1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hành vi tự làm tổn thương của học sinh THPT

89 46 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 1,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nhà nghiên cứu dành sự quan tâm đặc biệt cho lứa tuổi này bởi việc tham gia vào các hành vi tự làm tổn thương, tuy nhiên nghiên cứu từ trước tới nay hướng tới khảo sát những người tr

Trang 1

ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH

KHOA Y TẾ CÔNG CỘNG

NGUYỄN PHƯƠNG THẢO

HÀNH VI TỰ LÀM TỔN THƯƠNG

Ở HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

CÁC HUYỆN NGOẠI THÀNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ Y HỌC DỰ PHÒNG

TP Hồ Chí Minh, năm 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH

KHOA Y TẾ CÔNG CỘNG

NGUYỄN PHƯƠNG THẢO

HÀNH VI TỰ LÀM TỔN THƯƠNG

Ở HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

CÁC HUYỆN NGOẠI THÀNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ Y HỌC DỰ PHÒNG

Người hướng dẫn: TS Thái Thanh Trúc

TP Hồ Chí Minh, năm 2019

Trang 3

Tôi xin cam đoan số liệu trong luận văn này là được ghi nhận, nhập liệu và phân tích một cách trung thực Luận văn này không có bất kì số liệu, văn bản, tài liệu

đã đượcĐại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh hay trường đại học khác chấp nhận để cấp văn bằng đại học, sau đại học Luận văn cũng không có số liệu, văn bản, tài liệu đã được công bố trừ khi đã được công khai thừa nhận

Đề cương nghiên cứu đã được chấp thuận về mặt y đức trong nghiên cứu từ Hội

đồng Đạo đức trong nghiên cứu y sinh học số 136/ĐHYD-HĐĐĐ kí ngày

28/03/2019

Sinh viên

Trang 4

DANH MỤC HÌNH/BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Câu hỏi nghiên cứu 3

Mục tiêu nghiên cứu 3

Mục tiêu tổng quát 3

Mục tiêu cụ thể 3

1 TỔNG QUAN Y VĂN 5

1.1 Khái quát về tuổi vị thành niên 5

1.2 Khái niệm Hành vi tự làm tổn thương 6

1.3 Các yếu tố liên quan đến hành vi tự làm tổn thương 9

1.3.1 Mối liên quan giữa hành vi tự làm tổn thương và đặc điểm bản thân 9

1.3.2 Mối liên quan giữa hành vi tự làm tổn thương và yếu tố gia đình 11

1.3.3 Mối liên quan giữa hành vi tự làm tổn thương và môi trường học tập 12

1.3.4 Mối liên quan giữa hành vi tự làm tổn thương và vấn đề sức khỏe tâm thần 13

1.4 Tình hình nghiên cứu về Hành vi tự làm tổn thương trên thế giới và tại Việt Nam 14 1.5 Các phương pháp đánh giá Hành vi tự làm tổn thương 15

1.5.1 Các thang đo đánh giá Hành vi tự làm tổn thương 15

1.5.2 Đặc điểm thang đo 18

1.5.2.1 Thang đo đánh giá chức năng tự tổn thương 18

1.5.2.2 Thang đo đánh giá Lo âu - Trầm cảm - Stress 19

2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

2.1 Thiết kế nghiên cứu Nghiên cứu cắt ngang mô tả 21

2.2 Đối tượng nghiên cứu 21

2.2.1 Dân số mục tiêu 21

2.2.2 Dân số chọn mẫu 21

2.2.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 21

2.2.4 Cỡ mẫu 21

2.2.5 Kĩ thuật chọn mẫu 22

2.2.6 Tiêu chí chọn mẫu 22

2.2.7 Thu thập dữ liệu 22

2.2.7.1 Phương pháp thu thập dữ liệu 22

2.2.7.2 Công cụ thu thập số liệu 23

2.2.8 Kiểm soát sai lệch 23

2.2.8.1 Kiểm soát sai lệch chọn lựa 23

2.2.8.2 Kiểm soát sai lệch thông tin 23

2.3 Xử lý dữ kiện 24

2.3.1 Định nghĩa và liệt kê biến số 24

2.3.2 Phương pháp quản lý và phân tích số liệu 26

2.3.2.1 Thống kê mô tả 26

2.3.2.2 Thống kê phân tích 26

2.4 Y đức 26

3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 28

3.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 28

3.1.1 Đặc điểm bản thân của học sinh tham gia nghiên cứu 28

Trang 5

3.1.4 Đặc điểm thang đo DASS21 và vấn đề sức khỏe tâm thần 32

3.1.5 Đặc điểm hành vi tự làm tổn thương của học sinh THPT 33

3.2 Hành vi tự làm tổn thương và các yếu tố liên quan 36

3.2.1 Mối liên quan giữa hành vi tự làm tổn thương và yếu tố cá nhân 36

3.2.2 Mối liên quan giữa hành vi tự làm tổn thương và yếu tố gia đình 38

3.2.3 Mối liên quan giữa hành vi tự làm tổn thương và yếu tố nhà trường 39

3.2.4 Mối liên quan giữa hành vi tự làm tổn thương và sức khỏe tâm thần 41

4 BÀN LUẬN 43

4.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 43

4.1.1 Đặc điểm các yếu tố cá nhân 43

4.1.2 Đặc điểm các yếu tố gia đình 45

4.1.3 Đặc điểm các yếu tố nhà trường 45

4.2 Stress, lo âu, trầm cảm 47

4.2.1 Thuộc tính công cụ đánh giá stress, lo âu, trầm cảm 47

4.2.2 Đặc điểm các vấn đề sức khỏe tâm thần 47

4.3 Đặc điểm của hành vi tự làm tổn thương 49

4.4 Các yếu tố liên quan với hành vi tự làm tổn thương 51

4.4.1 Mối liên quan giữa hành vi tự làm tổn thương và các yếu tố cá nhân 51

4.4.2 Mối liên quan giữa hành vi tự làm tổn thương và các yếu tố gia đình 54

4.4.3 Mối liên quan giữa hành vi tự làm tổn thương và các yếu tố nhà trường 54

4.4.4 Mối liên quan giữa hành vi tự làm tổn thương và vấn đề sức khỏe tâm thần 56

4.5 Điểm mạnh, điểm hạn chế và tính ứng dụng của đề tài 58

KẾT LUẬN 59

ĐỀ XUẤT – KIẾN NGHỊ 60 TÀI LIỆU THAM KHẢO I PHỤ LỤC A

Phụ lục 1: THÔNG TIN DÀNH CHO NGƯỜI THAM GIA NGHIÊN CỨU a Phụ lục 2: PHIẾU XÁC NHẬN c Phụ lục 3: BỘ CÂU HỎI TỰ ĐIỀN d Phụ lục 4: BẢNG TẦN SỐ VÀ TỶ LỆ CẤU PHẦN THANG ĐO DASS21 j Phụ lục 5: k Phụ lục 6: TUỔI BẮT ĐẦU THAM GIA HÀNH VI TỰ LÀM TỔN THƯƠNG k Phụ lục 7 : BẢNG ĐẶC ĐIỂM CHỨC NĂNG THANG ĐO FASM (n = 271) l Phụ lục 8: DANH SÁCH CÁC TRƯỜNG/ LỚP THAM GIA NGHIÊN CỨU m Phụ lục 9: GIẤY XÁC NHẬN Y ĐỨC n

Trang 6

Chữ viết

tắt Chữ đầy đủ Tên Tiếng Việt

DASS21 Depression-Anxiety-Stress Scale Thang đánh giá Lo âu - Trầm

cảm - Stress

DSM Diagnostic and statistical Manual or

MICS Multiple Indicator Cluster Surveys

Báo cáo Điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ Việt Nam

NSSID Non-Suicidal Self-Injury Disorder Rối loạn tự làm tổn thương

Youth

Điều tra quốc gia Vị thành niên

và thanh niên Việt Nam

SITB Self Injurious Thoughts and Behavior Suy nghĩ và hành vi tự gây

thương tích

Trang 7

Hình 1.1: Phân loại SITB 8

Bảng 1.1: Các thang đo đánh giá Hành vi tự làm tổn thương 16

Bảng 3.1: Đặc điểm yếu tố bản thân (n = 642) 28

Bảng 3.2: Đặc điểm yếu tố gia đình (n = 669) 30

Bảng 3.3: Đặc điểm môi trường học tập (n = 642) 31

Bảng 3.4:Tần số và tỷ lệ các hành vi tự làm tổn thương (n = 642) 34

Bảng 3.5: Mối liên quan giữa NSSI và các yếu tố cá nhân (n = 642) 36

Bảng 3.6: Mối liên quan giữa NSSI và các yếu tố cá nhân (n = 642) 38

Bảng 3.7: Mối liên quan giữa NSSI và các yếu tố nhà trường (n = 642) 39

Bảng 3.8: Mối liên quan giữa NSSI và các yếu tố nhà trường (n = 642) 41

Bảng 3.9: Tóm tắt các yếu tố liên quan với hành vi tự làm tổn thương 42

Trang 8

Biểu đồ 3.1: Biểu đồ Venn tỷ lệ các vấn đề sức khỏe tâm thần (n = 669) 33

Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ học sinh THPT có hành vi tự làm tổn thương (n = 669) 33

