ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH BÀI TIỂU LUẬN MÔN TRIẾT HỌC TÊN ĐỀ TÀI QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN VỀ CON NGƯỜI VÀ BẢN CHẤT CON NGƯỜI QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG TA VỀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI TOÀN DIỆN LIÊN HỆ VỚI NHẬN THỨC VÀ THỰC TIỄN CỦA BẢN THÂN Giảng viên hướng dẫn TS GVC Lê Thị Kim Chi Học viên thực hiện NGUYỄN PHƯƠNG THẢO Lớp CAO HỌC QUẢN LÝ Y TẾ Mã lớp CH21QYT1 HCM10 1 TRÀ VINH, NĂM 2021 LỜI CẢM ƠN Đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Trường Đại học Trà Vinh đã.
Trang 1BÀI TIỂU LUẬN MÔN: TRIẾT HỌC TÊN ĐỀ TÀI:
QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN VỀ CON NGƯỜI
VÀ BẢN CHẤT CON NGƯỜI QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG TA VỀ
PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI TOÀN DIỆN
LIÊN HỆ VỚI NHẬN THỨC VÀ THỰC TIỄN CỦA BẢN THÂN
Giảng viên hướng dẫn: TS GVC Lê Thị Kim Chi
Học viên thực hiện: NGUYỄN PHƯƠNG THẢO
Lớp: CAO HỌC QUẢN LÝ Y TẾ
Mã lớp: CH21QYT1_HCM10_1
TRÀ VINH, NĂM 2021
Trang 2Đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Trường Đại học Trà Vinh đã đưa môn Triết học vào chương trình giảng dạy cao học Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến giảng viên bộ môn - Cô Lê Thị Kim Chi đã dạy dỗ, truyền đạt những kiến thức quý báu cho em trong suốt thời gian học tập vừa qua Trong thời gian tham gia lớp học Triết học của cô, em đã có thêm cho mình nhiều kiến thức bổ ích, tinh thần học tập hiệu quả,nghiêm túc Đây chắc chắn sẽ là những kiến thức quý báu, là hành trang để em có thể vững bước sau này
Bộ môn Triết học là giúp em dần trả lời được những câu hỏi trong cuộc sống thông qua những tư tưởng Triết học của Mác – Lênin Tuy nhiên, do vốn kiến thức còn nhiều hạn chế và khả năng tiếp thu thực tế còn nhiều bỡ ngỡ Mặc dù em đã cố gắng hết sức nhưng chắc chắn bài tiểu luận khó có thể tránh khỏi những thiếu sót và nhiều chỗ còn chưa chính xác, kính mong cô xem xét và góp ý để bài tiểu luận của em được hoàn thiện hơn
Cuối cùng em xin kính chúc cô luôn mạnh khoẻ, hạnh phúc và thành công trong sự nghiệp trồng người
Em xin chân thành cảm ơn!
