1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN LỊCH SỬ ĐẢNG ĐH Bách Khoa hcm

44 48 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 248,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • PHẦN MỞ ĐẦU

    • I. Lý do chọn đề tài

    • II. Mục đích chọn đề tài

    • III. Những nhiệm vụ cần thiết để hoàn thành nội dung đề tài

  • PHẦN NỘI DUNG

    • CHƯƠNG 1

    • CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ ĐẦU TIÊN CỦA ĐẢNG (2/1930)

      • 1.1. Bối cảnh ra đời của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng

        • 1.1.1. Bối cảnh lịch sử thế giới và những tác động đến Việt Nam

        • 1.1.2. Bối cảnh lịch sử Việt Nam và nhiệm vụ của Việt Nam

      • 1.2. Nội dung của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng

        • 1.2.1. Mục tiêu chiến lược

        • 1.2.2. Nhiệm vụ

        • 1.2.3. Lực lượng cách mạng

        • 1.2.4. Phương pháp cách mạng

        • 1.2.5. Lãnh đạo cách mạng

      • 1.3. Giá trị thực tiễn của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng

        • 1.3.1. Đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc (1930-1975)

        • 1.3.2. Đối với sự phát triển của đất nước hiện nay (1975 đến nay)

        • TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

    • CHƯƠNG 2

    • LUẬN CƯƠNG CHÍNH TRỊ THÁNG 10/1930

      • 2.1. Bối cảnh lịch sử ra đời Luận cương chính trị tháng 10/1930

      • 2.2. Nội dung của Luận cương chính trị tháng 10/1930

      • 2.3. Sự giống và khác nhau của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng và Luận cương chính trị tháng 10/1930

        • 2.3.1. Điểm giống nhau

        • 2.3.2. Điểm khác nhau

        • TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

    • CHƯƠNG 3

    • CHÍNH CƯƠNG ĐẢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM THÁNG 2/1951

      • 3.1. Bối cảnh lịch sử ra đời của Chính cương Đảng Lao động Việt Nam (2/1951)

        • 3.1.1. Bối cảnh lịch sử thế giới và sự tác động đến Việt Nam

        • 3.1.2. Bối cảnh lịch sử Việt Nam

      • 3.2. Nội dung của Chính cương Đảng Lao động Việt Nam (2/1951)

        • 3.2.1. Mục tiêu chiến lược

        • 3.2.2. Nhiệm vụ

        • 3.2.3. Lực lượng cách mạng

        • 3.2.4. Phương pháp cách mạng

      • 3.3. So sánh Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng (2/1930), Luận cương chính trị (10/1930) và Chính cương Đảng Lao Động Việt Nam (2/1951)

        • 3.3.1. Điểm giống nhau

        • 3.3.2. Điểm khác nhau

      • 3.4. Giá trị thực tiễn của Chính cương Đảng Lao động Việt Nam (2/1951)

        • 3.4.1. Đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc

        • 3.4.2. Đối với sự phát triển của đất nước hiện nay (1975 đến nay)

        • TIỂU KẾT CHƯƠNG 3

  • PHẦN KẾT LUẬN

  • TÀI LIỆU THAM KHẢO

    • A. THEO CƠ QUAN BAN HÀNH

    • B. THEO TÁC GIẢ

    • C. TÀI LIỆU TRÊN TRANG WEB

Nội dung

TIỂU LUẬN LỊCH SỬ ĐẢNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA KHOA KHOA HỌC ỨNG DỤNG o0o BÀI TIỂU LUẬN MÔN LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LỚP L15 HỌC KỲ 212, NĂM HỌC 2021 2022 ĐỀ TÀI QUÁ TRÌNH HOÀN CHỈNH ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG DÂN TỘC DÂN CHỦ NHÂN DÂN TỪ CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ ĐẦU TIÊN ĐẾN CHÍNH CƯƠNG ĐẢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM GVGD ThS Phan Thị Thanh Hương SVTH MSSV TP HỒ CHÍ MINH, THÁNG 3 NĂM 2022 TIỂU LUẬN LỊCH SỬ ĐẢNG Nhóm 9 L15 MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 4 I Lý do chọn đề tài 4 II Mục đíc.

Mục đích chọn đề tài

Quá trình hoàn chỉnh đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân từCương lĩnh chính trị đầu tiên đến Chính cương Đảng lao động Việt Nam.

Những nhiệm vụ cần thiết để hoàn thành nội dung đề tài

Thứ nhất , làm rõ nội dung của Cương lĩnh chính trị đầu tiên 2/1930

Thứ hai , làm rõ nội dung của Luận cương chính trị tháng 10/1930

Thứ ba , làm rõ điểm giống, khác nhau của Cương lĩnh chính trị tháng 2/1930 và

Luận cương chính trị tháng 10/1930

Thứ tư , làm rõ Chính cương Đảng Lao động Việt Nam 2/1951

Bối cảnh ra đời của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng

1.1.1 Bối cảnh lịch sử thế giới và những tác động đến Việt Nam

Từ nửa sau thế kỷ XIX, các nước tư bản Âu-Mỹ chứng kiến sự chuyển biến mạnh mẽ trong đời sống kinh tế-xã hội, khi chủ nghĩa tư bản phương Tây chuyển từ tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền Trong bối cảnh này, các nước đế quốc gia tăng bóc lột nhân dân lao động và xâm lược các nước nhỏ yếu ở châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh, dẫn đến sự thống trị tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc và đời sống nhân dân trở nên cùng cực Mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa và chủ nghĩa thực dân ngày càng gay gắt, tạo điều kiện cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ, đặc biệt ở châu Á Đến đầu thế kỷ XX, phong trào giải phóng dân tộc ở châu Á đã lan rộng và tác động mạnh mẽ đến phong trào yêu nước tại Việt Nam.

Vào giữa thế kỷ XIX, phong trào công nhân phát triển mạnh mẽ, yêu cầu một hệ thống lý luận khoa học để chống lại chủ nghĩa tư bản Trong bối cảnh này, chủ nghĩa Mác ra đời và được Lênin phát triển thành chủ nghĩa Mác - Lênin, nhấn mạnh rằng giai cấp công nhân cần thành lập Đảng Cộng sản để giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh lịch sử Sự ra đời của Đảng Cộng sản là một yêu cầu khách quan nhằm đáp ứng cuộc chiến chống áp bức, bóc lột Chủ nghĩa Mác - Lênin đã thu hút quần chúng và những người ưu tú tại các nước thuộc địa vào phong trào cộng sản Khi chủ nghĩa Mác - Lênin được truyền bá vào Việt Nam, phong trào yêu nước và công nhân phát triển theo hướng cách mạng vô sản, dẫn đến sự hình thành các tổ chức cộng sản Nguyễn Ái Quốc đã sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin trong thực tiễn cách mạng Việt Nam, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, khẳng định rằng chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng của Đảng.

Trong bối cảnh các phong trào giải phóng dân tộc đang diễn ra mạnh mẽ, thắng lợi

Cuộc cách mạng này đã khơi dậy mạnh mẽ phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân trên toàn thế giới, đồng thời góp phần quan trọng vào sự ra đời của nhiều đảng cộng sản, như Đảng Cộng sản Đức, Đảng Cộng sản Hungary (năm 1918) và Đảng Cộng sản Pháp.

Cách mạng Tháng Mười năm 1917 là nguồn cảm hứng lớn cho các dân tộc thuộc địa trong cuộc đấu tranh giành độc lập Nguyễn Ái Quốc nhấn mạnh rằng thành công của cách mạng Nga mang lại tự do và bình đẳng cho nhân dân, đồng thời khẳng định rằng để đạt được thành công trong cách mạng, cần phải có sự tham gia của quần chúng và một Đảng vững mạnh Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc theo đuổi chủ nghĩa Mác-Lênin trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc.

Cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga có ý nghĩa to lớn đối với phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân tại Nga, không chỉ mở ra con đường cách mạng mà còn khuyến khích tinh thần đấu tranh của các giai cấp bị áp bức, giúp họ thoát khỏi sự thống trị của giai cấp tư sản.

Sau Cách mạng Tháng Mười Nga, Quốc tế Cộng sản được thành lập vào tháng 3/1919 dưới sự lãnh đạo của V.I Lênin, góp phần thúc đẩy phong trào cộng sản và công nhân quốc tế Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin, được công bố tại Đại hội II Quốc tế Cộng sản năm 1920, đã chỉ ra phương hướng đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa, mở ra con đường cho các dân tộc bị áp bức Đối với Việt Nam, Quốc tế Cộng sản đóng vai trò quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin, ảnh hưởng mạnh mẽ đến các phong trào giải phóng dân tộc và dẫn đến sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.