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hành vi tự làm tổn thương (NSSI) đang thu hút sự quan tâm đáng kể của nhà nghiên cứu sức khỏe cộng đồng trên toàn thế giới bởi tính chất và mức độ nghiêm trọng của nó Từ những thập niên 90 đến nay ở nhiều quốc gia và khu vực trên khắp thế giới ghi nhận tỷ lệ có NSSI là 7,5 - 46,5% ở vị thành niên, 38,9% ở sinh viên đại học và 4 - 23% ở người lớn trong đó, độ tuổi bắt đầu xảy ra hành vi xung quanh tuổi

từ 11-16 [24] [40] NSSI có nguy cơ tử vong thấp nhưng tần suất xuất hiện hành vi cao Theo thống kê, thiếu niên có trung bình từ 20 đến 30 hành vi NSSI một năm, và

là một trong những yếu tố nguy cơ cao dẫn đến hành vi tự tử [29] Tuy vậy, các nghiên cứu về NSSI trên thế giới không thể đại diện cho tất cả các quốc gia trong đó có Việt Nam Hành vi tự làm tổn thương ở Việt Nam là một vấn đề khá mới, được nghiên cứu trong vài năm trở lại đây và vẫn chưa được biết đến rộng rãi Theo Huỳnh Văn Sơn và cộng sự (2018) nghiên cứu tại TP.HCM và Bình Dương trên 1043 học sinh trung học cơ sở báo cáo khoảng 27% có hành vi tự hủy hoại bản thân [8] Hành vi tự làm tổn thương sẽ trở thành gánh nặng cho bản thân, gia đình, và xã hội nếu không được phát hiện kịp thời Nghiên cứu của chúng tôi tập trung nghiên cứu những hành

vi tự làm tổn thương vi được hiểu là hành động có chủ ý, trực tiếp tự gây thương tích lên da thịt trên các bộ phận của cơ thể chính mình mà không có ý định tự sát và không

là những hành động đã được chấp nhận của xã hội [35] Do đó, việc điều tra các yếu

tố liên quan để cung cấp bằng chứng khoa học cho các nghiên cứu phát triển các biện pháp phòng ngừa, chiến lược ứng phó cho NSSI là điều cần thiết

Một trong những đối tượng được xem là quan trọng đối với sự phát triển kinh

tế - văn hóa – xã hội là lứa tuổi vị thành niên bởi lứa tuổi này chiếm 27,7% tổng dân

số cả nước Đây là độ tuổi trải qua những biến đổi về tâm sinh lý và hành vi, trẻ thích

tự khẳng định bản thân hơn là cần sự quan tâm chăm sóc của cha mẹ, thầy cô, dễ gặp phải những áp lực học tập [9] Bên cạnh đó sự phát triển chóng mặt của công nghệ, mạng xã hội hay những trào lưu gây ảnh hưởng tiêu cực đến suy nghĩ và hành động của trẻ [5] Tuy vậy, khả năng kiềm chế cảm xúc cũng như nhận thức còn chưa đầy

đủ để đưa ra được những quyết định đúng đắn khi gặp các vấn đề khó khăn dẫn đến những vấn đề sức khỏe tâm thần, những hành vi không kiểm soát và đặc biệt là sự xuất hiện của hành vi tự làm tổn thương Báo cáo Điều tra về Thanh niên và Vị thành

Trang 10

niên lần thứ hai (SAVY II) cho tỷ lệ hành vi tự gây thương tích là 7,5% [3] cao gấp

2 lần SAVY I (2,7%) [2] Việc tăng lên đáng kể giữa 2 cuộc điều tra cho thấy đây là một vấn đề rất cần được quan tâm chú ý Trên thực tế hiện nay, chưa có nhiều nghiên cứu chú trọng đến NSSI ở học sinh trung học phổ thông Mặt khác các nghiên cứu tập trung đến việc tìm tỷ lệ, mức độ mà ít quan tâm đến các yếu tố liên quan Đối với học sinh, hành vi tự làm tổn thương có thể là một hành vi giúp giải quyết những căng thẳng trước mắt, thỏa mãn nhu cầu thích khẳng định cái tôi nhưng trẻ lại không nghĩ đến hậu quả mà nó gây ra, cản trở hoạt động học tập, ảnh hưởng đến thái độ, thành tích học tập, giảm chất lượng cuộc sống và có thể dẫn đến tự tử

Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố phát triển và đông dân nhất cả nước Cùng với những chính sách phát triển kinh tế xã hội và đô thị hóa của các quận nội thành, đời sống vật chất và tinh thần của người dân các huyện ngoại thành ngày càng được cải thiện, đặc biệt là việc nâng cao trình độ dân trí Bên cạnh việc tập trung xóa mù chữ, phổ cập giáo dục, các huyện ngoại thành còn tập trung đào tạo các cấp học phổ thông Với hệ thống 20 trường THPT, có thể nói các huyện ngoại thành cũng đang góp sức cùng nội thành tạo nên một nguồn lực chất lượng cho cả nước, đáp ứng nhu cầu của xã hội Được sống trong một khu vực vẫn còn có sự chênh lệch về trình độ học vấ và kinh tế xã hội, học sinh dễ gặp phải những áp lực, sự cạnh tranh, kì vọng

từ gia đình và nhà trường Từ đó dễ có những căng thẳng, các vấn đề sức khỏe tâm thần khác dẫn đến những hành vi sai lệch

Với những lí do trên, nghiên cứu này được tiến hành nhằm Xác định tỷ lệ và các yếu tố liên quan với hành vi tự làm tổn thương tại các huyện ngoại thành thành phố

Hồ Chí Minh Từ kết quả nghiên cứu sẽ tạo tiền đề đưa ra những cách phòng ngừa, biện pháp can thiệp và tư vấn kịp thời góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học tại nhà trường, giúp xã hội, gia đình có những nhìn nhận rõ hơn, cụ thể hơn về NSSI trên đối tượng HS THPT

Trang 11

Câu hỏi nghiên cứu

1 Tỷ lệ học sinh THPT ở các huyện ngoại thành TP.HCM có hành vi tự làm tổn thương là bao nhiêu ?

2 Có mối liên quan giữa các yếu tố ảnh hưởng và hành vi tự làm tổn thương hay không?

Mục tiêu nghiên cứu

Trang 12

DÀN Ý NGHIÊN CỨU

Gia đình

 Thứ tự con trong gia đình

 Tình trạng hôn nhân của cha/mẹ

 Học vấn của cha/mẹ

 Kinh tế gia đình

 Tình trạng sống chung với cha/mẹ

 Áp lực bản thân

 Tâm sự với bạn bè

 Sử dụng mạng internet

 Bạo hành thể chất, tinh thần, tình dục

Môi trường học tập

 Quan hệ với giáo viên

 Quan hệ với bạn bè; bị bắt nạt về thể chất, tinh thần

 Áp lực học tập

Trang 13

1 TỔNG QUAN Y VĂN 1.1 Khái quát về tuổi vị thành niên

Vị thành niên theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) định nghĩa là độ tuổi từ 10 đến 19, chiếm khoảng 16% dân số thế giới [56] cũng như ở Việt Nam [6] Tuổi vị thành niên là thời điểm mà mọi người trở thành những cá nhân độc lập, tạo ra các mối quan hệ mới, phát triển các kỹ năng xã hội và là bước chuyển tiếp tác động kéo dài đến phần còn lại của cuộc đời Ở góc độ sinh lý, đây có thể xem là thời điểm tốt nhất của cuộc sống bởi hầu hết các chức năng về thể chất và tinh thần được phát triển đầy

đủ hơn [28] Đây cũng có thể là một trong những giai đoạn khó khăn nhất khi mỗi người phải trải qua các giai đoạn chuyển hóa thể chất và cảm xúc Khi đó mỗi người đều được xem như là đang trải qua thời kỳ khủng hoảng của “nổi loạn, ương bướng, không suy nghĩ và táo bạo” của chính mình Và con người khi đó có thể gặp phải các vấn đề về sức khỏe tâm thần như trầm cảm, lo âu, stress, các hành vi tự làm tổn thương bản thân, lạm dụng chất và nghiện trò chơi điện tử, cũng như rối loạn ăn uống và có

ý nghĩ tự tử Trong đó, “tự gây thương tích” là một trong ba nguyên nhân hàng đầu

gây tử vong trong độ tuổi 15-19 [80] Các vấn đề sức khỏe tâm thần đều bắt đầu ở tuổi vị thành niên và nhiều hành vi không lành mạnh thường liên kết với nhau nhưng

đa số trường hợp không được phát hiện và điều trị sớm Theo báo cáo mới nhất của UNICEF (2018) về tình hình sức khỏe tâm thần trong độ tuổi từ 14-19 ở Việt Nam cho thấy tỷ lệ trung bình có các vấn đề sức khỏe tâm thần khoảng 12% [15]

Độ tuổi THPT (17-19 tuổi) được xem là lứa tuổi vị thành niên muộn ở Việt Nam và thuộc nhóm vị thành niên lớn trên thế giới [76], đây là giai đoạn có sự biến động mạnh về suy nghĩ và hành vi khi có nghiên cứu chỉ ra rằng nhóm vị thành niên lớn này có nhiều khả năng tham gia vào các hành vi không an toàn hơn [26] Có khoảng 14% đến 25% những người trong cộng đồng thừa nhận tham gia hành vi tự làm tổn thương ít nhất một lần trong đời và độ tuổi bắt đầu cho hành vi là khoảng từ

12 tuổi [54] [57] Các nhà nghiên cứu dành sự quan tâm đặc biệt cho lứa tuổi này bởi việc tham gia vào các hành vi tự làm tổn thương, tuy nhiên nghiên cứu từ trước tới nay hướng tới khảo sát những người trong độ tuổi vị thành niên 11-16 tuổi bởi nhóm tuổi này được đánh giá là bước chuyển tiếp khởi đầu cho những vấn đề của NSSI

Trang 14

1.2 Khái niệm Hành vi tự làm tổn thương

Hành vi tự làm tổn thương (Non Suicidal Self Injury - NSSI) được hiểu là hành động có chủ ý, trực tiếp tự gây thương tích lên da thịt trên các bộ phận của cơ thể chính mình mà không có ý định tự sát và không là những hành động đã được chấp nhận của xã hội [35] Hành vi tự làm tổn thương được xem là có chủ ý khi hành vi được dự định bởi bản thân cá nhân mỗi người, chứ không phải là ngẫu nhiên Các hành vi tự làm tổn thương phổ biến bao gồm cắt tay, chọc phá vết thương, tự đánh chính mình, rạch da, tự cắn mình, đâm, xăm mình, đốt da, giật tóc, chà sát lên da và một số hành động làm tổn thương khác được biểu hiện theo nhiều cách khác nhau [39] Định nghĩa này không bao gồm các hành vi tự gây thương tích gián tiếp như hút thuốc lá, uống rượu bia, dùng thuốc quá liều, nghiện chất, nhịn ăn Hay như các hành

vi nguy hiểm lái xe không cài dây an toàn, chơi các môn thể thao mạo hiểm không được coi là NSSI Hành vi tự làm tổn thương được định nghĩa tách biệt hoàn toàn với

