1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

KINH tế CHÍNH TRỊ mác LÊNIN

29 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 384 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HÀNG HOÁ, THỊ TRƯỜNG VÀ VAI TRÒ CỦA CÁC CHỦ THỂ THAM GIA THỊ TRƯỜNG Sản xuất hàng hoá: Hai hình thức tổ chức hàng hoá Sản xuất tự cung, tự cấp: là kiểu tổ chức kinh tế mà sản phẩm sản xuất ra là để thoả mãn nhu cầu của bản thân người sản xuất và gia đình họ.  Loại hình sản xuất tự cung, tự cấp này chúng ta còn gọi với các tên gọi khác, như là nền sản xuất tự sản, tự tiêu, tức là tự sản xuất tự tiêu dùng hoặc còn gọi là kinh tế tự nhiên. Vì đặc trưng của kiểu sản xuất tự cung, tự cấp này phụ thuộc chủ yếu vào các điều kiện tự nhiên, như đất đai, nguồn nước, khí hậu  Sản xuất tự cung, tự cấp này là loại hình sản xuất đầu tiên của nhân loại và họ tồn tại chủ yếu trong các xã hội, như là cộng sản nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong kiến. Trong các xã hội này, sản xuất tự cung, tự cấp là hình thức sản xuất điển hình.

Trang 1

CHƯƠNG II HÀNG HOÁ, THỊ TRƯỜNG VÀ VAI TRÒ CỦA CÁC CHỦ THỂ THAM GIA

THỊ TRƯỜNG Sản xuất hàng hoá:

 Đặc trưng của sản xuất tự cung, tự cấp là do sản xuất này nó phụ thuộc chủ yếuvào tự nhiên cho nên công cụ lao động thì rất là lạc hậu, chủ yếu là thủ công,năng xuất lao động rất thấp, hoạt động kinh tế, xã hội chủ yếu tập trung vàohoạt động sản xuất nông nghiệp

Sản xuất hàng hoá: là kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó, những người sản xuất ra sản

phẩm không nhằm mục đích phục vụ nhu cầu tiêu dùng của chính mình mà để traođổi, mua bán

 Tức là, sản xuất hàng hoá là kiểu tổ chức kinh tế mà sản phẩm sản xuất ra là đểtrao đổi, để mua bán trên thị trường

 Sản xuất hàng hoá cũng đã bắt đầu có từ thời kỳ chiếm hữu nô lệ nhưng mà tỉtrọng sản xuất trao đổi hàng hoá trong các xã hội, như: chiếm hữu nô lệ, chế độphong kiến thì nó rất là nhỏ bé, nó chỉ làm bộ phận rất nhỏ trong xã hội, congphần lớn xã hội vẫn sản xuất tự cung, tự cấp

Tuy nhiên, vào cuối thời kỳ phong kiến sản xuất hàng hoá bắt đầu phát triển mạnh

và lấn ác dần sản xuất tự cung, tự cấp, khi chuyển sang nền kinh tế Tư Bản chủ nghĩathì sản xuất hàng hoá dần trở thành hình thức sản xuất phổ biến của xã hội

Điều kiện ra đời sản xuất hàng hoá: Sản xuất hàng hoá hình thành và phát triển,

cần có hai điều kiện

*Sự phát triển của phân công lao động xã hội

Phân công lao động xã hội chính là sự phân chia lao động trong xã hội thành cácngành, các lĩnh vực sản xuất khác nhau Sự phân chia, phân công lao động này nóđược quyết định bởi trình độ phát triển của lực lượng sản xuất xã hội, sự phân công

Trang 2

này nó dẫn đến sự ra đời của các ngành nghề khác nhau của nền sản xuất xã hội Khiphân công lao động phát triển dẫn đến sự ra đời của nhiều ngành nghề khác nhau thìlao động con người mang tính chất là lao động chuyên môn hoá, có nghĩa là mỗingười chỉ sản xuất ra một hoặc là vài thứ sản phẩm, thậm chí có thể sản xuất ra mộtchi tiết sản phẩm

=>Chúng ta biết nhu cầu trong cuộc sống của mỗi một người thì cần rất nhiều sảnphẩm khác nhau, do vậy phân công lao động buộc người sản xuất phải có quan hệtrao đổi sản phẩm để thoả mãn nhu cầu của nhau

**Phân công lao động xã hội thì nó đẻ ra nhu cầu trao đổi sản phẩm giữa nhữngngười sản xuất

*Sự tách biệt về kinh tế giữa các chủ thể sản xuất

Việc tách biệt về kinh tế giữa các chủ thể sản xuất nó thể hiện người sản xuất độclập với nhau và có lợi ích khác nhau Sự khác biệt này trước hết do chế độ tư hữu về

tư liệu sản xuất nó quyết định

Trong chế độ tư hữu người sở hữu tư liệu sản xuất chính là người sở hữu sảnphẩm Chính vì vậy, người này muốn tiêu dùng sản phẩm của người khác thì phảithông qua cái trao đổi sản phẩm dưới hình thức mua bán các sản phẩm và khi sảnphẩm được trao đổi dưới hình thức mua bán thì sản phẩm ấy được gọi là hàng hoá