1.1.2 Bối cảnh lịch sử Việt Nam và nhiệm vụ của Việt Nam

Việt Nam, quốc gia Đông Nam Á với vị trí địa chính trị quan trọng, đã trở thành mục tiêu xâm lược của thực dân Pháp vào năm 1858, trong bối cảnh chế độ phong kiến nhà Nguyễn đang khủng hoảng nghiêm trọng Trước sự xâm lược này, triều đình nhà Nguyễn đã dần thỏa hiệp và vào ngày 6/6/1884, hiệp ước Pa-tơ-nốt được ký kết, đánh dấu sự đầu hàng hoàn toàn của nhà Nguyễn trước thực dân Pháp Kể từ đó, Việt Nam trở thành một thuộc địa, người dân trở thành vong quốc nô, và Tổ quốc bị áp bức dưới sự thống trị của kẻ thù.

2 Hồ Chí Minh (2011), Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, tr 304.

Trong đoạn trích từ Hồ Chí Minh Toàn tập (2011), chúng ta nhận thấy sự tàn bạo và bóc lột của thực dân Pháp khi họ thiết lập ách đô hộ ở Việt Nam Hiệp ước Pa-tơ-nốt đã kết thúc triều đại phong kiến nhà Nguyễn, biến Việt Nam thành một thuộc địa nửa phong kiến, khiến nhân dân rơi vào cảnh cùng cực và khó khăn Mặc dù triều đình nhà Nguyễn đã đầu hàng, nhưng tinh thần chống đối của nhân dân không hề suy giảm, dẫn đến sự bùng nổ của nhiều phong trào đấu tranh Sau khi tạm dập tắt các phong trào này, thực dân Pháp từng bước thiết lập bộ máy thống trị và cấu kết với giai cấp địa chủ để tiếp tục áp bức và bóc lột kinh tế nhân dân Việt Nam.

Thực dân Pháp đã thiết lập một hệ thống chính quyền thuộc địa, duy trì chính quyền phong kiến bản xứ làm tay sai và chia đất nước thành ba kỳ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ với các chế độ chính trị khác nhau Chính sách “chia để trị” không chỉ là một chiến lược chính trị mà còn ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực đời sống, nhằm gây rạn nứt khối đoàn kết dân tộc, xung đột tôn giáo và xu hướng li khai, làm khó khăn cho các phong trào giải phóng dân tộc Chính sách này để lại hậu quả nặng nề và sâu sắc cho đất nước Bên cạnh đó, Pháp còn xây dựng nhà tù để giam cầm những người yêu nước, đồng thời răn đe những ai có tư tưởng chống đối chính quyền thực dân.

Thực dân Pháp thực hiện chính sách bóc lột kinh tế tại Việt Nam thông qua việc cướp đoạt ruộng đất để lập đồn điền, đầu tư khai thác tài nguyên, và xây dựng cơ sở hạ tầng như đường giao thông và bến cảng phục vụ cho việc khai thác thuộc địa Mặc dù chính sách này đã tạo ra sự chuyển biến nhất định cho nền kinh tế Việt Nam, nhưng đồng thời cũng khiến nền kinh tế nước ta lệ thuộc vào tư bản Pháp và rơi vào tình trạng lạc hậu.

Về văn hóa- xã hội, thực dân Pháp thực hiện chính sách “ ngu dân ” để dễ cai trị.

Thực dân Pháp đã thành lập nhiều nhà tù hơn trường học, du nhập các giá trị phản văn hóa và duy trì tệ nạn xã hội từ chế độ phong kiến, đồng thời tạo ra nhiều tệ nạn xã hội mới Họ đã sử dụng rượu cồn và thuốc phiện để đầu độc các thế hệ người Việt Nam, tuyên truyền tư tưởng “khai hóa văn minh” như một chiêu bài để thống trị và khai thác tài nguyên của nước thuộc địa Chính sách cai trị khắc nghiệt và áp bức nặng nề đã khiến nhân dân phẫn nộ và quyết tâm hơn trong cuộc đấu tranh giành độc lập và giải phóng dân tộc.

Dưới tác động của chính sách cai trị và kinh tế thực dân, xã hội Việt Nam trải qua quá trình phân hóa sâu sắc Các giai cấp cũ bị phân hóa, dẫn đến sự xuất hiện của các giai cấp và tầng lớp mới với địa vị kinh tế và thái độ chính trị khác nhau đối với vận mệnh dân tộc Trong chế độ phong kiến, giai cấp địa chủ và nông dân là hai giai cấp cơ bản, nhưng khi Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp, giai cấp địa chủ bị phân hóa mạnh mẽ.

Giai cấp địa chủ Việt Nam trong thời kỳ thực dân Pháp chiếm ưu thế đã có sự phân hóa rõ rệt Một số địa chủ yêu nước, căm ghét chế độ thực dân đã tham gia vào các phong trào đấu tranh chống Pháp, đóng vai trò lãnh đạo trong các cuộc kháng chiến của nông dân Trong khi đó, một bộ phận nhỏ địa chủ khác đã chuyển sang kinh doanh theo lối tư bản, tạo nên sự đa dạng trong các hình thức phản kháng và thích ứng với tình hình xã hội.

Giai cấp nông dân, chiếm khoảng 90% dân số, là tầng lớp đông đảo nhất và cũng là nhóm bị bóc lột nặng nề nhất Họ không chỉ đối mặt với mâu thuẫn từ giai cấp địa chủ mà còn từ thực dân xâm lược “Tinh thần cách mạng của nông dân không chỉ gắn liền với ruộng đất, mà còn với tình cảm quê hương và nền văn hóa hàng nghìn năm.” Điều này thể hiện rõ lòng yêu nước mãnh liệt của họ và sự gắn bó sâu sắc với quê hương Tình cảnh khốn khổ của nông dân Việt Nam đã làm gia tăng lòng căm thù đối với đế quốc và phong kiến, đồng thời thúc đẩy ý chí cách mạng trong cuộc đấu tranh giành lại quyền sống và tự do, sẵn sàng đứng lên lật đổ thực dân và phong kiến.

Giai cấp công nhân Việt Nam, một giai cấp mới xuất hiện từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp, chủ yếu xuất thân từ nông dân Họ là nạn nhân của chính sách chiếm đoạt ruộng đất mà thực dân Pháp thực hiện, do đó, giai cấp công nhân có mối quan hệ chặt chẽ và trực tiếp với giai cấp nông dân.

Nội dung của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng

Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và được thông qua tại hội nghị thành lập Đảng, bao gồm Chánh cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt Văn kiện này xác định mục tiêu chiến lược của cách mạng Việt Nam là phân tích thực trạng xã hội và mâu thuẫn giữa các giai cấp Trong bối cảnh Việt Nam là một nước thuộc địa nửa phong kiến, mâu thuẫn giữa công nhân, nông dân và đế quốc ngày càng trở nên gay gắt, đòi hỏi một đường lối chiến lược rõ ràng cho cách mạng Mục tiêu chiến lược được nêu ra trong Cương lĩnh đầu tiên đã làm sáng tỏ nội dung của cách mạng thuộc địa trong khuôn khổ cách mạng vô sản.

Sau khi xác định mục tiêu chiến lược, nhiệm vụ trước mắt của cách mạng Việt Nam là đánh đổ đế quốc Pháp và phong kiến để đạt được độc lập hoàn toàn cho đất nước Chống đế quốc và phong kiến là nhiệm vụ cơ bản nhằm giành độc lập cho dân tộc và ruộng đất cho nông dân, trong đó chống đế quốc được đặt lên hàng đầu Cương lĩnh khẳng định rằng việc giành độc lập cho dân tộc là ưu tiên hàng đầu trong cuộc đấu tranh này.

Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng không chỉ tập trung vào nhiệm vụ chính trị mà còn đề ra các nhiệm vụ quan trọng trong lĩnh vực xã hội và kinh tế Về mặt xã hội, Cương lĩnh nhấn mạnh quyền tự do tổ chức của dân chúng, bình quyền giữa nam và nữ, cùng với việc phổ cập giáo dục theo hướng công nông hóa Trong lĩnh vực kinh tế, nhiệm vụ chủ yếu là xóa bỏ các loại quốc trái và thu hồi toàn bộ tài sản lớn từ các tập đoàn tư bản đế quốc.

5 Hồ Chí Minh (2011), Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, tr 1.

Cách mạng Việt Nam đặt ra nhiệm vụ giao quyền quản lý ruộng đất cho Chính phủ công nông binh, thu hồi đất đai để chia sẻ cho nông dân nghèo, đồng thời xóa bỏ sưu thuế và phát triển công nghiệp, nông nghiệp Những nhiệm vụ này phản ánh đúng tình hình kinh tế, xã hội cần được giải quyết tại Việt Nam lúc bấy giờ, thể hiện tính toàn diện và triệt để nhằm xóa bỏ ách thống trị và bóc lột của thực dân, góp phần giải phóng dân tộc.