Học viên
Nguyễn Phương Thảo
Trang 3MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết – Tầm quan trọng 1
2 Tên đề tài 1
3 Nhiệm vụ 1
4 Nguồn tài liệu 2
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CON NGƯỜI VÀ BẢN CHẤT CON NGƯỜI 3
1.1 Một số quan điểm triết học Phi Mácxít về con người 3
1.1.1 Quan điểm về con người trong triết học Phương Đông 3
1.1.2 Quan điểm về con người trong triết học phương Tây 4
1.2 Quan điểm của Triết học Mác – Lênin về con người 5
1.2.1 Quan điểm của Triết học Mác – Lênin về bản chất của con người 5
1.2.2 Quan điểm của triết học Mác-Lênin về giải phóng con người 6
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN VỀ CON NGƯỜI VÀ BẢN CHẤT CON NGƯỜI QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG TA VỀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI TOÀN DIỆN LIÊN HỆ VỚI NHẬN THỨC VÀ THỰC TIỄN BẢN THÂN 7
2.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người 7
2.2 Quan điểm của Đảng ta về phát triển con người toàn diện 7
2.2.1 Đại hội XI của Đảng 8
2.2.2 Đại hội XII của Đảng: Xây dựng, phát triển văn hóa, con người 8
2.2.3 Đại hội thứ XIII của Đảng 10
2.3 Liên hệ nhận thức và thực tiễn 13
KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 15
1 Kết luận 15
2 Kiến nghị 15
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết – Tầm quan trọng
Trong mọi thời đại lịch sử, vấn đề con người luôn là vấn đề trung tâm của triết học Học thuyết Mác là sự tiếp nối và là bước ngoặt trong nhận thức về phát triển con người,
nó tạo ra tiền đề lý luận để nhân loại bước sang một kỷ nguyên mới Là người Việt Nam đầu tiên đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh, hơn ai hết là người ý thức
rõ, nhận thức sâu sắc học thuyết Mác về con người và phát triển con người toàn diện Tiếp thu và vận dụng sáng tạo học thuyết đó của chủ nghĩa Mác vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của Việt Nam, mọi hoạt động của Hồ Chí Minh luôn luôn “vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người” Và việc xây dựng con người Việt Nam mới – con người phát triển toàn diện đã trở thành tư tưởng quán xuyến, nhất quán trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người
Lấy chủ nghĩa Mác, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề con người và phát triển con người toàn diện làm nền tảng tư tưởng, làm kim chỉ nam cho đường lối và chiến lược phát triển con người toàn diện ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành và thực hiện trên thực tế đường lối và nhiều chủ trương, chính sách, giải pháp phát triển con người Việt Nam toàn diện cả về trí lực lẫn thể lực, cả về khả năng lao động lẫn tính tích cực chính trị - xã hội, cả về lý tưởng sống, lối sống, năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh văn hoá, nhằm thực hiện thành công chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho công cuộc đổi mới đất nước, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc
tế Thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, trong những năm qua, chúng ta đã gặt hái được nhiều thành tựu to lớn về phát triển con người toàn diện Con người Việt Nam không ngừng phát triển cả về thể lực, trí lực và tâm lực, có ý thức và khả năng làm chủ ngày càng cao
Song, trong bối cảnh hiện nay, khi nhân loại đã và đang có những bước tiến rất dài trong chiến lược và thực tiễn phát triển con người Cùng với đó là sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, của xu thế hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế tri thức, đòi hỏi chúng ta phải có sự phát triển nhanh về chất lượng con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đang đặt ra
