1 I Tự do kinh tế và ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề 1 Tự do kinh tế là gì và các thành phần cơ bản để xác định sự tự do kinh tế Tự do kinh tế được hiểu là các giao dịch kinh tế mà không có sự can[.]
Trang 1I Tự do kinh tế và ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề:
1 Tự do kinh tế là gì và các thành phần cơ bản để xác định sự tự do kinh tế:
Tự do kinh tế được hiểu là các giao dịch kinh tế mà không có sự can thiệp của nhà nước, nhưng có sự hỗ trợ của nhà nước thông qua việc thiết lập hệ thống luật pháp, một đồng tiền mạnh và mở cửa thị trường
Các thành phần của tự do kinh tế là lựa chọn cá nhân, trao đổi tự nguyện và bảo vệ tài sản và con người Một nền kinh tế tự do là nền kinh tế mà trong
đó lựa chon cá nhân sẽ quyết định hàng hoá và dịch vụ nào sẽ được sản xuất
và sẽ được sản xuất như thế nào Tư hữu là cơ nền tảng của tự do kinh tế do với sự tư hữu, cá nhân có quyền lựa chọn và quyết định họ sẽ sử dụng các nguồn lực (thời gian, kỹ năng, tiền…) của họ như thế nào, mặt khác họ cũng không có quyền sử dụng nguồn lực của người khác và không có quyền yêu cầu người khác phải cung cấp cái gì đó cho họ
Tự do kinh tế phản ánh quyền được bảo vệ, đó là quyền bảo vệ tài sản của người này chống lại sự chiếm đoạt của người khác không thuộc về sở hữu của họ Các chính sách và cơ quan nhà nước với vai trò hỗ trợ là cần thiết đối với sự
tự do kinh tế, nhà nước cung cấp hạ tầng cho sự trao đổi tự nguyện, bảo vệ các cá nhân và tài sản của họ tránh khỏi sự chiếm đoạt của kẻ khác bằng vũ lực, sự lừa đảo hay trộm cướp Đồng thời nhà nước với hệ thống luật pháp và
cơ quan tư pháp đảm bảo các hợp đồng được các phía tôn trọng và thực hiện một cách công bằng Nhà nước cũng tăng cường sự tự do kinh tế thông qua việc tạo điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận một đồng tiền mạnh – đó là loại tiền được kiểm soát một cách hợp lý nhằm tránh khỏi sự mất giá do lạm phát quá mức
Tuy nhiên, với sự tự do kinh tế cũng đặt ra yêu cầu nhà nước phải hạn chế nhiều hoạt động như hạn chế thuế, chi tiêu chính phủ và chác các chính sách thay thế cho sự lựa chọn cá nhân, tự nguyên trao đổi và hợp tác thị trường
2 Vậy tại sao các kinh tế học tư bản lại nghiên cứu về vấn đề tự do kinh tế:
Có lẽ từ khi xuất hiện phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa thì các nhà kinh
tế học của giai cấp tư sản luôn đặt ra câu hỏi là nền kinh tế tư bản chủ nghĩa nên được điều hành theo cơ chế nào để có thể giải quyết tốt nhất các vấn đề
cơ bản của nền kinh tế như tăng trưởng, lạm phát, thất nghiệp, khủng hoảng…
và khi tiếp cận đối với vấn đề này thì luôn có hai trưởng phái khác nhau: đó là các trường phái đề cao vai trò của các quy luật khách quan của nền kinh tế
-họ cho rằng, nền kinh tế là một hệ thống tự điều chỉnh thông qua các quy luật kinh tế khách quan, nhà nước không can thiệp quá sâu vào nền kinh tế mà chỉ nên giữ vai trò như người gác cửa, người bảo vệ và đảm bảo cho các quy luật kinh tế khách quan được vận hành một cách hiệu quả - đó là quan điểm chủ đạo những người theo trưởng phái tự do kinh tế Ngược lại với những người theo trưởng phái tự do kinh tế những người theo trường phái đề cao vai trò của nhà nước lại cho rằng nếu nền kinh tế chỉ hoạt động tuân theo các quy luật khách quan của thị trường – hay cơ chế tự điều tiết của nền kinh tế thì sẽ không thể giải quyết được các vấn đề cơ bản của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa
do đó họ cho rằng nhà nước nên có sự can thiệp trực tiếp vào nền kinh tế
Trang 2thông qua sử dụng các công cụ, chính sách của nhà nước như thuế quan, bảo
hộ, chính sách tài chính…