=>Hình thức trao đổi sản phẩm này được gọi là trao đổi hàng hoá

Chúng ta có thể hiểu phân công lao động xã hội nó đẻ ra nhu cầu trao đổi, còn sựtách biệt về kinh tế giữa các chủ thể sản xuất nó làm cho hình thức trao đổi sản phẩmgiữa người sản xuất là phải mang hình thức là trao đổi hàng hoá

Sản xuất hàng hoá ra đời và phát triển và hiện nay nó trở thành hình thức sản xuất phổ biến của thể giới So với hình thức sản xuất tự cung, tự cấp, sản xuất hàng hoá nó có rất nhiều ưu thế vượt trội

- Một là, tạo khả năng thỏa mãn tối đa các nhu cầu luôn phát triển của con người.Trong sản xuất tự cung tự cấp khả năng thoả mãn nhu cầu phụ thuộc vào năng lực củangười sản xuất, năng lực của người sản xuất với sự hạn chế của các yếu tố sản xuất,như là đất đai, khí hậu, nguồn lực cũng như là sức lao động thì một người sản xuấtnào đó không thể sản xuất ra được tất cả những sản phẩm thoả mãn nhu cầu của mìnhđược Cho nên nhu cầu của con người trong nền sản xuất tự cung tự cấp là sẽ bị hạnchế

Trong kinh tế hàng hoá đó là nền kinh tế trao đổi, thông qua trao đổi thì người sảnxuất có thể thoả mãn nhu cầu tối đa trong khả năng nền sản xuất cho phép và thunhập mà họ có được thì họ có thể thoả mãn tối đa lợi ích của họ mà không phụ thuộcvào số lượng sản phẩm mà họ sản xuất ra

Trang 3

Thứ hai: Sản xuất hàng hoá kích thích được sự năng động, sáng tạo của con người.

Vì trong sản xuất hàng hoá đây là hoạt động lao động có tính chất chuyên môn hoá,

nó cho phép thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, kích thích được sự năng động, sáng tạo củacon người để thu được nhiều lợi ích nhất

Thứ 3: Sản xuất hàng hoá nó thúc đẩy các quan hệ kinh tế luôn mở rộng, pháttriển, từ đó góp phần thúc đẩy văn minh cho con người Nhờ trao đổi người ta thoảmãn nhu cầu, việc thoả mãn nhu cầu làm cho quan hệ kinh tế của xã hội luôn được

mở rộng, không chỉ mở rộng trong một vùng, địa phương, quốc gia, mà còn mở rộng

ở các quan hệ kinh tế với quốc tế và thúc đẩy phát triển của nền văn minh cho conngười

=>Tuy nhiên, ngoài những tác động tích cực của sản xuất hàng hoá, thì sản xuấthàng hoá nó cũng có nhiều mặt trái, thậm chí còn có những tác động tiêu cực đối vớiđời sống kinh tế, xã hội

Ví dụ: Cạnh tranh không lành mạnh; Khai thác quá mức điều kiện tự nhiên, gây ra

ô nhiễm môi trường; Phân hoá thu nhập tạo ra bất bình đẳng xã hội… đó là mặt tráicủa sản xuất hàng hoá

Tồn tại ở hình thức vật thể hay chúng ta gọi là hàng hoá hữu hình

Ví dụ: Gạo, vải, quẩn áo, xe máy, tivi, tủ lạnh…

Hàng hoá phi vật thể hay là hàng hoá vô hình như là các dịch vụ

Ví dụ: Vận tải, làm đẹp và các sản phẩm vô hình khác, như cung cấp các dịch vụmôi giới… cho con người trong đời sống thị trường

** Hai thuộc tính của hàng hoá

Chúng ta biết, hàng hoá là sản phẩm của lao động có thể thoả mãn nhu cầu conngười và được trao đổi, mua bán trên thị trường

Trang 4

Từ định nghĩa hàng hoá như vậy, chúng ta thấy rằng để thoả mãn nhu cầu của conngười, thì hàng hoá đó phải có một giá trị sử dụng nhất định.

Giá trị sử dụng hàng hoá chính là công dụng của sản phẩm, nhờ đó mà thoả mãn

nhu cầu nào đó của con người

Thuộc tính giá trị sử dụng nó có đặc điểm

Giá trị sử dụng nó do thuộc tính tự nhiên của các yếu tố cấu thành nên hàng hoá

đó quy định Như vậy, giá trị sử dụng này là chúng ta nói đến giá trị khách quan củasản phẩm, một sản phẩm có một công dụng nhất định của con người, là nó đượcquyết định bởi các yếu tố tự nhiên cấu thành sản phẩm quyết định

Ví dụ: gạo được sử dụng làm lương thực, thực phẩm hoặc vải được dùng để mayquần áo…