2 Tên đề tài
Quan điểm của triết học Mác-Lênin về con người và bản chất con người Quan điểm của Đảng ta về phát triển con người toàn diện Liên hệ với nhận thức và thực tiễn bản thân
3 Nhiệm vụ
- So sánh một số quan điểm triết học về con người trong lịch sử
- Nêu bật những điểm tích cực của triết học Mác-Lênin khi giải quyết vấn đề con người, đặc biệt là tính nhân văn sâu sắc
- Quan điểm về con người theo tư tưởng Hồ Chí Minh
- Quan điểm của Đảng ta về phát triển con người toàn diện
- Nhận thức và thực tiễn của bản thân về vấn đề phát triển con người toàn diện
Trang 54 Nguồn tài liệu
C.Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994 C.Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995 C.Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996 C.Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000 C.Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002 Văn kiện Đại hội Đảng XI, XII, XIII
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd
Trang 6CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CON NGƯỜI VÀ BẢN CHẤT CON NGƯỜI 1.1 Một số quan điểm triết học Phi Mácxít về con người
1.1.1 Quan điểm về con người trong triết học Phương Đông
Trong quá trình phát triển, các quốc gia ở phương Đông đã hình thành hệ thống các quan điểm về thế giới tương đối hoàn chỉnh, góp phần không nhỏ vào kho tàng tri thức của nhân loại Song, với đặc trưng là hướng nội nên những quan điểm về con người, về xã hội loài người là những vấn đề được đề cập đến nhiều hơn cả
Quan điểm về con người ở Phương Đông được hình thành rất sớm và được thể hiện một cách có hệ thống từ thế kỷ thứ VI tr.CN trong các học thuyết triết học Nội dung các quan điểm rất đa dạng, song vấn đề và người phương Đông tập trung đề cập đến là những vấn đề thuộc nguồn gốc, bản tính con người, đạo làm người và mẫu hình con người lí tưởng Trong sự đa dạng của các hệ tư tưởng, trước hết phải nói đến các quan điểm của
Ấn Độ và Trung Quốc mà tiêu biểu là các quan điểm của triết học Phật giáo và Nho giáo
- Quan điểm về con người trong triết học Phật giáo
Triết học Phật giáo ra đời khi nội dung của kinh Vêđa và Upanisad đang chi phối mạnh mẽ đời sống tinh thần của người Ấn Độ Mặc dù chịu ảnh hưởng nhiều tư tưởng của các kinh này song Phật giáo phủ nhận vai trò của Đấng Sáng tạo (Brahman), phủ nhận cái Tôi (Atman) của con người
Trong quá trình tồn tại, người nào cũng có trần tục tính và Phật tính Trần tục tính là tham, sân, si; là vô minh, ái dục Phật tính là tính giác ngộ về cõi niết bàn, về cõi chân như Đây là đặc tính khác nhau cơ bản giữa con người và vạn vật Với quan niệm trên, Phật giáo thừa nhận bản chất con người vốn tự có cái ác và cái thiện
Cuộc đời con người do chính bản thân con người quyết định qua quá trình tạo nghiệp Tạo nghiệp thiện là từng bước xóa bỏ tham, sân, si; xóa bỏ vô minh, loại trừ ái dục để trở thành người trong suốt về tâm linh, không bị tác động bởi các cám dỗ của cuộc đời và su khi chết thoát khỏi vòng luân hồi, nghiệp báo
- Quan điểm về con người trong triết học Nho giáo
Triết học Nho giáo chịu ảnh hưởng nhiều tư tưởng Kinh Dịch Theo tư tưởng này, lúc âm – dương phân định, thanh khí làm trời, trời là chúa tể vũ trụ; trọng khí làm đất; con người và vạn vật được tạo thành từ sự hỗn hợp giữa khí thanh và khí trọng trong khoảng giữa âm – dương nhưng con người nhưng con người bẩm thụ tính trời nên bản tính con người là thiện Con người cũng như vạn vật chịu sự chi phối của mệnh trời, nhưng con người có thể cải thiện nó qua hoạt động tu dưỡng mình trong cuộc sống Hiểu mệnh trời, sống theo mệnh trời và tự tu dưỡng mình là đạo làm người
