BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA PHÒNG GD&ĐT NHƯ THANH SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH TÍCH CỰC HỌC PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU LỚP 5 THANH HÓA NĂM 2020 MỤC LỤ[.]
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GD&ĐT NHƯ THANH
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH TÍCH CỰC HỌC PHÂN MÔN
LUYỆN TỪ VÀ CÂU LỚP 5
THANH HÓA NĂM 2020
Trang 2MỤC LỤC
1 MỞ ĐẦU
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm 2 2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 2 2.3 Giải pháp đó sử dụng giúp học sinh học tốt Phân môn Luyện
2.3.1.Tạo không khí lớp học sôi nổi, hào hứng 3 2.3.2 Giúp HS hình thành và nắm vững kiến thức mới 7
3 KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
Người thực hiện: Lưu Thị Nga Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường TH Cán Khê SKKN thuộc môn: Tiếng Việt
Trang 31 MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài
Ở Tiểu học, môn Tiếng Việt có vai trò nền tảng cho học sinh trau dồi, phát huy vốn ngôn ngữ, rèn cho học sinh kỹ năng sử dụng Tiếng Việt Nếu học tốt bộ môn này nó giúp cho việc học và nắm bắt kiến thức các môn học khác một cách
dễ dàng hơn Trong môn Tiếng Việt thì phân Luyện từ và câu là một trong những phân môn quan trọng góp phần hình thành tri thức và kĩ năng diễn đạt giao tiếp Nói đến dạy Luyện từ và câu ở Tiểu học người ta thường nói tới 3 nhiệm vụ chủ yếu là giúp học sinh mở rộng vốn từ, hiểu nghĩa của từ một cách chính xác và
luyện tập, sử dụng từ ngữ trong giao tiếp chuẩn mực Học Luyện từ và câu
không phải để nhồi nhét vào trí nhớ một cách vô cảm những ngữ liệu, ghi nhớ
mà học Luyện từ và câu để biết dùng từ ngữ, ngữ liệu vận dụng trong giao tiếp hàng ngày phù hợp với chuẩn mực văn hóa hàng ngày Gợi cho học sinh lòng yêu Tiếng Việt, luôn giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt
Tuy nhiên không phải người giáo viên nào cũng giúp HS hình thành được tri thức một cách nhẹ nhàng, tích cực, chủ động, sáng tạo Sử dụng phương pháp dạy học linh hoạt nhằm giúp học sinh nắm vững được kiến thức quả là một bài toán khó đối với người giáo viên khi đứng trên bục giảng Là một giáo viên đứng lớp, qua nhiều năm kinh nghiệm giảng dạy tôi nhận thấy học sinh còn rất nhiều lúng túng, khó khăn, khi học phân môn này dẫn tới các tiết học nặng nề, không hứng thú, không lôi cuốn được các em Tôi luôn băn khoăn trăn trở làm thế nào để nâng cao hiệu quả các tiết học Luyện từ và câu? Chính vì vậy, tôi đã
nghiên cứu và chọn đề tài: “Một số biện pháp giúp học sinh học tốt phân môn
Luyện từ và câu lớp 5” Với hi vọng giúp học sinh học tốt phân môn Luyện từ
và câu, viết được các đoạn văn có những từ ngữ, hình ảnh sinh động, giao tiếp tốt, đúng theo chuẩn kiến thức kĩ năng của môn Tiếng Việt, tự tin trong học tập, hoàn thành nhiệm vụ học tập, học tập tốt ở các lớp cao hơn
1.2 Mục đích nghiên cứu.
- Nghiên cứu tìm ra một số giải pháp tích cực nhằm giúp học sinh phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, rèn luyện khả năng và thói quen tự học, tinh thần hợp tác, kĩ năng sử dụng kiến thức vào thực tiễn, tạo hứng thú trong học tập cho các em
- Thông qua các bài Luyện từ và câu để mở rộng vốn từ, hình thành và rèn luyện cho học sinh các kĩ năng: luyện kĩ năng dùng từ đặt câu, viết đoạn văn, bài văn một cách mạch lạc, rõ ý và kĩ năng đọc cho học sinh Giúp các em biết vận dụng kiến thức đó học vào cuộc sống, ham học hỏi, tìm hiểu, khám phá để biết
về môi trường xung quanh các em, yêu thiên nhiên, con người, quê hương đất nước, tôn trọng bảo vệ, giữ gìn truyền thống tốt đẹp của dân tộc
1.3 Đối tượng nghiên cứu.