 Do thuộc tính tự nhiên của gạo, vải quyết định nó không phụ thuộc vào các yếu

tố sau: Các thuộc tính tự nhiên này, chủ yếu là các thuộc tính về lý học, hoáhọc, sinh học của sản phẩm

Giá trị sử dụng hàng hoá là giá trị sử dụng đáp ứng nhu cầu của người mua, nhu cầu

này ngày càng cao và có tính khắt khe hơn

=>Như vậy, giá trị sử dụng mà người sản xuất tạo ra là giá trị sử dụng dành chongười mua

Cho nên nguyên tắc sản xuất hàng hoá thì người ta sản xuất ra hàng hoá gì,hàng hoá nào là do nhu cầu thị trường quyết định, chứ không do nhu cầu người sảnxuất quyết định

Giá trị sử dụng của hàng hoá nó được biểu hiện trong tiêu dùng sản phẩm Tức là

khi tiêu dùng sản phẩm thì công dụng, ích lợi của sản phẩm nó được bộc lộ ra, lúc đóngười tiêu dùng cảm nhận được mức độ thoả mãn nhu cầu của họ

Ví dụ: Gạo ăn có ngon không, chúng ta nấu cơm ăn thì chúng ta mới biết; Quần áo cóthoả mãn nhu cầu không, chúng ta sử dụng, mặc vào chúng ta mới biết

Khi chúng ta mua bán thì chúng ta biết được, dùng kinh nghiệm, thói quen đểchúng ta phán đoán ích lợi của hàng hoá thôi Còn nó phục vụ hay thoả mãn nhu cầucủa chúng ta ở mức độ nào thì trong quá trình tiêu dùng chúng ta mới thẫm định được

Hàng hoá là những sản phẩm được trao đổi trên thị trường, khi trao đổi cái gì chi phối sự trao đổi sản phẩm giữa con người với nhau

Giá trị đây chính là thuộc tính để nó làm cơ sở cho quá trình trao đổi hàng hoá

trên thị trường

Trang 5

Vậy giá trị là lao động xã hội của người sản xuất ra hàng hoá kết tinh trong

hàng hoá Tức là lao động kết tinh trong hàng hoá thì lao động ấy chúng ta gọi là giátrị

Chúng ta biết, hàng hoá là sản phẩm của lao động, tức là để có hàng hoá đó thìcon người phải lao động, khi lao động thì phải hao phí sức lao động của họ, thì haophí lao động này được xã hội thừa nhận, thì hao phí lao động này được gọi là giá trịcủa hàng hoá

Để hiểu được phạm trù giá trị, trước hết chúng ta đi từ phạm trù giá trị trao đổi.Khi chúng ta nhìn vào hàng hoá chúng ta không biết được hàng hoá ấy có laođộng kết tinh như thế nào, số lao động kết tinh trong hàng hoá là lớn hay là nhỏ Tức

là giá trị được gọi là số lượng giá trị dao động xã hội kết tinh cho hàng hoá thì nókhông tự biểu hiện ra Mà chúng ta chỉ thấy hình thức biểu hiện bên ngoài, thì hìnhthức biểu hiện giá trị bên ngoài thì chúng ta gọi là giá trị trao đổi

Giá trị trao đổi là quan hệ về lượng mà các hàng hoá trao đổi với nhau

Ví dụ: Chúng ta có 1 mét vải = 10 kg thóc, tỉ lệ giữa gạo và thóc là tỉ lệ 1, 10Nếu xét hình thức ở bên ngoài chúng ta không thấy được điểm chung giống nhau

ở vải và thóc Tuy nhiên bằng phương pháp tư duy trừu tượng, chúng ta thấy rằng vải

và thóc đều là sản phẩm của lao động, đều do lao động tạo ra Tức là để sản xuất ravải, thóc thì người ta phải tiêu hao lao động, hao phí lao động, việc trao đổi giữa 1mét vải và 10kg thóc đồng nghĩa với việc hao phí lao động xã hội để làm ra 1 mét vảibằng với hao phí lao động mà xã hội để làm ra 10kg thóc

Cơ sở chung của trao đổi là giá trị mà giá trị chính là lao động xã hội để sản xuất ra hàng hoá đó

Ví dụ: Giả sử sử dụng 1 mét vải thì hao phí sử dụng lao động bình quân thì mất 2giờ; còn hao phí lao động bình quân để sản xuất ra 10 kg thóc cũng mất 2 giờ, thìbằng nhau này là bằng nhau về 2 giờ lao động xã hội sản xuất ra vải, với 2 giờ xã hộisản xuất ra 10kg thóc, vậy giá trị nó ẩn giấu trong hàng hoá chứ nó không bộc lộ rabên ngoài

Giá trị là phạm trù lịch sử tồn tại trong sản xuất hàng hoá vì chỉ trong sản xuất hàng hoá thì người ta chỉ trao đổi sản phẩm, khi trao đổi người ta mới phải

so sánh hao phí lao động để sản xuất ra hàng hoá và cái hao phí lao động đó chính là giá trị Cho nên giá trị chỉ tồn tại trong sản xuất hàng hoá, chứ không tồn tại trong tất cả các nền sản xuất