ý nghĩ hay hành vi tự tử, không bao gồm những người có ý định muốn kết thúc cuộc sống của chính mình Trong thực tế, ở một số trường hợp, NSSI có thể được sử dụng

để quản lý, giải tỏa những căng thẳng dữ dội hết hợp với ý nghĩ tự tử [37] Gây thương tích lên da thịt cơ thể chính mình là điều kiện cần trong định nghĩa NSSI mặc dù có thể trong thực tế những hành vi gây tổn hại lên thân thể được xem như những điều có

ý nghĩa đặc biệt, ví dụ như xăm hình, xỏ khuyên là chấp nhận trong xã hội và văn hóa, nhất là các nước phương Tây Vì vậy, trước khi đánh giá hành vi tự làm tổn thương, điều quan trọng là phải xem xét hành vi này trong bối cảnh, và để phân biệt

nó với các dạng suy nghĩ và hành vi tự làm khác [61]

Thuật ngữ “self injury”- tự làm tổn thương đã được ghi nhận trong các báo

cáo từ nhiều thập kỷ Bài báo khoa học đầu tiên về tự làm tổn thương đã được xuất bản - bằng tiếng Đức - năm 1846, nhưng cuộc tranh luận khoa học hiện nay về tự làm tổn thương (NSSI) bắt đầu vào những năm 1960 với việc nghiên cứu về hội chứng cắt cổ tay, tuy nhiên kiến thức về NSSI chỉ giới hạn trong một số ít nghiên cứu thực nghiệm cho đến khi có sự bùng nổ các nghiên cứu và tiến bộ trong NSSI Năm 1979,

Ross và McKey đại diện cho một số tác giả lúc bấy giờ viết sách về quan điểm “Self Multilative - Tự làm tổn thương” là khi tự gây những vết cắt lên cơ thể chính mình Tiếp theo đó là những bài viết về “Deliberate Self Harm - Tự hại có chủ ý” của

Trang 15

Pattison và Kahan (1983) miêu tả hành vi tự làm tổn thương lặp đi lặp lại được xem

là những phản ứng mạnh mẽ của tuổi vị thành niên và là hành vi có khả năng gây chết người thấp khi nó đi kèm sự nhận định không có ý nghĩ tự sát [57]

Những năm đầu của thế kỷ XXI, NSSI được đề cập đến thông qua khái niệm

“Ý nghĩ và hành vi tự gây hại” (Self Injurious Thoughts and Behavior – SITB) và mối

quan hệ của NSSI với các rối loạn tâm thần Sự tham gia vào SITB khi đó thường được xem như một phần của Rối loạn nhân cách ranh giới (BPD) - Cẩm nang Chẩn đoán và Thống kê của Rối loạn tâm thần (DSM - 4; Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ - APA, 2000) và là một trong những triệu chứng của Trầm cảm chủ yếu (trong trường hợp có ý định và cố gắng tự sát) Tuy nhiên, nghiên cứu của Nock và cộng sự (2006)

đã chỉ ra rằng NSSI có thể xảy ra trên nhiều chẩn đoán khác, cũng như NSSI có ở các

cá nhân mà không đủ đáp ứng tiêu chuẩn chẩn đoán tâm thần [59] Có nhiều người tham gia vào SITB bằng nhiều hình thức khác nhau nhưng không đáp ứng được các tiêu chuẩn chẩn đoán đã được nêu ra trước đó [26] [59] Khi đó, có nhiều nhà nghiên cứu như Brown và cộng sự, 2005; Kessler, và cộng sự, 2005; Nock và Kessler, 2006

đã đề nghị các hệ thống phân loại và định nghĩa khác nhau cho các biểu hiện khác nhau của SITB, cũng như NSSI sau này Trong việc phân loại SITB, đầu tiên cần phân biệt giữa SITB tự sát - có ý định chết so với SITB không tự sát - không có ý định chết (Hình 1.1) Nhưng trong khuôn khổ nghiên cứu này, chúng tôi xin phép không đề cập đến vấn đề tự sát Chúng tôi tập trung vào bàn luận và nghiên cứu về các hành vi tự làm tổn thương không tự sát.NSSI là hành vi được nhấn mạnh rằng ý định chết hoàn toàn vắng mặt Trong các trường hợp NSSI giữa các cá thể, Muehlenkamp và cộng sự, 2005 [53], Lloyd và cộng sự, 2007 [45], Klonsk và Olino,

2008 sử dụng vào tần suất và mức độ thương tích để phân loại NSSI là nhẹ (tần suất thấp, mức độ thương tích thấp), trung bình (mức độ nghiêm trọng vừa phải), nặng (tần suất cao và chấn thương nghiêm trọng)

Trang 16

Hình 1.1: Phân loại SITB

Trong những năm gần đây, nghiên cứu NSSI được phổ biến nên mọi người có cái nhìn tổng quan hơn [73] Tính đến năm 2018, không có chẩn đoán chính thức về NSSI, tuy nhiên vào năm 2013, APA đã công bố ấn bản thứ năm của Cẩm nang Chẩn

đoán và Thống kê về Rối loạn tâm thần (DSM-5) trong đó có phần “Rối loạn tự làm tổn thương” (Non Suicidal Self Injury Disorder – NSSID) như là một điều kiện để

nghiên cứu sâu hơn Trong tiêu chuẩn chẩn đoán NSSID của DSM-5 cũng nhấn mạnh đặc điểm “không có mục đích tự sát” trong định nghĩa Như vậy, tới thời điểm nghiên cứu của chúng tôi xem NSSI như một vấn đề sức khỏe tâm thần độc lập

Có nhiều mục đích để thực hiện hành vi tự làm tổn thương Một trong những mục đích phổ biến nhất được báo cáo là đối phó với những cảm xúc tiêu cực Chẳng hạn như những căng thẳng hay cảm xúc buồn bã, tức giận, những suy nghĩ tiêu cực,

áp lực hay như để tự phê bình Một số người tìm đến hành vi tự làm tổn thương như một hình thức trừng phạt chính mình, đem đến cho bản thân cảm giác đã kiểm soát được mình hay để trung hòa những nỗi đau trong họ, để kết nối với chính mình hoặc người khác, hay như cứu vớt cảm giác tê liệt, cảm xúc đã chết lặng trong họ [37] [46] [73] Hầu hết mọi người báo cáo rằng họ tham gia vào NSSI với nhiều mục đích và những mục đích này có thể thay đổi theo thời gian [55]

Trang 17

Để đánh giá các mục đích thực hiện hành vi tự làm tổn thương, Nock và Prinstein đã thực hiện trên thang đo FASM cho bệnh nhân vị thành niên có tiền sử NSSI cho kết quả phù hợp với mô hình 4 yếu tố và mô hình 2 yếu tố [58], sau đó Lloyd-Richardson và cộng sự dựa trên những công trình đã có về lý thuyết học tập

và trị liệu hành vi đưa ra quan điểm mô hình toàn diện bốn lí do tổng quát của NSSI [46] Theo đó, khi có hành vi NSSI, nó chắc chắn phải để phục vụ một trong bốn lí do:

(1) Tăng cường chống lại tự động: để giảm bớt những suy nghĩ căng thẳng hoặc cảm xúc tiêu cực, để giải phóng cơn tức giận khi đó, nói cách khác chức năng của NSSI là một biện pháp quản lý suy nghĩ và cảm xúc Lí do này là lí do duy nhất có liên quan tới các ý tưởng tự sát

(2) Tăng cường tích cực tự động: NSSI để tăng/tạo các cảm xúc cho các cá nhân, mang đến cho họ cảm giác an toàn, hưng phấn, thoát li khỏi cảm xúc chết lặng trong

họ, những người thực hiện NSSI thường mô tả để “cảm nhận điều gì đó, ngay cả khi

đó chỉ là đau” Mô hình lí do này được coi là phổ biến nhất trong cả bốn loại

(3) Tăng cường chống lại xã hội: lí do này cho phép cá nhân sử dụng NSSI để thoát khỏi một tình huống xã hội mà người đó xem đó là các trách nhiệm hoặc các yêu cầu trong mối quan hệ cá nhân gây khó chịu cho họ (Ví dụ như các lí do ghi nhận thường là “để tránh bị xử phạt khi mắc lỗi”, “để không phải làm việc nhà”, “để không phải đến trường”, “để bạn bè hay mấy người lớn để yên cho tôi”, hoặc “để bố mẹ tôi không cãi nhau nữa”)

(4) Tăng cường tích cực xã hội: NSSI được mô tả cho “những người khác biết tôi đang cảm thấy như thế nào”, hay “để cha mẹ quan tâm tôi hơn” Lí do này liên quan đến trạng thái nội tâm, nhằm phục vụ cho các liên hệ giữa cá nhân với môi trường bên ngoài, dùng tiếp cận hay thu hút sự chú ý những với người khác

1.3 Các yếu tố liên quan đến hành vi tự làm tổn thương

1.3.1 Mối liên quan giữa hành vi tự làm tổn thương và đặc điểm bản thân

Tuổi vị thành niên là giai đoạn có những khác biệt trong giới tính đặc biệt là những biến đổi về thể chất, tâm sinh lý và hành vi Chính vì vậy, trên thế giới có nhiều nghiên cứu cho thấy sự khác biệt về giới tính trong hành vi tự làm tổn thương, với tỷ lệ nữ cao hơn nam Kết quả nghiên cứu tại Trung Quốc (2018) trên đối tượng