Dạy - học phân môn Luyện từ và câu ở lớp 5 trường Tiểu học Cán Khê năm học 2020 - 2021
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 4- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Đọc và nghiên cứu các tài liệu, văn bản để hiểu được cơ sở lý luận phân môn Luyện từ và câu lớp 5
- Phương pháp quan sát: Thông qua việc rèn luyện hàng ngày trên lớp để nắm được thực trạng giúp cho việc nghiên cứu đạt hiệu quả
- Phương pháp đàm thoại: Trao đổi với đồng nghiệp, học sinh để thu thập thông tin phục vụ cho mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Tập hợp lại những kinh nghiệm nghiên cứu và thực tiễn về học sinh để đề xuất các biện pháp giải quyết vấn đề
2: NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm:
Trong công cuộc đổi mới hiện nay, sự phát triển Công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước cần phải có những con người năng động, sáng tạo, tự lực, tự cường Nhu cầu này đòi hỏi phải có sự điều chỉnh mục tiêu, nội dung Chương trình, phương pháp giảng dạy ở bậc Tiểu học một cách phù hợp
Mục tiêu của giáo dục Tiểu học đặt ra là: “giúp học sinh hình thành những
cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, phẩm chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở
Nhiệm vụ nặng nề đó phụ thuộc rất lớn vào việc giảng dạy môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Luyện từ và câu nói riêng Để đạt được mục tiêu đó người giáo viên phải tìm ra các biện pháp giúp học sinh tích cực học tốt phân môn Luyện từ và câu lớp 5 là rất cần thiết
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
1 Đối với giáo viên:
Qua quá trình nghiên cứu và tìm hiểu quá trình dạy - học Luyện từ và câu
ở lớp 5 Trường Tiểu học Cán Khê tôi nhận thấy một số giáo viên đó cung cấp đầy đủ kiến thức cho học sinh, sử dụng các phương pháp và hình thức dạy học theo hướng đổi mới Tuy nhiên nhiều học sinh vẫn chưa chủ động trong học tập, chưa hiểu bài, một số em hoạt động nhóm nhưng không tham gia xây dựng bài, thụ động chờ kết quả của bạn Bên cạnh đó vẫn còn một số giáo viên còn chưa quan tâm nhiều dạy học phân môn Luyện từ và câu mà chỉ cung cấp vốn kiến thức sơ giản thường gặp còn ít sáng tạo trong phát huy tính tích cực cho học sinh Khả năng diễn đạt ngôn ngữ chưa được trau chuốt: giáo viên còn “bí từ” khi giảng; kiến thức bài còn bó hẹp hoàn toàn trong sách giáo khoa và chỉ biết hướng dẫn học sinh những kiến thức có trong sách giáo khoa chưa chú trọng chốt nội dung và mở rộng thêm khi dạy xong một tiết học, một chủ đề, Giáo viên dạy học còn ảnh hưởng phương pháp truyền thống, chưa phát huy tính tích cực lấy học sinh làm trung tâm ở phân môn Luyện từ và câu Cung cấp kiến thức cho học sinh nhớ máy móc là chủ yếu Tổ chức dạy học sinh ở phân môn này còn khô khan, lúng túng chưa mang lại hiệu quả cao Người giáo viên chưa định hướng cách học cho học sinh nên khi tìm hiểu về nghĩa, cách dùng từ, sử dụng
Trang 5từ ngữ và nắm chắc ngữ pháp học sinh chưa có cách học chủ động, tích cực và sáng tạo
2 Đối với học sinh:
- Thuận lợi: Học sinh được trang bị đầy đủ sách vở, đồ dùng học tập Hầu hết các em học sinh lớp 5 đã có những kiến thức sơ giản về ngữ âm và ngữ pháp, những kiến thức đó được làm quen ở các lớp dưới Các em được sự quan tâm về nhiều mặt của Ban giám hiệu nhà trường, của phụ huynh và của chính quyền địa phương Nhà trường có thư viện với nhiều đầu sách để học sinh có thể đọc sách vào giờ giải lao Hơn nữa mỗi lớp có một tủ sách Lam Sơn, một thư viện nhỏ của lớp để các em HS được đọc thêm và tìm hiểu thêm
- Khó khăn: Đa số các em đều là con em gia đình lao động sống ở vùng sâu,vùng xa Bố mẹ đi làm ăn xa, chủ yếu các em sống ở nhà với ông bà, cô dì, chú, bác nên việc kèm cặp các em học tập ở nhà còn nhiều hạn chế Nhiều em chưa ham thích phân môn này Mặc dù ở trường, lớp có nhiều sách, báo nhưng các em chưa ham đọc sách báo.Vì vậy mà vốn từ của các em còn nghèo nàn, tư duy còn nhiều hạn chế Nhiều em còn có thói quen chờ thầy cô hướng dẫn rồi chép bài, khả năng nhớ, hiểu và vận dụng kiến thức trong quá trình học tập chưa tốt Học sinh còn học vẹt, ghi nhớ máy móc Theo dõi kết quả kiểm tra ở lớp 5 phân môn Luyện từ và câu cho thấy còn thấp Khả năng tập trung của học sinh không cao, chưa chủ động, chưa kiên nhẫn và chưa hứng thú trong học phân môn này
Ngay từ đầu năm học 2020 - 2021, tôi đã khảo sát chất lượng phân môn Luyện Từ và câu của học sinh ở lớp 5A4 (khu D) Trường Tiểu học Cán Khê đạt được kết quả như sau:
Tổng số Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành Ghi chú
20 em 3/20 em = 15% 7/20 em = 35% 10/20 em =50 %
Sở dĩ còn nhiều hạn chế như vậy là do vốn từ các em còn hạn hẹp, nhiều khi hiểu nhưng không biết dùng từ để diễn đạt cho phù hợp Nhiều em chưa nắm vững kiến thức Tiếng Việt, các khái niệm về từ, câu còn mơ hồ Qua nghiên cứu từ thực trạng dạy-học phân môn Luyện từ và câu lớp 5 ở trường Tiểu học Cán Khê, tôi đã nghiên cứu và vận dụng một số giải pháp giúp học sinh học tốt phân môn Luyện từ và câu lớp 5
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề:
2.3.1 Tạo không khí lớp học sôi nổi, hào hứng.
Để khắc phục tình trạng học sinh tiếp thu kiến thức một cách thụ động, thiếu tập trung trong giờ học, giáo viên cần lựa chọn các phương pháp và hình thức dạy học phù hợp Trong quá trình dạy học, nếu các em có dấu hiệu mệt mỏi, giáo viên cần thay đổi hình thức để tạo sự hứng thú, lấy lại tinh thần, trạng thái vui tươi, hoặc có thể chơi một trò chơi nhỏ thay đổi không khí lớp học Khi
Trang 6lập kế hoạch bài dạy tôi luôn trăn trở, nghiên cứu tìm tòi để tạo ra hình thức dạy học phù hợp với đối tượng học sinh của lớp nhằm cuốn hút học sinh vào các hoạt động học tập một cách chủ động tích cực Có thể tổ chức các hình thức dạy học linh hoạt tạo không khí học tập thoải mái như: thảo luận nhóm, đôi bạn học tập, tiếp sức, đóng vai, vận dụng các trò chơi trong tiết học, các cuộc thi để học sinh có cơ hội thi đua cạnh tranh lành mạnh qua đó học sinh lĩnh hội kiến thức tích cực, tự giác theo hình thức “Học mà chơi - chơi mà học”
Đối với học sinh lớp 5 hoạt động học tập đó là hoạt động chủ đạo nhưng nhu cầu vui chơi của các em vẫn rất lớn Trí nhớ không chủ định chiếm ưu thế Các em thường ghi nhớ những gì mình thích, trí nhớ hình ảnh tốt hơn trí nhớ ngôn ngữ Các em thường không duy trì được sự chú ý trong một thời gian dài