Giá trị trao đổi, tức là tỉ lệ trao đổi giữa các hàng hoá nó là hình thức biểu hiện củagiá trị Còn giá trị là cơ sở của giá trị trao đổi

Trong quan hệ giữa giá trị và giá trị trao đổi chúng ta không được nhầm lẫn hai phạm trù này

Trang 6

Giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện của giá trị

Giá trị là cơ sở của giá trị trao đổi

Ví dụ: 1 mét vải làm ra thì mất 2 giờ và 10kg thóc làm ra cũng mất 2 giờ Nếu như giá trị của vải nó thay đổi

Ví dụ: Để sản xuất ra 1 mét vải không phải mất 2 giờ nữa mà nó mất 4 giờ thì tỉ lệtrao đổi bên ngoài sẽ là 1 mét vải sẽ là 20kg thóc, hao phí lao động bên trong tức làgiá trị nó chính là cơ sở xác định tỉ lệ trao đổi của các hàng hoá ở bên ngoài

=>Trên cơ sở đó chúng ta khẳng định Giá trị chính là cơ sở của giá trị trao đổi

khi Khi giá trị thay đổi thì giá trị trao đổi nó cũng thay đổi

Giá trị của hàng hoá được biểu hiện trong trao đổi, tức là khi trao đổi giá trị củahàng hoá được biểu hiện ra, hình thức biểu hiện thông qua giá trị trao đổi, tức là quan

hệ tỉ lệ trong trao đổi của hàng hoá đó với các hàng hoá khác

Sở dĩ hàng hoá có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị nó phụ thuộc vào tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá

C Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá:

Lao động sản xuất hàng hoá có tính hai mặt, gồm

Lao động cụ thể là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những nghề

nghiệp chuyên môn nhất định

 Chúng ta thấy mỗi một lao động của con người diễn ra thì chúng đều diễn radưới một hình thức cụ thể Hình thức đó là do đặc điểm chuyên môn nghềnghiệp quyết định

Ví dụ: Mỗi một lao động, nó sẽ có đối tượng lao động riêng, có công cụ lao độngriêng, có phương pháp lao động riêng, có kết quả lao động riêng;

Người nông dân đối tượng lao động của họ là đất đai, công cụ là cày cuốc,phương pháp là gieo trồng, chăm sóc, Kết quả hoạt động lao động này là lúa, ngô,khoai, sắn

Đối với người thợ mộc, đối tượng của họ là gỗ, công cụ họ sử dụng là cưa, bào,đục, đẽo… kết quả lao động của họ là bàn, ghế, tủ

 Lao động biểu hiện dưới hình thức cụ thể như vậy thì chúng ta gọi là lao động

cụ thể Do đó, mỗi một lao động là một loại lao động nào đó, có một hình thức

cụ thể khác nhau

Chức năng của lao động cụ thể, chính là tạo ra giá trị sử dụng của hàng hoá và

lao động cụ thể vì nó tạo ra giá trị sử dụng cho nên đây là lao động tồn tại vĩnh

Trang 7

viễn trong mọi nền sản xuất xã hội, dù là sản xuất hàng hoá hay là không sản xuấthàng hoá.

Nhờ vào tác động một đối tượng nhất định, sử dụng một công cụ nhất định, tiếnhành lao động theo một phương pháp nhất định, thì người lao động sẽ tạo ra mộtsản phẩm có tính hữu dụng nhất định, có giá trị sử dụng nhất định

Ví dụ: Như tác động vào đất đai, sử dụng công cụ, tiến hành lao động theo phươngpháp nhất định thì người nông dân tạo ra lúa gạo, thì lúa gạo được sử dụng làmlương thực Nhờ hình thức lao động cụ thể nhất định thì người thợ may tạo raquần áo, quần áo thì nó có giá trị sử dụng nhất định

Vì lao động cụ thể nó tạo ra giá trị sử dụng mà hoạt động lao động của con ngườithì mục tiêu trước hết lao động sản xuất đều tạo ra của cải, tạo ra sản phẩm có mộtgiá trị sử dụng nhất định Cho nên lao động cụ thể là là lao động tồn tại trong tất

cả các nền sản xuất, dù là sản xuất hàng hoá hay là không sản xuất hàng hoá

Tuy nhiên, trong sản xuất hàng hoá sản phẩm do người lao động tạo ra thì sẽ đượctrao đổi với nhau và khi trao đổi thì người ta phải so sánh lao động Nhưng nếu sosánh về mặt lao động cụ thể thì chúng ta không so sánh được Vì mỗi một laođộng có hình thức cụ thể khác nhau Vì vậy để so sánh được lao động giữa nhữngngười sản xuất hàng hoá với nhau thì người ta phải quy lao động cụ thể thành mộtthứ lao động giống nhau Cái lao động giống nhau này thì ta gọi là lao động trừutượng

