Phương / Giới thiệu Sự xuất hiện của lạm phát mục tiêu hơn mươi năm qua là sự phát triển thú vị trong cách tiếp cận việc thực thi chính sách tiền tệ của các ngân hàng trung ương Sau khi được chấp nhận[.]
Trang 1/ Giới thiệu
Sự xuất hiện của lạm phát mục tiêu hơn mươi năm qua là sự phát triển thú vị trongcách tiếp cận việc thực thi chính sách tiền tệ của các ngân hàng trung ương Sau khi đượcchấp nhận tại New Zealand vào năm 1990, lạm phát mục tiêu trở thành sự lựa chọn củamột lượng lớn các ngân hàng trung ương của các nên kinh tế công nghiệp và mới nổi
Một thập kỷ lạm phát mục tiêu trên thế giới cung cấp bài học về thiết kế và thựchiện lạm phát mục tiêu thực thi chính sách tiền tệ và điều hành đất nước theo lạm phátmục tiêu Trong phần 2, bài báo đánh giá những điểm chính kinh nghiệm lạm phát mụctiêu, phân tích thống kê các nước có lạm phát mục tiêu có cấu trúc khác như thế nào sovới các nước công nghiệp không có lạm phát mục tiêu và đánh giá sự thành công củalàm phát mục tiêu.Sự tương tác giữa lạm phát mục tiêu và việc thực thi chính sách tiền tệtrong quá trình chuyển đổi từ lạm phát thấp được giảii quyết ở phần 3 Sau đó bài báo tậptrung vào các vấn đề chưa được giải quyết trong thiết kế và thực hiện lạm phát mục tiêu
và mối quan hệ trong việc thực thi chính sách tiền tệ
2/ Chúng ta biết gì về lạm phát mục tiêu sau một thập kỷ kinh nghiệm của thế giới ?
2.1 Ai tạo ra lạm phát mục tiêu và bằng cách nào?
Lạm phát mục tiêu bắt đầu một thập kỷ trước, với thông báo chung của lạm phátmục tiêu tại New Zealand và Chile Theo ước tính của chúng tôi, 19 nước lạm phát mụctiêu đã được ghi nhận vào tháng 11 năm 2000 Chúng bao gồm một loạt các nền kinh tếcông nghiệp và mới nổi, lạm phát mục tiêu ổn định, mục tiêu phân nửa và đầy đủ, cũ, gầnđây và mới bắt đầu
Hình 1 mô tả những ngày qua và tỷ lệ lạm phát ban đầu ( vào năm được chấp nhận)của 19 nước
Chúng tôi giới thiệu 2 nhóm nước để thực hiện các phân tích dựa trên thực nghiệmđược tiến hành trong thập kỷ những năm 1990 ( Bảng 1) một mẫu lạm phát mục tiêu vàmột mẫu không lạm phát mục tiêu Các mẫu đầu tiên của lạm phát mục tiêu bao gồm mộtnhóm không đồng nhất của 18 nền kinh tế công nghiệp và mới nổi: Úc, Brazil, Cânda,Chile, Cộng hòa Czech, Phần Lan, Isareal, Hàn Quốc, Mexico, New Zealand, Peru, BaLan, Nam Phi, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thái Lan, và Vương quốc Anh (Phần Lan vàTây Ban Nha đã bỏ nhóm này khi từ bỏ chính sách tiền tệ sử dụng đồng euro năm 1999)
Mẫu thứ hai là một nhóm kiểm soát của 9 nền kinh tế công nghiệp mà không có lạm phát mục tiêu trong những năm 1990: Đan Mạch, Pháp, Đức, Ý, Nhật Bản, Na Uy,
Bồ Đào Nha, Thụy Sĩ, và Mỹ Trong số này có hai quốc gia (Đức vàThụy Sĩ) đã có mụctiêu chính sách tiền tệ rõ ràng trong hầu hết thập niên 90) có thể phân loại như targeterslạm phát tiềm ẩn (như lập luận của ông Bernanke, Laubach, Mishkin vàPosen, 1999), hainước mà không có mục tiêu rõ ràng (Nhật Bản và Mỹ), và 5 quốc gia châu Âu còn lại cómục tiêu tỷ giá hối đoái của họ trước khi sử dụng đồng euro vào năm 1999
Lạm phát mục tiêu đưa ra một số điểm tương đồng và khác biệt nhiều trong lạmphát:điều kiện tiên quyết, thiết kế mục tiêu, và các tính năng hoạt động Bốn sự kiện xuấthiện từ kinh nghiệm quốc gia và các đặc tính tính năng, như tóm tắt trong Bảng 2
(i) Lạm phát mực tiêu đầy đủ dựa trên năm cột trụ: không có neo danh nghĩa,một cam kết về thể chế để ổn định giá cả, không có sự thống trị tài chính, công
Trang 2cụ chính sách độc lập, và minh bạch về chính sách Trong khi trụ cột 2-5 đượcyêu cầu cho tính hiệu quả của chính sách tiền tệ theo cấpchế độ, chúng là nhữngđiều kiện tiên quyết quan trọng đối với hiệu quả của chính sách theo lạm phátmục tiêu Lý do là vì sự thành công của lạm phát mục tiêu phụ thuộc rất nhiềuvào độ tin cậy của thị trường khi quyết tâm và khả năng của các ngân hàngtrung ương để đưa ra những chính sách nhằm đáp ứng các mục tiêu Và sự tínnhiệm được nuôi dưỡng bởi năm trụ cột thể chế.