Vì vậy trong mỗi tiết dạy giáo viên cần thay đổi hình thức hoạt động nhằm tạo không khí sôi nổi để thu hút sự chú ý của học sinh Việc vận dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực, thiết kế và tổ chức dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học là rất cần thiết đối với giáo viên trong giai đoạn hiện nay Trong các phương pháp dạy học thì phương pháp trò chơi là một trong những phương pháp tích cực Trong trò chơi các em là người thực hiện và có sự phân công, trao đổi, thay đổi vai trò giữa các thành viên trong nhóm nhờ đó giúp học sinh phát triển về ngôn ngữ Thông qua trò chơi học tập cũng giúp học sinh phát triển về tư duy lôgic, trí tưởng tượng, khả năng trình bày trước đám đông,
kĩ năng hợp tác, giao tiếp trong quá trình chơi…Đó là những kĩ năng rất quan trọng giúp học sinh ngày càng mạnh dạn tự tin vào bản thân mình hơn Nhóm học tập cũng rất cần thiết trong dạy học định hướng phát triển năng lực người học Khi học theo nhóm các em được chia sẻ ý kiến cho nhau, được hỗ trợ giúp
đỡ nhau để cùng tiến bộ nhằm phát triển năng lực và phẩm chất, hoàn thiện bản thân trong quá trình học tập Tuy nhiên giáo viên cũng cần lưu ý:
Việc chia nhóm phải đảm bảo cho các em học sinh được học tập thuận lợi, chỗ ngồi của các em phải dễ trao đổi thảo luận với nhau để cùng nhau xây dựng bài dưới sự điều khiển của giáo viên Số lượng học sinh quá lớn trong nhóm sẽ làm cản trở sự trao đổi và điều khiển của nhóm trưởng cũng như các thành viên trong nhóm, dẫn đến một số em bị bỏ rơi khi thảo luận Tùy vào từng nội dung
và mục đích thảo luận để giáo viên chia nhóm và giao nhiệm vụ cho mỗi nhóm sao cho phù hợp và hiệu quả Tránh tình trạng nhiều em có thói quen ỷ lại, ngồi chờ kết quả của bạn Giáo viên cần hướng dẫn các em luân phiên chỉ định nhóm trưởng và chỉ định thành viên báo cáo kết quả trong hoạt động nhóm một cách linh hoạt phù hợp với hoạt động nhóm trong từng bài học
Ví dụ: Dạy bài Mở rộng vốn từ: Công dân (tuần 20 - lớp 5) Bài tập 2:
Xếp những từ có tiếng công cho dưới đây vào nhóm thích hợp (công dân, công
nhân, công bằng, công cộng, công lí, công nghiệp, công chúng, công minh, công tâm)
Giáo viên tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm
+ Giáo viên chia lớp thành các nhóm, mỗi nhóm 3 em
+ Giáo viên giao nhiệm vụ, phát cho mỗi nhóm một phiếu có sẵn một
cánh hoa là yêu cầu chung của bài tập và 3 cánh hoa rời, mỗi cánh ghi một yêu
Trang 7cầu của bài tập (câu a, câu b, câu c) Một nhóm làm vào phiếu khổ to để trình bày trước lớp
a Công có nghĩa là “của nhà nước, của chung”
b Công có nghĩa là “ không thiên vị”
c Công có nghĩa là” thợ, khéo tay”
+ Học sinh thảo luận nhóm, phân công nhau hoàn thành nhiệm vụ trong mỗi cánh hoa sau đó gắn lên bông hoa
+ Hết thời gian, các nhóm nộp kết quả
+ Đại diện nhóm làm vào phiếu khổ to lên trình bày kết quả, các nhóm khác theo dõi, nhận xét bổ sung
+ Giáo viên nhận xét chốt lại kết quả đúng, tuyên dương các nhóm hoàn thành tốt
Hình ảnh học sinh hoạt động nhóm trong tiết dạy Luyện từ và câu
lớp 5A4 Trường Tiểu học Cán Khê.
Trang 8Hình ảnh học sinh trình bày kết quả hoạt động nhóm trong tiết dạy Luyện từ và
câu lớp 5A4 Trường Tiểu học Cán Khê.