Lao động trừu tượng là lao động xét về mặt hao phí sức lao động của con người,

tức là không xét về mặt cụ thể, (cụ thể nó là lao động cụ thể) ở đây chúng ta bỏ đi cáimặt cụ thể, trừu tượng hoá đi mặt cụ thể thì các loại lao động của con người nó cònđiểm chung giống nhau đó là đều là sự hao phí sức lao động

Ví dụ: Ta không xét đến mặt cụ thể của lao động sản xuất ra lúa gạo, không xétđến mặt cụ thể của lao động để tạo ra quần áo hay bàn ghế Chúng ta loại bỏ nhữngđiểm khác nhau này, thì tất cả các loại lao động của người nông dân, người thợ mộc,thợ may thì đều có một đặc điểm chung, đều là hao phí sức lực của con người Sự haophí sức lực của con người về bản chất là giống nhau, vì nó đều là sự tiêu hao thầnkinh, sức thần kinh và sức cơ bắp của con người

Đặc trưng của lao động trừu tượng là nó tạo ra giá trị hàng hoá, nếu như lao

động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng thì lao động trừu tượng tạo ra giá trị Cho nên giá trịcủa hàng hoá thực chất nó là lao động trừu tượng kết tinh

Lao động trừu tượng nó là phạm trù lịch sử chỉ tồn tại trong sản xuất hàng hoá

Vì, chỉ trao sản xuất hàng hoá thì người ta mới trao đổi sản phẩm, mà khi trao đổingười ta mới so sánh lao động mà khi cần phải so sánh lao động với nhau thì người ta

Trang 8

mới quy đổi lao động cụ thể thành các lao động trừu tượng tức là lao động giôngnhau để có thể so sánh được với nhau.

Mâu thuẫn cơ bản của sản xuất hàng hoá

Lao động cụ thể chính là phản ánh tính chất tư nhân của lao động, còn Lao độngtrừu tượng thì phản ánh tính chất xã hội của lao động Do đó, trong sản xuất hàng hoámau thuẫn cơ bản của nền sản xuất hàng hoá chính là mâu thuẫn giữa tính chất tưnhân và tính chất xã hội của lao động sản xuất hàng hoá

Biểu hiện của mâu thuẫn:

Sản phẩm do những người sản xuất hàng hoá tạo ra không phù hợp với nhu cầu của xã hội Tức là, nếu chúng ta xét về mặt giá trị sử dụng thì sản phẩm nào tạo

ra thường không có một công dụng nhất định, ích lợi nhất định.Ích lợi hay công dụngcủa sản phẩm mà người sản xuất tạo ra không phù hợp với nhu cầu của xã hội

Ví dụ: ta cần rau mà ông chỉ có cá; ông cần cá mà mình không có cá chỉ có rau… Trong sản xuất hàng hoá nó có tình trạng mức tiêu hao lao động cá biệt của ngườisản xuất thì nó cao hơn mức tiêu hao lao động mà xã hội chấp nhận được

Ví dụ: Người ta sản xuất ra 1 mét vải chỉ 2 giờ thôi nhưng mà hao phí cá biệt là 3giờ nó không phù hợp với hao phí của xã hội

 Trong mâu thuẫn biểu hiện này, cả về mặt giá trị sử dụng và cả về mặt giá trị

nó chính là hiện tượng nó có thể dẫn đến, tạo ra mầm móng khủng hoảng kinh

tế trong nền sản xuất hàng hoá Khi mà sản phẩm không bán được, kế thừa…

có nguy cơ dẫn đến khủng hoảng kinh tế

D Lượng giá trị của hàng hoá và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hoá.

Chúng ta biết rằng giá trị của hàng hoá là do lao động xã hội sản xuất ra hànghoá đó quyết định

Về mặt lượng được xác định

Lượng giá trị trong mỗi đơn vị hàng hoá chính là số lượng lao động xã hội đểsản xuất ra hàng hoá, nó chinh là số lượng lao động mà người ta đã hao phí để người

ta sản xuất ra hàng hoá Hao phí này sẽ được tính bằng thời gian lao động

Tuy nhiên, giá trị có hai loại:

Trang 9

Giả sử để sản xuất ra một đơn vị trứng thì tiêu hao lao động cá biệt ở trang trại

A là 1 giờ; trang trại B 1,1 giờ; trang trại C là 1,2 giờ Như vậy do điều kiện sản xuấtkhác nhau, cho nên hao phí lao động sản xuất ra ở các trang trại cũng khác nhau Tuynhiên, giá trị đơn vị trứng này không phải được xác định bằng hao phí lao động cábiệt tức là bằng mức 1 giờ; 1,1 giờ; 1,2 giờ mà nó được xác định bằng cái hao phí laođộng xã hội cần thiết mà hao phí này được tính bằng thời gian Cho nên, chúng ta gọi

là thời gian lao động xã hội cần thiết

Giả sử, ở mỗi trang trại nó có hao phí lao động tính về thời gian là khác nhaunhưng mà hao phí lao động sau cần thiết mà thị trường xác định là ở mức 1,15 giờ,thì hao phí ở mức 1,15 giờ này được gọi là thời gian lao động xã hội cần thiết

Trên cơ sở đó chúng ta có thể định nghĩa thời gian lao động xã hội cần thiết:

Thời gian lao động xã hội cần thiết: là thời gian để sản xuất ra một đơn vị

hàng hoá trong điều kiện trung bình với trình độ thành thạo trung bình, cường độ laođộng trung bình, trong những điều kiện bình thường của xã hội

Như vây, trước hết để trả lời Lượng giá trị được xác định như thế nào

Giá trị của hàng hoá không phải được xác định bằng thời gian lao động cá biệt mà được xác định bằng thời gian lao động xã hội cần thiết.