Trang 18

thanh thiếu niên cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa trong giới tính với tỷ lệ nữ cao hơn nam (p < 0,001) [72], nghiên cứu về tỷ lệ tự làm tổn thương trong học sinh tại Mỹ của Barrocas và cộng sự bằng hình thức phỏng vấn cho thấy 9,0% trẻ em gái và 6,7% nam giới tham gia NSSI, có sự khác biệt có ý nghĩa khi các bé gái lớp 9 (19%) có tỷ

lệ tham gia hành vi tự làm tổn thương gấp gần 4 lần so với nam sinh lớp 9 (5%) [21], nghiên cứu trên đối tượng trẻ vị thành niên ở Tây Ban Nha cho thấy khác biệt có ý nghĩa giữa tỷ lệ nữ (58%) với nam (53,3%) (p = 0,046) [25] Sự khác biệt này có thể

là kết quả của các phương pháp khác nhau để đánh giá NSSI hoặc cũng có thể do cách định nghĩa biến mà mỗi nghiên cứu đưa vào Bên cạnh đó, có sự khác nhau trong một số nghiên cứu về mối liên quan giữa NSSI và độ tuổi, cụ thể trong nghiên cứu năm 2012 tại Kansas, Mỹ bằng hình thức trả lời trực tuyến thông qua 1 cuộc khảo sát liên quan đến sức khỏe cho rằng sự khác biệt về giới sẽ tồn tại hoặc đặc biệt rõ rệt ở các độ tuổi trẻ hơn [70], điều này cũng cùng kết quả với nghiên cứu trên trẻ em và vị thành niên Việt Nam khi tuổi càng cao tỷ lệ tự gây tổn thương càng giảm (p < 0,001) [1] Ngược lại, nghiên cứu tại Mỹ (2012) trên học sinh lớp 3, lớp 6, lớp 9 lại tìm ra mối liên quan có ý nghĩa giữa hành vi NSSI và độ tuổi, cấp lớp, rằng học sinh lớp 9

có nguy cơ cao nhất (12,7%),tiếp đến là học sinh lớp 3 với 7,6% [21]

Những sự kiện xảy ra trong quá trình phát triển của trẻ dù là vui hay buồn, tốt hay xấu về mặt thể xác hay tinh thần thì cũng góp phần quan trọng trong việc hình thành nhân cách và tâm lý của chúng trong tương lai Có thể thấy rõ hơn thông qua các phương tiện truyền thông công cộng cũng như những sự kiện trong cuộc sống về các vấn đề như tình trạng bạo lực gia đình, bạo hành trẻ em hay thậm chí là lạm dụng tình dục trẻ em Những điều này gây ra những hậu quả vô cùng nghiêm trọng cho xã hội, gia đình và đặc biệt chính là bản thân đứa trẻ Điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ

em và phụ nữ (MICS) tại Việt Nam năm 2014 cho kết quả có 68,4% trẻ em từ 1 đến

14 tuổi phải chịu ít nhất một hình phạt tâm lý hoặc thể xác trong vòng một tháng trước điều tra trong đó 58,2% là xử phạt tâm lý, 42,7% là xử phạt về thể xác và hình thức

xử phạt thể xác nghiêm trọng nhất là đánh mạnh vào đầu, tai hoặc mặt [14] Theo nghiên cứu của Glassman và cộng sự trên đối tượng 12 – 19 tuổi cho thấy trầm cảm

là một yếu tố quan trọng trong mối quan hệ giữa sự ngược đãi thời thơ ấu và sau này

là NSSI, đặc biệt là đối với những người bị lạm dụng tình cảm Có mối quan hệ vừa

Trang 19

và nhỏ giữa các loại khác nhau của sự ngược đãi trẻ em và sự hiện diện của NSSI trong năm qua Đặc biệt là bỏ bê vật lý, lạm dụng tình cảm và lạm dụng tình dục có liên quan đáng kể với NSSI (p < 0,05) [32] Nghiên cứu của Brown (2018) đã xác định mối liên quan của NSSI và lạm dụng trẻ em, trong số 2498 trẻ em tham gia, 30,8% trẻ em ít nhất 1 lần bị ngược đãi, trong đó phổ biến như bỏ bê vật lý (22,4%), tiếp theo là bỏ bê tình cảm (13,2%), lạm dụng tình dục (7,6%), lạm dụng thể chất (6,7%), và lạm dụng tình cảm (6,5%) [23] Nghiên cứu của S.C.Paivio và McCulloch (2004) đánh giá tần suất NSSI giữa 100 nữ sinh viên đại học ở Canada Kết quả của

đã chứng minh rằng những khó khăn với việc điều chỉnh cảm xúc (bao gồm cả alexthymia - mù cảm xúc) qua mối quan hệ giữa bất lợi thời thơ ấu và tự gây tổn thương [64]

Mối liên quan giữa sử dụng internet và hành vi tự làm tổn thương vấn cần có thêm bằng chứng khoa học Sự phát triển của công nghệ giúp trẻ tiếp cận những ảnh hưởng từ mạng xã hội, internet Một đánh giá có hệ thống về mối quan hệ giữa việc

sử dụng internet và hành vi tự làm tổn thương của Marchant và cộng sự năm 2017 phân tích trên 51 bài báo cho kết quả ảnh hưởng của internet đến hành vi tự làm tổn thương: tích cực với 11 nghiên cứu, tiêu cực với 18 nghiên cứu và cả hai với 17 nghiên cứu Có sự liên quan có ý nghĩa giữa hành vi tự làm tổn thương với mức độ

sử dụng internet Tuy vậy, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, internet vẫn có những khía cạnh tích cực như cung cấp thông tin, hỗ trợ liệu pháp, tiếp cận cộng đồng nhằm làm giảm tỷ lệ tham gia hành vi tự làm tổn thương [49]

Mối liên quan giữa chủng tộc, tôn giáo và NSSI vẫn cần được nghiên cứu thêm Theo Kuentzel có mối quan hệ đáng kể giữa sắc tộc và tỷ lệ NSSI (p < 0,001) Trong các nhóm được phân tích những người tự xác định là Đa chủng tộc (n = 178)

có tỷ lệ NSSI cao nhất, với 20,8% tham gia một số hình thức tự gây tổn thương [41]

1.3.2 Mối liên quan giữa hành vi tự làm tổn thương và yếu tố gia đình

Gia đình không chỉ là nơi sinh sống mà còn là nơi nuôi dưỡng tâm hồn mỗi đứa trẻ, giúp chúng hoàn thiện bản thân về cả tư duy lẫn nhân cách thế nhưng không phải ai cũng may mắn Những quan hệ gia đình như việc những đứa trẻ là nạn nhân bất hạnh của những cuộc hôn nhân đổ vỡ hay việc xung đột thường ngày của cha mẹ hoặc cũng chính sự vô tâm của cha mẹ ảnh hưởng rất nhiều lên tâm lý của những đứa

Trang 20

trẻ [62] Nghiên cứu trên đối tượng thanh thiếu niên lớp 7 – lớp 12 tại Trung Quốc bằng phương pháp lấy mẫu nhiều tầng trên bộ câu hỏi tự điền cho thấy có nhiều mối liên quan giữa các vấn đề liên quan đến gia đình với NSSI như là con duy nhất trong gia đình (p < 0,001), trình độ học vấn của cha mẹ (cha: p = 0,001; mẹ: p = 0,003) [72] Phân tích hồ sơ tiềm ẩn trong một mẫu của 265 sinh viên đại học tự gây tổn thương (205 nữ) báo cáo nền tảng gia đình tích cực có nguy cơ thấp, ngược lại, nền tảng gia đình tiêu cực, bị xáo trộn có nguy cơ cao đối với việc tham gia vào NSSI [51] Một nghiên cứu cắt ngang tại Bỉ trên 350 trẻ từ 13 – 20 tuổi cho thấy hoạt động chung của gia đình nghèo, mối quan hệ tình cảm thấp, và kiểm soát hành vi cao có mối liên hệ đáng kể nhất với sự hiện diện/vắng mặt của NSSI [20]

Nghiên cứu điều tra mối liên hệ giữa yếu tố nuôi dạy con cái và gia đình với NSSI ở trẻ 12 tuổi của Baetens và cộng sự cho thấy thanh thiếu niên tham gia NSSI nhận thức được sự kiểm soát tâm lý và hành vi của cha mẹ Có tương tác giữa sự ấm

áp của cha mẹ và hỗ trợ hành vi với NSSI Không có sự khác biệt đáng kể về căng thẳng của cha mẹ, cơ cấu gia đình, hoạt động gia đình và các sự kiện gia đình Nhưng

có mối liên hệ tiêu cực giữa NSSI và trình độ học vấn của phụ huynh, việc làm và thu nhập gia đình [19]

1.3.3 Mối liên quan giữa hành vi tự làm tổn thương và môi trường học tập

Sự phát triển với tốc độ nhanh và đầy biến động của nền kinh tế - xã hội, các yêu cầu ngày càng cao của nhà trường và cả những điều bất cập trong thực tiễn giáo dục; thêm vào đó là sự kỳ vọng quá cao của thầy cô đang tạo ra những áp lực rất lớn

và gây căng thẳng cho HS trong cuộc sống và học tập Nghiên cứu tại Hà Nội về nhu cầu tâm lý của học sinh trung học phổ thông cho thấy nhóm khó khăn tâm lý liên quan đến học tập được các em lựa chọn nhiều nhất, xếp thứ hai là nhóm khó khăn tâm lý liên quan đến vấn đề hướng nghiệp, xếp thứ ba là nhóm khó khăn tâm lý liên quan đến các mối quan hệ và cuối cùng là nhóm khó khăn tâm lý liên quan đến bản thân [10]

Bạo lực học đường đang là vấn đề nan giải trong giáo dục ở tất cả mọi nơi không chỉ riêng Việt Nam Bạo lực học đường không chỉ là đánh nhau, bắt nạt giữa các học sinh mà còn là giữa giáo viên hay nhân viên nhà trường với học sinh Nghiên cứu của McMahon (2012) tại Ailen cho thấy 16,4% bị bạo lực học đường, và trẻ bị

Trang 21

bạo lực học đường có khả năng thực hiện hành vi tự làm tổn thương gấp 4 lần những trẻ không bị (ỎR = 4,07; KTC 95% 2,57 – 6,44) [52]

