Đề Cương Hệ Thống Câu Hỏi Ôn Tập Triết Học MÁC - LÊNIN 1Thường Gặp 1... Quan điểm phát triển cũng đòi hỏi tinh thần lạc quan tích cực trong thực tiễn... - Phải thừa nhận tính
Trang 1Đề Cương Hệ Thống Câu Hỏi Ôn Tập Triết Học MÁC - LÊNIN 1
Thường Gặp
1 Định nghĩa vật chất của V.I.Lênin
Tiếp thu tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen, trên cơ sở khái quát những thành tựu mới nhất của khoa học tự nhiên cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, về mặt triết học trên cơ sở phê phán những quan điểm duy tâm và siêu hình về vật chất, Lênin đã đưa ra định nghĩa về vật chất như sau:
Nội dung định nghĩa
“Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.
Phân tích định nghĩa
- Trước hết, về mặt phương pháp, Lênin không sử dụng phương pháp thông thường để định nghĩa khái niệm vật chất Về mặt nhận thức luận, chỉ có thể định nghĩa phạm trù vật chất trong quan hệ với phạm trù đối lập của nó, đó là phạm trù ý thức Nói
cách khác, đây là phương pháp định nghĩa thông qua cái đối lập với cái cần định nghĩa.
- “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan…”
+ “Vật chất” là một phạm trù khái quát nhất, rộng nhất của lý luận nhận thức
+ Phạm trù vật chất phải được xem xét dưới góc độ của triết học, chứ không phải dưới góc độ của các khoa học cụ thể Điều này sẽ giúp chúng ta tránh được sai lầm khi đồng nhất phạm trù vật chất trong triết học với các khái niệm vật chất thường dùng trong các khoa học cụ thể hoặc đời sống hằng ngày
- Vật chất là “thực tại khách quan”
Định nghĩa đã chỉ ra đặc tính quan trọng nhất của vật chất là tính khách quan, tức là
thuộc tính tồn tại không lệ thuộc vào ý thức con người, dù con người có nhận thức được nó hay không Đặc tính này là dấu hiệu cơ bản nhất để phân biệt cái gì là vật chất, cái gì không phải là vật chất
- Vật chất là tất cả những gì “được đem lại cho con người trong cảm giác”
+ Điều này khẳng định rằng, vật chất là cái có trước, cảm giác (ý thức) là cái có sau, vật chất là cái đóng vai trò quyết định đến nguồn gốc và nội dung khách quan của ý
Trang 2thức Bởi thực tại khách quan đưa lại cảm giác cho con người chứ không phải cảm giác (ý thức) sinh ra thực tại khách quan Như vậy, định nghĩa đã giải quyết được mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng
- Vật chất là những gì “được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.
+ Nghĩa là thế giới vật chất không phải tồn tại thần bí mà tồn tại một cách hiện thực, được biểu hiện cụ thể dưới dạng các sự vật, hiện tượng cụ thể mà các giác quan của chúng ta có thể nhận biết một cách trực tiếp hay gián tiếp Qua đó, khẳng định
rõ, con người có thể nhận thức được thế giới khách quan Ở điểm này, định nghĩa đã giải quyết được mặt thứ hai của vấn đề cơ bản triết học trên lập trường của khả tri luận
Ý nghĩa của định nghĩa
- Định nghĩa đã giải quyết một cách đúng đắn vấn đề cơ bản của triết học trên lập trường chủ nghĩa duy vật và biện chứng, qua đó tìm ra lối thoát cho cuộc khủng hoảng về thế giới quan trong khoa học cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX
- Định nghĩa đã cung cấp cơ sở lý luận để bác bỏ sự xuyên tạc của chủ nghĩa duy tâm dưới mọi hình thức, đồng thời khắc phục hạn chế của những quan niệm trực quan, siêu hình, máy móc về vật chất của chủ nghĩa duy vật từ trước đến nay