Tuy nhiên, từ thực tế hoạt động của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa các nhà kinh
tế học tư sản cũng thấy rằng để giải quyết được các vấn đề cơ bản của nền kinh tế mà chỉ sử dụng sức mạnh của thị trường hay quá thiên về các chính sách công cụ mang tính hành chính, áp đặt của nhà nước sẽ không mang lại hiệu quả như mong đợi Một nền kinh tế phát triển tự phát không có sự điều chỉnh, định hướng sẽ tất yếu dẫn tới sự khủng hoảng kinh tế và ngược lại sử dụng quá nhiều yếu tố nhà nước sẽ triệt tiêu các động lực phát triển cơ bản của nền kinh tế dẫn tới sự hoạt động kém hiệu quả nền kinh tế như nạn lạm phát, độc quyền của các doanh nghiệp hoặc sự quan liêu bao cấp về kinh tế
do đó ta thấy có sự xích lại gần nhau hơn về cách thức điều hành nền kinh tế của các học thuyết kinh tế tư bản thể hiện rõ nhất điều này là các học thuyết kinh tế của trường phải chính hiện đại với lý thuyết về nên kinh tế hỗn hợp của A.Samuelson - chủ trương sử dụng cả sự điều tiết của thị trường và sự điều tiết của nhà nước đối với hoạt động của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa
3 Vậy nghiên cứu tư tưởng tự do kinh tế có ý nghĩa gì:
Ngày 07/11/2006, đánh dấu mốc Việt Nam được chính thức chấp nhận gia nhập Tổ chức Thưởng mại Thế giới - WTO, chấm dứt 12 năm đàm phán song phương và đa phương đối với các thành viên cũ của WTO Và năm 2007, là năm đầu tiên Việt Nam thực hiện các cam kết về thị trưởng khi là thành viên chính thức của WTO, mặc dù được hưởng nhiều ưu đãi cũng như được miễn thực hiện một số quy định do là nền kinh tế đang phát triển nhưng các cam kết
cơ bản của WTO đòi hỏi nền kinh tế Việt Nam phải có những điều chỉnh tích cực theo hướng giảm dần các hoạt động can thiệp của nhà nước vào nền kinh
tế như việc giảm trợ cấp đối với các ngành, lĩnh vực sản xuất, giảm thuế, giảm các biện pháp bảo hộ đối với nền kinh tế trong nước
Như vậy, có thể thấy việc gia nhập WTO, cũng có nghĩa là Việt Nam đã chấp nhận sân chơi chung mà trong đó luật chơi đề cao các nhân tố tự do kinh tế, tự
do trao đổi thương mại giữa các quốc gia, do đó việc nghiên cứu tự do kinh tế, cũng như những yêu cầu của một nền kinh tế được cho là tự do có ý nghĩa quan trọng, giúp cho người nghiên cứu có thể hiểu được thực chất vấn đề về
tự do kinh tế cũng như giải pháp mà các nhà kinh tế tư sản đề ra để thực hiện một nền kinh tế tự do
Tuy nhiên, với một nền kinh tế đang phát triển khi mà các loại thị trường chưa phát triển một cách đồng bộ, dễ bị tổn thưởng bởi các yếu tố bên ngàoi cũng như các nhân tố để đảm bảo có được một nền kinh tế phát triển bền vững, độc lập mà trong đó đặc biệt quan trọng nhất là các tổ chức, đơn vị kinh tế trong nước còn chưa đủ lớn mạnh và có sức cạnh tranh với các tổ chức kinh tế nước ngoài thì việc thấy được những hạn chế thông qua việc nghiên cứu thời kỳ nảy sinh các trường phái tư tưởng về tự do kinh tế cũng như tại sao các nhà kinh tế học tư sản vẫn hết sức đề cao vai trò can thiệp của nhà nước trong một nền kinh tế đã phát triển ở trình độ cao Từ đó có thể tìm kiếm và đề xuất một
số giải pháp nhằm đảm bảo sự hài hoà hơn giữa vai trò của nhà nước với vai trò của các quy luật kinh tế khách quan trong sự phát triển của nền kinh tế
II Tư tưởng tự do kinh tế trong các học thuyết kinh tế tư sản:
Trang 31 Tóm tắt tư tưởng tự do kinh tế trong các hoạt thuyết kinh tế tư sản chủ yếu: 1.1 Học thuyết của những người theo Chủ nghĩa trọng thương:
Chủ nghĩa trọng thương xuất hiện trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản ở vào giai đoạn tích luỹ nguyên thuỷ tư bản, với việc thực hiện thương mại bất bình đẳng với các nước yếu và nước thuộc địa Tư tưởng chủ yếu của học thuyết này là tăng cường hoạt động xuất khẩu (đặc biệt là các hàng hoá đã qua chế biên) hạn chế nhập khẩu Sử dụng các biện pháp hành chính phi kinh tế để tác động vào hoạt động kinh tế như đánh thuế cao, cấm xuất khẩu nguyên liệu thô, cấm mang tiền, vàng ra nước ngoài Nhìn nhận chung thì chủ nghĩa trọng thương hoàn toàn không coi trọng tự do kinh tế Tuy nhiên, ở một khía cạnh nào đó với việc gắn kết các thương gia với các nhà nước trong đó nhà nước bảo vệ hoạt động kinh doanh và tài sản của họ cũng như việc coi tiền (vàng) là của cải duy nhất của xã hội từ đó duy trì một đồng tiền mạnh (gắn chặt với vàng) thì cũng có thể coi như đó là những tư tương tạo cơ sở cho sự phát triển và tồn tại của sự tự do kinh tế
1.2 Các học thuyết kinh tế chính trị học tư sản cổ điển:
a Học thuyết của những người theo Chủ nghĩa trọng nông:
Có thế nói tư tưởng tự do kinh tế của những người theo chủ nghĩa trọng nông thể hiện rõ nhất qua học thuyết về trật tự tư nhiện, trong đó quy luật tác động vào lĩnh vực kinh tế là quy luật luân lý Theo đó, họ kêu gọi nên coi trọng và tuân theo các quy luật là tất yếu, thừa nhận quyền được tự do vủa con người coi đó luật tự nhiên không thể thiếu được, chủ trương có sự tự do cạnh tranh giữa những người sản xuất, thừa nhận quyền bất khả xâm phạm đối với chế
độ sở hữu
Như vậy, có thể nói học thuyết của những người theo chủ nghĩa trọng nông đã thể hiện và khuyến khích sự tồn tại và phát triển của các nền tảng của sự tự do kinh tế đó là: bảo vệ quyền sở hữu tài sản, sự tự do của con người chống lại
sự cưỡng đoạt, bóc lột sức lao động của xã hội phong kiến, cũng như tư tưởng
về sự tư do hoạt động và buôn bán
Tuy nhiên, tư tưởng tự do kinh tế của học thuyết này cũng có sự hạn chế, đó
là việc nó coi nhà nước là tối cao và đứng trên mọi thành viên của xã hội, thừa nhận sự tồn tại chính đáng của xã hội phong kiến Coi trọng nông nghiệp, trong khi đó không nhìn thấy vai trò của thương nghiệp trong việc tạo
ra sự giao lưu kinh tế rộng rãi, mở cửa thị trường tạo điều kiện cho sự tự do kinh tế
b Học thuyết chính trị cổ điển Anh:
Tư tưởng về tự do kinh tế của học thuyết chính trị cổ điển Anh tập trung vào
tư tưởng tự do kinh tế của A Smith với lý thuyết “ban tay vô hình” – hay sự hoạt động của các quy luật kinh tế khách quan là một “trật tự tự nhiên”, cần phải tôn trọng “trật tự tự nhiên”, tôn trọng bàn tay vô hình Hoạt động sản xuất và lưu thông hàng hoá phải được phát triển dựa trên sự điều tiết của bàn tay vô hình, nhà nước không nên can thiệp Nhà nước chỉ nên có các chức năng đó là bảo vệ quyền sở hữu của các nhà tư bản, đấu tranh chống kẻ thù và trừng trị kẻ phạm pháp Vai trò kinh tế của nhà nước được thể hiện khi những
Trang 4nhiệm vụ kinh tế vượt quá sức của các doanh nghiệp như nhiệm vụ xây dựng đường sá, công trình thuỷ lợi, đê điều…
Như vậy có thể thấy tư tưởng tự do kinh tế của A Smith đã thể hiện đầy đủ các điều kiện cần thiết sự tự do về kinh tế đó là vai trò của nhà nước đối với nền kinh tế - chỉ nên ở mức hỗ trợ và không nên can thiệp trực tiếp vào các hoạt động kinh tế “quy luật kinh tế là vô địch mặt dù nhà nước có thể cản trở
và làm chậm sự hoạt động của các quy luật đó”
Ngoài ra với lý thuyết về tiền tệ của D Ricardo, học thuyết chính trị cổ điển Anh cũng đã tạo ra một cơ sở cho sự tự do kinh tế đó là kìm chế làm phát và coi vàng là cơ sở của tiền tệ từ đó tạo ra một đồng tiền mạnh
Đồng thời với lý thuyết lợi thế so sánh trong thương mại quốc tế của D Ricardo, học thuyết chính trị cổ điển Anh khuyến khích việc mở cửa thị trường, trao đổi hàng hoá giữa các nước do việc trao đổi mang lại lợi ích cho
cả hai phía cho dù một trong hai phía không có lợi thế tuyệt đối về bất kỳ một mặt hàng nào