Lực lượng chủ yếu của cách mạng Việt Nam bao gồm công nhân và nông dân, với giai cấp công nhân giữ vai trò lãnh đạo và chủ trương đoàn kết các giai cấp, lực lượng yêu nước để chống lại đế quốc và tay sai Đảng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thu phục đại bộ phận giai cấp công nhân và nông dân, đồng thời liên kết với tiểu tư sản, trí thức và trung nông để tạo thành khối vô sản vững mạnh Đảng cũng đã khéo léo phân tích và đánh giá đặc điểm từng giai cấp, từ đó đưa ra những quyết định chiến lược phù hợp, thể hiện tầm nhìn xa trong giai đoạn này Điều này không chỉ là cơ sở cho tư tưởng chiến lược mà còn góp phần xây dựng khối đại đoàn kết các giai cấp yêu nước, phù hợp với đặc điểm xã hội Việt Nam.

Cương lĩnh cách mạng giải phóng dân tộc nhấn mạnh rằng phương pháp tiến hành phải dựa vào bạo lực cách mạng của quần chúng và tuyệt đối không thỏa hiệp trong bất kỳ hoàn cảnh nào "Không khi nào nhượng một chút lợi ích gì của công nông mà đi vào đường thỏa hiệp." Đồng thời, cần có sách lược đấu tranh phù hợp để thu hút tiểu tư sản, trí thức và trung nông về phía giai cấp vô sản, nhưng kiên quyết đánh đổ mọi bộ phận phản cách mạng Từ đó, thể hiện tinh thần quyết tâm, mạnh mẽ trong cuộc đấu tranh chống lại các thế lực phản cách mạng và kiên quyết loại bỏ chúng trong cuộc cách mạng của đất nước.

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc, chúng ta cần tận dụng sự đoàn kết và ủng hộ từ các dân tộc bị áp bức cũng như giai cấp vô sản toàn cầu, đặc biệt là từ giai cấp này.

6 Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.3.

Đảng Cộng sản Việt Nam, ngay từ khi thành lập, đã khẳng định mối liên hệ chặt chẽ với cách mạng vô sản thế giới và nhấn mạnh chủ nghĩa quốc tế, thể hiện bản chất quốc tế của giai cấp công nhân Cách mạng Việt Nam không chỉ là một phần của cuộc đấu tranh toàn cầu mà còn góp phần vào sự phát triển của phong trào vô sản quốc tế.

Trong các cuộc cách mạng, vai trò lãnh đạo của Đảng là vô cùng quan trọng, bởi Đảng được xác định là đội tiên phong của giai cấp vô sản, có nhiệm vụ thu phục đại bộ phận giai cấp mình và lãnh đạo dân chúng Đảng không chỉ tập hợp lực lượng công nhân mà còn trang bị cho họ khả năng lãnh đạo quần chúng, từ đó đóng góp vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và đánh đuổi thực dân xâm lược Sự lãnh đạo của Đảng là yếu tố then chốt để giành lại độc lập cho đất nước.

Giá trị thực tiễn của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng

1.3.1 Đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc (1930-1975)

Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng là một tài liệu quan trọng, thể hiện sự đúng đắn và sáng tạo theo con đường cách mạng Hồ Chí Minh Nó khẳng định bản lĩnh chính trị độc lập và tự chủ trong việc đánh giá đặc điểm xã hội nửa phong kiến Việt Nam những năm 20 của thế kỷ XX, đồng thời chỉ ra những mâu thuẫn cơ bản của dân tộc và thái độ của các giai tầng xã hội đối với nhiệm vụ giải phóng dân tộc Các văn kiện đã xác định đường lối chiến lược và sách lược cách mạng, cùng với phương pháp, nhiệm vụ và lực lượng cần thiết để thực hiện Nhờ vào những đường lối chiến lược đúng đắn và thái độ kiên quyết, Đảng và nhân dân đã đạt được thắng lợi trong cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945, mở ra một bước ngoặt vĩ đại cho dân tộc Việt Nam, đưa đất nước vào kỷ nguyên độc lập gắn liền với chủ nghĩa xã hội, từ đó nhân dân trở thành người làm chủ vận mệnh của mình Cụ Phan Bội Châu đã phải thốt lên rằng:

“ Đã lắm lúc bầm gan tím ruột,

9 Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.4.

10 Hồ Chí Minh (2011), Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, tr 4.

Vạch trời cao, tuốt gươm ra, thể hiện sức mạnh và bản lĩnh của con người, dù là xương thịt, cũng mang dòng máu Lạc Long Tuy nhiên, họ vẫn phải chịu đựng trong vòng trói buộc, trải qua nhiều năm tháng nhơ nhuốc và lầm than.

Cách mạng Tháng Tám thành công đánh dấu sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, khẳng định quyền tự chủ của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Sự kiện này không chỉ mang lại thắng lợi cho dân tộc, mà còn tạo động lực cho các cuộc đấu tranh tiếp theo, đưa tên tuổi Việt Nam vang danh khắp năm châu, bốn biển.

Mặc dù Cương lĩnh vẫn còn một số vấn đề chưa hoàn toàn phù hợp với thực tế Việt Nam, nhưng nhờ có sự bổ sung từ Luận cương Chính trị được thông qua tại Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Cương lĩnh chính trị của Đảng đã được cải thiện đáng kể Điều này giúp Cương lĩnh ngày càng đáp ứng tốt hơn nguyện vọng của đại đa số nhân dân, đặc biệt là nông dân.

1.3.2 Đối với sự phát triển của đất nước hiện nay (1975 đến nay)

Thực hiện Cương lĩnh năm 1930, Đảng đã lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng gian khổ, giành thắng lợi vĩ đại với đỉnh điểm là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước Sau chiến tranh, Đảng đã lãnh đạo nhân dân khôi phục kinh tế và bảo vệ độc lập, toàn vẹn lãnh thổ qua hai cuộc chiến tranh biên giới Đảng tập trung xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội, hình thành cơ cấu kinh tế mới và cải thiện đời sống nhân dân Mặc dù gặp khó khăn do tư duy lạc hậu và khủng hoảng, Đảng đã tổng kết sáng kiến từ thực tiễn, tổ chức các hội nghị lớn để đề ra chính sách mới, thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, chống lạm phát, đồng thời giữ vững con đường xã hội chủ nghĩa và vai trò lãnh đạo của Đảng.

Nhờ vào các chính sách và nguyên tắc đúng đắn, công cuộc đổi mới tại Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng từ năm 1989, với chính trị xã hội ổn định và khả năng vượt qua khủng hoảng Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân đã kiên cường vượt qua thử thách, đạt nhiều thắng lợi trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục phát triển, kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, đưa Việt Nam vào nhóm các nước có thu nhập trung bình Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết dân tộc được củng cố, đảm bảo an ninh và quốc phòng vững mạnh, nâng cao vị thế quốc tế của đất nước Khát vọng xây dựng chủ nghĩa xã hội là lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, do đó cần tiếp tục nghiên cứu và vận dụng sáng tạo Cương lĩnh của Đảng trong từng giai đoạn cách mạng.

Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, ra đời trong bối cảnh đất nước bị thực dân Pháp xâm lược, có giá trị to lớn trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc Đây là một cương lĩnh đúng đắn, sáng tạo theo con đường cách mạng Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại mới và đáp ứng yêu cầu lịch sử Mặc dù còn một số hạn chế, Đảng và nhà nước đã không ngừng hoàn thiện Cương lĩnh, nêu rõ nhiệm vụ chống đế quốc và thực hiện độc lập dân tộc, phù hợp với nguyện vọng của đại đa số nông dân Nhờ đó, Đảng đã đoàn kết được lực lượng cách mạng lớn mạnh, trong khi các Đảng phái khác bị cô lập hoặc phá sản, củng cố quyền lãnh đạo của Đảng công nhân.

Bối cảnh lịch sử ra đời Luận cương chính trị tháng 10/1930

Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 – 1930 đã ảnh hưởng sâu sắc đến Việt Nam, khiến đời sống nhân dân rơi vào khốn cùng và mâu thuẫn dân tộc trở nên gay gắt Sự đàn áp của thực dân Pháp qua cuộc khủng bố trắng sau khởi nghĩa Yên Bái đã làm gia tăng căng thẳng Trong bối cảnh đó, Đảng Cộng sản mới thành lập đã lãnh đạo một phong trào cách mạng rộng lớn, với phong trào Xô Viết Nghệ – Tĩnh là đỉnh cao.

Vào tháng 4 năm 1930, trong bối cảnh phong trào cách mạng đang diễn ra mạnh mẽ, Trần Phú trở về từ Liên Xô Đến tháng 7 cùng năm, ông được bổ nhiệm vào Ban Chấp hành Trung ương lâm thời và tham gia vào công tác chuẩn bị cho Hội nghị lần thứ nhất của Trung ương.