- Khẳng định thế giới vật chất là khách quan và vô cùng, vô tận, luôn luôn vận động và phát triển không ngừng nên nó đã có tác dụng định hướng, cổ vũ các nhà khoa học khi sâu vào nghiên cứu thế giới vật chất, để ngày càng làm phong phú thêm kho tàng tri thức của nhân loại
2 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
Khái niệm:
- Quan điểm siêu hình không thừa nhận mối liên hệ của sự vật, hiện tượng Theo quan điểm này, sự vật hiện tượng trong thế giới về cơ bản không có sự liên hệ, ràng buộc, quy định lẫn nhau Thế giới chỉ là một tập hợp rời rạc các sự vật cô lập nhau
- Quan điểm duy tâm lý giải cơ sở của mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng từ cảm giác chủ quan hoặc từ một thực thể tinh thần huyền bí nào đó (Thượng đế, Ý niệm, Tinh thần thế giới…)
- Phép biện chứng duy vật thừa nhận mối liên hệ hữu cơ của các sự vật, hiện tượng và coi đó là nguyên lý tồn tại của thế giới Cơ sở của mối liên hệ phổ biến đó là tính thống nhất vật chất của thế giới
Trang 3Vậy mối liên hệ là gì? - là sự quy định, ảnh hưởng, ràng buộc, tác động và chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng
Tính chất cơ bản của mối liên hệ
- Tính khách quan: Phép biện chứng duy vật khẳng định mối liên hệ nó có tính khách
quan, xuất phát từ tính thống nhất vật chất của thế giới
- Tính phổ biến: Phép biện chứng duy vật thừa nhận liên hệ giữa các sự vật hiện
tượng diễn ra trong mọi lĩnh vực (tự nhiên, xã hội và tư duy)
- Tính đa dạng phong phú: Phép biện chứng duy vật cũng chỉ ra rằng, liên hệ của
thế giới rất đa dạng, bởi thế giới bao gồm vô số sự vật hiện tượng muôn vẻ khác nhau Căn cứ vào tính chất, vai trò, phạm vi của mối liên hệ, chúng ta có thể phân biêt thành nhiều loại khác nhau (cho thấy sự đa dạng và phong phú):
+ Mối liên hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài
+ Mối liên hệ cơ bản và mối liên hệ không cơ bản
+ Mối liên hệ chủ yếu và mối liên hệ thứ yếu
+ Mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp…
Lưu ý: Sự phân chia thành các loại mối liên hệ như trên chỉ có ý nghĩa tương đối, bởi vì mỗi loại liên hệ chỉ là một hình thức, một bộ phận, một mắt khâu của mối liên
hệ phổ biến của thế giới xét như một chỉnh thể Tuy nhiên, sự phân loại các liên hệ là cần thiết, vì rằng vị trí của từng mối liên hệ trong việc quy định sự vận động, phát triển của sự vật và hiện tượng không như nhau
Ý nghĩa phương pháp luận:
- Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện trong nhận thức và hoạt động thực tiễn
Yêu cầu của quan điểm toàn diện: nghiên cứu tài liệu
- Khi xem xét sự vật, hiện tượng từ quan điểm toàn diện, cần quán triệt quan điểm lịch sử cụ thể nhằm có được cái nhìn linh hoạt, tránh giáo điều, rập khuôn
3 Nguyên lý về sự phát triển
Khái niệm
- Quan điểm siêu hình xem sự phát triển chẳng qua chỉ là một quá trình diễn ra theo
đường thẳng một cách đơn giản Đó chẳng qua là sự biến đổi về lượng
Trang 4- Quan điểm duy tâm lý giải nguồn gốc của sự phát triển ở cảm giác chủ quan, hoặc ở một thực thể tinh thần huyền bí nào đó
- Phép biện chứng duy vật khẳng định rằng, phát triển là sự biến đổi về chất của sự
