành thục (%) 60,3a 64,6a

Ghi chú: Cá cái thành thục tuyến sinh dục giai đoạn III trở lên (có noãn hoàng), cá đực thành

thục vuốt có tinh chảy ra.

+ Hệ số thành thục

Bảng 4: Hệ số thành thục cá trà sóc cái Giai đoạn tuyến sinh dục Hệ số thành thục (%) Trọng lượng cá (kg)

+ Sức sinh sản (SSS) tương đối và tuyệt đối

Bảng 5: Sức sinh sản cá trà sóc và một số loài cá khác Loài cá (trứng/kg cá cái)SSS tương đối SSS tuyệt đối (trứng/cá cái) Trọng lượng (kg) Nguồn

Cá trà sóc

Cá hô

Cá cóc

23.810 21.056 64.670

102.387 1.059.118 149.980

4,3 18,6 2,7

Nhóm nghiên cứu Huỳnh Hữu Ngãi (2006) Phạm Văn Khánh (2004)

3.2 Kích thích cá sinh sản

Cho cá sinh sản nhân tạo bằng phương

pháp vuốt trứng Tỷ lệ cá rụng trứng ở hai

nghiệm thức ≥50%, tỷ lệ thụ tinh và nở ở

nghiệm thức 2 cao hơn nghiệm thức 1 và có

ý nghĩa thống kê Ở nhiệt độ nước ổn định từ

27-290C quá trình phát triển phôi của trứng

kéo dài 38-47 giờ

Hình 2: Thu trứng cá cái

Trang 7

3.3 Ương cá giống

Tăng trưởng cá giống được trình bày trong

Hình 3

Hình 3: Tăng trưởng về trọng lượng

theo thời gian

Bảng 6: Tăng trưởng cá hương Nghiệm thức 500 con/m3 Nghiệm thức 1.000 con/m3 Nghiệm thức 1.500 con/m3 Trọng lượng

(g)

Chiều dài (cm)

Trọng lượng (g)

Chiều dài (cm)

Trọng lượng (g)

Chiều dài (cm) 0,15a ± 0,02 2,29 ± 0,15 0,13a±0,02 2,12±0,18 0,10b±0,03 2,01±0,21

Bảng 7: Tỷ lệ sống cá hương Nghiệm thức 500 con/m3 Nghiệm thức 1.000 con/m3 Nghiệm thức 1.500 con/m3 65,5a ± 8,9 63,5a ± 9,7 55,0a ± 10,2

Theo bảng 6, tăng trưởng của cá tỷ lệ nghịch với mật độ, ở mật độ 500 và 1.000 con/m3 không có sự khác biệt về thống kê (p>0,05), nhưng lại có sự khác biệt về thống

kê ở mật độ 1.500 con/m3 với hai mật độ còn lại (p<0,05)

Tỷ lệ sống cá tăng lên khi mật độ ương giảm

xuống (Bảng 7) Mật độ ương 1.000 con/m3 có

tỷ lệ sống cao nhất là 63,5% và mật độ 1.500

con/m3 có tỷ lệ sống thấp nhất là 55 %, nhưng

khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05)

Hình 4: Cá trà sóc giống 65 ngày tuổi

Ương cá trà sóc trong ao, tỷ lệ sống đạt từ 60,4 - 89% Tỷ lệ sống đạt khá cao so với một

số loài cá bản địa khác

IV THẢO LUẬN 4.1 Nuôi vỗ cá bố mẹ thành thục

4.1.1 Biến động các yếu tố môi trường nước trong quá trình nuôi vỗ

Theo Trương Quốc Phú (2003), pH thích hợp cho các loài cá nuôi là 6,5-9, giá trị pH trong suốt thời gian nuôi nằm trong khoảng thích hợp (Bảng 1)

Hàm lượng ôxy hòa tan (DO) là yếu tố rất quan trọng trong ao nuôi vỗ cá bố mẹ, DO