(ii) Nhiều quốc gia thông qua lạm phát mục tiêu mà không cần đáp ứng một hoặcnhiều những điều kiện được đề cập ở trên Ví dụ, Chile và Israel hướng mục tiêutheo tỷ giá hối đoái trong hầu hết năm 1990 Ngân hàng Anh bắt đầu lạm phát mụctiêu trước khi đạt được công cụ độc lập Hầu hết các nước đã thông qua mục tiêulạm phát tốt trước khi đạt mức cao của sự minh bạch chính sách (bao gồm cả công
bố các báo cáo lạm phát , dự báo lạm phát, và biên bản cuộc họp chính sách tiền tệ)một cách đầy đủ Một số quốc gia bao gồm Colombia, Israel, Hàn Quốc, Mexico,Peru, và Nam Phi không công bố dự báo lạm phát được nêu ra Trên mặt khác làBrazil, người đã thông qua mục tiêu lạm phát chính thức ngay từ đầu Kinh nghiệmcủa các nước cho thấy rằng thông qua mục tiêu lạm phát trong những năm 1990được tương đương với một chính sách tiền tệ Chỉ bây giờ mới có một sự đồngthuận rộng rộng về các điều kiện đó sẽ được thay cho mức lạm phát mục tiêuchính thức Tuy nhiên những điều kiện tiên quyết là hiển nhiên hơn trong nửa đầucủa thập niên năm 1990, khuôn khổ lạm phát mục tiêu được sớm hoàn thiện bằngcách học hỏi tích lũy kinh nghiệm
(iii) Phạm vi lạm phát từ khá cao rất thấp Một số nước đã thông qua lạm phát mụctiêu khi tỷ lệ lạm phát của họ ở trên mức ổn định, sử dụng lạm phát mục tiêu như
là công cụ chính để xây dựng độ tin cậy, mang lại những kỳ vọng lạm phát giảm.Đây là trường hợp của lạm phát mục tiêu của các quốc gia mới nổi bắt đầu với mứclạm phát ban đầu của 15-45% (Chile, Israel, Peru) và sau đó mới nổi nước chấpnhận lạm phát là nơi đầu tiên trong khoảng 7-20% (Cộng hòa Séc, Colombia,Mexico, Ba Lan)
Điều này dựa trên sự đối ngược lạm phát mục tiêu của các nước công nghiệp và cácnước mới nổi mà bắt đầu lạm phát ban đầu ở thấp cấp
2,2 Có phải những lạm phát mục tiêu là khác nhau?
Được các nước áp dụng lạm phát mục tiêu khác nhau từ phi lạm phát mục tiêu công nghiệp về điều kiện kết cấu và hiệu quả kinh tế vĩ mô? Ở đây chúng tôi giải quyết
câu hỏi này bằng cách so sánh mẫu của chúng tôi là 18 mẫu lạm phát mục tiêu vào 9 nhóm công nghiệp phi lạm phát theo định nghĩa ở trên Chúng tôi tập trung vào các mối quan hệ giữa có (hoặc không) một lạm phát ở vị trí nhắm mục tiêu theo khuôn khổ và một bộ kết cấu, thể chế, và
tính năng kinh tế vĩ mô Các phân tích dựa trên kinh nghiệm ở đây có nhất thiết phải sơ
bộ bởi vì (như là thảo luận trong chú thích 1) nó không phải là luôn luôn dễ dàng để quyết định liệu một quốc gia nên được phân loại như là tham gia vào nhắm mục tiêu lạm phát hoặc không Hơn nữa, việc xác định ngày chính xác của chế độ lạm phát mục tiêu là rất khó khăn
5 Ví dụ, mặc dù các ngân hàng trung ương của Peru và Colombia thực hiện thông báo chỉ tiêu lạm phát, tiền tệ của họ khung chính sách không chứa nhiều tính năng quan trọng của một chế độ lạm phát mục tiêu (Mishkin và Savastano, 2000) Hàn Quốc được
Trang 3phân loại như là một targeter lạm phát bởi vì nó có một công bố lạm phát mục tiêu, nhưng nó dường như đã được theo đuổi một thực tế tỷ giá chốt trong hai năm đầu tiên của mình nuôi con nuôi của một chế độ lạm phát mục tiêu là thường khá khó khăn Các quan chức tại nhiều trung tâm ngân hàng chúng tôi đã tham khảo ý kiến thường xuyên cung cấp cho ngày cho việc thông qua mục tiêu lạm phát mà sớm hơn so với bên ngoài làm (ví dụ, ông Bernanke và cộng sự, 1999.) Sự không chắc chắn của tình yêu thường sau từ thực tế là lạm phát mục tiêu được áp dụng dần dần theo thời gian, làm
chính xác ngày thông qua khó khăn để xác định dữ liệu của chúng tôi là bao gồm bởi các biến hàng năm cho 27 quốc gia và 10 năm (1990 - 1999) của dữ liệu Trọng tâm là lạm phát mục tiêu biến chế độ riêng biệt mà phải mất một giá trị của 1 (khi một chế độ lạm phát mục tiêu được đặt ra) hoặc 0 (khi một sự thay thế chế độ tiền tệ được đặt ra)
và một tập các biến mà có thể được kết hợp với sự lựa chọn lạm phát là mục tiêu theo chế độ 6 Các biến thứ hai bao gồm các biện pháp của việc sử dụng thay thế danh nghĩa neo (một thước đo độ rộng băng tần tỷ giá và mục tiêu tiền tệ dummy), cấu trúc điều kiện (thương mại mở cửa), ngân hàng trung ương các biện pháp độc lập
(Chính thức độc lập, độc lập, dụng cụ, và mục tiêu độc lập), và kinh tế vĩ mô biến (tỷ lệ lạm phát và thặng dư tỷ lệ tài chính với GDP) Bảng 3 báo cáo quốc gia và thống kê qua bảng điều khiển và tương quan với lạm phát mục tiêu và các biến có liên quan Các số liệu phản ánh sự thay đổi lớn trong tất cả các loại biến giữa các nước và qua thời gian trong mẫu 27-đất nước của chúng tôi Bảng tương quan đôi khi rất khác nhau từ tương quan giữa các nước, kể cả trường hợp thay đổi trong các dấu hiệu Đây là một có khả năng kết quả của tiếng ồn gặp phải trong dữ liệu quốc gia hàng năm do đó chúng tôi tập trung vào chéo nước tương quan Có mục tiêu lạm phát tại chỗ là tích cực và không