Nghiên cứu tại Israel của Madjar và cộng sự cho thấy hỗ trợ của giáo viên có liên quan tích cực với NSSI ở lớp học (OR = 6,15, KTC 95%= 2,05–18,5) nhưng tiêu cực liên quan ở cấp độ cá thể (OR = 0,66, KTC 95% = 0,49–0,89) Có thể là những học sinh có khuynh hướng tham gia vào NSSI ít có khả năng cảm nhận về lợi ích họ nhận được và sự chăm sóc mà giáo viên đã trợ giúp Tuy nhiên những nhóm học sinh được hỗ trợ bởi giáo viên và những người có mối quan hệ tích cực với bạn bè ít có khả năng tham gia vào NSSI Bên cạnh đó nghiên cứu cũng chỉ ra môi trường bạo lực học đường dẫn đến tỷ lệ NSSI tăng cao [48] Nhân cách của trẻ vị thành niên có thể thay đổi hàng ngày Một trong những yếu tố quan trọng tác động đến cuộc sống, tâm trạng của trẻ là nhóm bạn đồng lứa Nghiên cứu của J.You kiểm tra ảnh hưởng của mối quan hệ mức độ cá nhân giữa trầm cảm và NSSI trong số 1.701 học sinh trung học Trung Quốc trong đó khoảng 67% là nữ, được đánh giá hai lần cách nhau 6 tháng Kết quả phân tích cho thấy tình bạn đã ảnh hưởng đáng kể đến NSSI, thanh thiếu niên

có bạn bè tham gia vào NSSI có nhiều khả năng thực hiện hành vi này sau này [83]

1.3.4 Mối liên quan giữa hành vi tự làm tổn thương và vấn đề sức khỏe tâm thần

Sức khỏe tâm thần được Tổ chức Y tế thế giới định nghĩa đó là “Một trạng thái toàn vẹn của cơ thể, trong đó các cá nhân nhận thức được khả năng của mình, có thể đương đầu với các yếu tố rối nhiễu tâm lý trong cuộc sống, có thể làm việc một cách hiệu quả và có thể cống hiến cho cộng đồng” Các vấn đề sức khỏe tâm thần thường gặp ở tuổi vị thành niên như stress, lo âu, trầm cảm Mặc dù chúng đều có những trạng thái buồn bã, lo âu tuy vậy mỗi rối loạn tâm thần có những tiêu chuẩn chẩn đoán riêng biệt [79] Rất nhiều nghiên cứu chứng minh tỷ lệ trẻ vị thành niên có vấn đề về sức khỏe tâm thần ngày càng biến động và có xu hướng gia tăng ở mức đáng báo động Nghiên cứu của Jie Tang (2018) tại Trung Quốc trên đối tượng thanh thiếu niên cho thấy các sự kiện căng thẳng làm cuộc sống liên quan đến nguy cơ NSSI

ở thanh thiếu niên [72] Theo Ross và Heath (2002) nêu rằng tự gây tổn thương thường là một hành vi tạm thời Một khi tình huống căng thẳng được giải quyết, cá nhân có thể không cảm thấy sự thôi thúc làm tổn thương bản thân nữa [68]

Trang 22

Trong một nghiên cứu cắt ngang trên đối tượng thanh thiếu niên có tiền sử NSSI báo cáo tỷ lệ căng thẳng cuộc sống lớn hơn, liên quan đến mức độ căng thẳng của cá nhân có liên quan đến sự tham gia nhiều hơn vào NSSI Tuy vậy, nghiên cứu không chỉ ra được mối quan hệ giữa hai biến này có thể bị thay đổi không Cụ thể là những căng thẳng trong cuộc sống có thể gây rủi ro lớn hơn cho NSSI, ngược lại hành

vi nhất định của những cá nhân tham gia vào NSSI cũng có thể làm tăng khả năng gặp những căng thẳng [43]

Mối liên quan giữa hành vi tự cắt, lo lắng và các triệu chứng trầm cảm trên đối tượng học sinh trung học phổ thông được Ross và Heath cho kết quả rằng các cá nhân NSSI có sự lo lắng và trầm cảm đáng kể hơn các cá nhân không thuộc NSSI [68] Các triệu chứng của sự lo lắng và trầm cảm trong nghiên cứu của Brunner trên 5759 học sinh lớp 9 tại Đức, được đo bởi Báo cáo Tự niên thiếu (YSR – Youth Self Report), chứng minh rõ ràng rằng một số lượng lớn các vấn đề như lo lắng và các triệu chứng trầm cảm có liên quan chặt chẽ đến NSSI [24]

Nghiên cứu cắt ngang ở 432 trẻ em và thanh thiếu niên được chẩn đoán Rối loạn lưỡng cực để tìm hiểu sự phổ biến và tương quan của hành vi tự làm tổn thương của Christianne và cộng sự cho kết quả tỷ lệ NSSI cao Mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng trầm cảm và hưng cảm, rối loạn tâm thần, rối loạn lo âu, và chức năng tâm lý xã hội có liên quan đáng kể với NSSI [30]

1.4 Tình hình nghiên cứu về Hành vi tự làm tổn thương trên thế giới và tại Việt Nam

Các nghiên cứu về NSSI từ lâu đã được quan tâm và tiến hành ở nhiều nơi trên thế giới Báo cáo phân tích tổng hợp các nghiên cứu từ năm 1998 đến năm 2016 ở nhiều quốc gia và khu vực lãnh thổ trên khắp thế giới ghi nhận tỷ lệ có NSSI là 7,5 - 46,5% ở vị thành niên, 38,9% sinh viên đại học và 4 - 23% ở người lớn trong các mẫu cộng đồng và lâm sàng, độ tuổi bắt đầu xảy ra hành vi xung quanh tuổi từ 11-16 [27] [37] Hiện nay, hành vi tự làm tổn thương đã không còn quá xa lạ trong lĩnh vực nghiên cứu sức khỏe tâm thần, và được các nhà nghiên cứu dành sự quan tâm đặc biệt cho nhóm tuổi vị thành niên với tỷ lệ NSSI dao động từ 14-29% tùy theo phương pháp, bộ công cụ mà các nước khảo sát Ba hành vi NSSI được báo cáo hàng đầu

Trang 23

trong số các vị thành niên từng có trải nghiêm NSSI là tự đánh, véo và kéo tóc, với

tỷ lệ phổ biến lần lượt là 16,7%, 14,1% và 11,2%

Ở Việt Nam, hành vi tự làm tổn thương hiện vẫn đang là khái niệm tuy mới

mẻ nhưng thực chất cũng không quá xa lạ khi các kênh truyền thông đăng tải rầm rộ

các thanh thiếu niên hiện nay có hiện tượng “rạch tay”, “xăm kín mình”, “nghiện xỏ khuyên”, hay như các trào lưu từ nước ngoài “Eraser Challenge (Tẩy da bật máu)”,

“Blue Whale Challenge (Thử thách Cá voi xanh)” và được nhiều người nhận định

đây là những hành vi “điên rồ”, “ngu ngốc”, “thiếu suy nghĩ”, khi đó chúng ta quy tụ chúng vào vấn đề stress, trầm cảm, nặng hơn nữa là “tâm thần” mà không có nhận định đúng đắn về các hành vi trên Tuy nhiên, gần đây hành vi tự làm tổn thương đã dần nhận được sự quan tâm từ các nhà nghiên cứu và lâm sàng trong nước Trong Điều tra Quốc gia Vị thành niên và Thanh niên Việt Nam lần 2 (SAVYII - 2009) từng được tác giả Nguyễn Thanh Hương đề cập đến hành vi tự gây thương tích của VTN&TN qua câu hỏi “Bạn có bao giờ tự gây thương tích cho mình không?” ghi nhận 7,5% VTN&TN đã từng tự gây thương tích [1] Nghiên cứu gần đây nhất của Huỳnh Văn Sơn (2018) tại TPHCM và Bình Dương cũng báo cáo khoảng 31,6% từng làm đau bản thân mình trong tổng số 27% trong 1043 học sinh Trung học cơ sở có hành vi tự hủy hoại bản thân mình [8] Tác giả Hồ Thu Hà cũng từng đề cập đến hành

vi tự làm tổn thương trong bài phân tích Hành vi tự gây tổn thương ở trẻ vị thành niên (2016) [4]

1.5 Các phương pháp đánh giá Hành vi tự làm tổn thương

1.5.1 Các thang đo đánh giá Hành vi tự làm tổn thương

Hiện nay, có rất nhiều thang đo đánh giá hành vi tự làm tổn thương trong cộng đồng thanh thiếu niên và bệnh nhân có vấn đề về sức khỏe tâm thần, có bộ công cụ phục vụ cho những nghiên cứu định lượng cũng như nhiều bộ công cụ để đánh giá định tính Nhiều thang đo được đưa ra để đánh giá hành vi cũng như các lí do dẫn đến hành vi Nghiên cứu của chúng tôi lựa chọn thang đo FASM (Functional Assessment

of Self‑Mutilation) được hình thành và phát triển bởi tác giả Lloyd FASM hiện được

sử dụng ở rất nhiều quốc gia và có các đặc điểm phù hợp với mục đích nghiên cứu tại Việt Nam Thang đo ngắn gọn cho chọn lựa với đối tượng nghiên cứu là học sinh, đồng thời có độ tin cậy cao trong nhiều nghiên cứu trước đó

Trang 24

Bảng 1.1: Các thang đo đánh giá Hành vi tự làm tổn thương

Tên thang đo Tác giả Số

câu Đối tượng Mục đích Độ tin cậy Điểm mạnh Điểm yếu

12 tháng

0,86 đánh giá hành vi

0,65-0,66 đánh giá chức năng [45]

Đánh giá hành vi và các loại chức năng của NSSI

Được sử dụng nhiều trên đối tượng thanh thiếu niên tại các nghiên cứu trên thế giới Đánh giá ngắn gọn đầy đủ các hành

vi của NSSI trong quá khứ

Thời gian khảo sát dài nên

có thể gặp sai lệch hồi tưởng [58]

57 câu Sinh viên/

Thanh thiếu niên

Đánh giá 12 hành vi (có chủ ý/cố ý) NSSI trong quá khứ, tần suất NSSI và chức năng của NSSI

Cronbach’s alpha

=0,79 [38] đánh giá hành vi

Cronbach’s alpha

= 0,93 đánh giá chức năng.[22]

ISAS là công cụ đo lường đáng tin cậy, hợp lệ trong kiểm tra hành vi, được thiết kế để đánh giá toàn diện các chức năng của NSSI