Từ ngày 14 đến 31/10/1930, Ban Chấp hành Trung ương đã tổ chức Hội nghị lần thứ nhất tại Hương Cảng (Hồng Kông, Trung Quốc) Tại hội nghị, Nghị quyết “Về tình hình hiện tại ở Đông Dương và nhiệm vụ cần kíp của Đảng” đã được thông qua, cho thấy Đảng đã đánh giá đúng đắn về tình hình Đông Dương thời điểm đó.

Trong bối cảnh Dương đang trải qua khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng và thực dân Pháp gia tăng bốc lột, Đảng Cộng sản đã nhận diện những thiếu sót trong lãnh đạo trước đó và đề ra nhiệm vụ khắc phục Đảng quyết định đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương, cử ra Ban chấp hành Trung ương chính thức, với đồng chí Trần Phú được bầu làm Tổng Bí thư Cuối cùng, Đảng đã thảo luận về Luận cương chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương vào tháng 10/1930.

Trong quá trình chuẩn bị bản Luận cương tại Hà Nội, đồng chí Trần Phú đã áp dụng nguyên lý chủ nghĩa Mác - Lênin, kinh nghiệm từ phong trào cộng sản quốc tế, và Đề cương cách mạng thuộc địa của Quốc tế Cộng sản Ông cũng tiến hành khảo sát thực tế phong trào công nhân và nông dân ở Hải Phòng, Nam Định, Thái Bình, đồng thời tham khảo ý kiến của Ban Thường vụ Trung ương lâm thời Sau thời gian làm việc nghiêm túc và miệt mài, đồng chí Trần Phú đã hoàn thành Dự thảo Luận cương chính trị của Đảng.

Nội dung của Luận cương chính trị tháng 10/1930

Chính cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam được xây dựng dựa trên Luận cương chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương, bao gồm các nội dung chính quan trọng.

Mâu thuẫn giai cấp tại Việt Nam, Lào và Cao Miên đang ngày càng trở nên gay gắt, với sự đối đầu rõ rệt giữa thợ thuyền, dân cày và các tầng lớp lao động nghèo, đối diện với địa chủ, phong kiến, tư bản và đế quốc chủ nghĩa Những khó khăn và khổ cực mà người dân phải chịu đựng trước sự áp bức và bốc lột nặng nề từ giai cấp địa chủ và tư bản thực dân là điều không thể phủ nhận.

“Hỡi anh em chị em thợ thuyền và dân cày!

Hỡi anh em chị em bị đè nén!” 13

Luận cương xác định rằng cách mạng Đông Dương khởi đầu là một cuộc cách mạng tư sản dân quyền với tính chất thổ địa và phản đế Sau đó, cách mạng sẽ tiếp tục phát triển, bỏ qua giai đoạn tư bản và tiến thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa.

Luận cương năm 1930 nhấn mạnh nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng là "tranh đấu để đánh đổ các di tích phong kiến và các hình thức bóc lột tư bản", đồng thời thực hiện cách mạng thổ địa triệt để Điều này cho thấy vấn đề thổ địa là cốt lõi của cách mạng tư sản dân quyền và là cơ sở để Đảng giành quyền lãnh đạo nông dân Bên cạnh đó, việc "đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp" để Đông Dương hoàn toàn độc lập cũng là một nhiệm vụ chiến lược quan trọng Hai nhiệm vụ này có mối quan hệ chặt chẽ: việc tiêu diệt đế quốc chủ nghĩa sẽ dẫn đến thành công trong cách mạng thổ địa, và chỉ khi phá bỏ chế độ phong kiến mới có thể đánh đổ đế quốc Sự sáng tạo trong luận cương này phản ánh sự xác định tính chất xã hội: nếu xã hội hoàn toàn phong kiến, cần thực hiện cách mạng dân chủ tư sản, còn nếu xã hội tư sản thì phải tiến hành cách mạng vô sản, khẳng định Đông Dương là một thuộc địa của đế quốc Pháp.

12 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 2, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998, tr.94.

13 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 2, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998, tr.59.

14 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 2, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998, tr.98.

Cuộc cách mạng tư sản dân quyền ở Việt Nam mang tính chất thổ địa và phản đế, tiến tới cách mạng vô sản Luận cương khẳng định rằng xã hội thuộc địa không thể phát triển độc lập và đang đối mặt với mâu thuẫn giai cấp ngày càng gay gắt Phân tích mối quan hệ giữa cuộc đấu tranh chống phong kiến và chống đế quốc, cũng như hai mục tiêu "thổ địa cách mạng" và "Đông Dương hoàn toàn độc lập", là cần thiết Điều này phản ánh sự liên kết chặt chẽ giữa đế quốc và phong kiến, một đặc trưng nổi bật của chế độ thuộc địa.

Giai cấp vô sản và nông dân đóng vai trò là hai động lực chủ yếu trong cách mạng tư sản dân quyền, với giai cấp vô sản được xác định là lực lượng chính và mạnh mẽ nhất.

Lãnh đạo cách mạng ở Đông Dương phụ thuộc vào sự tồn tại của một Đảng Cộng sản với đường lối chính trị đúng đắn, kỷ luật tập trung và gắn bó chặt chẽ với quần chúng Đảng được coi là đội tiền phong của giai cấp vô sản, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng, nhằm dẫn dắt giai cấp vô sản Đông Dương đấu tranh cho mục tiêu cuối cùng Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là yếu tố quyết định cho thắng lợi cách mạng, trở thành bài học kinh nghiệm quý giá cho cách mạng Việt Nam Để đạt được điều này, Đảng cần chú trọng xây dựng, chỉnh đốn và nâng cao năng lực lãnh đạo, giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn Trong từng giai đoạn lịch sử, Đảng đã đề ra các đường lối như giải phóng dân tộc, kháng chiến chống thực dân Pháp, cách mạng miền Nam, chống Mỹ cứu nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, và đổi mới phù hợp với tình hình đất nước.

Vào thứ sáu, Luận cương nhấn mạnh rằng cần chuẩn bị kỹ lưỡng cho quần chúng về con đường võ trang bạo động Khi tình thế cách mạng xảy ra, Đảng phải nhanh chóng lãnh đạo quần chúng để lật đổ chính phủ của kẻ thù và giành lại quyền lực cho công nông Việc sử dụng võ trang bạo động để giành chính quyền được coi là một nghệ thuật và phải tuân theo quy tắc quân sự.

17 Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 2, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.104

Sự giống và khác nhau của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng và Luận cương chính trị tháng 10/1930

Luận cương chính trị tháng 10/1930

Trong giai đoạn hiện tại, cách mạng được xác định có tính chất tư sản dân quyền, với mục tiêu bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa (TBCN) và tiến thẳng tới chủ nghĩa xã hội (XHCN) và chủ nghĩa cộng sản.

Nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền là chống lại đế quốc và phong kiến, hai nhiệm vụ này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.

Lãnh đạo giai cấp công nhân được xác định thông qua Chính đảng tiên phong, cách mạng Việt Nam là một phần không thể tách rời và có mối quan hệ chặt chẽ với cách mạng thế giới.

Cả hai đều áp dụng chủ nghĩa Mác – Lênin để xây dựng đường lối cách mạng vô sản Đồng thời, chúng khẳng định rằng cách mạng Việt Nam là một phần của cách mạng vô sản toàn cầu, nhấn mạnh sự liên kết chặt chẽ và tầm quan trọng của việc đoàn kết với giai cấp vô sản thế giới.

Thứ sáu, đều sử dụng phương pháp cách mạng là con đường vũ trang.

Nội dung Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng

Luận cương chính trị tháng 10/1930

Người soạn thảo Nguyễn Ái Quốc Trần Phú Đảng lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam Đảng Cộng sản Đông

Phạm vi cách mạng Việt Nam Khu vực Đông Dương

Kẻ thù của cách mạng bao gồm Đế quốc Pháp, vua quan phong kiến và tư sản phản cách mạng Cương lĩnh đã chỉ rõ rằng không phải toàn bộ phong kiến và tư sản đều là kẻ thù, trong hàng ngũ giai cấp phong kiến còn có bộ phận tiến bộ Tuy nhiên, luận cương lại không đề cập đến bộ phận tư sản mại bản, điều này cần được làm rõ hơn.

Mâu thuẫn chủ yếu trong xã hội Việt Nam hiện nay xuất phát từ đặc điểm xã hội thuộc địa nửa phong kiến, bao gồm hai mâu thuẫn chính: mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam và thực dân, cùng với mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản Những mâu thuẫn này phản ánh sâu sắc tình hình xã hội và những thách thức mà đất nước phải đối mặt.