Trang 8

trong ao nuôi thấp không những tác động đến

hoạt động sống của cá mà còn ảnh hưởng đến

sự thành thục sinh dục Theo Nguyễn Văn Kiểm

(2004), DO trong nước thích hợp cho thành thục

cá bố mẹ là 3-4 mg/lít Sự biến động DO sáng

và chiều do sự tiêu thụ ôxy vào ban đêm của

thực vật thủy sinh từ quá trình hô hấp, ban ngày

DO tăng lên nhờ quá trình quang hợp của thực

vật thủy sinh thải ra ôxy Sự biến động DO trong

ao nuôi không nhiều có thể do ao có mặt thoáng

tương đối rộng và gió nhiều nên mặt ao luôn có

sóng nhỏ giúp oxy hòa tan vào nước nhiều hơn

Ngoài ra, trong ao có bố trí hệ thống phun nước

liên tục ban đêm để tăng lượng oxy hòa tan vào

nước Vì vậy hàm lượng oxy hòa tan trong nước

ao nuôi vỗ luôn đảm bảo cho sự sống và thành

thục tốt của cá

Môi trường nước có nhiều vật chất hữu

cơ sẽ làm NO2 cao do biến đổi theo chu trình

chuyển hoá Nitơ Đạm là thành phần dinh

dưỡng giúp sinh vật thuỷ sinh vật phát triển, khi

đạm tồn tại ở dạng NO2 cao trong nước không

thích hợp và ảnh hưởng xấu đến tỷ lệ sống, sinh

trưởng đối với thủy sinh vật NO2 được xem là

một loại khí độc ảnh hưởng rất lớn đến đời sống

của thủy sinh vật Có những nhân tố sau đây

ảnh hưởng đến độ độc của nitrite gồm pH, hàm

lượng oxy hòa tan, kích cỡ cá, tình trạng dinh

dưỡng,… (Dương Nhật Long, 2013) Kết quả

khảo sát và phân tích NO2 trong ao nuôi luôn <

0,2 mg/lít, đây là giới hạn rất thích hợp cho môi

trường nuôi vỗ cá bố mẹ Theo Trương Quốc

Phú (2005), NO2< 0,5 mg/lít là phù hợp cho cá

Hàm lượng NH3-N được sinh ra trong ao

chủ yếu do sự phân hủy chất thải ra từ cá, thức

ăn thừa và xác tảo chết Những thành phần

này bổ sung rất nhiều muối dinh dưỡng cho ao

nuôi, nhưng đồng thời cũng tạo ra nhiều khí

độc (trong đó có NH3) Theo Trương Quốc Phú

(2005), trong ao hàm lượng NH3-N> 1 mg/lít

là không thích hợp cho các loài cá nuôi Theo

Nguyễn Đình Trung (2002), khi tổng NH3 lên đến 0,5 ppm cần phải thay nước để giảm lượng chất hữu cơ trong ao Giá trị NH3-N có tăng lên theo thời gian nuôi là do sự tích tụ và phân hủy thức ăn thừa, chất thải từ cá, xác tảo chết,… trong ao càng nhiều theo thời gian nuôi Sự biến động NH3-N không lớn và trong giới hạn cho phép nuôi cá

4.1.2 Sự thành thục sinh dục của cá

So với mùa vụ sinh sản các loài cá khác

ở ĐBSCL, cá trà sóc thành thục muộn hơn và khoảng thời gian thành thục ngắn.Trong cùng điều kiện nhân tạo kết quả nghiên cứu của Thi Thanh Vinh (2012, 2013) và kết quả nghiên cứu của Rodrarung và Ensirisak (1990) cá trà sóc đực có tuổi thành thục lần đầu khác nhau, nhưng trọng lượng gần bằng nhau Trong khi đó ở cá cái tuổi và trọng lượng thành thục lần đầu theo chiều ngược lại Hai kết quả nghiên cứu trên không nói đến nguồn gốc và điều kiện sống của cá nên có thể là nguyên nhân ảnh hưởng đến sự khác nhau về tuổi và trọng lượng thành thục lần đầu