Đo lường các biến lâm sàng (trầm cảm, lo âu ) thông qua câu hỏi tự báo cáo [38]

17 câu Sinh viên

đại học

Đánh giá tần suất, loại và số phương pháp của hành vi NSSI (ví dụ: cắt, khắc, đốt, cắn, đập đầu)

0,82 Khả năng báo cáo rủi ro

và hành vi tự hại cao Khả năng dự đoán kết quả liên quan đến tự sát trong tương lai

Thời gian đánh giá 1 năm

có thế người tham gia sẽ không nhớ đầy đủ các sự kiện dẫn đến sai lệch thông tin [34]

Không đánh giá các yếu

tố liên quan với hành vi NSSI

Trang 25

2015

44 câu Bệnh nhân

tâm thần

Đánh giá tần suất, phương pháp, chức năng, tiêu chí DSM-

5 và các đặc điểm khác của NSSI

đánh giá lâm sàng

Giới hạn trong nhóm BN tâm thần, không thích hợp cho cộng đồng [77] Đánh giá mức độ lâm sàng của NSSI chứ không phải là đánh giá hành vi

Moscick,

1996

169 câu

Thanh thiếu niên

Đánh giá tần suất, mức độ nghiêm trọng của từng suy nghĩ hoặc hành vi Cung cấp một kết thúc mở câu hỏi về các phương pháp tự làm thương tích được sử dụng

ý tưởng tự sát (0,70), kế hoạch tự

tử (0,71,

tự sát (0,80), và NSSI (1,0)

Một biện pháp sàng lọc ban đầu, rộng, cung cấp

dữ liệu cơ bản

Không được thiết kế đặc biệt để phát hiện nguy cơ cao và hành vi tự hại [34] Điểm số thu được có thể khó hiểu và sử dụng trong các thiết lập lâm sàng [60]

cung cấp thông tin về các đặc điểm lâm sàng và các tính năng liên quan của DSM-5 NSSID

gian, nguồn lực hạn chế,

dễ dàng kết hợp với một đánh giá ban đầu

Khó áp dụng cho các mẫu cộng đồng có liên quan khác Người lấy mẫu và phân tích mẫu phải được đào tạo và làm việc tại phòng thí nghiệm của người điều tra [33] SHBQ (Self –

Đánh giá NSSI, ý tưởng tự tử, các mối

đe dọa tự tử và các nỗ lực tự sát trong quá khứ

B(0,96) A(0,95) C(0,94) D(0,89)

Ảnh hưởng tiêu cực và các yếu tố liên quan đến hành vi tự sát Người tham gia cung cấp một lịch sử đầy đủ về số lượng

và mức độ nghiêm trọng của những nỗ lực tự sát trong quá khứ của họ

Khảo sát hành vi tự tử là chính Hạn chế trong việc phân biệt giữa hành vi có

ý định tự làm hại nhưng không phải là tự sát và hành vi tự sát

Trang 26

1.5.2 Đặc điểm thang đo

1.5.2.1 Thang đo đánh giá chức năng tự tổn thương

Hiện tại có rất nhiều thang đo để đánh giá hành vi tự làm tổn thương bản thân [27] nhưng thang đo Functional Assessment of Self‑Mutilation (FASM) của Lloyd

và cộng sự (1997) [44] là thang đo đang được sử dụng rộng rãi và thông dụng trên đối tượng thanh thiếu niên ở nhiều nghiên cứu trên thế giới [27] [42] [63] [82] bởi khả năng đánh giá ngắn gọn, đầy đủ các hành vi và chức năng của NSSI FASM được tiến hành lần đầu tiên ở học sinh THPT tại Mỹ [44], sau đó được hiệu chỉnh

và thiết lập cho hoàn chỉnh hơn dựa vào kinh nghiệm nghiên cứu của tác giả Tiếp

đó được Nock và Prinstein (2004) xác nhận trong một mẫu lâm sàng thanh thiếu niên với hệ số alpha khác nhau từ 0,62 đến 0,85 [47] [58]

FASM được xem là công cụ tự báo cáo đánh giá nhiều loại hành vi, tần suất

và lý do NSSI khác nhau (còn gọi là chức năng) trong vòng 12 tháng vừa qua bao gồm 2 phần: Đầu tiên, một danh sách kiểm tra NSSI, trong đó người tham gia trả

lời được hỏi liệu họ có chủ ý tham gia vào 11 hành vi NSSI khác nhau như cắt /khắc da; chọc phá vết thương; tự đánh/đấm chính mình; cạo da; tự cắn mình; đâm vào một vùng cơ thể chảy máu; chèn các vật dưới móng/da; xăm mình; đốt da; kéo/giật tóc; “tẩy” da, (cộng với danh mục “khác”) trong năm vừa qua và tần suất của 11

hành vi này Lloyd và cộng sự đã chia 11 hành vi thành hai mức độ, mức độ thứ nhất là các hành vi có tính chất lâm sàng nghiêm trọng được gọi là “NSSI nghiêm trọng/nặng”: cắt/khắc, đốt, tự xăm, cạo da và “tẩy”/lột da, mức độ thứ hai là “NSSI nhẹ” để biểu thị các hành vi ít nghiêm trọng hơn như đánh vào bản thân, kéo tóc, tự cắn mình, nhét vật lạ dưới móng tay hoặc da, chọc phá vết thương và đâm vào cơ thể Tiếp đó những người tham gia được hỏi năm câu hỏi bổ sung đánh giá các yếu

tố mô tả và ngữ cảnh: tuổi khởi phát, trải nghiệm đau trong NSSI trên thang đo Likert từ 1 (không đau) đến 4 (rất đau), thời gian từ khi suy nghĩ thôi thúc đến khi hành động, thực hiện hành vi khi đang dùng chất/thuốc và liệu bất kỳ hành vi nào trong số này là một nỗ lực tự sát Hệ số Cronbach’s alpha ở cả phần này là 0,86 cho thấy sự nhất quán nội bộ cao [44]

Phần thứ hai của thang đo bao gồm 22 câu hỏi đánh giá bốn chức năng của NSSI, được trình bày ở định dạng danh sách kiểm tra và được xếp hạng theo thang

Trang 27

điểm Likert với 0 là “không bao giờ”, 1 là “hiếm khi”, 2 là “thỉnh thoảng”, 3 là

“thường xuyên” Bốn chức năng của FASM đã được chứng minh các đặc tính tâm

lý là có thể chấp nhận được trong các mẫu vị thành niên [47] [58] mang lại tính nhất quán nội bộ đầy đủ (Cronbach’s alpha = 0,65 – 0,66) khi đó các thanh thiếu niên tham gia vào NSSI với lí do giảm căng thẳng hoặc cảm xúc tiêu cực (tăng cường âm

tự động), tăng cảm xúc tích cực (tăng cường tích cực tự động), né tránh các yêu cầu

và sắp xếp từ xã hội (tăng cường âm xã hội), hoặc tiếp cận với người khác hay thu hút sự chú ý từ những người khác (tăng cường tích cực xã hội)

1.5.2.2 Thang đo đánh giá Lo âu - Trầm cảm - Stress

Thang đo DASS là một bộ ba tự đánh giá được thiết kế đo lường trạng thái cảm xúc tiêu cực của trầm cảm, lo âu và stress được phát triển từ năm 1995 Đồng thời, thang đo còn giúp phân biệt giai đoạn thay đổi tâm lý sớm với trầm cảm và lo

âu

Phiên bản đầu tiên của thang đo DASS được gọi là Bảng câu hỏi tự phân tích SAQ (the Self-Analysis Questionnaire) DASS-42 ban đầu có 42 câu hỏi, đo các vấn

đề về trầm cảm (DASS-D), lo âu (DASS-A) và stress (DASS-S), mỗi vấn đề gồm

14 câu hỏi Sau đó ngoài DASS-42, một phiên bản ngắn hơn là DASS-21 ra đời và được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước [67]

DASS-21 gồm 21 câu hỏi với 3 vấn đề, gồm 7 câu hỏi đánh giá stress (1, 6,

8, 11, 12, 14, 18), 7 câu hỏi đánh giá lo âu (2, 4, 7, 9, 15, 19, 20) và 7 câu hỏi đánh giá trầm cảm (3, 5, 10, 13, 16, 17, 21), khảo sát tình trạng trong vòng một tuần qua Nguy cơ được đánh giá dựa trên tổng điểm cho từng vấn đề (sau khi được nhân 2) Tại Việt Nam, DASS-21 đã được chuẩn hóa và đưa vào sử dụng từ năm 2013 với

hệ số Cronbach’s alpha dao động từ 0,70 cho thang điểm Stress đến 0,88 cho thang điểm tổng thể, trong đó độ nhạy là 79,1% và độ đặc hiệu là 77,0% ở mức cắt tối ưu trong tổng số > 33 [75]

Sự phân biệt được ba vấn đề liên quan này giúp các nhà nghiên cứu nhận định được tính chất, nguyên nhân và cơ chế của rối loạn cảm xúc Bên cạnh đó, thang đo này thích hợp để sàng lọc ở người bình thường và có thể sử dụng bởi các

bác sĩ không thuộc chuyên khoa tâm thần

Trang 28

Tóm lại, hành vi tự làm tổn thương đang là vấn đề sức khỏe đang được quan

tâm và có tỷ lệ ngày càng tăng, đặc biệt là ở lứa tuổi vị thành niên Cần khảo sát với

cỡ mẫu đủ lớn để xác định chính xác tỷ lệ cũng như các yếu tố liên quan Trong phạm vi nghiên cứu này, chúng tôi xác định hành vi tự làm tổn thương là hành động

có chủ đích, trực tiếp gây thương tích lên da thịt và không có ý định tự tử Do vậy chúng tôi sử dụng thang đo thang đo Functional Assessment of Self‑Mutilation (FASM) của Lloyd và cộng sự (1997) nhằm đo lường hành vi tự làm tổn thương và mục đích thực hiện hành vi của đối tượng Có nhiều hành vi được xem như là hành

vi tự làm tổn thương như cắt, khắc lên da, tự xăm mình, tự cắn mình, vv và đối tượng thực hiện hành vi tùy theo mục đích và tình cảnh cá nhân như tự trừng phạt bản thân, tìm sự quan tâm từ người khác, giảm bớt những cảm xúc tiêu cực,vv Tại Việt Nam, có rất ít nghiên cứu nào tìm hiểu về vấn đề này và hầu hết các nghiên cứu chỉ hỏi qua mà không tìm hiểu rõ về hành vi tự làm tổn thương và các mối liên quan