Xã hội Đông Dương tồn tại hai mâu thuẫn chính là mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp, trong đó mâu thuẫn giai cấp giữa nhân dân lao động, chủ yếu là nông dân, với địa chủ phong kiến là cơ bản nhất Tuy nhiên, mâu thuẫn gay gắt nhất là sự đối kháng giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với đế quốc Pháp và những kẻ tay sai của chúng.

Nhiệm vụ chính là đánh đổ đế quốc Pháp cùng với các thế lực phong kiến và tư sản phản cách mạng, nhằm giành lại độc lập cho Việt Nam Điều này bao gồm việc xóa bỏ chế độ phong kiến, chấm dứt sự áp bức và bóc lột của tư bản, thực hiện cách mạng thổ địa và đảm bảo cho Đông Dương hoàn toàn độc lập.

Lực lượng cách mạng chủ yếu gồm giai cấp công nhân và nông dân, là động lực cốt lõi của cuộc cách mạng Để đạt được thành công, cần thiết phải thiết lập liên minh với giai cấp tiểu tư sản, tư sản dân tộc, cùng với các trung và tiểu địa chủ.

Chỉ gồm công nhân và nông dân, không đề cập tới các giai cấp khác

Tính chất cách mạng

Cách mạng diễn ra qua hai giai đoạn chính: giai đoạn cách mạng tư sản dân quyền và giai đoạn cách mạng thổ địa, nhằm tiến tới chủ nghĩa cộng sản Hai giai đoạn này liên tiếp nhau mà không có bất kỳ rào cản nào ngăn cách.

Cách mạng Đông Dương khởi đầu với mục tiêu là cách mạng tư sản dân quyền, nhưng sau khi đạt được thắng lợi, đã tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội mà không trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa Việc hoàn thành thắng lợi của giai đoạn này là điều kiện cần thiết để tiếp tục bước sang giai đoạn phát triển tiếp theo.

Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng được đánh giá là đúng đắn và hoàn thiện hơn so với Luận cương chính trị tháng 10/1930, với Nguyễn Ái Quốc thể hiện cái nhìn liền mạch hơn về mâu thuẫn cấp thiết, trong khi Trần Phú lại chú trọng vào vấn đề giai cấp Mặc dù có nhiều điểm khác biệt, cả hai văn kiện đều đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển lịch sử dân tộc Việt Nam, tạo nền tảng cho việc xây dựng, phát triển và hoàn thiện lý luận, tư tưởng cho xã hội hiện đại.

Luận cương chính trị tháng 10/1930 đã xác định nhiều vấn đề cơ bản về chiến lược cách mạng, nhưng chưa rõ mâu thuẫn chủ yếu của xã hội Việt Nam thuộc địa và không nhấn mạnh nhiệm vụ giải phóng dân tộc, mà chủ yếu tập trung vào đấu tranh giai cấp và cách mạng ruộng đất Điều này dẫn đến việc không đề ra được một chiến lược liên minh dân tộc và giai cấp rộng rãi trong cuộc đấu tranh chống đế quốc xâm lược Nguyên nhân của những hạn chế này là do nhận thức chưa đầy đủ về thực tiễn cách mạng thuộc địa và ảnh hưởng của tư tưởng tả khuynh trong Quốc tế Cộng sản và một số Đảng Cộng sản anh em Những hạn chế trong việc giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc, cũng như trong việc tập hợp lực lượng cách mạng, sẽ tiếp tục kéo dài trong nhiều năm sau.

Bối cảnh lịch sử ra đời của Chính cương Đảng Lao động Việt Nam (2/1951)

3.1.1 Bối cảnh lịch sử thế giới và sự tác động đến Việt Nam

Sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Liên Xô trở thành trụ cột của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa, góp phần thay đổi tương quan lực lượng toàn cầu và ủng hộ phong trào cách mạng, đặc biệt là cách mạng Việt Nam Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu, Liên Xô và các nước Đông Âu chủ yếu tập trung vào việc khắc phục hậu quả chiến tranh và thực hiện nhiệm vụ cách mạng trong nước, ít chú ý đến khu vực Đông Nam Á Từ năm 1930, Đảng Cộng sản Đông Dương đã đóng vai trò lãnh đạo cách mạng cho ba nước Đông Dương, nhưng mỗi nước cần thành lập đảng cách mạng riêng theo Chủ nghĩa Mác-Lênin để đảm nhận sứ mệnh lịch sử của mình Đến năm 1950, kinh tế-xã hội của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu đã ổn định và phát triển, với Liên Xô thực hiện kế hoạch 5 năm (1946-1950) và thành công trong việc chế tạo vũ khí nguyên tử, tạo ra sự cân bằng với Mỹ, từ đó củng cố sức mạnh cho hệ thống xã hội chủ nghĩa và khích lệ các dân tộc bị áp bức.

Kể từ năm 1950, phong trào cách mạng toàn cầu đã diễn ra mạnh mẽ, với sự củng cố và phát triển toàn diện của hệ thống xã hội chủ nghĩa Đồng thời, phong trào giải phóng dân tộc tiếp tục gia tăng sức mạnh, gây ảnh hưởng lớn đến các căn cứ của chủ nghĩa đế quốc Bên cạnh đó, phong trào bảo vệ hòa bình thế giới đã trở thành một phong trào quần chúng rộng rãi, thu hút sự tham gia của nhiều người.

Vào tháng 10 năm 1949, cách mạng Trung Quốc thành công, dẫn đến sự ra đời của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Trung Hoa, đã tạo ra một cú sốc lớn đối với chủ nghĩa đế quốc và đánh đổ một phần quan trọng trong hệ thống thuộc địa của chúng Sự kiện này không chỉ cổ vũ cho phong trào giải phóng dân tộc toàn cầu mà còn củng cố sức mạnh cho hệ thống xã hội chủ nghĩa Thắng lợi của cách mạng dân tộc dân chủ tại Trung Quốc và sự hình thành nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa theo hướng xã hội chủ nghĩa đã mở rộng hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa từ Tây sang Đông, tạo ra một hậu phương vững chắc cho phong trào này.

Bắc đã mở ra đối với nước ta Đó là điều kiện vô cùng thuận lợi đối với cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam.

3.1.2 Bối cảnh lịch sử Việt Nam

Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã đưa nhân dân Việt Nam từ người mất nước trở thành người làm chủ đất nước Tuy nhiên, thực dân Pháp vẫn tiếp tục dã tâm xâm lược, buộc nhân dân ta phải cầm súng bảo vệ tự do, độc lập Cuộc kháng chiến bước sang giai đoạn mới với những yêu cầu cấp bách, đòi hỏi Đảng phải giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn để tiến lên Sau 5 năm thực hiện đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc của Nhân dân Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng.

Cuộc phản công lớn ở Việt Bắc đã mang lại thắng lợi chiến lược quan trọng trong những năm đầu toàn quốc kháng chiến, làm thất bại chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh” của thực dân Pháp, với mục tiêu ban đầu là tiêu diệt lực lượng kháng chiến trong vòng ba tuần Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta đã bảo vệ và phát triển căn cứ địa kháng chiến, đồng thời thu được nhiều kinh nghiệm quý báu trong chỉ đạo chiến tranh Chiến thắng Việt Bắc đã tạo ra sự biến đổi lớn trong so sánh lực lượng giữa ta và địch, hình thành thế chiến lược có lợi cho ta Đối mặt với thất bại, thực dân Pháp buộc phải chuyển sang chiến lược “đánh lâu dài”, với âm mưu khai thác tài nguyên và nguồn lực của Việt Nam để duy trì cuộc chiến.

Thực hiện chủ trương của Đảng, hàng nghìn cán bộ và nhiều đội vũ trang đã được tăng cường vào vùng tạm bị chiếm, dẫn đến phong trào chống thuế, chống bắt lính và trừ gian phát triển mạnh mẽ Chính quyền bù nhìn bị tan vỡ, trong khi chính quyền cách mạng được thiết lập với nhiều hình thức phù hợp Nhiều làng chiến đấu hình thành và kháng cự hiệu quả trước các cuộc tấn công của địch Để củng cố lực lượng, tháng 11/1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra sắc lệnh về nghĩa vụ quân sự, thu hút hàng vạn thanh niên tòng quân Đến đầu năm 1950, hai đại đoàn chủ lực và nhiều trung đoàn của Bộ Tổng Tư lệnh được thành lập, trong khi lực lượng dân quân tự vệ phát triển lên tới ba triệu người.

Về kinh tế, Đảng và Chính phủ kháng chiến đã chủ trương xây dựng nền kinh tế dân chủ nhân dân, tự cấp tự túc để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của cuộc kháng chiến, đồng thời tích cực đấu tranh chống lại các hành động phá hoại của địch.