Quan điểm về đạo làm người được Nho gia thể hiện qua thuyết Chính danh Theo thuyết này, tương ứng với từng danh, từng cặp danh là một hệt thống những yêu cầu mà con người phải thực hiện Những yêu cầu chung nhất và cũng là nhưng yêu cầu cơ bản nhất của danh “người” là ngũ thường gồm nhân, lễ, nghĩa, trí, tín; trong đó nhân là gốc và
lễ là phương tiện để thực hiện và thể hiện nhân
Nhìn chung, quan điểm về con người trong các học thuyết triết học phương Đông thể hiện rất phong phú, nhưng đều mang nặng tính duy tâm Về cơ bản, các học thuyết đã lấy đạo đức làm nền tảng để giải quyết những vấn đề trong cuộc sống; song nội dung các
Trang 7nguyên tắc, các chuẩn mực đạo đức, quan điểm về bản tính con người, đạo làm người và hình mẫu con người lại rất đa dạng chứa đựng những tư tưởng giống nhau, khác nhau và thâm chí đối lập nhau Tất cả những tư tưởng này đều tồn tại lâu dài trong lịch sử và giữ vai trò nền tảng mà trên đó các thế hệ sau tiếp tục hoàn thiện để thể hiện quan điểm của mình
1.1.2 Quan điểm về con người trong triết học phương Tây
Được thể hiện qua thời cổ đại, thời trung cổ, thời Phục hung và cận đại, thời hiện đại với hai khuynh hướng duy tâm và duy vật
- Thời cổ đại:
Ở Hy Lạp, các nhà duy vật đầu tiên là các nhà triết học tự nhiên coi con người như
là một bộ phận cấu thành thế giới Xuất phát từ quan điểm thế giới do một hay một số chất tạo nên, các nhà duy vật thời kỳ này cũng quan niệm con người được bắt nguồn từ một hay một số chất (nước – theo Talét; không khí – Anaximen; lửa –Hêraclít;…) Theo Empêđôclơ cho rằng nguồn gốc của thế giới là lửa, không khí, đất và nước Lơ xíp và Đêmôc rít quan niệm con người là sản phẩm kết hợp của các nguyên tử
Đối lập với quan điểm của các nhà triết học duy vật, những người theo chủ nghĩa duy tâm lại truy tìm nguồn gốc và bản chất con người từ những lực lượng siêu nhiên Theo Xôc rá, thế giới do thần tạo ra và thần đã an bài cho thế giới Platôn cho ý niệm có trước tất cả, là nguồn gốc của tất cả Con người gồm hai phần độc lập với nhau là thể xác
và linh hồn Nhận thức của con người là sự hồi tưởng lại những gì mà ý niệm đã có
- Thời trung cổ: Quan điểm về vai trò toàn năng của Chúa trời giữ vai trò thống trị Tiêu biểu là quan điểm của Tô mát Đa canh Ông quan niệm thế giới do chúa trời sáng tạo
ra từ hư vô và con người là hình ảnh của Chúa, được Chúa đặt sống ở trung tâm vũ trụ Con người có thể xác và linh hồn bất tử Con người trong thời này bị tước đoạt hết tính tự nhiên, năng lực và sức mạnh Hình ảnh con người trở nên nhỏ bé, yếu đuối,vật vờ, tạm bợ trong thế giới hữu hình Hệ tự tưởng thời trung cổ đã bóp chết ý chí muốn khẳng định mình, tự giải phòng mình
- Thời Phục hưng và cận đại: Sự phủ nhận quyền lực của Đấng sáng tạo, đề cao sức mạnh của con người, đề cao vai trò của lí trí, đề cao các giá trị và đề cao tư tưởng vì con người
- Thời hiện đại: được thể hiện qua các quan điểm của phân tâm học, chủ nghĩa nhân
vị, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa phê phán,… Tư tưởng của những học thuyết này tạo nên trào lưu triết học nhân bản phi lý tính, trong đó chủ nghĩa hiện sinh giữ vai trò trọng yếu
Nhìn chung các học thuyết thuộc trào lưu triết học nhân bản phi lí tính cũng như những học thuyết khác ở Phương Tây hiện đại đều coi những yếu tố về tinh thần như nhu cầu bản năng, vô thức, tri thức, tình cảm là bản chất con người Con người thường được tuyệt đối hóa về mặt cá nhân Mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, với cộng đồng, với