có tương quan đáng kể cá nhân biến và tiêu cực và đáng kể chỉ tương quan với mức tăng trưởng tiền tệ mục tiêu (MT) Lạm phát mục tiêu là tích cực và không có ý nghĩa tương quan với thương mại sự cởi mở (Open), tỷ lệ thặng dư tài chính để GDP (tài chính), tỷ giá băng tần rộng (BW), và ngân hàng trung ương cụ độc lập (CBII), và các tiêu cực và không đáng kể
phuong
Tiếp theo chúng tôi giới thiệu một mô hình hồi quy đa biến đối với khả năng lạm phátmục tiêu, dựa trên khảo sát các biến được xác định ở trên Mô hình này xác định xác suấtcủa việc có một mức lạm phát mục tiêu (Pr (IT | ) như là một hàm số của các biến đượcgiới thiệu ở trên:
Pr (IT | ) = f (Infl (lạm phát), Open (tự do thương mại), Fiscal (tỷ lệ thặng dư/GDP),
BW (biên độ tỷ giá), MT(biến giả định về tăng trưởng tiền tệ), CBFI (biến giả định về
tính độc lập của NHTW), CBGI (biến giả định về tính độc lập của mục tiêu của NHTW),
CBII (biến giả định về tính độc lập của các công cụ của NHTW))
Dự kiến dấu của các hệ số: đồng biến với các biến Fiscal, BW và 03 biến đo lường sự độc lập của NHTW (CBFI, CBGI, CBII); nghịch biến với biến MT; chưa có mối quan
hệ rõ ràng với biến Infl và Open.
Trang 4Trước khi chuyển sang các kết quả chúng tôi lưu ý rằng việc giải thích phương trình trênnên được xem xét theo các quan hệ nguyên nhân - kết quả
Trong khi có một số yếu tố ngoại sinh ảnh hưởng đến sự lựa chọn lạm phát mục tiêu, rất
có khả năng là việc chấp nhận lạm phát mục tiêu đòi hỏi và do đó góp phần đến việc từ
bỏ các mục tiêu khác, cải thiện điều hành kinh tế vĩ mô (chẳng hạn như giảm lạm phát vàcải thiện các quan điểm tài chính), và tăng cường tính độc lập của NHTW, như chúng tatranh luận dưới đây Do có khả năng đảo ngược mối quan hệ nhân quả nên cần phải giảithích cẩn thận các kết quả thực nghiệm Chúng tôi bắt đầu bằng việc thảo luận các kếtquả đầy đủ kết quả trong cột đầu tiên của Bảng 4
Lạm phát mục tiêu đồng biến và có liên quan đáng kể đến tỷ lệ lạm phát trung bình, mộtkết quả phản ánh rằng lạm phát mục tiêu đã được thông qua ở những quốc gia (tính bìnhquân) có mức lạm phát cao hơn so với các nước công nghiệp không có nguy cơ lạm phátThật vậy, hầu hết các nước mới nổi đã thông qua lạm phát mục tiêu như là một thiết bị đểkéo lạm phát xuống mức thấp Và hầu hết các nước đang phát triển và các nước côngnghiệp đều đạt được tiến bộ lớn trong việc giảm lạm phát trong khi hoặc ngay trước khihoặc sau khi thông qua mục tiêu lạm phát (Bernanke và cộng sự năm 1999, Corbo et al.2000) Các quốc gia có giao dịch thương mại nhiều thì có nhiều khả năng thông qua lạmphát mục tiêu Kết quả đó phản ánh rằng hầu hết các nước công nghiệp lớn không cónguy cơ lạm phát
Lạm phát mục tiêu là nghịch biến với tỷ lệ thặng dư tài chính/GDP Thêm một kết quảkhảo sát tại 9 quốc gia công nghiệp không có nguy cơ lạm phát cho thấy các nước này có
tỷ lệ thặng dư tài chính/GDP cao hơn 18 nước có nguy cơ lạm phát Tuy nhiên điều nàykhông mang ý nghĩa nhiều
Lạm phát mục tiêu là đồng biến nhưng ảnh hưởng không đáng kể với chiều rộng củabiên độ tỷ giá Theo dự kiến, lạm phát mục tiêu là nghịch biến và ảnh hưởng đáng kể vớiviệc thông qua các chỉ tiêu tăng trưởng tiền tệ, phản ánh sự không tương thích của việcđồng thời có mục tiêu tiền tệ và lạm phát Cuối cùng chúng ta xem xét ảnh hưởng củatính độc lập của NHTW Khả năng lạm phát mục tiêu là đồng biến với tính độc lập củacủa NHTW (mặc dù hệ số của nó là không đáng kể) và chịu ảnh hưởng đáng kể đối vớitính độc lập của các công cụ của NHTW
Tuy nhiên lạm phát là mục tiêu nghịch biến và ảnh hưởng đáng kể với tính độc lập củacác mục tiêu của NHTW Kết quả cho thấy rằng khi NHTW có quyền tự do để xác địnhcác mức mục tiêu của họ thì nên thực hiện điều đó theo công cụ tỷ giá hoặc tăng trưởngtiền tệ hơn là lạm phát mục tiêu Do đó lạm phát mục tiêu có liên quan đến việc từ bỏ cácmục tiêu độc lập của chính phủ
Chúng tôi báo cáo trong cột 2 một kết quả hồi quy cho thấy sự giảm sút của những biến ítảnh hưởng Tất cả năm biến số còn lại trở nên quan trọng hơn
Các kết quả trên đây được dựa trên các mẫu nước toàn diện, bao gồm ba các nước có tỷ
lệ lạm phát rất cao trong những năm 1990 Brazil, Peru, và Ba Lan Tiếp theo kết quả giớihạn tại 24 nước ở cột 3 và 4 Hệ số, giá trị, và mức ý nghĩa thay đổi rất ít từ những báocáo cho các mẫu toàn diện Do đó kết quả của chúng tôi có cơ sởloại trừ yếu tố lạm phátcao Như đã thảo luận trong chú thích 5, có một số câu hỏi về việc liệu ba nước có cầnđược xem như như là mục tiêu lạm phát Các kết quả hồi quy cho việc này
Trang 5thay thế 24 mẫu nước, báo cáo trong cột 5 và 6 của Bảng 4, cũng là kết quả của mẫu đầyđủ