Qua hoạt động nhóm, học sinh đã phát huy được tính tích cực và chủ động trong học tập Tạo điều kiện cho tất cả các học sinh tham gia hoạt động để hoàn thành nhiệm vụ chung của nhóm mình Đồng thời rèn cho các em kĩ năng hợp tác, kĩ năng giải quyết vấn đề… nâng cao tinh thần trách nhiệm của bản thân
- Khi dạy học sinh thực hành trong các bài về Quan hệ từ, cách nối các vế câu ghép, tôi tổ chức cho các em chơi trò “nối tiếp”, trò chơi “hô - đáp”… Để thay đổi không khí trong giờ học
Ví dụ: khi dạy bài 42: Nối các vế câu ghép bằng quan hệ từ Bài tập 4:
Thêm vào chỗ trống một vế câu thích hợp để tạo thành câu ghép chỉ nguyên nhân - kết quả Giáo viên chuẩn bị sẵn các phiếu ghi các vế câu ghép cho sẵn Học sinh lần lượt lên bốc thăm, hô theo nội dung phiếu.Ví dụ: Học sinh hô: Do
Trang 9nó chủ quan….Học sinh khác đáp lại vế sau giáo viên cho học sinh lần lượt nêu đáp án của mình đến khi nào hết ý thì chuyển sang câu khác Trò chơi cứ tiếp tục như thế đến hết yêu cầu bài tập
Với hình thức tổ chức dạy học linh hoạt nói trên, tiết Luyện từ và câu của lớp có không khí lớp học sôi nổi, thoải mái, khiến học sinh mạnh dạn tự tin hơn Học sinh lĩnh hội kiến thức một cách nhẹ nhàng, chủ động, không ngồi chờ kết quả của bạn mà chỉ nhận được sự hỗ trợ từ bạn Từ đó rèn cho các em có khả năng diễn đạt, phát biểu ý kiến, đánh giá trước đông người thể hiện suy nghĩ, cảm xúc, thái độ yêu ghét, đồng ý hay không đồng ý để các em trở nên mạnh dạn tự tin trong học tập và trong giao tiếp
2.3.2 Giúp học sinh hình thành và nắm vững kiến thức mới
Phân môn Luyện từ và câu mang tính chất thực hành nên các kiến thức lí thuyết ở đây chỉ được đưa đến cho học sinh ở mức sơ giản và tập trung chú trọng đến các quy tắc sử dụng từ, câu Giáo viên phải có biện pháp dạy học để học sinh không phải học thuộc lòng mà ghi nhớ trên cơ sở những hiểu biết từ thực tế Để chuẩn bị dạy một đơn vị kiến thức lí thuyết về từ và câu, chúng ta đặt khái niệm cần dạy trong hệ thống chương trình để thấy rõ vị trí của nó, đồng thời phải nắm chắc nội dung khái niệm, nghĩa là bản chất của nó mà chúng ta cần đưa đến cho học sinh
Đối với dạng bài hình thành kiến thức giáo viên cần giúp học sinh khai thác tốt ngữ liệu ở phần nhận xét, hướng dẫn các em tự phát hiện và chiếm lĩnh kiến thức mới, tránh áp đạt các em nắm kiến thức một cách máy móc Huy động tối đa vốn kiến thức các em đó có để phát triển và khái quát thành khái niệm
GV nên sử dụng bằng sơ đồ tư duy để giúp các em dễ nhớ và nhớ lâu Khi dạy kiểu bài này chú trọng áp dụng một cách có hiệu quả các phương pháp: giảng giải, phân tích ngôn ngữ, khả năng tư duy, phân tích tổng hợp để hình thành kiến thức mới cho các em Giáo viên cần giúp học sinh hiểu được những đơn vị kiến thức vừa hình thành đó được dùng để làm gì? Dùng nó như thế nào khi nói
và viết? Điều đó giúp các em ghi nhớ kiến thức qua việc sử dụng nó trong giao tiếp một cách dễ dàng
Giáo viên tổ chức cho các em luyện tập thực hành bằng nhiều hình thức khác nhau để khắc sâu kiến thức mới Đồng thời giáo viên còn phải liên hệ với các đơn vị kiến thức mà các em hay nhầm lẫn để phân biệt một các rõ ràng, tránh nhầm lẫn khi sử dụng nó
Ví dụ: Khi dạy bài: Từ nhiều nghĩa (Tuần 6 - Lớp 5)