vật, hiện tượn từ thấp đến cao, trong đó có sự xuất hiện cái mới, cái tiến bộ thay thế cho cái cũ đã lạc hậu, lỗi thời Sự xuất hiện của “cái mới” là trong những biến đổi của sự vật hiện tượng là tiêu chí để nhận diện sự phát triển
Tính chất cơ bản của sự phát triển
- Tính khách quan: Nguồn gốc và động lực của sự phát triển nằm trong chính bản
thân sự vật, hiện tượng
- Tính phổ biến: Sự phát triển là khuynh hướng phổ biến của mọi sự vật, mọi hiện
tượng, và diễn ra trong mọi lĩnh vực, mọi cấp độ của tồn tại (tự nhiên, xã hội và tư duy)
- Tính đa dạng, phong phú: Tuy sự phát triển diễn ra như là khuynh hướng phổ biến,
nhưng mỗi sự vật, hiện tượng lại có quá trình phát triển không giống nhau Tính đa dạng và phong phú của sự phát triển còn phụ thuộc vào không gian và thời gian, vào các yếu tố, điều kiện tác động lên sự phát triển đó
Ý nghĩa phương pháp luận
- Nguyên lý về sự phát triển là cơ sở lý luận của quan điểm phát triển trong nhận
thức và hoạt động thực tiễn, tránh tư tưởng bảo thủ trì trệ
Quan điểm này yêu cầu khi phân tích sự vật phải xét nó như một quá trình; đặt nó trong sự vận động, sự phát triển mới nắm được quy luật và những xu hướng của nó Quan điểm phát triển còn bao hàm yêu cầu xét sự vật trong từng giai đoạn cụ thể của nó nhưng không được tách rời với các giai đoạn khác mà phải liên hệ chúng với nhau mới có thể nắm được lôgic của toàn bộ tiến trình vận động sự vật Quan điểm phát triển cũng đòi hỏi tinh thần lạc quan tích cực trong thực tiễn
- Khi xem xét sự vật, hiện tượng từ quan điểm phát triển, cần quán triệt quan điểm lịch sử cụ thể nhằm có được cái nhìn linh hoạt, tránh giáo điều, rập khuôn
4 Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập
Khái quát nội dung quy luật: Mọi sự vật, hiện tượng đều bao hàm mâu thuẫn bên
trong Mỗi sự vật, hiện tượng đều là thống nhất của các mặt, các thuộc tính, các khuynh hướng đối lập nhau Chính sự đấu tranh của các mặt đối lập đó làm cho sự vật, hiện tượng vận động, phát triển
Khái niệm
Trang 5- “Mặt đối lập” là những mặt có xu hướng vận động, biến đổi trái ngược nhau trong một chỉnh thể
- “Mâu thuẫn” (biện chứng) là một chỉnh thể, trong đó hai mặt đối lập vừa thống nhất vừa đấu tranh với nhau
- Mâu thuẫn có các tính chất sau:
+ Tính khách quan:
+ Tính phổ biến:
+ Tính đa dạng, phong phú:
Nội dung quy luật
- Trong mâu thuẫn biện chứng, các mặt đối lập vừa có quan hệ thống nhất với nhau, vừa đấu tranh lẫn nhau
- “Thống nhất của các mặt đối lập” biểu hiện: Các mặt đối lập liên hệ ràng buộc với nhau, quy định lẫn nhau và làm tiền đề tồn tại của nhau
Khái niệm “thống nhất” trong quy luật này còn được hiểu là sự “đồng nhất”, nghĩa là cũng thừa nhận trạng thái ổn định của mối liên hệ của các mặt đối lập Đồng thời cũng thừa nhận sự chuyển hóa lẫn nhau của các mặt đối lập
- “Đấu tranh của các mặt đối lập” nghĩa là các mặt đối lập bài trừ lẫn nhau, phủ định lẫn nhau
- Lưu ý:
+ Sự thống nhất của các mặt đối lập có tính chất tạm thời, thoáng qua, tương đối, cũng như trạng thái đứng im của sự vật, bởi vì mọi sự vật, hiện tượng cụ thể đều có quá trình phát sinh, phát triển và tiêu vong để nhường chỗ cho các sự vật, hiện tượng khác cao hơn, hoàn thiện hơn, mới hơn về chất ra đời