2.3 Liệu lạm phát mục tiêu là một câu chuyện thành công?
Một mặt nó đã được lập luận rằng các cấu trúc và hoạt động kinh tế vĩ mô của nhữngquốc gia khác chấp nhận lạm phát mục tiêu thì khác nhau về một số khía cạnh đối với cácnước sử dụng chính sách tiền tệ (Bernanke, et al, 1999, Cecchetti và Ehrmann 2000,Schaechter, Stone, và Zelmer 2000, Corbo và-Hebbel Schmidt năm 2000,Corbo,Landerretche, và Hebbel-Schmidt 2000)
Mặt khác, có lập luận rằng một số quốc gia công nghiệp không có mục tiêu lạm phátchính thức (như Đức trước khi đồng euro,Thụy Sỹ trước năm 2000, và Mỹ) theo đuổi mộtchính sách tiền tệ gần giống như là lạm phát mục tiêu (Mishkin 1999b) Liệu điều này cóđược xem như là lạm phát mục tiêu là tương đương với chính sách tiền tệ ở góc độ chínhsách và kết quả? Các nghiên cứu thực nghiệm gần đây nói gì về điều này
Chúng tôi tập trung vào câu hỏi này bằng việc tiến hành xem xét ngắn gọn về công việcthực nghiệm gần đây đánh giá một thập kỷ kinh nghiệm trên toàn thế giới với mục tiêulạm phát Từ đó cố gắng đánh giá toàn diện, chúng tôi xác định một vài kết luận tiêu biểucho mặt thành công tương đối của lạm phát mục tiêu
Tính độc lập của NHTW là củng cố, song hành với mục tiêu lạm phát Kinh nghiệm
của những quốc gia trong thập niên 90 cho thấy rằng việc mở rộng tính độc lập củaNHTW thường xuyên hỗ trợ mục tiêu lạm phát Ở một số nước mục tiêu lạm phát đãđược thông qua sau khi NHTW được cung cấp các các công cụ độc lập, như trường hợp ởNew Zealand và Chile Ở các nước khác, như Anh, công cụ độc lập được cung cấp saukhi có mục tiêu lạm phát Các mặt tích cực của lạm phát mục tiêu được xác nhận bởi kếtquả thực nghiệm của chúng tôi cho các công cụ lập chính thức, nhưng không phải chomục tiêu độc lập Truyền thông, minh bạch, và trách nhiệm củng cố cho lạm phát mụctiêu Việc thông qua mục tiêu lạm phát đã thường được theo sau (và đôi khi trước) bằngcách cải tiến mạnh trong giao tiếp NHTW với công chúngvà các thị trường và cải thiệnđáng kể về tính minh bạch chính sách tiền tệ
Hầu hết các mục tiêu lạm phát bắt đầu bằng việc công bố báo cáo lạm phát, báo cáochính sách tiền tệ, các cuộc họp của NHTW, mô hình của NHTW, và dự báo lạm phát(xem bảng 2) Nỗ lực truyền thông của NHTW được cho là quan trọng hơn chính sáchtiền tệ để thực hiện các mục tiêu lạm phát
Lạm phát mục tiêu đã thành công trong việc giúp đỡ các nước để giảm lạm phát nhưngkhông dưới mức của các nước công nghiệp phi lạm phát Bằng chứng cho thấy các nước
đã thông qua lạm phát mục tiêu thì giảm lạm phát trong dài dạn xuống mức thấp hơn sovới việc nếu thông qua lạm phát mục tiêu Tuy nhiên lạm phát mục tiêu không làm cholạm phát xuống dưới mức đã đạt được của các nước công nghiệp áp dụng khác chínhsách tiền tệ, như thể hiện bởi al Bernanke và cộng sự Năm 1999 và kết quả của chúng tôi
ở trên
Lạm phát mục tiêu đã được kiểm nghiệm bởi những cú sốc bất lợi Những năm 1990,ngoại trừ cuộc khủng hoảng tài chính 1997-1999 ở quốc gia mới nổi, các cú sốc này trảtrở nên quen thuộc với nền kinh tế thế giới, do sự mở rộng lớn nhất của Mỹ sau Thế chiến
II Thực tế này đã khiến nhiều nhà quan sát cho cho rằng lạm phát mục tiêu là một khuôn khổ nào đó chưa được kiểm chứng Nhưng điều này là không đúng
Trang 6Mục tiêu của lạm phát là nhiều nền kinh tế nhỏ và mở đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng dohậu quả của cuộc khủng hoảng châu Á năm 1997, trái ngược với những nước côngnghiệp lớn phi lạm phát đã không bị ảnh hưởng bởi những cú sốc.