Và chưa có nghiên cứu nào trên đối tượng học sinh trung học phổ thông Do đó, cần thực hiện nghiên cứu để khảo sát và phân tích thêm về hành vi tự làm tổn thương và các yếu tố liên quan

Trang 29

2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang mô tả

2.2 Đối tượng nghiên cứu

2.2.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian thu thập số liệu: Tháng 04 - 05/2019

Địa điểm: THPT Bình Chánh – Bình Chánh, THPT Nguyễn Hữu Cầu – Hóc Môn,

𝑑2Với:

 n : cỡ mẫu cần thiết cho nghiên cứu, đơn vị: người

 α : xác suất sai lầm loại 1 (α=0,05)

 z(1-α/2) = 1,96: trị số tính từ phân phối chuẩn với độ tin cậy 95%

 p = 29% (Tỷ lệ thanh thiếu niên ít nhất 1 lần có hành vi tự làm tổn thương tại Trung Quốc) [72]

 d: sai số cho phép của ước lượng (d=0,05)

 n = 317 là cỡ mẫu tối thiểu của nghiên cứu

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp chọn mẫu cụm nên cỡ mẫu tính được sẽ nhân với hệ số thiết kế mẫu là 2 để có được cỡ mẫu cần thiết đồng thời dự phòng 20% mất mẫu Như vậy, cỡ mẫu cần lấy ít nhất là 760 học sinh

Trang 30

2.2.5 Kĩ thuật chọn mẫu

Áp dụng kĩ thuật chọn mẫu nhiều bậc:

Bước 1: Chọn TP.HCM là thành phố tiến hành nghiên cứu Với 5 quận/huyện ngoại

thành gồm Củ Chi, Nhà Bè, Bình Chánh, Hóc Môn, Cần Giờ, chọn ngẫu nhiên đơn

3 huyện ngoại thành tham gia nghiên cứu Rút thăm ngẫu nhiên được các huyện:

huyện Bình Chánh, huyện Hóc Môn, huyện Cần Giờ

Bước 2: Tại các huyện được chọn, chọn ngẫu nhiên đơn 1 trường THPT /1 huyện

tham gia vào nghiên cứu Trong 3 trường THPT tại huyện Bình Chánh, 5 trường THPT tại Hóc Môn, 3 trường THPT tại Cần Giờ, rút thăm ngẫu nhiên được các trường: THPT Bình Chánh – Bình Chánh, THPT Nguyễn Hữu Cầu – Hóc Môn, THPT Bình Khánh – Cần Giờ

Bước 3: Chọn lớp tham gia vào nghiên cứu: mỗi lớp trung bình có 42 học sinh Do

đó, số lớp cần chọn = 762/42 = 18,1  18 lớp Mỗi lớp được xem là một cụm, tất cả học sinh trong lớp đều tham gia nghiên cứu Số lớp của mỗi trường tham gia nghiên cứu là 18/3 = 6 lớp Phân tầng theo khối lớp gồm: 2 lớp 10, 2 lớp 11 và 2 lớp 12 Trong đó, THPT Bình Chánh có 13 lớp 10, 13 lớp 11, 17 lớp 12; THPT Nguyễn Hữu Cầu có 15 lớp 10, 13 lớp 11, 12 lớp 12; THPT Bình Khánh có 8 lớp 10, 8 lớp

11 và 5 lớp 12 Chọn lớp theo phương pháp thuận tiện, theo sự cho phép của nhà trường và theo lịch học, lịch thi của các khối lớp (Phụ lục)

2.2.6 Tiêu chí chọn mẫu

Tiêu chí chọn vào

Tất cả học sinh đang học tại các trường THPT được chọn vào thời điểm nghiên cứu (từ tháng 4/2019 đến tháng 5/2019) và đồng ý tham gia nghiên cứu, trả lời bộ câu hỏi

Tiêu chí loại ra

Học sinh không có mặt tại trường khi tiến hành thu thập thông tin

2.2.7 Thu thập dữ liệu

2.2.7.1 Phương pháp thu thập dữ liệu

Liên hệ ban giám hiệu nhà trường xin phép được tiến hành nghiên cứu Tìm hiểu thông tin về lịch học, môn học và lịch thi của các khối lớp

Trang 31

Liên hệ với giáo viên của những lớp đã được chọn vào đầu buổi học, giải thích rõ tính bảo mật, quyền lợi mà nghiên cứu mang lại cho HS, đồng thời giải đáp mọi thắc mắc trước khi HS trả lời bộ câu hỏi Sau đó, nghiên cứu viên phát bộ câu hỏi tự điền được để trong phong bì, xác nhận đồng ý cho HS tham gia nghiên cứu của PHHS/người giám hộ HS gửi phiếu xác nhận cho cha mẹ/ người giám hộ, tiến hành trả lời bộ câu hỏi tại nhà và thu lại vào ngày hôm sau

2.2.7.2 Công cụ thu thập số liệu

Sử dụng bộ câu hỏi soạn sẵn gồm 3 phần Bộ câu hỏi được để trong phong bì

và dán lại được phát ra vào sau khi HS hiểu rõ nghiên cứu HS trả lời BCH tại nhà

và nộp lại cho nghiên cứu viên vào ngày hôm sau

Bộ câu hỏi gồm 3 phần :

Phần A: Thông tin cá nhân và một số yếu tố liên quan Gồm 24 câu hỏi

Phần B: Khảo sát mức độ căng thẳng, lo âu Gồm 21 câu hỏi từ thang đo DASS21 Phần C: Khảo sát hành vi tự làm tổn thương Gồm 40 câu hỏi từ thang đo FASM 2.2.8 Kiểm soát sai lệch

2.2.8.1 Kiểm soát sai lệch chọn lựa

Nhằm hạn chế sai lệch chọn lựa, chúng tôi đã định nghĩa rõ đối tượng cần khảo sát dựa vào tiêu chí chọn vào và tiêu chí loại ra Sau đó, thu thập dữ kiện tại lớp được chọn theo phương pháp chọn mẫu

2.2.8.2 Kiểm soát sai lệch thông tin

Trước thu thập thông tin

- Định nghĩa rõ ràng các biến số

- Thiết kế bộ câu hỏi tương ứng với các biến số trong nghiên cứu, dễ hiểu, phù hợp với học sinh và thể hiện đúng mục tiêu nghiên cứu

Trong quá trình thu thập thông tin

- Giải thích rõ mục đích nghiên cứu và hướng dẫn trả lời bộ câu hỏi

- Bảo mật thông tin cho đối tượng tham gia nghiên cứu

- Phát bộ câu hỏi được để trong phong bì và dán lại HS được trả lời BCH tại nhà và được nộp lại vào ngày hôm sau Khuyến khích học sinh trả lời đầy đủ các câu hỏi của phiếu khảo sát

Sau khi thu thập thông tin: Xử lý và phân tích số liệu cẩn thận, trung thực

Trang 32

2.3 Xử lý dữ kiện

2.3.1 Định nghĩa và liệt kê biến số

Giới: Là biến số nhị giá thể hiện giới tính của đối tượng, gồm 2 giá trị là nam và

nữ

Khối: Là biến thứ tự thể hiện khối lớp mà đối tượng đang theo học, gồm 3 giá trị là

khối 10, khối 11, khối 12

Tôn giáo: Là biến số danh định thể hiện đối tượng thuộc tôn giáo nào, gồm 5 giá trị

là Không tôn giáo, Thiên Chúa giáo, Phật giáo, Khác, Từ chối trả lời câu hỏi

Bạo hành về thể chất, tinh thần, tình dục: Là biến số danh định thể hiện tình trang

đã/chưa từng bị bạo hành về thể chất, tinh thần, tình dục trong quá khứ, gồm 3 giá trị là có, không, Từ chối trả lời câu hỏi

Tình trạng hôn nhân của cha/mẹ: Là biến danh định thể hiện mối quan hệ hôn

nhân giữa cha và mẹ, gồm 5 giá trị là sống chung, ly thân hoặc ly dị, Đã mất (cha mất/mẹ mất/cả cha và mẹ mất), khác, Từ chối trả lời câu hỏi

Trình độ học vẫn cao nhất của cha/mẹ: Là biến số danh định thể hiện bậc học cao

nhất của cha/mẹ học sinh, gồm 4 giá trị là Từ cấp 3 trở xuống (Chưa bao giờ đi học/ Tiểu học/Trung học cơ sở/Trung học phổ thông), Trên cấp 3 (Trung học kĩ thuật/ Trường dạy nghề/Cao đẳng/ Đại học/Sau đại học), Không rõ, Từ chối trả lời câu hỏi

Tình trạng sống chung: Là biến số danh định người mà học sinh hiện đang sống

chung trong một nhà, cùng sinh hoạt chung hằng ngày, gồm 7 giá trị: sống chung với cha mẹ, sống chung với ba hoặc mẹ, sống với ba kế/ba nuôi hoặc mẹ kế/mẹ nuôi, Sống với ông bà hoặc người thân (cô chú bác), Sống 1 mình hoặc không có người thân, Khác, Từ chối trả lời câu hỏi

Thứ tự con trong gia đình: là biến thứ tự thể hiện thứ tự được sinh ra trong gia

đình tính trên số anh chị em còn sống hiện tại, gồm 4 giá trị: Con cả, con thứ, con

út, con một

Kinh tế gia đình: Là biến số thứ tự thể hiện về tình trạng kinh tế của gia đình theo

cảm nhận của mỗi học sinh, gồm 3 giá trị là khá giả, bình thường, khó khăn

Trang 33

Kết quả học tập: Là biến thứ tự, được tính dựa vào điểm trung bình các môn học

kì I năm học 2018 – 2019 Gồm 3 giá trị là Xuất sắc/Giỏi, Khá, Trung bình/Dưới trung bình