Tỉ lệ cá trà sóc cái và đực thành thục đạt trên 55% (Hình 1) Năm 2013, cá cái có tỷ lệ thành thục thấp hơn cá đực, năm 2014 cái lại

có tỷ lệ thành thục thấp hơn cá đực Có thể tuổi thành thục lần đầu cá đực thấp hơn cá cái nên năm 2013 phần lớn cá đực đạt tuổi thành thục lần đầu Điều này cũng phù hợp với một số tác giả đã nhận định Thành phần thức ăn nuôi vỗ ảnh hưởng đến tỷ lệ cá thành thục Khi nuôi vỗ

cá bố mẹ cho ăn cùng khẩu phần thức ăn nhưng thành phần khác nhau sẽ cho tỷ lệ cá thành thục khác nhau Thịt ốc được thay thế trong thành phần thức ăn nuôi vỗ cho thấy có sự khác biệt

về tỷ lệ thành thục giữa 2 nghiệm thức, nhưng lại không có ý nghĩa về thống kê Amatyakul (1995) phân tích dạ dày ở cá trà sóc kích thước

80 cm có nhiều ốc, hai mảnh vỏ, ông cho rằng đây là loài cá ăn tạp với thức ăn ưa thích là động

Trang 9

vật thân mềm Vì vậy ốc là thành phần thức ăn

rất cần cho nhu cầu dinh dưỡng cá bố mẹ và có

ý ảnh hưởng đến tỷ lệ cá thành thục

Cá bố mẹ được tập hợp có kích thước khác

nhau nên trong đàn có một số cá chưa đạt tuổi

và trọng lượng thành thục lần đầu (>4 tuổi) Một

số cá vừa đạt tuổi và trọng lượng thành thục lần

đầu (>4 tuổi), tuyến sinh dục phát triển đến giai

đoạn III và dừng lại, nên hệ số thành thục rất

thấp (0,46-0,75%) Một số cá đạt tuổi và trọng

lượng thành thục lần đầu (>5 tuổi),tuyến sinh

dục phát triển đến giai đoạn IV, hệ số thành

thục cao hơn(7,2-7,8%) Cũng gần giống những

kết quả nghiên cứu khác Theo Rodrarung và

Jensirisak (1990) cá trà sóc thành thục >5 tuổi,

khi đó cá đực có trọng lượng 2-7 kg và cá cái

trọng lượng 5-10 kg/con

Sức sinh sản tuyệt đối cá trà sóc từ

68.230-102.387 trứng/cá cái Trong cùng điều kiện

sống, cá trà sóc có sức sinh sản khác nhau ở

những cá thể có trọng lượng và tuổi khác nhau

Sức sinh sản thể hiện đặc điểm sinh sản của

giống loài, tùy đặc điểm sinh học từng loài cá

mà sức sinh sản cao hoặc thấp, thường ở những

cá sinh sản không chăm sóc con thì sức sinh sản

tuyệt đối cao hơn cá sinh sản chăm sóc, giữ con

khi cùng trọng lượng Về sức sinh sản tương

đối cá trà sóc cao hơn cá hô không nhiều

nhưng thấp hơn nhiều so với cá cóc

4.2 Kích thích cá sinh sản

Đến nay chưa tìm thấy dấu hiệu nào để

phân biệt cá trà sóc đực và cá cái rõ ràng Đến

mùa sinh sản có thể phân biệt cá đực và cá cái

như sau: Cá đực thân thon và dài, lỗ sinh dục

nhỏ, đường dẫn ống sinh dục nông và hẹp,

vuốt ở lườn bụng có tinh chảy ra Cá cái bụng

to, lỗ sinh dục lớn, đường dẫn ống sinh dục

sâu và rộng Cá thành thục dùng que lấy được

tế bào trứng

Vẫn chưa có tài liệu nào nói về ảnh hưởng

môi trường đến quá trình phát triển phôi của

trứng Theo Cacot (2008), nghiên cứu trứng cá trà sóc nở sau thời gian thụ tinh 42 giờ ở nhiệt