Về mặt văn hoá, xã hội, nhân dân ta đã thu được những thắng lợi quan trọng, tháng

7/1948, Đại hội Văn hóa toàn quốc lần thứ II được triệu tập tại Việt Bắc Tại Đại hội, Tổng

Bí thư Trường Chinh đã trình bày báo cáo về Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam, nhấn mạnh lập trường và nhiệm vụ của văn hóa kháng chiến Tại đây, hội văn hóa Việt Nam được thành lập, thúc đẩy các hoạt động văn hóa, văn nghệ trong vùng tự do Đội ngũ văn nghệ sỹ tích cực tham gia vào đời sống sôi động của dân tộc, góp phần nâng cao và phát triển đời sống văn hóa kháng chiến.

Trong lĩnh vực chính trị, công tác xây dựng chính quyền đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, củng cố uy tín của Chính phủ kháng chiến Bộ máy nhà nước được kiện toàn dần dần, trong khi công tác xây dựng Đảng được chú trọng Hàng trăm ngàn cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang, công nhân, nông dân và trí thức ưu tú đã được kết nạp vào Đảng sau khi vượt qua thử thách Qua cuộc vận động xây dựng chi bộ, tổ chức cơ sở đảng đã được tôi luyện và trưởng thành, trở thành hạt nhân lãnh đạo kháng chiến tại các địa phương.

Vào tháng 2 năm 1949, Chính phủ ban hành sắc lệnh tịch thu ruộng đất của thực dân và Việt gian phản động, đồng thời tạm chia cho nông dân Chính phủ thực hiện xóa nợ cũ, giảm tô, giảm tức để hỗ trợ nông dân Ngoài ra, công tác thủy lợi được đẩy mạnh, hướng dẫn nông dân tham gia vào các hình thức làm ăn tập thể, khuyến khích nhân dân khai hoang và phục hóa đất đai.

Năm 1950, sản lượng lương thực của đất nước tăng trưởng đáng kể, góp phần ổn định và phát triển kinh tế Trong giai đoạn này, khu vực Liên khu IV trở ra ghi nhận sự gia tăng mạnh mẽ về sản lượng lúa, đáp ứng cơ bản nhu cầu lương thực cho công cuộc kháng chiến.

Về sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, có những bước phát triển mạnh mẽ.

Ngành công nghiệp quốc phòng đã phát triển mạnh mẽ từ năm 1949 với sự ra đời của nhiều xưởng sản xuất vũ khí phục vụ cho nhiệm vụ bảo vệ đất nước Nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo cùng các xưởng chế tạo khác đã sản xuất thành công nhiều loại máy móc như máy in, máy khoan, máy tiện và máy cưa Ngoài ra, các mỏ than tại vùng tự do như Tân Trào (Tuyên Quang) và Quán Triều (Thái Nguyên) cũng đóng góp quan trọng cho ngành công nghiệp này.

Nguyên liệu được phục hồi và khai thác phục vụ cho sản xuất công nghiệp, với các ngành nghề như làm giấy, dệt vải, sản xuất muối, xà phòng, thuốc lá và đường phát triển mạnh mẽ trên toàn quốc Những sản phẩm này cung cấp nhu yếu phẩm thiết yếu cho công cuộc kiến thiết đất nước trong giai đoạn chiến tranh và phục hồi kinh tế sau chiến tranh.

Phong trào xóa nạn mù chữ và phát triển hệ thống giáo dục tại Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Năm 1948, có thêm bốn triệu người biết chữ, với Hà Tĩnh là địa phương đầu tiên xóa nạn mù chữ Năm 1950, Bộ Giáo dục triển khai chương trình cải cách giáo dục, dẫn đến việc thành lập gần 1.000 trường tiểu học và trung học từ Liên khu IV đến Việt Bắc Tuy nhiên, ở Nam Bộ, việc thành lập trường học gặp nhiều khó khăn, chỉ có hai trường trung học là Nguyễn Văn Tố và Thái Văn Lung Đến năm 1949, đã có các trường đại học Y khoa, Sư phạm và Mỹ thuật tại Việt Bắc Những nỗ lực này của Đảng đã góp phần nâng cao tri thức cho nhân dân, tạo nên thành quả đáng tự hào trong công cuộc xóa mù chữ.

Về y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân đã có những thành công rất cơ bản Phong trào

Chương trình “ăn sạch, uống sạch, ở sạch” đã được triển khai rộng rãi trên toàn quốc nhằm nâng cao ý thức vệ sinh và hỗ trợ sự phục hồi của đất nước sau chiến tranh Việc chữa bệnh kết hợp chặt chẽ với phòng bệnh, cho thấy sự quan tâm của Đảng trong lĩnh vực y tế Đảng đã xây dựng một hệ thống cơ sở y tế vững mạnh từ Trung ương đến các cấp địa phương Những nỗ lực và chính sách này phản ánh tầm nhìn của Đảng trong việc tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của quốc gia theo con đường Chủ nghĩa xã hội.

Nội dung của Chính cương Đảng Lao động Việt Nam (2/1951)

3.2.1 Mục tiêu chiến lược Đối tượng chính là chủ nghĩa đế quốc xâm lược cụ thể lúc này là đế quốc được đánh dấu bằng sự ra đời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Tuy nhiên, chúng ta vẫn phải đương đầu với kẻ thù chính thực dân đế quốc Tiêu diệt được kẻ thù này chúng ta mới có được độc lập dân tộc Trong nước, tàn dư của chế độ cũ vẫn còn, chúng biến tướng thành tay sai phản động Đó là bè lũ phong kiến tay sai sẵn sàng bắt tay với giặc ngoại xâm mà ra sức chống phá cách mạng Chính vì thế, chúng ta phải sáng suốt nhận định kẻ thù của cách mạng để đưa ra được những sách lược phù hợp.

Trên cơ sở nhận định kẻ thù và mục tiêu của cuộc cách mạng, Đảng ta xác định rõ ba nhiệm vụ cụ thể như sau:

Thứ nhất, là đánh đuổi bọn đế quốc xâm lược, giành độc lập và thống nhất cho quốc gia, dân tộc

Thứ hai , xoá bỏ những tàn tích phong kiến và nửa phong kiến, làm cho người cày có ruộng

Thứ ba, phát triển chế độ dân chủ nhân dân gây cơ sở cho chủ nghĩa xã hội.

Nhiệm vụ giải phóng dân tộc là ưu tiên hàng đầu, vì chỉ khi có độc lập, chúng ta mới có thể chấm dứt sự áp bức của tay sai phong kiến Độc lập dân tộc sẽ tạo điều kiện cho việc xây dựng xã hội chủ nghĩa, từ đó mang lại cuộc sống ấm no cho nhân dân Do đó, cần tập trung toàn lực vào cuộc kháng chiến để hoàn thành sứ mệnh giải phóng dân tộc.

Lực lượng cách mạng Việt Nam là sự kết hợp của các giai tầng yêu nước, bao gồm công nhân, nông dân, tiểu tư sản và tư sản dân tộc, tất cả đều sẵn sàng cống hiến cho cuộc chiến tranh chính nghĩa Ngoài ra, lực lượng này còn quy tụ những địa chủ yêu nước và tiến bộ, tạo thành một khối nhân dân vững mạnh, trong đó công nông và lao động trí óc là nền tảng chủ yếu.

Giai cấp công nhân đóng vai trò lãnh đạo trong cách mạng, như được nêu rõ trong Chính cương: "Người lãnh đạo cách mạng là giai cấp công nhân." Đảng Lao động Việt Nam đại diện cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động, với mục tiêu phát triển chế độ dân chủ nhân dân và tiến tới xã hội chủ nghĩa, nhằm mang lại tự do và hạnh phúc cho giai cấp công nhân và tất cả các dân tộc ở Việt Nam Đảng không chỉ là đại diện cho lợi ích của giai cấp công nhân mà còn cho lợi ích của toàn dân tộc, thể hiện sứ mệnh của mình theo yêu cầu của thời đại, giai cấp và dân tộc.

3.2.4 Phương pháp cách mạng Đảng đưa ra 15 chính sách nhằm đẩy phát triển chế độ dân chủ nhân dân, gây mầm mống cho chủ nghĩa xã hội và đẩy mạnh kháng chiến đến thắng lợi 15 chính sách là sự tổng hợp các lĩnh vực khác nhau Cụ thể bao gồm: kháng chiến, chính quyền nhân dân, mặt trận dân tộc thống nhất, quân đội, kinh tế tài chính, cải cách ruộng đất, văn hoá giáo dục, tôn giáo, chính sách dân tộc, vùng tạm bị chiếm, ngoại giao đối với các nước Miên, Lào, ngoại kiều, đấu tranh cho hoà bình dân chủ thế giới, thi đua ái quốc Như vây, Chính cương đã xác định đối tượng của cách mạng Việt Nam là chủ nghĩa đế quốc xâm lược, cụ thể lúc này là đế quốc Pháp và bọn can thiệp Mỹ, bọn phong kiến phản động Kẻ thù chính là chủ nghĩa đế quốc xâm lược.