Kết quả hạnh kiểm: là biến thứ tự được tính dựa vào xếp loại hạnh kiểm học kì I

năm học 2018 - 2019, gồm 3 giá trị Tốt, Khá, Trung Bình/Dưới trung bình

Tự tạo áp lực bản thân: Là biến số thứ tự thể hiện HS có tự áp lực cho mình về

một vấn đề nào đó (ví dụ: phải đạt HS giỏi, phải đậu đại học), gồm 4 giá trị là

thường xuyên, thỉnh thoảng, hiếm khi và không bao giờ

Tham gia hoạt động CLB/đội nhóm: Là biến nhị giá thể hiện việc học sinh tham

gia sinh hoạt một nhóm hay một câu lạc bộ nào đó của trường học hay địa phương

tổ chức để chia sẻ kinh nghiệm, kiến thức, kĩ năng; gồm 2 giá trị là Có, Không

Trò chuyện, tâm sự và chia sẻ với bạn bè hoặc người thân: là biến số thứ tự thể

hiện tần suất HS tâm sự, chia sẻ với bạn hè hoặc người thân, gồm 4 giá trị là thường xuyên, thỉnh thoảng, hiếm khi và không bao giờ

Mối quan hệ của bạn với giáo viên ở trường: Là biến số thứ tự thể hiện cảm giác

chủ quan của HS về quan hệ của mình và giáo viên đứng lớp, gồm 3 giá trị là tốt, bình thường và không tốt

Mối quan hệ của bạn với bạn bè: Là biến số thứ tự thể hiện cảm giác chủ quan

của HS về quan hệ của mình và bạn bè, gồm 3 giá trị là tốt, bình thường và không tốt

Áp lực học tập từ phía nhà trường: Là biến nhị giá thể hiện cảm giác chủ quan

của HS về việc phải áp lực từ phía nhà trường (học tập, tinh thần, vv), gồm 2 giá trị

là có và không

Sử dụng internet mỗi ngày: là biến số nhị giá thể hiện việc sử dụng internet mỗi

ngày của đối tương, gồm 2 giá trị là có và không

Bạo lực học đường: là biến thể hiện học sinh có từng bị bạn bè bắt nạt về tinh thần

hoặc/và thể chất, là biến danh định gồm 3 giá trị có, không, từ chối trả lời

Stress: Là biến nhị giá gồm 2 giá trị là có và không

Lo âu: Là biến nhị giá gồm 2 giá trị là có và không

Trầm cảm: Là biến nhị giá gồm 2 giá trị là có và không

Trang 34

Hành vi tự làm tổn thương: Là biến nhị giá gồm 2 giá trị là có và không

2.3.2 Phương pháp quản lý và phân tích số liệu

Sau khi thu thập dữ kiện, nghiên cứu viên tiến hành rà soát và phân loại theo từng khối lớp, loại những bộ câu hỏi trắng (xem như đối tượng vắng mặt trong ngày nghiên cứu, phù hợp với tiêu chí loại ra), loại những bộ câu hỏi không nhận được

sự đồng ý từ Phụ huynh học sinh/ người giảm hộ (phù hợp Y đức) và thống kê lại

số lượng mẫu thu được Tiếp đó, nghiên cứu viên tiến hành nhập liệu bằng phần mềm Epidata 3.1 và xử lý số liệu bằng phần mềm Stata 14.0

Lượng giá mối quan hệ bằng kiểm tra tính khuynh hướng, phân tích từng tầng cho các biến danh định/ thứ tự

Tính tỷ số tỷ lệ hiện mắc PR với khoảng tin cậy 95%

2.4 Y đức

Bản thông tin dành cho phụ huynh/người giám hộ hợp pháp được gửi tới phụ huynh/người giám hộ hợp pháp của học sinh giải thích rõ về mục đích nghiên cứu, nội dung tham gia nghiên cứu và quyền lợi khi tham gia nghiên cứu, tính bảo mật cũng như mong muốn nhận được sự đồng ý từ phía phụ huynh/người giám hộ Ghi nhận sự cho phép/không cho phép nếu nhận được chữ ký xác nhận từ phía phụ huynh/người giám hộ hợp pháp

Học sinh được giải thích thông tin nghiên cứu và chấp thuận tham gia nghiên cứu nhằm được hiểu về mục đích nghiên cứu, vai trò và quyền lợi khi tham gia nghiên cứu, tính bảo mật và thông tin hỗ trợ khi cần thiết

Trang 35

Về mục đích nghiên cứu, nhằm tìm hiểu tỷ lệ học sinh THPT có hành vi tự làm tổn thương và đánh giá các yếu tố liên quan dẫn đến tình trạng này Kết quả nghiên cứu sẽ giúp nhà trường và y tế có cơ sở đưa ra các hoạt động hỗ trợ tương ứng, góp phần nâng cao sức khỏe cho học sinh, hạn chế những nguy hại do hành vi

tự làm tổn thương gây ra

Về vai trò và quyền lợi khi tham gia nghiên cứu, sau khi đã được phụ huynh/người giám hộ hợp pháp và giáo viên chủ nhiệm chấp thuận, HS được phát

bộ câu hỏi gồm 89 câu trắc nghiệm với đáp án có sẵn về bản thân, hoàn cảnh gia đình, mối quan hệ gia đình, bạn bè, nhà trường, các câu hỏi đánh giá sức khỏe tâm thần và các câu hỏi về hành vi tự làm tổn thương bản thân Bộ câu hỏi được để trong phong bì và dán lại Học sinh tiến hành trả lời bộ câu hỏi tại nhà Sự tham gia của

HS là hoàn toàn tự nguyện và có quyền rút khỏi nghiên cứu bất kì lúc nào cảm thấy không thoải mái về những vấn đề được hỏi Khi tham gia nghiên cứu, HS được bổ sung thêm những kiến thức cơ bản về sức khỏe tâm thần lứa tuổi VTN đồng thời được nhận một phần quà nhỏ (trị giá 2000 đồng)

Về tính bảo mật, thông tin mà HS cung cấp không có thông tin nhận biết danh tính, đồng thời được tách khỏi thông tin cá nhân và nghiên cứu viên chính là người duy nhất biết

Trang 36

3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tại thời điểm nghiên cứu, 18 lớp được chọn có tổng cộng 796 học sinh Sau khi phát cho học sinh bao gồm Phiếu xác nhận đồng ý cho con/cháu ông bà tham gia nghiên cứu (dành cho PHHS) và Bộ câu hỏi tự điền (dành cho HS), nghiên cứu viên tiến hành rà soát và phân loại, tổng số bộ câu hỏi và phiếu đồng ý thu vào là

724 bộ, loại 55 bộ câu hỏi có điền nhưng PHHS đánh dấu vào ô Không đồng ý (phù hợp với Y đức), loại 27 bộ câu hỏi nhận được câu trả lời “Có từng cố tình tự tử” (phù hợp với phạm vi nghiên cứu) Số bộ câu hỏi cuối cùng thu lại được là 642 Kết quả được ghi nhận lại ở bên dưới

3.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

3.1.1 Đặc điểm bản thân của học sinh tham gia nghiên cứu

Bảng 3.1: Đặc điểm yếu tố bản thân (n = 642)

Trang 37

Đặc điểm Tần số Tỷ lệ (%) Hạnh kiểm

Trang 38

Về học lực, phần lớn số HS có học lực Xuất sắc/ Giỏi (55%) và hạnh kiểm tốt (93,8%), học lực khá chiếm hơn 1/3 số học sinh được khảo sát Thống kê cho thấy có 21,5% học sinh có tham gia câu lạc bộ/đội nhóm trong hoặc ngoài trường

Đa số 96,9% học sinh thường xuyên sử dụng internet để truy cập mạng xã hội, chơi game

Khảo sát liên quan đến tự tạo áp lực cho bản thân (vd: phải đạt học sinh giỏi,

phải đậu đại học, vv), chiếm tỷ lệ cao nhất là 51,7% học sinh có câu trả lời “thỉnh thoảng”, sau đó là “thường xuyên” với 23,1% Phần lớn học sinh thường xuyên/

thỉnh thoảng trò chuyện, tâm sự và chia sẻ với bạn bè Thống kê học sinh đã từng bị bạo hành về thể chất, tinh thần, tình dục tỷ lệ chiếm 5,5%, có 7,5% từ chối trả lời câu hỏi

3.1.2 Đặc điểm các yếu tố gia đình

Bảng 3.2: Đặc điểm yếu tố gia đình (n = 642)

Trang 39

Đặc điểm Tần số Tỷ lệ (%) Học vấn mẹ

3.1.3 Đặc điểm môi trường học tập

Bảng 3.3: Đặc điểm môi trường học tập (n = 642)

Trang 40

Đặc điểm Tần số Tỷ lệ (%) Quan hệ với bạn bè

em từ chối trả lời Hơn 2/3 số học sinh cảm thấy bị áp lực học tập từ phía nhà trường (số lượng môn học, số lượng bài tập về nhà, thời gian học, vv)

3.1.4 Đặc điểm thang đo DASS21 và vấn đề sức khỏe tâm thần

Qua đánh giá bằng bộ câu hỏi tự điền cho thấy thang đo DASS21 có độ tin cậy nội tại tốt ở cả 3 cấu phần Cụ thể alpha Cronbach là 0,76; 0,65; 0,81 cho lần lượt các mục stress, lo âu, trầm cảm Alpha Cronbach tổng thể của thang đo DASS21

là 0,88 Điểm trung bình stress là 15,98 ± 8,38 điểm , lo âu là 11,47 ± 7,37 và trầm cảm là 10,79 ± 8,05 (phụ lục )

Biểu đồ 3.1 cho thấy vấn đề sức khỏe tâm thần cao nhất là lo âu với 57,4%, tiếp đến là stress và trầm cảm có tỷ lệ tương đương lần lượt là 34,5 và 34,1% Bên cạnh đó cho biết số học sinh có sự hiện diện của cả 3 vấn đề sức khỏe tâm thần là 22,0% trong tổng số học sinh tham gia nghiên cứu

Ngày đăng: 18/04/2022, 10:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w