+ Đấu tranh của các mặt đối lập là tuyệt đối vì: trong mọi sự vật hiện tượng đều có mâu thuẫn và mâu thuẫn quán xuyến từ đầu đến cuối quá trình phát triển của sự vật Tính tuyệt đối của sự đấu tranh của các mặt đối lập nói lên sự vận động, sự biến đổi liên tục của sự vật, hiện tượng Đấu tranh của các mặt đối lập là điều kiện quan trọng nhất, có tính quyết định đối với sự chuyển hóa của các mặt đối lập
- Đấu tranh của các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực bên trong của sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng
Trang 6- Sự chuyển hóa của các mặt đối lập:
+ Sự chuyển hóa của các mặt đối lập là kết quả của quá trình đấu tranh của các mặt đối lập
+ Sự chuyển hóa của các mặt đối lập được thực hiện ở giai đoạn chín muồi của mâu thuẫn Sự chuyển hóa diễn ra dưới nhiều hình thức và tùy thuộc vào những điều kiện cụ thể
Hai hình thức khái quát nhất của sự chuyển hóa là:
+ Các mặt đối lập chuyển sang mặt đối lập của chính mình
+ Các mặt đối lập cũ bị xóa bỏ và hình thành các mặt đối lập mới trong sự vật mới
Ý nghĩa phương pháp luận:
- Quy luật mâu thuẫn đem lại phương pháp khoa học cho việc xem xét và giải quyết các vấn đề: phương pháp phân tích và giải quyết mâu thuẫn
- Phải thừa nhận tính khách quan của mâu thuẫn Yêu cầu này đòi hỏi chúng ta, muốn nắm được bản chất của sự vật, hiện tượng cần phải biết phân tích các mặt đối lập của mâu thuẫn
- Phải biết phân tích cụ thể một mâu thuẫn cụ thể và phải có biện pháp cụ thể để giải quyết đối với từng loại mâu thuẫn
- Phải nắm vững nguyên tắc giải quyết mâu thuẫn: Bất kỳ mâu thuẫn nào, bất kỳ giai đoạn nào của mâu thuẫn, cũng chỉ được giải quyết bằng con đường đấu tranh giữa các mặt đối lập, chứ không phải bằng con đường điều hòa giữa chúng
5 Quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại (Giáo trình)
6 Quy luật phủ định của phủ định Ý nghĩa phương pháp luận
Khái quát nội dung quy luật: Quy luật phủ định của phủ định vạch rõ tính chất,
khuynh hướng của mọi sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng thông qua phủ định biện chứng Đó là một quá trình đi lên từ thấp đến cao diễn ra theo từng chu kỳ với tính chất quanh co, phức tạp, nhiều giai đoạn khác nhau.
Khái niệm:
- “Phủ định”: là khái niệm nói lên quá trình vận động của sự vật, hiện tượng, trong đó sự vật, hiện tượng này thay thế cho sự vật, hiện tượng khác
Trang 7- “Phủ định biện chứng”: là sự phủ định trong đó có sự xuất hiện cái mới, cái tiến bộ Phủ định biện chứng không chấm dứt sự vận động, phát triển, mà ngược lại, tạo tiền đề cho những giai đoạn phát triển tiếp theo
- Đặc trưng của phủ định biện chứng:
+ Tính khách quan: Nguồn gốc của sự phủ định nằm bên trong chính bản thân sự vật
+ Tính kế thừa: phủ định không có nghĩa là bác bỏ hoàn toàn cái cũ, mà chỉ bác bỏ những yếu tố lạc hậu, lỗi thời của cái cũ, đồng thời tiếp thu, kế thừa những yếu tố tiến bộ của cái cũ để đưa vào cái mới
Nội dung quy luật:
- Tính chu kỳ của sự phát triển:
+ Từ một điểm xuất phát (A) qua một số lần phủ định biện chứng (B(n)) sự vật
dường như lặp lại điểm xuất phát (A’) nhưng trên cơ sở cao hơn
┤A → B(n) →A’├ →