19 Lê Minh Trường (2021), Bản chất giai cấp của Đảng Cộng sản Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh,

So sánh Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng (2/1930), Luận cương chính trị (10/1930) và Chính cương Đảng Lao Động Việt Nam (2/1951)

chính trị (10/1930) và Chính cương Đảng Lao Động Việt Nam (2/1951)

3.3.1 Điểm giống nhau Đều hướng tới con đường xã hội chủ nghĩa.

Lực lượng và lãnh đạo cách mạng chủ yếu bao gồm công nhân và nông dân, trong đó giai cấp công nhân đóng vai trò lãnh đạo thông qua Đảng Cộng sản, đội tiền phong của cách mạng Hai lực lượng này là nòng cốt mạnh mẽ và đông đảo trong xã hội, góp phần quan trọng vào công cuộc giải phóng dân tộc.

Nhiệm vụ cách mạng là đánh bại thực dân xâm lược, giành lại độc lập và thống nhất cho dân tộc, xóa bỏ tàn dư phong kiến và nửa phong kiến, đồng thời đảm bảo quyền lợi cho người nông dân bằng việc trao cho họ ruộng đất.

Cách mạng Việt Nam gắn liền với cách mạng thế giới, thể hiện sự kết nối và mở rộng ra toàn cầu nhằm tìm kiếm đồng minh.

Phương pháp cách mạng được áp dụng là bạo lực cách mạng, tuyệt đối không chấp nhận thoả hiệp Sức mạnh của đông đảo dân chúng Việt Nam, cả về vũ trang lẫn chính trị, sẽ được huy động để đạt được mục tiêu căn bản của cuộc cách mạng, đó là lật đổ đế quốc và phong kiến.

Chính cương Đảng Lao động Việt Nam (2/1951)

Nguyên nhân khác nhau Điểm bổ sung

Nam lúc bấy giờ gồm 3 tính chất: dân chủ nhân dân, một phần thuộc địa và nửa phong kiến Ba tính chất đó đang đấu tranh lẫn nhau Nhưng

Mâu thuẫn sâu sắc giữa thợ thuyền, nông dân và các tầng lớp lao động với địa chủ phong kiến và tư bản đế quốc đang diễn ra một cách gay gắt.

Mâu thuẫn diễn ra gay gắt giữa một bên là thợ thuyền, dân cày và các phần tử lao khổ với một bên là địa chủ phong kiến

Trong việc giải quyết vấn đề dân tộc, Luận cương tập trung vào toàn bộ khu vực Đông Dương, mặc dù các quốc gia lân cận có mối quan hệ đa dạng và chặt chẽ với nhau.

Mâu thuẫn chính và lớn nhất của xã hội hiện nay là sự đối lập giữa dân chủ và thuộc địa Cụ thể, mâu thuẫn chủ yếu diễn ra giữa tính chất dân chủ của nhân dân và tính chất thuộc địa, tạo ra những thách thức lớn trong việc xây dựng một xã hội công bằng và tiến bộ.

Mâu thuẫn đó được giải quyết trong quá trình kháng chiến của dân tộc

Việt Nam đã đấu tranh chống thực dân Pháp và các thế lực can thiệp, cũng như tư bản đế quốc, nhưng cần có một đảng riêng phù hợp với đặc điểm dân tộc để xác định nhiệm vụ riêng Dưới ảnh hưởng của quan điểm quốc tế cộng sản, những người cộng sản trẻ tuổi đã đổi tên Đảng thành Đảng cộng sản Đông Dương, tuy nhiên, việc đề ra nhiệm vụ độc lập cho Đông Dương lại không nhấn mạnh quyền tự quyết của dân tộc.

Hoàn thành giải phóng dân tộc và tập trung lực lượng vào kháng chiến để đánh bại quân xâm lược là nhiệm vụ quan trọng Đồng thời, phát triển chế độ dân chủ nhân dân nhằm tạo cơ sở cho chủ nghĩa xã hội Trong quá trình này, ưu tiên nhiệm vụ giai cấp chống phong kiến hơn nhiệm vụ dân tộc chống đế quốc, thực hành thổ địa cách mạng một cách triệt để.

Cách mạng Đông Dương ban đầu được xem là một cuộc “cách mạng tư sản dân quyền” với tính chất thổ địa và phản đế Giai đoạn tư sản dân quyền này đóng vai trò như một bước chuẩn bị quan trọng cho sự phát triển của xã hội cách mạng Sau khi đạt được thắng lợi trong cuộc cách mạng tư sản dân quyền, phong trào sẽ tiếp tục tiến lên, bỏ qua giai đoạn tư bản và hướng thẳng đến con đường xã hội chủ nghĩa.

Phải làm tư sản dân quyền để đi tới xã hội cộng sản và thổ địa cách mạng Lấy lại ruộng đất cho nhân dân

Luận cương chưa phân tích sâu sắc đặc điểm của xã hội Việt Nam, mà chỉ tập trung vào mâu thuẫn giai cấp và cách mạng ruộng đất Điều này dẫn đến việc không xác định được mâu thuẫn chủ yếu cần giải quyết, đó là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam và đế quốc Pháp cùng tay sai của chúng Do đó, nhiệm vụ chống đế quốc không được đặt lên hàng đầu.

Xác định lại mục tiêu đấu tranh chính, rồi mới giải quyết nội bộ sau. chủ nghĩa

Nhiệm vụ cách mạng Đánh đuổi đế quốc xâm lược

Pháp đã giành độc lập và thống nhất cho dân tộc Việt Nam, xóa bỏ di tích phong kiến và nửa phong kiến, giúp người dân có ruộng và phát triển chế độ dân chủ nhân dân Đồng thời, cuộc cách mạng đã đánh đổ phong kiến, thực hiện cách mạng ruộng đất triệt để và tiêu diệt đế quốc chủ nghĩa Pháp, đưa Đông Dương hoàn toàn độc lập Qua đó, Việt Nam đã đánh đổ đế quốc Pháp và bọn phong kiến tay sai, lập ra chính phủ công nông binh và tổ chức quân đội công nông.

Kết hợp đúng đắng nhiệm vụ chống đế quốc và nhiệm vụ chống phong kiến Tập trung hang đầu vào chống ngoại xâm

Lực lượng cách mạng

Giai cấp công nhân, nông dân, tiểu tư sản thành thì, tiểu tư sản trí thức, tư sản dân tộc, thân sĩ yêu nước tiến bộ

Gia cấp vô sản là động lực chính của cách mạng tư sản dân quyền, và là giai cấp lảnh đạo

Nông dân, công nhân Lôi kéo phú nông, tiểu chủ, tư bản Việt Nam

Trong Chính cương Đảng, sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc được phát huy mạnh mẽ, với nhiệm vụ hàng đầu là giải phóng dân tộc Tuy nhiên, Luận cương lại đánh giá chưa đúng vai trò quan trọng này.

Tổng hợp lực lượng yêu nước cách mạng từ tiểu tư sản và mặt yêu nước của tư sản dân tộc, nhưng chưa nhận diện được khả năng phân hóa và lôi kéo bộ phận địa chủ vừa và nhỏ trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc.

Luận cương chính trị nhận rõ vai trò của liên minh công nông, nhưng lại chưa đề cập vấn đề Mặt trận dân tộc thống nhất.

Phương pháp cách mạng

Hoàn thành giải phóng dân tộc; Xóa bỏ đi di tích phong kiến và nữa phong kiến, thực hiện triệt

Ra sức chủng bị cho quần chúng về con đường

“võ trang bạo động” Võ trang bạo động để giành chính quyền là một

Ra sức chủng bị cho quần chúng về con đường

Xác định rõ ràng hướng đi.Vừa khan chiến vừa xây dựng chế độ mới Xây để người cày có ruộng;

Xây dựng cơ sở chủ nghĩa xã hội nghệ thuật cần tuân theo quy tắc quân sự để giành chính quyền, đồng thời phải tạo dựng một hậu phương vững mạnh.

Lãnh đạo cách mạng

Giai cấp công nhân, công nông và giai cấp trí thức làm nền tản

Giai cấp vô sản Giai cấp vô sản

Xác định đúng giai cấp chủ chốt

Quan hệ cách mạng với thế giới

Việt Nam đứng về phe hòa bình và dân chủ tranh thủ sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa

Giá trị thực tiễn của Chính cương Đảng Lao động Việt Nam (2/1951)

3.4.1 Đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc

Chính cương Đảng Lao động Việt Nam xác định rõ ràng các vấn đề chiến lược của cách mạng Việt Nam với hai nhiệm vụ chính: đưa kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn và xây dựng Đảng Lao động Việt Nam Để thực hiện nhiệm vụ này, Chính cương đề ra các chính sách và biện pháp quan trọng như: xây dựng lực lượng vũ trang mạnh mẽ, củng cố Mặt trận dân tộc thống nhất, phát huy tinh thần yêu nước, đẩy mạnh thi đua ái quốc, và thực hiện giảm tô, giảm tức, tịch thu ruộng đất của thực dân và việt gian để chia cho dân cày nghèo.

Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam đã phát huy mạnh mẽ truyền thống yêu nước và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, khơi dậy khát vọng độc lập, tự do và tiến lên chủ nghĩa xã hội Với quyết tâm thực hiện lời kêu gọi kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng đã thể hiện tinh thần không chịu mất nước và khẳng định ý chí giành lại độc lập từ tay thực dân Pháp Chính cương không chỉ là kim chỉ nam cho kháng chiến toàn dân mà còn quy tụ sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, dẫn đến thắng lợi trong cuộc kháng chiến Qua đó, kết thúc gần 100 năm xâm lược của thực dân, Đảng kiên định vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, khẳng định độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, bảo đảm lợi ích quốc gia dân tộc, giữ vững độc lập tự chủ và mở rộng hợp tác quốc tế trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

3.4.2 Đối với sự phát triển của đất nước hiện nay (1975 đến nay)

Nhìn lại 70 năm qua, chúng ta nhận thấy những bài học quý báu về sự lãnh đạo của Đảng trong cách mạng Việt Nam, điều này càng trở nên quan trọng trong việc thúc đẩy công cuộc đổi mới hiện nay Đặc biệt, việc xây dựng và chỉnh đốn Đảng cùng hệ thống chính trị cần được thực hiện một cách toàn diện, đồng bộ và vững mạnh, nhằm đáp ứng yêu cầu mới trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chí Minh vào năm 1946 và Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam tại Đại hội toàn quốc lần thứ II đánh dấu bước phát triển quan trọng trong lãnh đạo và trưởng thành của Đảng Những tài liệu này không chỉ tăng cường niềm tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng, mà còn giúp nhân dân thế giới hiểu rõ hơn về cuộc đấu tranh của Việt Nam Nhờ đó, cách mạng Việt Nam nhận được sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ từ các nước xã hội chủ nghĩa và phong trào công nhân quốc tế, tạo điều kiện cho cuộc kháng chiến của nhân dân ta tiến lên và giành những thắng lợi mới.

Từ Cương lĩnh đầu tiên của Đảng năm 1930 đến Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam năm 1951 và Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, các văn kiện của Đảng đã thể hiện tư tưởng nhất quán về cách mạng dân tộc dân chủ Việt Nam, nhấn mạnh mối liên hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Nhân dân là động lực chính của cách mạng, với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, Nhà nước, Chính phủ và quân đội nhân dân, nhằm xây dựng một Việt Nam hòa bình, thống nhất, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh Các Cương lĩnh này được xây dựng dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng với thực tiễn cách mạng Việt Nam và thế giới.

Mỗi bản cương lĩnh chính trị của Ðảng đều được xây dựng dựa trên các quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời mang đậm truyền thống văn hóa dân tộc, phản ánh thực tiễn Việt Nam và tham khảo kinh nghiệm quốc tế Cương lĩnh chính trị 2/1930 của Đảng, được thông qua tại hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản do Nguyễn Ái Quốc chủ trì, là một cương lĩnh đúng đắn và sáng tạo, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại mới Với phương hướng chiến lược là tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng, cương lĩnh này nhấn mạnh sự cần thiết của cách mạng tư sản dân quyền và cách mạng ruộng đất nhằm giành chính quyền cho nhân dân và tiến tới xã hội cộng sản Mặc dù còn một số vấn đề cần điều chỉnh, nhưng với sự bổ sung của Luận cương Chính trị, cương lĩnh đã được hoàn thiện hơn, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân và yêu cầu bức thiết của cách mạng.

Luận cương chính trị được thông qua tại Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng vào tháng 10/1930 đã trình bày nhiều khía cạnh quan trọng Đặc biệt, tài liệu khẳng định cách mạng Việt Nam mang tính chất tư sản dân quyền, đồng thời bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa để tiến thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa.

Luận cương 1930 của Đảng đã đóng góp quan trọng vào lý luận cách mạng Việt Nam, xác định con đường phát triển cách mạng Tuy nhiên, luận cương còn một số hạn chế, như không chỉ ra mâu thuẫn chính giữa dân tộc Việt Nam và đế quốc Pháp, dẫn đến việc không đặt nhiệm vụ chống đế quốc lên hàng đầu Điều này làm giảm vai trò của yếu tố dân tộc và chưa nhận thức đầy đủ về Mặt trận dân tộc thống nhất trong việc đoàn kết các lực lượng yêu nước Ngoài ra, luận cương cũng chưa đánh giá đúng khả năng cách mạng của giai cấp tiểu tư sản, tinh thần yêu nước của tư bản dân tộc và một bộ phận địa chủ nhỏ.

Cương lĩnh chính trị 2/1930 và Luận cương chính trị 10/1930 đều khẳng định Đảng cộng sản là lực lượng lãnh đạo Cách mạng Việt Nam, dựa trên chủ nghĩa Mác-Lênin Cả hai tài liệu đều xác định cách mạng Việt Nam mang tính chất tư sản dân quyền và xã hội chủ nghĩa, nhấn mạnh vai trò của giai cấp công nhân Tuy nhiên, do bối cảnh và nhận thức khác nhau, chúng có những điểm khác biệt về người soạn thảo, Đảng lãnh đạo, phạm vi, nội dung và tiến trình cách mạng Mặc dù Cương lĩnh chính trị đầu tiên được cho là đúng đắn và hoàn thiện hơn, cả hai văn kiện đều có vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị cho những bước phát triển lịch sử của dân tộc, đồng thời là nền tảng cho việc xây dựng và hoàn thiện lý luận, tư tưởng hiện nay.

Chính cương Ðảng Lao động Việt Nam, do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tổng Bí thư Trường Chinh chỉ đạo soạn thảo, được Ðại hội II của Ðảng thông qua vào tháng 2 năm 1951, xác định đối tượng của cách mạng Việt Nam là chủ nghĩa đế quốc xâm lược, cụ thể là đế quốc Pháp và can thiệp Mỹ, cùng với bọn phong kiến phản động Cuộc cách mạng này mang tính chất giải phóng dân tộc dân chủ nhân dân, dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua Đảng Lao động Việt Nam, nhằm tiến tới chủ nghĩa xã hội.

Nam thể hiện sự hoàn chỉnh trong tiến trình cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân theo Cương lĩnh cách mạng đầu tiên của Đảng, tạo nền tảng vững chắc cho thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ.

Đảng Cộng sản Việt Nam, do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh sáng lập và lãnh đạo, đã trải qua 92 năm lịch sử với nhiều Đại hội đại biểu toàn quốc và các Cương lĩnh quan trọng về cách mạng dân tộc dân chủ, thời kỳ đổi mới và xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Mỗi Cương lĩnh của Đảng không chỉ chứa đựng những giá trị nội dung sâu sắc mà còn phản ánh những mốc quan trọng trong lịch sử của Đảng Bài tiểu luận này làm rõ các nội dung của Cương lĩnh chính trị 2/1930, Luận cương chính trị 10/1930 và Chính cương Đảng Lao động Việt Nam 1/1951, giúp chúng ta hiểu rõ hơn về những văn kiện lịch sử này Những nghị quyết, văn kiện của Đảng, với tính cương lĩnh chiến lược, đã thể hiện nguyện vọng của dân tộc và nhân dân Việt Nam, hướng tới một đất nước hòa bình, độc lập, thống nhất và xã hội chủ nghĩa giàu mạnh.

Ngày đăng: 19/04/2022, 15:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021), Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (Dành cho bậc đại học hệ không chuyên lý luận chính trị), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam(Dành cho bậc đại học hệ không chuyên lý luận chính trị)
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2021
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng Toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.B. THEO TÁC GIẢ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
4. Lê Duẫn (1976), Giai cấp công nhân Việt Nam và liên mình công nông, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giai cấp công nhân Việt Nam và liên mình công nông
Tác giả: Lê Duẫn
Nhà XB: Nxb Sựthật
Năm: 1976
5. Hồ Chí Minh (1946), Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến
Tác giả: Hồ Chí Minh
Năm: 1946
6. Hồ Chí Minh (2011), Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà NộiC. TÀI LIỆU TRÊN TRANG WEB Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật
Năm: 2011
7. (2021), Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng - Giá trị lý luận và thực tiễn, https://hcma2.hcma.vn/khoahoc/Pages/hoi-thao-toa-dam.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng - Giá trị lý luận và thực tiễn
Năm: 2021

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w