1.2 Các học thuyết chính trị học tiểu tư sản:
Hai đại diện tiêu biểu của chính trị học tiểu tư sản là Sismondi và Proudon và
sở dĩ được gọi là chính trị học tiểu tư sản bởi nó quan tâm tới việc bảo vệ nền sản xuất của các nhà sản xuất nhỏ trong xã hội tư bản Xuất phát từ quan điểm
đó, Sismondi đề xuất vai trò kinh tế của nhà nước theo đó nhà nước trực tiếp can thiệp và nên kinh tế nhằm bảo vệ trật tự xã hội, bảo vệ sản xuất nhỏ, bảo
vệ người thứ ba, không cho phép tập trung sản xuất, tập trung sự giàu có, duy trì các phân xưởng thủ công, chế độ tư hữu ruộng đất nhỏ, thực hiện chính sách thuế quan bảo hộ
Đối với Proudon, ông còn đề nghị xoá bỏ sở hữu và giữ lại tài sản cá nhân, như vậy thực chất là xoá bỏ sở hữu tư bản chủ nghĩa, giữ lại tài sản cá nhân (hay sở hữu nhỏ) vì sở hữu là phá hoại sự bình đẳng Khi lý luận về tiền tệ, Proudon coi tiền tệ là nguyên nhân của mọi tội lỗi của CNTB do dó ông đề nghị tổ chức kinh tế hàng hoá mà không cần tiền
Như vậy có thể thấy có lý luận của chính trị học tiểu tư sản hầu như phê phán
sự tự do kinh tế thể hiện qua việc đề cao vai trò của nhà nước trong việc can thiệp sâu, trực tiếp vào nền kinh tế, phá bỏ chế độ sở hữu và tích luỹ tư bản chủ nghĩa, phủ nhận vai trò của tiền tệ như là chất xúc tác cho các hoạt động trao đổi hàng hoá
1.3 Các học thuyết kinh tế của trường phái tân cổ điển
Sự ra đời của các học thuyết kinh tế trường phải tân cổ điển nhằm mục dích giải thích các hiện tượng kinh tế mới phát sinh trong điều kiện chủ nghĩa tư bản đã chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền, đồng thời bảo vệ cho sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản trước sự xuất hiện của học thuyết kinh tế Marx Trường phái này dựa trên sự phân tích vi mô (hay phân tích trong từng đơn vị kinh tế riêng biệt) từ đó đưa ra các giải pháp về sự lựa chọn của các đơn vị kinh tế trước sự khan hiếm của các nguồn lực để đạt được lợi ích tốt nhất Đại diện cho trường phái này là các trường phái kinh tế giới hạn thành Viên, giới hạn Mỹ, giới hạn Laussane và trường phái Cambrigde
Trang 5Cũng giống như trường phái cổ điển, các học thuyết của trường phái tân cổ điển cũng ủng hộ tự do kinh tế, tự do cạnh tranh chống lại sự can thiệp của nhà nước Họ tin tưởng chắc chắn vào cơ chế thị trường tự phát sẽ đảm bảo cân bằng cung cầu thị trường, đảm bảo cho nên kinh tế phát triển Điều này thể hiện rõ nhất qua lý thuyết “Cân bằng thị trường” của Walras theo đó thị trường sẽ trong trạng thái cân bằng khi ba thị trường là thị trường hàng hoá, thị trường vốn và thị trường lao động cân bằng, đồng thời các thị trường này
có quan hệ tác động qua lại lẫn nhau trong đó sự cân bằng trên thị trường hàng hoá sẽ quyết định đến sự cân bằng trên thị trường vốn và lao động, hay
lý thuyết giá cả của Marshall, theo đó khi giá cung và giá cầu gặp nhau thì sẽ chấm dứt cả khuynh hướng tăng lẫn khuynh hướng giảm lương hàng hoá sản xuất, thế cân bằng được thiết lập
1.4 Các học thuyết kinh tế của trường phái Keynes:
Các học thuyết kinh tế của Keynes ra đời khi mà các học thuyết kinh tế của trường phái tân cổ điển với lý luận về sự tự điều chỉnh của nền kinh làm cho không còn thất nghiệp và kinh tế được phát triển không giải thích được các hiện tượng thực tế như khủng hoảng, thất nghiệp và lạm phát vẫn diễn ra ngày càng trầm trọng ở các nước tư bản Theo học thuyết của Keynes thì nhà nước cần phải có sự can thiệp trực tiếp vào nền kinh tế, mà đặc biệt là các chính sách kich cầu nhằm làm cho nền kinh tế đạt tới điểm cân bằng tối ưu, từ đó mới có thể giải quyết dứt điểm khủng hoảng và thất nghiệp như chính sách tiêu dùng, đầu tư của chính phủ, chính sách tài chính trong đó coi trọng việc