độ nước 22-28°C Nhiệt độ là yếu tố môi trường cần thiết đối với đời sống thuỷ sinh vật vì cá là động vật biến nhiệt Nhiệt độ có ảnh hưởng trực tiếp đến các quá trình sống của cá như: quá trình trao đổi chất, hô hấp, sinh trưởng, cường độ bắt mồi, vv…

pH là một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đối với động vật thủy sản Đối với cá việc tăng hay giảm pH sẽ làm thay đổi độ thẩm thấu của tế bào không có lợi cho cá và ảnh hưởng đến sinh trưởng, tỷ lệ sống, sinh sản và dinh dưỡng Cá sống trong môi trường pH quá thấp hay quá cao đều sẽ làm chậm sự phát dục, hoặc làm cho cá không đẻ hay đẻ ít Trương Quốc Phú (2003) nhận định

pH thích hợp cho các loài cá nuôi là 6,5-9 Các giá trị pH đo được trong suốt thời gian ương biến động pH không lớn, trung bình buổi sáng 7,7±0,1, buổi chiều 8,1±0,12 ở chỉ số pH như trên là thích hợp cho sự phát triển của cá

4.3 Ương cá giống

Hàm lượng ôxy hòa tan (DO) là yếu tố rất quan trọng trong ao nuôi, DO trong ao nuôi thấp không những tác động đến hoạt động sống của cá mà còn ảnh hưởng đến sự thành thục sinh dục Theo Nguyễn Văn Kiểm (2005), DO trong nước thích hợp cho các loài cá nuôi từ 3-4 mg/lít DO nước buổi sáng và chiều trong

ao ương từ 6,7-7,9 mg/l là rất tốt để cho cá hương phát triển

Cá trà sóc ương 40 ngày tuổi (tính từ cá hương) tăng trưởng nhanh dần theo thời gian,

từ ngày thứ 20 đến ngày thứ 40 cá tăng trưởng nhanh hơn Trọng lượng trung bình qua 2 đợt ương khi thu hoạch là 5,4 g/con và 5,6 g/con Sự khác nhau về trọng lượng cá thu hoạch không khác biệt có ý nghĩa thống kê

Cá trà sóc ương trong ao được gây thức ăn

tự nhiên (Moina) và cung cấp đủ thức ăn công

Trang 10

nghiệp (42% đạm) nên không chỉ cá lớn nhanh

mà tỷ lệ sống cũng đạt cao (>50%) Tỷ lệ sống

cá trà sóc cũng giống như cá cóc là 50,0-58,1%

(Phạm Văn Khánh, 2004), cá hô 54,8% (Huỳnh

Hữu Ngãi, 2008)