Úc, Chile, Israel, và New Zealand chịu cú sốc bất lợi về tài chính và các điều khoảnthương mại, dẫn đến sự giảm sút lớn trong tỷ giá hối đoái các nước này, đây là 1 kiểm trađáng kể đối với sự đạt được các mục tiêu lạm phát của họ Họ đã vượt qua cú shock nàythành công, bằng cách ghi nhận sự tăng giá (do giảm tỷ giá hối đoái) sang lạm phát Cúshock giá dầu 1999-2000 thể hiện bài kiểm tra thứ hai cho tác động lạm phát đến nhữngquốc gia nhập khẩu dầu, trong đó có đề cập đến các nước nói trên và Brazil, Cộng hòaSéc, Ba Lan, và những nước khác Sự gia tăng lạm phát đáng kể ở những nước nhập khẩuthông qua cả giá năng lượng và giảm giá tỷ giá có thể đặt các nước này trong tình trạngnguy hiểm Tuy nhiên bằng chứng hiện tại từ nhiều tác động của lạm phát cho thấy tácđộng của cú sốc dầu mỏ vào lạm phát cơ bản đã không còn quan trọng
Lạm phát mục tiêu đã giúp các quốc gia trong việc giảm mức thâm hụt và và duy trì sảnlượng ổn định, đến mức gần với mức ở những nước trong công nghiệp phi lạm phát.Bernanke cho rằng lạm phát mục tiêu đã không làm chi phí giảm phát ít tốn kém hơn, vìmức thâm hụt và đường cong Phillips đã không bị thay đổi do lạm phát mục tiêu Tuynhiên, theo các bằng chứng mới cho một mẫu nghiên cứu lớn hơn, Corbo(2000), kết luậnrằng mức thâm hụt giảm ở các nước đang mới nổi sau khi thông qua lạm phát mục tiêu
Họ cũng thấy rằngsản lượng không ổn định đã giảm ở cả các nước mới nổi và côngnghiệp hóa sau khi thông qualạm phát mục tiêu, với các mức tương tự (và đôi khi thấphơn) những kết quả khảo sát ở các nước công nghiệp không nhắm mục tiêu lạm phát Lạm phát mục tiêu có thể giúp các nước trong việc đưa lạm phát xuống, định hướnghướng kỳ vọng lạm phát và giải quyết tốt hơn với những cú sốc lạm phát Theo Almeida
và Goodhart (1998) và ông Bernanke và cộng sự (1999), lạm phát mục tiêu đã khônglàm giảm lạm phát mong đợi một cách nhanh chóng, chỉ dần dần theo thời gian Họ cũngthấy rằng các mục tiêu của lạm phát đã giảm mạnh trong những năm 90, cho thấy mụctiêu lạm phát đã tăng cường hướng tới kỳ vọng tương lai vào lạm phát, do đó làm suy yếusức ảnh hưởng của lạm phát vừa qua
Chính sách tiền tệ theo lạm phát mục tiêu là đáp ứng linh hoạt với những cú sốc lạm phát
và thích nghi với những cú sốc lạm phát tạm thời mà không ảnh hưởng đến mục tiêutrung hạn Mục tiêu của lạm phát không phải là những quốc gia “lạm phát nutrer”(mộtcụm từ do King, 1996 ,đó là, các NHTW đã tập trung vào các mục tiêu lạm phát gâyphương hại cho sự tăng trưởng ổn định, việc làm và / hoặc tỷ giá hối đoái) bởi vì họthường phản ứng tương xứng những cú sốc tích cực và tiêu cực, theo đuổi mục tiêu giảmphát dần dần, và phản ứng những cú sốc sản lượng tạm thời Bằng chứng của Cecchetti
và Ehrmann (2000) cho thấy độ lệch sản lượng đầu ra có liên quan đến tất các các mụctiêu của lạm phát
Chính sách tiền tệ rõ ràng tập trung hơn vào lạm phát mục tiêu và có thể trở nên bền bĩhơn nhờ lạm phát mục tiêu NHTW được giao nhiệm vụ để tập trung vào ổn định giá cả
có xu hướng được tăng do lạm phát mục tiêu (Bernanke và cộng sự năm 1999.).Cecchetti
và Ehrmann (2000) đã cung cấp bằng chứng cho thấy NHTW không thích những cú sốclạm phát (so với những cú sốc sản lượng) đã trở nên quen với việc thông qua lạm phátmục tiêu, một kết luận có phần xác nhận của Corbo et al (2000)
Trang 7Chúng tôi kết luận rằng lạm phát mục tiêu đã được chứng minh là một thành công mới khuôn khổ tiền tệ, cả trong việc so sánh các mục tiêu lạm phát và chế độ tiền tệ thay thếđược thông qua bởi một nhóm các quốc gia công nghiệp rất thành công những năm 90
3 Xem xét lại vấn đề thiết kế vận hành
Khảo sát của chúng tôi trong phần trước vạch ra một số yếu tố của thiết kế vận hànhcủa hệ thống lạm phát mục tiêu Tuy nhiên, có ba vấn đề thiết kế xứng cần thảo luận chitiết: 1) sự tương tác giữa các mục tiêu, bề rộng của phạm vi mục tiêu, và sử dụng các điềukhoản giải thoát; 2) lạm phát mục tiêu trong thời gian chuyển tiếp từ lạmphát cao đến thấp; 3) có nên đặt mục tiêu lạm phát trung hạn; và 4) vai trò của tỷgiá và giá tài sản khác Chúng tôi thảo luận lần lượt
3.1 Sự tương tác giữa các mục tiêu , bề rộng của phạm vi mục tiêu , các điều khoản giảithoát , và Lựa chọn các mục tiêu cốt lõi