sử dụng công cụ là thuế cao để tăng ngân sách của nhà nước, chính sách lạm phát có kiềm chế, chính sách tiền tệ thậm chí Keynes còn khuyến khích nhà nước đặt hàng các ngành ăn bám như sản xuất vũ khí, phương tiện chiến tranh, quân sự hoá nền kinh tế miễn là nó tạo ra được nhiều việc làm
Như vậy, có thể thấy các học thuyết của trường phái Keynes đã đặt nền tảng,
cơ sở lý thuyết cho sự can thiệp trực tiếp của nhà nước vào nền kinh tế, từ đó làm giảm đi sự lựa chọn của cá nhân và như vậy làm giảm đi sự tự do kinh tế,
mà điển hình là chính sách tiêu dùng và đầu tư của nhà nước, chính sách đánh thuế cao nhằm tăng ngân sách nhà nước Có thể thấy sự tác động của việc nhà nước tiêu dùng và đầu tư nhiều làm cho cầu về tiền trên thị trường tăng lên, giá vốn hay lãi suất tăng làm cho cơ hội đầu tư hay sự lựa chọn của các nhà đầu tư cá nhân bị giảm sút (do giá vốn quá cao) từ đó dẫn tới sự thoái lui của các nhà đầu tư cá nhân Đồng thời việc khuyến khích sử dụng công cụ lạm phát (bơm thêm tiền vào nền kinh tế) nhằm kích thích kinh tế tăng trưởng không những không phát huy hiệu quả mà còn làm cho tính trạng làm phát ngày càng trầm trọng, có thể dẫn tới tình trạng làm phát “phi mã”, hạn chế khả năng tiếp cận hay sử dụng một đồng tiền mạnh của cá nhân
1.5 Các hoc thuyết của chủ nghĩa tự do mới:
Các lý thuyết của chủ nghĩa tự do mơi hình thành khi các học giả của trường phái này nhận ra rằng việc coi nền kinh tế tư bản chủ nghĩa là nền kinh tế có khả năng tự điều chỉnh không và chống lại tất cả sự can thiệp của nhà nước vào các hoạt động của nên kinh tế là còn đúng đắn nữa Đồng thời sự xuất hiện của học thuyết của Keynes và sự thành công của nền kinh tế kế hoạch
Trang 6của các nước xã hội cũng dẫn tới sự hình thành các học thuyết của chủ nghĩa
tự do mới
Các học thuyết của chủ nghĩa tự do mới là sự kết hợp giữa tư tưởng của chủ nghĩa tự do cũ bắt đầu từ W.Petty, A.Smith với các lý thuyết về sự điều chỉnh, can thiệp của Keynes hình thành nên quan điểm Tôn trọng sự tự do của nền kinh tế nhưng có sự can thiệp nhà nước ở mức độ thích hợp hay đó là sự tác động tương thích với sự tự do của thị trường Ho đề ra khẩu hiệu “Thị trường nhiều hơn và nhà nước ít hơn”
Chủ nghĩa tự do mới được thể hiện ở Công hoà Liên bang Đức với mô hình kinh tế thị trường xã hội, đó mô hình kinh tế kết hợp giữa nguyên tắc tự do, cạnh tranh thị trường với các nguyên tắc về sự công bằng xã hội Nhà nước tham gia vào nền kinh tế thông qua các chính sách như: chính sách sử dụng lao động, chính sách chống chu kỳ, chính sách thương mại, chính sách đối với các ngành và các vùng lãnh thổ, tuy nhiên sự can thiệp thông qua các chính sách này của nhà nước phải tương thích với hệ thống thị trường Hay là chấp nhận nguyên tắc “Sử dụng nhiều thị trường đến mức cho phép, sử dụng nhiều chính phủ đến mức cần thiết”
Chủ nghĩa tự do mới ở Mỹ thể hiện qua các thuyết:
- Thuyết trọng tiền của Milton Friedman, theo đó bên cạnh việc tôn trọng các nguyên tắc tự do của nền kinh tế thì chủ trương sử dụng cung tiền như là công cụ để điều tiết nền kinh tế trong từng thời kỳ nhằm giảm bớt biên độ giao động theo chu kỳ và khủng hoảng kinh tế
- Thuyết trọng cung và thuyết kinh tế vĩ mô dự kiến hợp lý đề cao cơ chế tự điều chỉnh cân bằng của quan hệ cung cầu cho nên các yếu tố như: tiền lương, lãi suất, giá cả… đều có tác động nhạy cảm đối với các nhà kinh doanh và những người lao động Do đó đòi hỏi phải được xử lý một cách linh hoạt và tránh sự can thiệp thô bạo của nhà nước
1.6 Học thuyết kinh tế của trường phái chính hiện đại