Thời gian lao động xã hội cần thiết tức là thời gian trung bình để sản xuất

ra một hàng hoá trong điều kiện trung bình của xã hội Đây là thời gian trung bình để sản xuất ra hàng hoá trong điều kiện bình thường hay điều kiện trung bình của xã hội

CẤU THÀNH LƯỢNG CỦA GIÁ TRỊ HÀNG HOÁ

G = c + v + m Trong đó: c: giá trị cũ (Hao phí lao động quá khứ)

v + m: giá trị mới (Hao phí lao động sống)

ví dụ: Để may ra quần áo, thứ nhất người thợ may phải có vải, có chỉ, máy may, máymay này được sử dụng trong nhiều năm cho nên người ta không tính hết giá trị củamáy được mà chỉ tính giá trị khấu hao của máy thôi Giá trị của vải, của chỉ và khấuhao của máy mà chuyển vào cái áo này bộ phận này chúng ta ký hiệu là c Để biếnvải thành áo, cô thợ may phải mất một thời gian lao động, lao động của co này nó sẽtạo ra một giá trị, chúng ta gọi là giá trị mới (v +m) Do đó, giá trị của cái áo, baogồm cả giá trị cũ cộng với giá trị mới Trong đó, giá trị cũ là giá trị của tư liệu sảnxuất, như là vải, chỉ, máy khâu, giá trị này là giá trị đã được tạo ra ở trong các quátrình lao động trước đây, tức là lao động quá khứ, cho nên chúng ta gọi đây là hao phí

Trang 10

lao động quá khứ Giá trị mà do lao động quá khứ tạo ra thì chúng ta gọi là giá trị cũ,còn lao động của người thợ may thì chúng ta gọi là lao động sống tức là lao độngnhân tài, lao động này nó tạo ra giá trị mới v+m

Hiện nay, v+m còn gọi một cái tên khác đó là giá trị gia tăng

Các nhân tố ảnh hưởng tới lượng giá trị hàng hoá

Lượng của giá trị được xác định bằng thời gian lao động xã hội cần thiết, thời gian

lao động cần thiết này không phải là một đại lượng cố định mà chúng có thể thay đổi

Tác động của năng suất lao động tới giá trị hàng hoá

Năng suất lao động là năng lực của người sản xuất và nó được tính bằng

số lượng, sản phẩm sản xuất ra của một đơn vị thời gian hay là thời gian hao phí

để sản xuất ra một sản phẩm

Ví dụ: Cày thủ công, 1 ngày được 1 sào, cày máy 1 ngày thì người ta được 2

sào, Giả sử thời gian là giống nhau Như vậy, cày máy thì sẽ có năng suất cao hơngấp đôi cày thủ công

Năng suất lao động nó có quan hệ nghịch với giá trị một sản phẩm của một hàng hoá, khi năng suất lao động nó tăng lên, ta thấy số lượng sản phẩm được sản xuất ra cũng tăng lên, nhưng hao phí lao động của con người ở trong thời gian lao động đó không đổi

Cho nên chúng ta thấy, tổng số giá trị được tạo ra trong một ngày không đổi.

Ví dụ: Người cày bằng thủ công, cũng như người cày máy đều làm việc trongmột ngày là 8 giờ cho nên hao phí lao động trong một ngày là nó không thay đổi,nhưng số lượng sản phẩm nó tăng lên Giả sử người ta cày 1 ngày 8 giờ, nếu như càythủ công thì được 1 sào, như vậy một sào của người cày thủ công nó chứa đựng 8 giờlao động, còn một ngày cày ruộng của người cày máy có 4 giờ, tức là hao phí laođộng tính tổng sản phẩm nó sẽ thấp đi

Chúng ta thấy rằng, quan hệ giữa năng suất lao động tỉ lệ nghịch với giá trị củamột hàng hoá

Năng suất lao động tăng thì tổng giá trị tạo ra không đổi (tổng giá trị thời gian) còn giá trị của một đơn vị sản phẩm thì giảm xuống

Tác động của cường độ lao động tới giá trị hàng hoá

Cường độ lao động tức là mức hao phí lao động trong một thời gian Việc tăng

cường độ lao động, giống như việc người ta kéo dài ngày lao động ra thôi

Ví dụ: 1 giờ trước đây 2 người xay được 35kg ngô, bây giờ 1 giờ người ta xayđược 40kg ngô, người ta quay nhanh hơn, khi quay nhanh hơn số lượng sản phẩm sản