Một vấn đề trung tâm cho việc thiết kế mô hình lạm phát mục tiêu là chính sách tiền tệảnh hưởng đến nền kinh tế và lạm phát với độ trễ dài Đối với các nước đã có đạtđược mức lạm phát thấp, độ trễ được ước tính là khá dài hai năm hoặc thậm chí lâuhơn Tuy nhiên các mục tiêu ngắn hạn, nhất là các muc tiêu lạm phát cụ thể hàng năm đãđược khá phổ biến trong lạm phát mục tiêu
Việc sử dụng một mục tiêu quá ngắn, đặc biệt là khi phạm vi của một mục tiêu lạm phátthu hẹp, có thể dẫn đến vần đề về khả kiểm soát,thường xuyên bỏ lỡ những mục tiêu lạmphát ngay cả khi chính sách tiền tệ đang được tiến hành tối ưu Ví dụ, chính xác này diễn
ra ở New Zealand vào năm 1995, khi Ngân hàng Dự trữ vượt qua mục tiêu lạm phát mộtnăm từ 0 đến 2% của một vài phần mười một điểm phần trăm Điều này vượt qua làmthống đốc bị sa thải theo luật NHTW, mặc dù nó đã được công nhận rộng rãi rằngmức vượt qua này đã có khả năng duy trì trong thời thời gian ngắn và rằng lạm phát sẽsớm trở, và đúng như vậy
Mặc dù trong trường hợp New Zealand những vi phạm về phạm vi lạm phát mục tiêu
đã không dẫn đến một sự mất mát đáng kể độ tin cậy, trong những trường hợp khác(hoặc cho một quốc gia thị trường mới nổi), điều này có thể dẫn đến một sự mất mátnghiêm trọng của lòng tin cậy cho các NHTW
Mục tiêu ngắn và phạm vi hẹp cũng có thể dẫn đến sự bất ổn định trong các công cụ sửdung Khi NHTW cố gắng để đạt được các mục tiêu lạm phát thì sẽ có sự biến động bất
ổn trong các công cụ của chính sách tiền tệ Vấn đề này có thể đặc biệt nghiêmtrọng trong nền kinh tế nhỏ và mở, nơi mục tiêu ngắn và phạm vi hẹp được sử dụng nhiềuhơn điều khiển tỷ giá để đạt được mục tiêu lạm phát bởi tỷ giá có tác động nhanh hơnđến lạm phát so với lãi suất Các mục tiêu hàngnăm tại New Zealand và phạm vi 2 điểm
% các mục tiêu lạm phát là một lý do quan trọng khiến Ngân hàng Dự trữ tập trung nhiềuvào tỷ giá hối đoái trong việc tiến hành chính sách tiền tệ Điều này dẫn đến chínhsách thắt chặt tiền tệ vào cuối năm 1996, với lãi suất qua đêm lên đến 10% do longại rằng lạm phát sẽ tăng trên phạm vi mục tiêu vào năm 1997
Ví dụ của New Zealand vào năm 1996 cũng cho thấy rằng mục tiêu ngắn và phạm vi quáhẹp cũng có thể gây ra biến động sản lượng không mong muốn Một hệ quả của chínhsách tiền tệ quá thắt chặt vào cuối năm 1996 là nó đã góp phần vào suy thoái vào năm
Trang 81997 và năm 1998, được trở nên nặng hơn khi bị ảnh hưởng bởi những cú sốc thươngmại từ cuộc khủng hoảng Đông Á.
Để tránh các vấn đề bất ổn về công cụ và điều hành trong một chế độ lạm phát mục tiêu,
có bốn lộ trình mà các NHTW có thể thực hiện Thứ nhất, họ có thể chấp nhận việc bỏ lởcác mục tiêu trong những trường hợp cụ thể.Thứ hai, họ có thể hướng đến mục tiêu lạmphát cơ bản chứ không phải là lạm phát Thứ ba, họ có thể mở rộng phạm vi của các mụctiêu lạm phát Thứ tư, họ có thể đặt mục tiêu lạm phát trong nhiều năm tiếp theo
Chỉ có New Zealand áp dụng những “điều khoản giải thoát” chính thức vào hệ thống lạmphát mục tiêu bằng việc chấp nhận các tổ thất khi họ thay đổi đáng kể trong các điềukhoản thương mại, thay đổi về các loại thuế gián tiếp ảnh hưởng đến mức giá Lưu ýrằng những “điều khoản giải thoát” New Zealand áp dụng để đối phó với những cúsốc chỉ vì họ là quốc gia duy nhất bị ảnh hưởng của những cú sốc ngoại sinh Các cú sốc
có thể là do yếu tố ngoại sinh, nhưng khả năng gần như là do chính sách tiền tệ Điều nàycho phép NHTW có lý do để bào chữa rằng tổn thất trong mô hình lạm phát mục tiêu cóthể sẽ phá hủy mức độ tín nhiệm của NHTW và làm suy yếu hệ thống lạm phát mục tiêu.Như những “điều khoản giải thoát” chính thức mặc dù cung cấp một số tính linh hoạt giatăng, chỉ có thể đối phó một phần với các vấn đề bất ổn về công cụ và điều hành do mụctiêu ngắn và phạm vi hẹp
Có một cách thay thế những “điều khoản giải thoát” như là một phương pháp đối phó vớinhững cú sốc là hướng đến một thước đo lạm phát cơ bản, thước đo này loại trừ các danhmục chỉ số giá như thực phẩm, năng lượng vì các danh mục này dễ bị ảnh hưởng bởinhững cú sốc Sử dụng thước đo lạm phát có lợi thế hơn áp dụng những “điều khoảngiải thoát” vì nó liên quan đến tính “không tự do quyết định” sau khi cú sốc xảy ra, vì cúsốc này có thể gây cho dân chúng câu hỏi về tính trung thực của NHTW trong các camkết để đạt được các mục tiêu lạm phát