xã hội thường được đề cập ở góc độ hoài nghi, bi quan, bế tắc… Tất cả những điều ấy phản ánh sự khủng hoảng về mặt giá trị của con người trong xã hội Phương Tây hiện đại
Trang 81.2 Quan điểm của Triết học Mác – Lênin về con người
1.2.1 Quan điểm của Triết học Mác – Lênin về bản chất của con người
- Con người là thực thể sinh vật - xã hội
Kế thừa các quan điểm lịch sử trong lịch sử triết học, dựa trên những thành tựu của khoa học tự nhiên, trực tiếp là thuyết tiến hoá và thuyết tế bào, triết học Mác khẳng định con người vừa là sản phẩm của tự nhiên, vừa là sản phẩm hoạt động của chính bản thân con người Con người là thực thể thống nhất giữa các yếu tố sinh vật và các yếu tố xã hội
Là thực thể sinh vật vì con người dù có phát triển đến đâu cũng là một động vật Cũng như những động vật khác, con người là một bộ phận của tự nhiên, “Giới tự nhiên …
là thân thể vô cơ của con người… đời sống thể xác và đời sống tinh thần của con người gắn liền với giới tự nhiên”, nhưng con người khác động vật vì con người là một thực thể
xã hội
Là thực thể xã hội vì các hoạt động xã hội, trước hết và quan trọng nhất là hoạt động lao động sản xuất, đã làm cho con người trở thành con người với đúng nghĩa của nó
“Người là giống vật duy nhất có thể bằng lao động mà thoát khỏi trạng thái thuần tuý là loài vật”
Theo Mác, xã hội suy cho cùng là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa những con người Con người tạo ra xã hội, là thành viên của xã hội Mọi biểu hiện sinh hoạt của con người là biểu hiện và là khẳng định của xã hội
Như vậy, con người không phải là một động vật thuần tuý mà là một “động vật xã hội” – một thực thể sinh vật – xã hội: con người bẩm sinh đã là sinh vật có tính xã hội Thực thể sinh vật và thực thể xã hội ở con người không tách khỏi nhau, trong đó thực thể sinh vật là tiền đề mà trên cái tiền đề đó thực thể xã hội tồn tại và phát triển
- Con người là chủ thể của lịch sử
Con người không chỉ là sản phẩm của lịch sử với tư cách là sản phẩm quá trình tiến hoá lâu dài của tự nhiên, mà con người còn là chủ thể của lịch sử
Lịch sử hiểu theo nghĩa rộng là những quá trình đan xen với nhau, nối tiếp nhau với tất cả những bảo tồn và biến đổi diễn ra Lịch sử của con người do chính con người làm
ra, lịch sử chẳng qua chỉ là hoạt động có ý thức của chính bản thân con người Tiền đề đầu tiên của lịch sử là sự tồn tại của những cá nhân con người sống, vì vậy, hành động lịch sử đầu tiên là hành động lao động sản xuất để con người tách khỏi động vật Con người làm ra lịch sử, song không phải làm theo ý muốn của mình, trong những điều kiện mình có quyền lựa chọn mà là trong những điều kiện có sẵn do quá khứ để lại Với những điều kiện ấy, mỗi người, mỗi thế hệ một mặt tiếp tục các hoạt động cũ của thế hệ trước trong những hoàn cảnh mới, một mặt tiếp tục các hoạt động mới của mình để biến đổi hoàn cảnh sống của con người thì “bản thân con người như thế nào thì nó cũng sản xuất ra
xã hội như thế”
Như vậy, trong quá trình phát triển của thế giới nói chung và quá trình phát triển của con người nói riêng, thì từ khi con người ra đời cho đến lúc nào con người còn tồn tại, con người vẫn luôn vừa là sản phẩm của lịch sử, vừa là chủ thể của lịch sử
Trong khi khẳng định “Con người là thực thể sinh vật – xã hội” và là chủ thể của lịch sử, C.Mác đồng thời khẳng định “Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội” Quan điểm C.Mác cho thấy: Bản chất con người hình