Đặc điểm của trường phái kinh tế chính hiện đại được thể hiện rõ nhất trong quốn “Kinh tế học” của A.Samuelson, đó là sự kết hợp lại tư tưởng kinh tế của các trường phái khác nhau mà trong đó lớn nhất là tư tưởng của hai trường phái “Tân cổ điển” và “Học thuyết Keynes”
Cũng giống như trường phái Tư do mới, trường phái chính hiện đại cũng chủ trương thực hiện nền kinh tế với sự tôn trọng các nguyên tắc về tự do kinh tế kết hợp có sự điều tiết của nhà nước Nhưng điểm khác là sự can thiệp của nhà nước trong học thuyết của trường phái chính hiện đại thể hiện rõ hơn và mạnh hơn so với trường phái tự do mới, thể hiện qua lý thuyết về nền kinh tế hỗn hợp theo đó một nền kinh tế nên được điều hành bởi hai bàn tay “bàn tay
vô hình” và “bàn tay nhà nước”, Samuelson cho rằng “điều hành một nền kinh tế không có chính phủ hoặc thị trường thì cũng như định vỗ tay bằng một bàn tay”
Theo lý thuyết “hai bàn tay” thì bàn tay vô hình hay là tôn trọng các nguyên tắc sự tự do về kinh tế như quy luật cung cầu sẽ quyết định các vấn đề cơ bản của nền kinh tế là sản xuất cái gì, sản xuất cho ai và sản xuất như thế nào?,
Trang 7đồng thời tạo ra cơ chế cạnh tranh để sử dụng hiệu quả và hợp lý các nguồn lực Trong khi đó “bàn tay nhà nước” thông qua các chính sách như thuế, tiêu dùng và đầu tư của chính phủ… sẽ hạn chế những khuyết tật của thị trường như: ô nhiễm môi trường, độc quyền và bất bình đẳng…
Trường phái chính hiện đại chủ trương nên có sự cân bằng về tác động giữa tự
do kinh tế và sự can thiệp của nhà nước bởi vì thị trương quá không tốt mà nhà nước quá sẽ còn có tác động xấu hơn
2 Một số tư tưởng về sự tự do kinh tế:
2.1 Học thuyết của A.Smith:
a Hoàn cảnh kinh tế cho sự ra đời học thuyết của A.Smith:
A Smith nghiên cứu chủ nghĩa tư bản trong điều kiện chủ nghĩa tư bản phát triển ở giai đoạn công trường thủ công mà đặc biệt là các công trường thủ công ở Anh trong các ngành dệt và công nghiệp khai thác, giai cấp tư sản nhận thức rằng muốn làm giàu thì phải bóc lột lao động, lao động làm thuê của nhứng người nghèo là nguồn gốc làm giàu vô tận cho những người giàu
A Smith được coi là nhà tư tưởng tổng hợp của công trường thủ công, là nhà
tư tưởng cấp tiến của giai cấp tư sản, ông muốn thủ tiêu tàn tích những ràng buộc đối với nền kinh tế của xã hội, nhà nước phong kiến, mở đường cho sự phát triển của Chủ nghĩa tư bản Do đó, việc A Smith đề cao các quy luật khách quan của của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa chống lại sự ràng buộc, hạn chế của nhà nước cũng thể hiện rất rõ tư tưởng thu tiêu tàn tích của chế đô phong kiến lúc bấy giờ
B Tư tưởng tự do kinh tế của A Smith:
Điểm xuất phát trong lý luận về tự do kinh tế của A.Smith là nhân tố “con người kinh tế”, theo đó xã hội trong học thuyết của A.Smith là liên minh những quan hệ trao đổi và trao đổi chính là thiên hướng vốn có của con người, chỉ có trao đổi và thông qua các mối liên hệ trao đổi thì con người mới
có thể thoả mãn những nhu cầu “Hãy đưa cho tôi cái anh cần, tôi sẽ đưa cho anh cái mà anh cần” Theo A.Smith thì đó là thiên hướng phổ biến và tất yếu của mọi xã hội, nó tồn tại vĩnh viêcn cùng với sự tồn tại của xã hội loài người Khi thực hiện việc trao đổi sản phẩm lao động của nhau cho nhau thì con người ta bị chi phối và chay theo lợi ích cá nhân của mình, lợi ích cá nhân chính là động lực trực tiếp chi phối người ta hoạt động trao đổi Và trong khi chay theo lợi ích cá nhân, thì con người bị chi phối, tác động bởi “bàn tay vô hình” Với sự tác động này, con người vừa chạy theo tư lợi vừa thực hiện các nghĩa vự đối với xã hội hay lợi ích chung của xã hội nằm ngoài dự kiến và theo A.Smith, trong nhiều trường hợp con người còn đáp ứng các yêu cầu xã hội còn lớn hơn lợi ích cá nhân của chính mình