Tuy nhiên, thước đo lạm phát cơ bản cũng chi sẻ với những “điều khoản giải thoát” vềnhững bất lợi vì nó liên quan đến các công cụ bất ổn định và các vấn đề về khả năngkiểm soát Hơn nữa, thước đo lạm phát cơ bản có những bất lợi do sự không hiểu rõ củacông chúng, điều này làm các mục tiêu lạm phát cơ bản ít được biết đến hơn so với cáctiêu đề của mục tiêu lạm phát Ngoài ra, thước đo lạm phát cơ bản loại trừ các danhmục mà người tiêu dùng quan tâm đến, đặc biệt là những người nghèo quan tâm đến thựcphẩm và năng lượng chiếm phần lớn chi tiêu của họ Nếu các danh mục này bị loạitrừ khỏi thước đo lạm phát mà NHTW hướng tới, thì NHTW có thể phải chịu những lờichỉ trích rằng nó không quan tâm đầy đủ về các thành viên nghèo trong xã hội
Kéo dài các mục tiêu tương ứng với độ trễ của tác động của chính sách tiền tệ đến lạmphát có vẻ như là giải pháp tốt nhất để tăng khả năng kiểm soát và các công cụ bất ổnđịnh Thật vậy, với những vấn đề nó gặp phải trong năm 1997 và năm 1998, Ngân hàng
Dự trữ New Zealand hiện nay nhấn mạnh đến mục tiêu của sáu đến tám quý trong cuộcthảo luận của họ về chính sách tiền tệ (xem Sherwin năm 1999, và Drew và Orr1999) NHTW khác, bao gồm Ngân hàng của Canada và Ngân hàng Anh, có một thờigian dài, nhấn mạnh mục tiêu của gần hai năm, và điều này gần đây đã trở thành mụctiêu của Chile (NHTW Chile, 2000a )
Trang 9Tuy nhiên, Svensson (1997) đã nhấn mạnh, nếu NHTW có liên quan về biến động sảnlượng, thì dự báo lạm phát nên tiếp cận mục tiêu lạm phát dài hạn dần dần theo thờigian Điều này cho thấy một mục tiêu thậm chí chí còn lâu hơn độ trễ của chính sách tiền
tệ có thể thích hợp cho mục tiêu lạm phát
Các mục tiêu dài hạn có thể tạo ra các bất ổn cho hệ thống lạm phát mục tiêu bởi vì thờigian dài trước đó đã tồn tại yếu tố làm giảm lòng tin, đặt biệt là lòng tin vào NHTW.Cómột cách để đối phó với vấn đề này là có sự tương tác giữa các mục tiêu tối ưu và độrộng của nó: mục tiêu có thể duy trì tương đối ngắn, khoảng 2 năm, nếu phạm vi của mụctiêu là rộng Thật vậy, mở rộng phạm vi của mục tiêu từ 2-3 điểm phần trăm hiện đangđược Ngân hàng Dự trữ New Zealand xem xét để cải thiện hệ thống lạm phát mục tiêu,mặc dù ban đầu Ngân hàng này không phải là người ủng hộ sự thay đổi này Tuy nhiên,
mở rộng mục tiêu không phải là không có vấn đề của nó, như đã đề cập ở trên, bởi
vì nó cũng có thể làm tăng sự xáo trộn và làm suy yếu sự tín nhiệm của hệ thống lạm phátmục tiêu
Một cách khác để thực hiện mục tiêu dài hạn là việc sử dụng nhiều mục tiêu hàng năm đểmục tiêu lạm phát dần dần có thể tiếp cận được mục tiêu lạm phát dài hạn Đây là chiếnlược mà gần đây đã được Brazil và Mexico thông qua(Ngân hàng của Brazil, năm
1999, và Ngân hàng của Mexico 2000) Một phương pháp khác là cho NHTW để tiếptục công bố chỉ có một mục tiêu lạm phát trung hạn, nhưng cũng có thể công bố một mụctiêu lâu dài ở thời điểmmà các mục tiêu này gần đạt được Một lựa chọn thứ
ba cho các NHTW thông báo chỉ có một mục tiêu lạm phát dài hạn và dự báo lạmphát cho các năm tới, do đó mô tả kỳ vọng lạm phát đối với các mục tiêu dài hạn Đây
là cách tiếp cận gần đây đã được thông qua bởi Chile (NHTW Chile, 2000b), theo sau làcác nước công nghiệp khác
nhung
Lạm phát mục tiêu trong suốt quy trình từ lạm phát thấp đến cao:
Khi lạm phát thực tế tạm tính cách xa chỉ số lạm phát mục tiêu, cùng với việc tăng giámạnh mẽ, độ tín nhiệm của ngân hàng trung ương dường như bị giảm xuống Thêm nữa,khi chỉ số lạm phát thực cao (trên 10%) thì cơ quan quản lý tiền tệ không dễ gì kiểm soátđược lạm phát nữa Do đó mục đích của lạm phát mục tiêu là giảm phát từ chỉ số lạmphát cao sẽ đối mặt với nhiều thách thức
Masson đã đưa ra một phương án (1997): Có một cách dùng để giải quyết các vấn đềphức tạp phát sinh từ chỉ số lạm phát cao là phải dần dần đặt ra chỉ số lạm phát mục tiêu,phải đặt ra chỉ số lạm phát mục tiêu cân đối với sự gia tăng chỉ số giảm phát trước đó.Phương án này là một chiến lược đúng đắn áp dụng với đất nước có nền kinh tế thịtrường phát triển mạnh và chỉ số lạm phát cao Ví dụ, khi Chile thông qua chỉ số lạm phátmục tiêu năm 1991 với chỉ số lạm phát trên 20% thì lạm phát mục tiêu được xem như là
……Sau đó, ngân hàng trung ương sẽ đặt mạnh mục tiêu là phải ổn định giá cả và với sựthành công ở cả giảm phát và đạt lạm phát mục tiêu, khi đó chính quyền mới giải thích rõnhững mục tiêu của họ là mục tiêu “cứng” Cuối cùng vào tháng 5/2010, NHTW Chileban hành 1 công văn báo cáo về lạm phát, với những từ ngữ sáo rỗng tương tự như báocáo của các quốc gia công nghiệp Ví dụ, “Báo cáo về chính sách tiền tệ” không chỉ vạch