Trang 11

xuất ra cũng tăng lên Như vậy, khi cường độ lao động tăng nó sẽ làm cho số lượngsản phẩm tăng, khi cường độ lao động tăng thì hao phí lao động của con người cũngtăng đặt biệt là hao phí lao động sống sẽ tăng, cho nên tổng giá trị được tạo ra trongmột đơn vị thời gian sẽ tăng, nhưng mà giá trị của một đơn vị sản phẩm sẽ không đổi

Khi cường độ lao động tăng thì tổng giá trị hàng hoá tăng còn giá trị của đơn vị sản phẩm không đổi

Việc kéo dài ngày lao động cũng tác động đến giá trị tương tự như tăng cường độ lao động

Nếu chúng ta không tăng cường độ lao động mà chúng ta kéo dài thời gian lao động ra

Ví dụ: 1 giờ xây được 35kg ngô, như vậy cứ 20 phút ta xây được 10kg ngô, chúng

ta không tăng cường độ vẫn giữ cường độ như cũ mà vẫm muốn xay được 40kgngô thì 2 người này lao động thêm 20 phút nữa, tức là xay trong 1 giờ 20 phút sẽđược 40kg ngô nếu cường độ không đổi

Ở hai trường hợp: Một là tăng cường độ và không kéo dài thời gian lao động

hoặc là kéo dài thời gian lao động nhưng không tăng cường độ thì tác động của

chúng là giống nhau Hai hiện tượng này tác động đến giá trị là giống nhau tức

là đều tăng tổng số giá trị và giá trị của một đơn vị sản phẩm là không đổi Tính chất phức tạp hay giản đơn của lao động

Về lao động có nhiều lao động khác nhau: về tính chất chúng ta có thể phân biệt

ra lao động giản đơn và lao động phức tạp

Lao động giản đơn hay còn gọi là lao động phổ thông tức là những lao động

không cần phải qua đào tạo, bất kỳ người lao động có sức lao động thông thường

nào người ta đều có thể làm được Lao động này thì chúng ta gọi là lao động giản đơn

Lao động phức tạp là lao động phải trải qua đào tạo, huấn luyện chuyên môn

nghề nghiệp, như là bác sĩ, kỹ sư, kiến trúc sư …

Về nguyên tắc chúng ta cần nắm được nguyên tắc chung

Nếu có cùng thời gian lao động như nhau thì một lao động phức tạp sẽ tạo ra nhiều giá trị hơn lao động giản đơn hay chúng ta còn nói lao động phức tạp

nó là bội số của lao động giản đơn

Ví dụ: Một bác sĩ 1 ngày có thể tạo ra 3 triệu, nông dân một ngày chỉ tạo ra 50nghìn…

Tiền

Nguồn gốc và bản chất của tiền

Trang 12

Tiền tệ là kết quả của quá trình phát triển lâu dài của sản xuất và trao đổi hàng hoácủa sự phát triển các hình thái giá trị từ thấp đến cao.

Khi sản xuất hàng hoá mới ra đời thì chưa có tiền, lúc đó hàng hoá được trao đổi trực tiếp vật đổi lấy vật

Ví dụ: Vải trực tiếp trao đổi với thóc

Hình thái đầu tiên của giá trị người ta gọi là hình thái giản đơn hay ngẫu nhiên

của giá trị

Đặc điểm của hình thái giá trị này: hàng hoá được trao đổi trực tiếp và đổi lấy

vật và trao đổi mang tính chất ngẫu nhiên

Ví dụ: 1 mét vải = 10kg thóc

Trong phương trình trao đổi này thóc là vật ngang giá của vải (Vật ngang giá) Vật ngang giá: là vật có giá trị ngang bằng với giá trị của hàng hoá mà nó trao

đổi

Vật này chính là vật dùng để biểu hiện giá trị của hàng hoá khác

Hình thái giá trị đầy đủ hay mở rộng: tương ứng với thời kỳ sản xuất hàng hoá

đã phát triển cao hơn, có nhiều hàng hoá đem ra thị trường để trao đổi Tuy nhiên,đặc trưng của hình thái này là rất nhiều hàng hoá đóng vai trò vật ngang giá

Ví dụ: thóc, chè, cừu hoặc là vàng đều có thể là vật ngang giá của vải Tuy nhiên,

trao đổi vẫn là trao đổi trực tiếp vật đổi lấy vật

Hình thái tiền tệ:

Trong hai hình thái trước, đặc trưng của nó là trao đổi trực tiếp vật đổi lấy vật.Tuy nhiên, hình thức trao đổi trực tiếp vật đổi lấy vật này không còn phù hợp vớivấn đề phát triển của sản xuất hàng hoá Khi sản xuất hàng hoá trở thành trao đổithường xuyên, không chỉ là được tiến hành phạm vi một vùng có thể mở rộng racác vùng với nhau