Vậy “bàn tay vô hình” là gì?, theo A.Smith thì đó là sự hoạt động của các quy luật kinh tế khách quan và hệ thống các quy luật kinh tế khách quan là một
“trật tự tự nhiên” Và để có sự hoạt động của trật tự tự nhiên thì cần phải có những điều kiện nhất định, đó là sự tồn tại và phát triển của sản xuất hàng hoá
và trao đổi hàng hoá Nền kinh tế phải được phát triển trên cơ sở tự do kinh tế, cần thiết phải có tự do sản xuất, tự do liên doanh, liên kết, tự do mậu dịch
Trang 8Trên cơ sở đó hình thành mối quan hệ giữa người với người phụ thuộc lẫn nhau Trong xã hội với sự tồn tại và phát triển của nền kinh tế hàng hoá, người
ta luôn có quan hệ kinh tế với nhau
A Smith cũng cho rằng cần phải tôn trọng trật tự tự nhiên, tôn trọng “bàn tay
vô hình” Hoạt động sản xuất và lưu thông hàng hoá được phát triển theo sự điều tiết của “bàn tay vô hình” Nhà nước không nên can thiệp vào kinh tế, hoạt động kinh tế vốn có cuộc sống riêng của nó
Vậy nhà nước có vai trò như thế nào trong học thuyết của A.Smith, theo A.Smith nhà nước chỉ có các chức năng bảo vệ quyền sở hữu của các nhà tư bản, đấu tranh chống thù trong giặc ngoài và trừng phạt những kẻ phạm pháp Vai trò kinh tế của nhà nước được thể hiện khi những nhiệm vụ kinh tế vượt quá sức của các doanh nghiệp như nhiệm vụ xây dựng đường sá, đào sông, đắp đê hay nhiệm vụ xây dựng những công trình kinh tế lớn…
A.Smith cho rằng quy luật kinh tế là vô địch, mặc dù chính sách kinh tế của nhà nước có thể kìm hãm hoặc thúc đẩy sự hoạt động của các quy luật kinh tế
2.2 Lý thuyết Giá cả của Alfred Marshall
a Hoàn cảnh kinh tế cho sự ra đời của lý thuyết:
Alfred Marshall (1842 – 1924) là một trong những nhà kinh tế học tư sản nổi tiếng của trưòng phái cổ điển mới, trường phái này ra đời trong hoàn cảnh chủ nghĩa tư bản bước vào giai đoạn mà chủ nghĩa tư bản đang chuyển sang chủ nghĩa tư bản độc quyền một cách mạnh mẽ cần phải có những học thuyết có khả năng giải thích những vấn đề mới phát sinh Đồng thời sự xuất hiện của học thuyết kinh tế Marx và những mâu thuẫn và đấu tranh giai cấp diễn ra một cách gay gắt cũng dẫn tới sự xuất hiện các lý thuyết để bảo vệ cho sự tồn tại và phát triển của chủ nghĩa tư bản
b Lý thuyết giá cả của Alfred Marshall:
Cũng giống như trường phái cổ điển, các nhà kinh tế học của trường phái tân
cổ điển tin tưởng chắc chắn rằng cơ chế thị trường tự phát sẽ đảm bảo cân bằng cung - cầu, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển Họ ủng hộ tự do cạnh tranh, chống lại sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế
Lý thuyết giá cả của Alfred Marshall giải thích sự hình thành của giá cả cân bằng của hàng hoá trên thị trường Theo ông, thị trường là tổng thể những người có mối quan hệ mua bán, hay là nơi gặp gỡ giữa cung và cầu Khi nghiên cứu cơ chế thị trường, Marshall cho rằng, một mặt trong điều kiện cạnh tranh hoàn toàn thì cung cầu phụ thuộc vào gái cả, mặt khác cơ chế thị trường tác động làm cho giá cả phù hợp với cung cầu Ông đưa ra khái niệm
“giá cung và “giá cầu”:
- Giá cung là giá cả mà người sản xuất có thể tiếp tực sản xuất ở mức đương thời, giá cung quyết định bởi chi phí sản xuất Chi phí sản xuất bao gồm chi phí ban đầu và chi phí phụ thêm Chi phí ban đầu là chi phí mà doanh nghiệp phải chịu bất kể có hay không có sản lượng, chi phí phụ thêm bao gồm chi phí
về nguyên liệu, lương công nhân, nó tăng thêm khi gia tăng sản lượng
Trang 9- Giá cầu là giá mà người mua có thể mua số lượng hàng hoá hiện tại Giá cầu được quyết định bởi lợi ích giới hạn Nghĩa là giá cầu giảm khi số lượng hàng hoá cung ứng tăng lên, trong điều kiện các nhân tố khác không thay đổi Giá cả Giá cả
D S
Số lượng Số lượng (D: Cầu) (S: Cung)