+ Sự phủ định biện chứng lần thứ nhất (B) là bước trung gian trong sự phát triển Trình độ mới của (A) phải qua (B) mà được thực hiện chứ không phải (B) là giai đoạn cao hơn (A)
+ Sự phủ định biện chứng lần thứ hai (A’) là phủ định của phủ định
+ (A’) là giai đoạn kết thúc của một chu kỳ phát triển đồng thời lại là điểm xuất phát của một chu kỳ phát triển mới
- Để hoàn thành một chu kỳ phát triển, sự vật hiện tượng phải trải qua ít nhất hai lần phủ định biện chứng
- Tính chất và khuynh hướng của sự phát triển:
+ Quy luật phủ định của phủ định khái quát tính tất yếu tiến lên của sự vận động của sự vật và hiện tượng Sự phát triển đi lên đó không diễn ra theo con đường thẳng mà theo đường “xoáy ốc”
+ “Đường xoáy ốc” biểu hiện tính chất chu kỳ, nhiều giai đoạn và khuynh hướng tiến lên của sự vận động
Trang 8+ “Đường xoáy ốc” thể hiện tính phức tạp trong quá trình biến đổi, phủ định của sự vật Mỗi vòng mới của đường xoáy ốc thể hiện tính vô tận của sự phát triển từ thấp đến cao
Ý nghĩa phương pháp luận:
- Quy luật phủ định của phủ định giúp ta hiểu rằng quá trình phát triển không diễn ra theo đường thẳng mà rất quanh co, phức tạp, phải trải qua nhiều lần phủ định biện chứng, nhiều khâu trung gian
- Quy luật phủ định của phủ định là cơ sở lý luận để hiểu về sự ra đời của cái mới: trong thực tiễn xã hội, các quá trình diễn ra phức tạp, nhưng cái cũ nhất định sẽ mất
đi, cái mới nhất định sẽ xuất hiện Cái mới ra đời trên cơ sở kế thừa những yếu tố tích cực của cái cũ Phải biết phát hiện cái mới, duy trì và phát triển cái mới
- Phải có cách nhìn biện chứng khi phê phán cái cũ, kế thừa những yếu tố hợp lý của cái cũ Tránh nhìn đơn giản trong việc nhận thức các sự vật, hiện tượng, đặc biệt là các hiện tượng xã hội Cần chống lại hai khuynh hướng: kế thừa không chọn lọc hoặc phủ định sạch trơn
7 Nội dung cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả
Khái niệm
- Nguyên nhân là phạm trù triết học chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau gây ra một sự biến đổi nhất định
- Kết quả là phạm trù triết học chỉ là những biến đổi xuất hiện do sự tác động lẫn nhau trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau
- Phân biệt nguyên nhân với nguyên cớ; nguyên nhân với điều kiện
Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả
- Nguyên nhân sinh ra kết quả nên nguyên nhân bao giờ cũng có trước kết quả.
Lưu ý: mối quan hệ nhân quả không chỉ đơn thuần là sự kế tiếp nhau về thời gian (cái này có trước cái kia), mà là mối quan hệ sản sinh (cái này tất yếu sinh ra cái kia) Ví dụ: Ngày luôn luôn “đến sau” đêm, nhưng đêm không phải là nguyên nhân của ngày, vì nguyên nhân của nó là sự tự quay quanh trục của trái đất
- Quá trình nguyên nhân sinh ra kết quả diễn ra phức tạp với những xu hướng khác nhau.
- Phân loại nguyên nhân:Căn cứ vào vai trò của nguyên nhân đối với sự hình thành
kết quả, có thể phân chia nguyên nhân thành:
Trang 9 Nguyên nhân bên trong và nguyên nhân bên ngoài;
Nguyên nhân trực tiếp và nguyên nhân gián tiếp;
- Kết quả khi được sinh ra có thể tác động trở lại đối với nguyên nhân (thể hiện ở hai khuynh hướng: tích cực và tiêu cực)
- Trong sự vận động liên tục của sự vật, hiện tượng thì nguyên nhân và kết quả có thể chuyển hóa lẫn nhau, tạo thành chuỗi nhân quả vô cùng vô tận.