Trang 9thành và thể hiện ở những con người hiện thực Đấy là những con người cụ thể, sống trong những điều kiện cụ thể mà ở đó những mặt khác nhau tạo nên bản chất của con người sẽ được bộc lộ ở những mức độ cụ thể Tất cả các quan hệ xã hội đều góp phần hình thành nên bản chất của con người Các quan hệ này không kết hợp với nhau theo phép tính cộng mà chúng tổng hoà, nghĩa là chúng có vị trí vai trò khác nhau nhưng không tách rời nhau, mà tác động qua lại lẫn nhau, thâm nhập lẫn nhau Có nhiều cách tiếp cận để tìm hiểu về tổng hoà những mối quan hệ xã hội:
Nếu xét theo thời gian thì đó là những quan hệ quá khứ, quan hệ hiện tại và quan hệ tương lai, trong đó suy cho cùng thì những quan hệ hiện tại giữ vai trò quyết định
Nếu xét theo các loại quan hệ thì đó là những quan hệ vật chất và những quan hệ tinh thần, trong đó suy cho cùng những quan hệ vật chất giữ vai trò quyết định
Nếu xét theo tính chất đó là những quan hệ trực tiếp, gián tiếp, tất nhiên, ngẫu nhiên,
ổn định, không ổn định, vv trong đó suy cho cùng những quan hệ trực tiếp, tất nhiên, ổn định giữ vai trò quyết định
Nếu cụ thể hoá các quan hệ (quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ kinh
tế, quan hệ chính trị, quan hệ tôn giáo, quan hệ đạo đức, vv) thì con người có bao nhiêu quan hệ sẽ có bấy nhiêu quan hệ góp phần hình thành nên bản chất con người, trong đó suy cho cùng thì các quan hệ kinh tế hiện tại, trực tiếp, ổn định giữ vai trò quyết định Trong quan hệ kinh tế thì quan hệ sở hữu tư liệu giữ vai trò quan trọng hơn cả
Khi các quan hệ xã hội thay đổi thì sớm hay muộn, bản chất con người cũng có sự thay đổi Như vậy, bản chất con người không phải được sinh ra mà được sinh thành, nó hình thành và thay đổi theo sự hình thày và thay đổi của các quan hệ xã hội trong đó trước hết và quan trọng nhất là các quan hệ thuộc lĩnh vực kinh tế
1.2.2 Quan điểm của triết học Mác-Lênin về giải phóng con người
Cốt lõi của triết học Mác-Lê nin nói chung, của triết học về con người trong triết học Mác- Lê nin nói riêng là vấn đề giải phòng con người, từ giải phóng những con người cụ thể tiến đến giải phóng nhân loại
Triết học Mác-Lê nin xác định “bất kỳ sự giải phóng nào cũng bao hàm ở chỗ là nó trả thế giới con người, những quan hệ nào của con người về với bản thân con người”, là giải phóng người lao động thoát khỏi lao động tha hóa C.Mác đã chỉ rõ những biểu hiện của lao động bị tha hóa, nguyên nhân dẫn đến sự tha hóa; trên cơ sở đó, C.Mác cũng đã xác định phương thức và những lực lượng có thể thực hiện sự nghiệp giải phòng con người thoát khỏi tha hóa để tiến tới một xã hội mà “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người” Theo C.Mác: Lao động bị tha hóa
là lao động làm người lao động đánh mất mình trong “hoạt động người” nhưng lại tìm thấy mình trong “hoạt động vật”; Lao động bị tha hóa là lao động làm đảo lộn các quan hệ của người lao động; Lao động bị tha hóa là lao động làm người lao động bị phát triển què quặt
Giải phóng con người là xóa bỏ người bóc lột người, xóa bỏ tha hóa để con người trở về với chính mình, phát triển bản tính chân chính của mình Song, “con người bẩm sinh đã là sinh vật có tính xã hội thì do đó con người chỉ có thể phát triển bản tính chân chính của mình trong xã hội” Việc giải phóng con người phải thực hiện trong xã hội loài người V.I.Lênin nhận định: Điểm chủ yếu trong triết học Mác là ở chỗ nó làm sáng rõ vai trò lịch sử thế giới của giai cấp vô sản là người thực hiện sứ mệnh giải phóng con người