Khi giá cung và giá cầu gặp nhau thì hình thành nên giá cả cân bằng hay giá
cả thị trường “Khi giá cung và giá cầu gặp nhau thì sẽ chấm dứt cả khuynh hướng tăng lẫn khuynh hướng giảm, lượng hàng hoá sản xuất, thế cân bằng được thiết lập”
Giá cả
D S
M
Số lượng
Marshall cho rằng yếu tố thời gian có ảnh hưởng quan trọng đến cung, cầu và giá cả cân bằng, trong thời gian ngắn hạn thì cung cầu có tác động tới giá cả, con trong dài hạn thì chi phí sản xuất có tác động tới giá cả
Ngoài ra sự độc quyền cũng có tác động đến giá cả Để có lợi nhuận cao, các nhà độc quyền thường xuyên giảm sản lượng sản xuất để nâng giá bán, tuy nhiên điều đó không có nghĩa là độc quyền quyết định được tất cả, bởi vì thị trường còn chịu sự co giãn của cầu
Marshall đưa ra khái niệm “co dãn của cầu”, chi sự phụ thuộc của cầu vào giá
cả, ông cho rằng mức linh hoạt của cầu trên thị trường phụ thuộc vào tình trạng sau: khối lượng của cầu tăng lên ở mức độ nhất định, khi giá cả hàng hoá giảm xuống hoặc ngược lại, khối lượng cầu giảm xuống khi giá cả hàng hoá tăng lên Cụ thể:
Trang 10Nếu ký hiệp K là hệ số co dãn cầu:
Q/Q - sự biến đổi của cầu
P/P - sự biến đổi của giá
K = Q/Q
P/P
- Khi hệ số co dãn cầu K >1 : là trường hợp một sự thay đổi nhỏ của giá làm cho cầu thay đổi lớn hơ, gọi là cầu co dãn
- Khi hệ số co dãn cầu K<1: là trường hợp một sự thay đổi lớn của giá chỉ làm cho cầu thay đổi không đáng kể, gọi là cầu không co dãn
- Khi hệ số co dãn cầu K = 1: là trường hợp tốc độ thay đổi của cầu và giá
cả là như nhau, gọi là cầu co dãn đơn vị
Sự co dãn của cầu phụ thuộc và các nhân tố: mức giá cả, giá cả của các hàng hoá có liên quan, sức mua của cư dân và nhu cầu mua sắm của cư dân
2.3 Lý thuyết của trường phái trọng tiền hiện đại ở Mỹ:
a Hoàn cảnh kinh tế cho sự ra đời của học thuyết:
Lý thuyết trọng tiền hiện đại ở Mỹ được xếp vào nhóm các học thuyết của trường phái tự do mới Đây là trường phái xuất hiện trong giai đoạn mâu thuẩn giữa tư tưởng tự do kinh tế với chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước ngày càng trở nên gay gắt, hơn nữa khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933 cho thấy việc coi kinh tế TBCN như một hệ thóng tự điều chỉnh không cần phải xem xét lại Thêm vào đó là sự xuất hiện của học thuyết kinh tế của Keynes
và sự thành công của nền kinh tế kế hoạch của Chủ nghĩa xã hội dẫn đến sự ra đời của các học thuyết tự do kinh tế mới trong đó có lý thuyết trọng tiền hiện đại ở Mỹ mà đại diện tiêu biểu của Alfred Friedman
b Tư tưởng chủ yếu của trường phái trọng tiền ở Mỹ.
Trường phái trọng tiền ở Mỹ ủng hộ và bảo vệ tư tưởng tự do kinh doanh, ủng
hộ chế độ tư hữu, bảo vệ quyền tự do hoạt động và trách nhiệm của doanh nghiệp Theo họ, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa thưỡg xuyên ở trạng thái cân bằng động Đó là hệ thống tự điều chỉnh hoạt động dựa trên các quy luật kinh
tế vốn có của nó
Nhưng khác với quan điểm của trường phái cổ điển - nhà nước không nên can thiệp vào nền kinh tế, thì với trường phái trọng tiền hiện đại ở Mỹ, cần phải
có sự can thiệp của nhà nước, nhưng sự can thiệp chỉ giới hạn vào việc điều chỉnh mức cung tiền tệ
Nhưng tại sao nhà nước lại phải điều chỉnh mức cung tiền: điều này xuất phát
từ quan điểm của trường phái trọng tiền ở Mỹ Theo đó, họ coi lạm phát là căn bệnh nan giải của xã hội chứ không phải là thất nghiệp - điều này là trái ngược với quan điểm của Keynes cho rằng thất nghiệp mới là căn bệnh nan giải của xã hội Ông cho rằng thất nghiệp là hiện tượng bình thường diễn ra trên thị trường và với một tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên nào đó thì xã hội có thể chấp nhận được Tính chất không ổn định của lạm phát là nhân tố mất ổn định