Ý nghĩa phương pháp luận:
- Mối liên hệ nhân quả có tính khách quan nên cần phải tìm nguyên nhân trong chính bản thân sự vật
- Do mối liên hệ nhân quả rất phức tạp, đa dạng nên phải xác định đúng các loại nguyên nhân để có phương pháp giải quyết đúng đắn, phù hợp với mỗi trường hợp
cụ thể trong nhận thức và thực tiễn
- Vì một nguyên nhân có thể dẫn đến nhiều kết quả, một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân nên trong nhận thức và thực tiễn cần có cách nhìn toàn diện và lịch sử
cụ thể trong phân tích, giải quyết và vận dụng quan hệ nhân quả
8 Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
Thực tiễn
- Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích và mang tính chất lịch sử - xã
hội của con người nhằm cải biến thế giới
- Hoạt động thực tiễn gồm 3 hình thức cơ bản:
+ Hoạt động sản xuất vật chất: Đây là hình thức cơ bản của hoạt động thực tiễn có vai trò quyết định và là cơ sở cho các hoạt động khác của thực tiễn
+ Hoạt động chính trị-xã hội, đây là hình thức có trình độ cao nhất của thực tiễn + Hoạt động yhực nghiệm khoa học: đây là hình thức đặc thù của thực tiễn
Nhận thức
- Các nguyên tắc nhận thức luận của chủ nghĩa Mác-Lênin:
+ Thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan
+ Khẳng định về nguyên tắc con người có thể nhận thức được thế giới khách quan
Trang 10+ Nhận thức là một quá trình phản ánh thế giới khách quan đi từ thấp đến cao, từ ít sâu sắc đến sâu sắc
+ Khẳng định thực tiễn là tiêu chuẩn để kiểm tra tính đúng đắn của nhận thức
Từ những nguyên tắc trên, có thể khái quát về bản chất của nhận thức như
sau: Nhận thức là một quá trình phản ánh thế giới khách quan một cách năng động, sáng tạo trên cơ sở thực tiễn nhằm mang lại cho con người tri thức về thế giới khách quan đó.
Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức:
+ Thực tiễn là cơ sở và động lực của nhận thức.
Nhận thức bắt nguồn từ thực tiễn Chính là từ trong hoạt động thực tiễn làm xuất hiện những nhu cầu buộc con người phải nhận thức thế giới Vì vậy mà con người nhận thức thế giới thông qua thực tiễn
Thông qua hoạt động thực tiễn, con người làm cho sự vật, hiện tượng bộc lộ những thuộc tính, những liên hệ, trên cơ sở đó con người nhận thức chúng Như vậy, thực tiễn đã đem lại những tài liệu cho quá trình nhận thức, giúp cho nhận thức nắm được bản chất, các quy luật của thế giới
Thực tiễn còn làm hoàn thiện giác quan của con người, tạo ra những phương tiện làm tăng khả năng nhận biết của các giác quan nhờ đó nó thúc đẩy nhận thức phát triển
+ Thực tiễn là mục đích của nhận thức.
Tri thức do nhận thức đem lại chỉ trở thành sức mạnh vật chất khi áp dụng có hiệu quả trong hoạt động thực tiễn Như vậy, nhận thức không phải là để nhận thức mà có mục đích cuối cùng, đó là giúp cho con người trong hoạt động biến đổi thế giới
+ Thực tiễn là tiêu chuẩn đáng tin cậy nhất để kiểm tra tính đúng đắn của nhận thức.
Nhận thức phải thông qua thực tiễn mới kiểm tra được tính chân lý của nó Chỉ trong thực tiễn, con người mới xác định được cái đúng đắn, cái sai lầm và giới hạn của tính đúng đắn của mọi tri thức do nhận thức đem lại
Từ vai trò của thực tiễn đối với nhận thức, triết học Mác-Lênin yêu cầu cần phải luôn quán triệt quan điểm thực tiễn trong mọi nhận thức và hành động
9 Khái niệm và vai trò của phương thức sản xuất