Để tạo điều kiện cho trao đổi hàng hoá được thuận lợi, thì mỗi một vùng người

ta sẽ chọn ra một vật ngang giá chung

Ví dụ: thóc, chè, cừu hoặc là vải đều chọn vàng là vật ngang giá chung (mỗivùng chọn một vật ngang giá khác nhau) có thể là vải, thóc, gỗ…

Khi các hàng hoá bắt đầu trao đổi, vượt khỏi phạm vi của các vùng, thì việcmỗi vùng có một vật ngang giá chung khác nhau này thì nó không còn phù hợpnữa, cho nên nó đòi hỏi các vùng cần phải thống nhất vật ngang giá chung vớinhau Hình thành vật ngang giá chung thống nhất cho tất cả các vùng Khi vậtngang giá chung dần dẫn cố định ở vàng bạc

Trang 13

Khi vật ngang giá chung được cố định ở vàng bạc thì gọi là vật ngang giáchung độc tôn, nghĩa là chỉ có vàng, bạc được chọn làm vật ngang giá chung Lúc

đó, vật ngang giá chung này chúng ta gọi là tiền (không còn gọi là vật ngang giáchung nữa mà gọi là tiền)

Tiền tệ: là một hàng hoá đặc biệt, được tách ra từ thế giới hàng hoá, làm vật ngang giá chung cho tất cả các hàng hoá.

Khi tiền tệ ra đời thì Giá trị của một hàng hoá được biểu hiện bằng tiền thì số

tiền đó được gọi là giá cả hàng hoá Giá cả hàng hoá do giá trị quyết định và lênxuống xoay quanh giá trị của nó

CHỨC NĂNG CỦA TIỀN

Trong nền kinh tế thị trường thì tiền thực hiện 5 chức năng cơ bản của tiền: thước đo giá trị; phương tiện lưu thông; phương tiện thanh toán; tiền tệ thế giới

Thước đo giá trị: tiền được dùng làm thước đo giá trị tức là nó được dùng để

đo lường và biểu hiện giá trị của hàng hoá Để đo lường được giá trị thì bản thân

tiền phải có giá trị, tức là tiền vàng phải có đủ giá trị mới thực hiện được chức năng thước đo giá trị

Gía trị hàng hoá được biểu hiện bằng tiền gọi là giá cả hàng hoá

Giá cả hàng hoá phụ thuộc vào giá trị hàng hoá, giá trị của tiền và quan hệ

cung cầu hàng hoá

Cho nên, giá trị hàng hoá còn lớn thì giá cả hàng hoá cũng lớn, giá cả không chỉ phụ thuộc duy nhất vào giá trị, mà giá cả nó còn phụ thuộc vào giá

cả của tiền tệ cũng như là quan hệ cung cầu của hàng hoá trên thị trường Phương tiện lưu thông:

Công thức lưu thông hàng hoá là

H-T-H Tiền làm phương tiện lưu thông là làm môi giới trong quá trình trao đổi hàng

hoá Trao đổi hàng hoá lấy tiền làm môi giới gọi là lưu thông hàng hoá

Trang 14

Công thức lưu thông hàng hoá là

H-T-H

Làm phương tiện lưu thông tiền không nhất thiết phải có đủ giá trị (tiền

vàng) mà có thể chỉ cần sử dụng tiền kí hiệu giá trị (tiền giấy hay chất liệu khácpholymel)

Tiền giấy là tiền ký hiệu giá trị

Tiền kí hiệu giá trị không có giá trị nội tại và được sử dụng trong phạm vi

quốc gia trừ một số loại như USD, EU Việc phát hành tiền ký hiệu giá trị tuântheo quy luật lưu thông tiền tệ

Phương tiện cất trữ:

Tiền cất trữ: là tiền được rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ

Để làm chức năng phương tiện cất trữ, tiền phải có đủ giá trị (tiền vàng) Tiền

kí hiệu giá trị thì không thực hiện chức năng này

Phương tiện thanh toán:

Làm chức năng thanh toán, tiền được dùng để chi trả sau khi việc gia dịch

mua bán đã hoàn thành tức thanh toán việc mua bán chịu

Chức năng phương tiện thanh toán của tiền gắn liền với chế độ tín dụng

thương mại, tức mua bán chịu, thanh toán không dùng tiền mặt mà chỉ dùng tiềntrên sổ sách kế toán hoặc tiền trong tài khoản, tiền ngân hành, tiền điện tử

Hàng hoá có hai loại: Hàng hoá hữu hình và hàng hoá vô hình

Hàng hoá dịch vụ thuộc loại hàng hoá vô hình Để tạo ra hàng hoá vô hình này

còn người cũng phải tạo ra hao phí lao động Dịch vụ là một loại hàng hoá vô hình, cũng hao phí sức lao động để tạo ra nó và cũng nhằm mục đích thoả mãn nhu cầu của con người Tuy nhiên so với hàng hoá hữu hình thì hàng hoá

dịch dụ nó có một số đặc điểm

Ngày đăng: 19/04/2022, 10:43

w