ra phương hướng tăng chỉ số lạm phát trước đó & làm cách nào NHTW sẽ đạt được chỉ
số lạm phát mục tiêu, mà đồng thời còn bao gồm dự báo lạm phát & đầu ra, xen kẽ với sự
tự tin cho những dự báo trong việc đi tiên phong của ngân hàng Anh Quốc
Trang 10Mexico cũng đồng thời theo đuổi làm sao để đạt được lạm phát mục tiêu Những ngườilãnh đạo lâu năm của ngân hàng Mexico gần đây mô tả về khuôn khổ chính sách tiền tệnhư là “một chu kỳ nghiệp vụ nhằm hướng tới kế hoạch lạm phát mục tiêu rõ ràng”(Carstens & Werner 1999) Trong vài năm gần đây, Mexico đã công bố minh bạch chỉ sốlạm phát mục tiêu đồng thời lúc Bộ Tài Chính đệ trình lên Đại biểu quốc hội các chiếnlược kinh tế cho những năm tiếp theo Ngân hàng Mexico cũng luôn luôn nhấn mạnhrằng lạm phát mục tiêu là điểm quan trọng nhất trong chính sách tiền tệ Vào năm 1999,sau khi chỉ tiêu lạm phát hàng năm là 12,3%, thấp hơn mức lạm phát mục tiêu 13%, thìlần đầu tiên ngân hàng trung ương đặt ra chỉ tiêu lạm phát mục tiêu là 10% cho năm 2000trước khi Bộ tài chính đệ trình chiến lược kinh tế năm 2000 cho Đại biểu quốc hội Vàbắt đầu từ tháng 4 năm 2010, NH Mexico cũng đã chính thức phát hành Báo cáo lạmphát, trong đó sẽ đề cập đến tỷ lệ lạm phát của năm vừa qua, và dựa vào đâu ngân hàngMexico đạt được lạm phát mục tiêu, tuy nhiên báo cáo này sẽ không đưa ra dự báo vềlạm phát và sản lượng quốc gia Ở số thứ 3 của Báo cáo lạm phát, phát hành vào tháng 10năm 2000, ngân hàng Mexico đã công bố chỉ số lạm phát mục tiêu cho nhiều năm kế tiếp,với quyết tâm là sẽ đạt được lạm phát mục tiêu là 3% vào tháng 12 năm 2003
Khi lạm phát có vẻ tăng lên và do đó công chúng & thị trường sẽ nghi ngờ và cho rằngNHTW khó mà đạt được lạm phát mục tiêu trong một năm mà sẽ là trong vài năm, khi đó
sự tín nhiệm bị giảm đi Vấn đề này sẽ làm NHTW gặp khó khăn khi đặt ra lạm phát mụctiêu và phải có một tầm nhìn xa hơn 1 năm khi tỷ lệ lạm phát đang ở mức cao Như chúng
ta đã từng thấy trong quá khứ, ngân hàng thường rơi vào trạng thái tiến thoái lưỡng nanbởi vì độ trễ trong việc thực thi chính sách tiền tệ Và giải pháp để giải quyết tình trạngtiến thoái lưỡng nan này là phải vạch ra một con đường cụ thể và phải đặt ra lạm phátmục tiêu với tầm nhìn trong trung & dài hạn, và biện pháp này đã được NHTW các nướcBrazil, CH Sec, Mexico và Hà Lan áp dụng từ năm 1998 Tuy nhiên, việc vạch ra mộtcon đường trung dài hạn cho lạm phát mục tiêu có thể đưa đến một nguy hiểm là NHTW
sẽ phải vạch ra lộ trình tiến đến lạm phát mục tiêu dài hạn, do đó sẽ dẫn đến sự khôngchắc chắn trong kiểm soát tỷ lệ lạm phát cao, dẫn đến dễ bị lệch khỏi đường lối phát triểndài hạn đã vạch ra trước đó Vấn đề này giải thích vì sao NHTW Chile đã không đưa rachỉ tiêu lạm phát cụ thể trong dài hạn khi họ bắt tay vào kiểm soát lạm phát mục tiêu vàonăm 1999
Khi tỷ lệ lạm phát cao giảm xuống thấp, thì sẽ xuất hiện 1 biên độ lớn hơn cho lạm phátmục tiêu để phản ánh sự không chắc chắn trong việc kiểm soát lạm phát khi tỷ lệ lạmphát đang ở mức cao Tuy nhiên, theo như những tranh cãi trong quá khứ thì nếu nới rộngbiên độ lạm phát mục tiêu sẽ dẫn tới vấn đề về sự tín nhiệm bởi vì chính phủ luôn sẵnsàng biện hộ rằng mọi thứ vẫn tốt với tỷ lệ lạm phát hiện tại khi mà tỷ lệ lạm phát mụctiêu vượt qua điểm cân bằng của vùng lạm phát, bởi vì họ cho rằng nó vẫn dưới mức trần
tỷ lệ lạm phát Nói 1 cách khác, lạm phát mục tiêu sẽ là 1 yếu tố để chính phủ phải cótrách nhiệm trong việc cam kết giảm tỷ lệ lạm phát và đặc biệt là chế độ lạm phát mụctiêu khi đang có tỷ lệ lạm phát cao bởi vì độ tín nhiệm sẽ bấp bênh hơn trong hoàn cảnh
đó Do đó đã có những cuộc tranh luận sôi nổi trong việc chọn điểm lạm phát ở phía trênvùng lạm phát khi 1 quốc gia đang theo đuổi giảm từ lạm phát cao xuống lạm phát thấp
Và có 1 điều rất lý thú là NHTW Chile đã hoán đổi từ vùng lạm phát mục tiêu sang điểmlạm phát mục tiêu vào năm 1994 khi thực hiện chế độ kiểm soát lạm phát mục tiêu
Sự tín nhiệm bất hoàn hảo trong suốt chuỗi nghiệp vụ từ lạm phát gần đây nhất đến xaxưa nhất thì đều ngụ ý rằng lạm phát mục tiêu thì cao hơn tỷ lệ lạm phát trước đó và thấp