Trang 10CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN VỀ CON NGƯỜI VÀ BẢN CHẤT CON NGƯỜI QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG TA VỀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI TOÀN DIỆN
LIÊN HỆ VỚI NHẬN THỨC VÀ THỰC TIỄN BẢN THÂN 2.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người
Phát triển con người toàn diện là vấn đề có ý nghĩa chiến lược trong tư tưởng Hồ Chí Minh Sự hưng hay suy của một dân tộc, một quốc gia không chỉ là dân tộc ấy, quốc gia ấy đã từng giải quyết nhiệm vụ lịch sử đặt ra cho họ như thế nào mà còn là họ chuẩn
bị cho tương lai ra sao Nội dung phát triển toàn diện được Hồ Chí Minh đề cập ở những nội dung cơ bản sau:
Tiêu chuẩn cơ bản hàng đầu của con người toàn diện là đức và tài, trong đó đức là gốc Đức và tài còn được Hồ Chí Minh dùng là hồng và chuyên Đức được hiểu là đạo
đức, song “đạo đức đó không phải là đạo đức cựu thủ Nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại,
nó không phải vì danh vọng cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người” Theo Hồ Chí Minh, những yêu cầu cơ bản của đức là: trung với nước, hiếu với dân; yêu thương con người; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; có tinh thần quốc tế vô sản Tài được hiểu là năng lực của con người để giải quyết nhiệm vụ được giao Năng lực
ấy thể hiện tập trung ở trình độ văn hoá, khoa học, kỹ thuật, và lý luận
Nguyên tắc cơ bản để xây dựng con người toàn diện là tu dưỡng, rèn luyện trong hoạt động thực tiễn, thực hiện đồng bộ quá trình giáo dục và tự giáo dục Theo Hồ Chí
Minh, giáo dục là công việc của toàn xã hội và đối với toàn xã hội Người đặc biệt nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc giáo dục giới trẻ Người cũng cho rằng, tự giáo dục là quá trình mình giáo dục mình, mình cải tạo mình, mình thực hiện cuộc cách mạng trong chính bản thân mình
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện liên quan đến tất cả các lĩnh vực của đời sống văn hoá, xã hội, đến mỗi cá nhân và mỗi cộng đồng Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có con người mới xã hội chủ nghĩa bao gồm:
- Có tinh thần và năng lực làm chủ;
- Có đạo đức, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư;
- Có kiến thức khoa học kỹ thuật, nhạy bén với cái mới;
- Có tinh thần sáng tạo, dám nghĩ, dám làm
2.2 Quan điểm của Đảng ta về phát triển con người toàn diện
Sự thành công của quá trình phát triển kinh tế ở nước ta đòi hỏi ngoài môi trường chính trị ổn định, phải có những nguồn lực cần thiết như: nguồn lực con người, vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật, vị trí địa lý… Các nguồn lực này có quan hệ chặt chẽ với nhau cùng tham gia vào quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa nhưng với mức độ khác nhau trong đó nguồn lực con người là yếu tố quyết định
Ngày nay, đối với những nước lạc hậu đi sau, không thể phát triển nhanh chóng nếu không tiếp thu những tiến bộ khoa học kỹ thuật- công nghệ hiện đạicủa các nước phát triển Nhưng không phải cứ nhập công nghệ tiên tiến bằng mọi giá mà không cần tính đến yếu tố con người, còn nhớ rằng công nghệ tiên tiến của nước ngoài khi được tiếp thu sẽ phát huy tác dụng tốt hay bị lãng phí thậm chí bị phá hoại là hoàn toàn phụ thuộc vào hành vi của con người khi sử dụng chúng Đó là một điều rất đáng lưu ý
Nguồn lực con người có vai trò quyết định cho sự thành công của quá trình phát triển kinh tế đất nước Do vậy, muốn phát triển kinh tế thành công thì phải đổi mới cơ bản