V KẾT LUẬN

5.1 Kết luận

- Tuổi ảnh hưởng đến sự thành thục của

cá Chọn cá bố mẹ nuôi vỗ nên chọn cá đực

tuổi 4+ trọng lượng ≥2,9 kg, cá cái tuổi 5+,

trọng lượng ≥4,3 kg Nuôi vỗ trong ao mùa

vụ cá thành thục từ tháng 9 đến tháng 1 năm

sau Tỷ lệ cá thành thục đạt cao nhất từ tháng

11-12, khoảng thời gian này cũng là thời điểm

cá sinh sản

- Nuôi vỗ cá bố mẹ bằng thức ăn viên công

nghiệp (40% đạm và 8% béo) và khoáng (0,5%

tổng thức ăn) và dầu mực (3% tổng thức ăn) có

bổ sung thịt ốc bươu (20% tổng thức ăn) Cá

bố mẹ thành thục đạt 64,6% và tốt hơn nuôi vỗ

không có thịt ốc bươu

- Chọn cá cái sinh sản có đường kính trứng

>2 mm Cá cái thành thục được kích thích bằng

0,5 mg PG và 100 µg LH-RHa + 10 mg DOM /

kg cho tỷ kệ cá rụng trứng cao hơn dùng 0,5 mg

PG và 2.000 IU HCG/kg

- Buồng trứng cá cái ở giai đoạn IV có hệ số thành thục 7,2%, sức sinh sản tương đối và tuyệt đối đạt cao nhất là 23.810 trứng/kg cá cái và 102.387 trứng/cá cái (cá trọng lượng 4.300g)

- Ương cá trà sóc 20 ngày trong bể mật độ ương 1.000 con/m3 cho ăn tổ hợp thức ăn

(Moi-na + lòng đỏ trứng gà + thức ăn bột mịn) là thích

hợp nhất Ương cá trà sóc từ hương 25 ngày tuổi lên giống 60 ngày tuổi trong ao ở mật độ 50 con/

m3, tỷ lệ sống đạt 60,4-88,9%, trọng lượng 5,4-5,6 g/con

5.2 Đề xuất

- Nghiên cứu thêm các yếu tố dinh dưỡng (thức ăn theo giai đoạn nuôi) và môi trường (thủy lý hóa, dòng chảy) ảnh hưởng đến sự thành thục cá bố mẹ nhằm nâng cao các chỉ số sinh sản của cá như tỷ lệ thành thục, hệ số thành thục và sức sinh sản để xây dựng qui trình nuôi

vỗ cá bố mẹ hoàn thiện hơn

- Cần nghiên cứu thêm các thí nghiệm ương

cá hương lên cá giống ở nhiều mật độ và thức ăn khác nhau để xây dựng được quy trình ương cá trà sóc hoàn chỉnh hơn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tài liệu tiếng Việt

Công ty trách nhiệm hữu hạn Tây nguyên, 2009 Đánh

giá các loài (loài bản địa và các loài khác) gắn với

nhu cầu sản xuất trong tương lai nhằm đa dạng

giống loài thủy sản ở tỉnh Đắk Lắk, 95 trang.

Dương Nhật Long, 2013 Nghiên cứu kỹ thuật sản xuất

giống nhân tạo cá heo (Botiamodesta bleeker,

1865) ở tỉnh An Giang, 87 trang.

Đặng Văn Trường, Hoàng Quang Bảo, Phạm Đình

Khôi và Thi Thanh Vinh, 2005 Sinh sản nhân tạo

và ương nuôi cá mè hôi (Osteochilus

melanop-leurus) Tuyển tập Nghề cá sông Cửu long Viện

Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản II, NXB Nông

nghiệp, 544 trang.

Hoàng Quang Bảo, Phạm Đình Khôi, Thi Thanh Vinh

và Đặng Văn Trường, 2005 Sinh sản nhân tạo cá

chài (Leptobarbus hoevenii) Tuyển tập Nghề cá

sông Cửu Long Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 2 NXB Nông nghiệp, 544 trang.

Huỳnh Hữu Ngãi, 2006 Thuần dưỡng, tái tạo và phát

triển cá hô (Catlotcarpio siamensis) Báo cáo

khoa học - Viện Nghiên cứu nuôi trồng Thủy sản

2, 30 trang.

Pravdin, I.F., 1963 Hướng dẫn nghiên cứu cá NXB Khoa học và kỹ thuật Hà Nội Phạm Thị Minh Gi-ang dịch, 276 trGi-ang.

Mai Đình Yên, Nguyễn Văn Trọng, Nguyễn Văn Thiện,

Lê Hoàng Yến, Hứa Bạch Loan, 1992 Định loại

Ngày đăng: 07/12/2020, 11:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w