Giáo viên cần giúp học sinh hiểu được thế nào là từ nhiều nghĩa, nắm được nghĩa gốc và nghĩa chuyển trong từ nhiều nghĩa Phân biệt được nghĩa gốc, nghĩa chuyển của từ nhiều nghĩa trong một số câu văn
Giáo viên có thể sử dụng tranh, ảnh về các sự vật, hiện tượng, hoạt động để minh họa cho các nghĩa của từ nhiều nghĩa Ví dụ: tranh vẽ học sinh rảo bước đến trường, bộ bàn ghế, núi, cảnh bầu trời tiếp giáp mặt đất để giảng nghĩa cho các từ chân (chân người) chân bàn, chân núi, chân trời Tranh ảnh về răng của chiếc cào, mũi của chiếc thuyền, tai của ấm để giải nghĩa từ răng, mũi, tai
Trang 10Giáo viên giúp học sinh xác định nghĩa gốc của mỗi từ Trên cơ sở nghĩa gốc hình thành những nghĩa chuyển Từ đó hình thành khái niệm về từ cho học sinh, khắc sâu kiến thức cho học sinh qua các bài tập
Nghĩa gốc (Mũi em bé)
Từ nhiều nghĩa Nghĩa chuyển (mũi thuyền) Nghĩa chuyển Nghĩa chuyển (mũi sào)
Nghĩa chuyển (mũi dép)
Vậy từ mũi trong trường hợp trên là từ nhiều nghĩa
Từ đó GV giúp HS rút ra khái niệm: Từ nhiều nghĩa là từ có một nghĩa gốc và một hay một số nghĩa chuyển Các nghĩa của từ nhiều nghĩa bao giờ cũng có mối liên hệ với nhau
Ví dụ: - Đôi mắt của bé mở to (bộ phận quan sát của con người ở trên mặt) Trong trường hợp này từ mắt là nghĩa gốc.
- Quả na mở mắt (quả na bắt đầu chín, có những vết nứt rộng ra giống hình con mắt) Trong trường hợp này từ mắt là nghĩa chuyển.
Muốn phân tích được nghĩa của từ nhiều nghĩa, trước hết phải, miêu tả thật đầy đủ các nét nghĩa của nghĩa gốc để làm cơ sở cho sự phân tích nghĩa.Vì vậy giáo viên cần cho học sinh thấy rõ: Biểu tượng làm hình ảnh về hình dáng, kích thước, đặc điểm, tính chất của sự vật được phản ánh trong ngôn ngữ trong nghĩa gốc của từ, dưới dạng các nét nghĩa trở thành cơ sở để tự phát triển thêm nghĩa mới Nhờ vào quan hệ liên tưởng tương đồng người ta liên tưởng từ sự vật này đến sự vật kia trên những đặc điểm, hình dáng, tính chất giống nhau hay gần giống nhau giữa các sự vật ấy Từ chỗ gọi tên sự vật, tính chất, hành động này (nghĩa 1) chuyển sang gọi tên sự vật, tính chất, hành động khác nghĩa (nghĩa 2), quan hệ nhiều nghĩa của từ nảy sinh từ đó
Ví dụ: Chín: (1) chỉ quả đó qua một quá trình phát triển, đạt đến độ phát
triển cao nhất, hoàn thiện nhất, độ mềm nhất định, màu sắc đặc trưng (cam
chín).
(2) Chỉ quá trình vận động, quá trình rèn luyện, khi đạt đến sự phát triển cao
nhất (Suy nghĩ chín, tình thế cách mạng đã chín, tài năng đã chín)
(3) Sự thay đổi màu sắc nước da (ngượng chín cả mặt)
Để học sinh không nhầm lẫn giữa từ đồng âm và từ đồng nghĩa giáo viên cần chỉ rõ: Nghĩa của từ đồng âm khác hẳn nhau (ví dụ: treo cờ - chơi cờ) Nghĩa của từ nhiều nghĩa bao giờ cũng có mối liên hệ Nhờ biết tạo ra từ nhiều nghĩa từ một nghĩa gốc, Tiếng việt trở nên hết sức phong phú
Qua việc giáo viên nhận xét, đánh giá khả năng tiếp thu kiến thức của học sinh cho thấy: giáo viên lựa chọn phương pháp và hình thức dạy học phù hợp với nội dung bài giảng, giúp học sinh phát huy khả năng của mình và đạt hiệu quả cao trong học tập
2.3.3 Mở rộng vốn từ cho học sinh
Trong Tiếng Việt thì phân môn luyện từ và câu là rất quan trọng Nó góp phần hình thành các kĩ năng cần thiết cho học sinh Mặc dù là một phân môn độc lập song phân môn Luyện từ và câu lại song hành cùng các môn học khác