1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài mẫu 2 quan điểm của triết học mác lê nin về con người và bản chất con người

15 18 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài Mẫu 2 Quan Điểm Của Triết Học Mác - Lê Nin Về Con Người Và Bản Chất Con Người
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 223,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Triết học luôn có một ý nghĩa to lớn trong lý luận, nhận thức và đời sống xã hội. Với tư cách là một khoa học, triết học không chỉ dừng lại ở việc diễn tả thế giới quan dưới dạng một hệ thống các phạm trù mà với phương thức tư duy đặc thù, triết học đã tạo nên một hệ thống lý luận chung nhất về thế giới như một chỉnh thể. Triết học nghiên cứu những vấn đề chung nhất của giới tự nhiên, của xã hội và đặc biệt là về con người. “Con người” trong triết học được lột tả một cách đậm nét và sâu sắc bởi con người là một tạo vật đặc biệt của thiên nhiên, có trí thông min, ngừng phát triển vượt bậc qua mọi thời đại và luôn có những khám phá mới của riêng mình. Con người không chỉ là đối tượng mà còn là chủ thể xuyên suốt trong các giai đoạn phát triển của triết học với nhiều quan điểm khác nhau, trở thành nguồn đề tài vô tận và làm cho lịch sử triết học trở nên phong phú và biến hóa hơn.

Trang 1

MỤC LỤC

-

PHẦN 1 : PHẦN MỞ ĐẦU 1 Lý do chọn đề tài .……… 02

2 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài …………02

3 Các phương pháp sử dụng .……….03

4 Cấu trúc đề tài ………03

PHẦN 2 : NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG I : QUAN ĐIỂM VỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC MÁC - LÊ NIN .….03

1.1 Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật với mặt xã hội .05

1.2 Bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội .…05

1.3 Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử .….07

CHƯƠNG II : QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG TA VỀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI TOÀN DIỆN VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY NGUỒN LỰC CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY………08

2.1 Quan điểm của Đảng tại Đại hội XIII về phát triển con người Việt Nam…….08

2.2 Phương hướng phát huy nguồn lực con người trong quá trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay……… ……….10

2.3 Những giải pháp đề xuất cho việc phát triển nguồn nhân lực ……….11

KẾT LUẬN …14

TÀI LIỆU THAM KHẢO 15

Trang 2

PHẦN 1 : PHẦN MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Triết học luôn có một ý nghĩa to lớn trong lý luận, nhận thức và đời sống

xã hội Với tư cách là một khoa học, triết học không chỉ dừng lại ở việc diễn tả thế giới quan dưới dạng một hệ thống các phạm trù mà với phương thức tư duy đặc thù, triết học đã tạo nên một hệ thống lý luận chung nhất về thế giới như một chỉnh thể Triết học nghiên cứu những vấn đề chung nhất của giới tự nhiên, của

xã hội và đặc biệt là về con người “Con người” trong triết học được lột tả một cách đậm nét và sâu sắc bởi con người là một tạo vật đặc biệt của thiên nhiên, có trí thông min, ngừng phát triển vượt bậc qua mọi thời đại và luôn có những khám phá mới của riêng mình Con người không chỉ là đối tượng mà còn là chủ thể xuyên suốt trong các giai đoạn phát triển của triết học với nhiều quan điểm khác nhau, trở thành nguồn đề tài vô tận và làm cho lịch sử triết học trở nên phong phú

và biến hóa hơn

Tính nhân văn và những vấn đề chung nhất về con người được lịch sử triết học đi sâu nghiên cứu giúp ta hiểu rõ hơn quá trình biến đổi của xã hội loài người thông qua các quan niệm rất khác nhau nhưng vẫn luôn hỗ trợ và bổ sung cho nhau Theo quan điểm mácxít, lịch sử triết học đóng vai trò quan trọng, đưa lại bức tranh của lịch sử, góp phần thúc đẩy các quá trình của sự phát triển nhằm đạt đến tiến bộ xã hội Lịch sử triết học cũng làm cho tư tưởng triết học của dân tộc ngày càng phong phú hơn, sống động hơn trong mối liên hệ chặt chẽ với sự phát triển chung của thế giới nhằm đạt tới một nền văn minh hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc Trên cơ sở đó, việc vận dụng những quan niệm tiến bộ trong triết học Mác, những thành tựu đạt được trong lịch sử triết học, để đưa ra những giải pháp nhằm phát huy nguồn lực con người trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta; đó là mục tiêu cao nhất, là động lực lớn nhất để xây dựng thành công xã hội mới

Trang 3

PHẦN 2 : NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG I QUAN ĐIỂM VỀ CON NGƯỜI TRONG

TRIẾT HỌC MÁC - LÊ NIN

Lịch sử hình thành triết học Mác nói riêng và chủ nghĩa Mác nói chung chứng tỏ : Con người là điểm xuất phát và sự nghiệp giải phóng con người làmục tiêu cao nhất của triết học Mác

Theo Mác, con người có đời sống hiện thực và biến đổi cùng với sự biến đổi đời sống hiện thực của nó Con người là một thực thể có nội dung hết sức phức tạp, phong phú, sự tồn tại của con người bao gồm nhiều mặt với vô số quan

hệ phức tạp Con người được nghiên cứu bởi nhiều khoa học, với đồi tượng khác nhau như : sinh học, tâm lý học, y học, dân tộc học, sử học…

Triết học Mác chỉ nghiên cứu những vấn đề chung nhất về con người như : bản chất con người, thế giới quan, tư duy, nhận thức, các quan hệ cá nhân và xã hội, quan hệ giao cấp, dân tộc, nhân loại… Với triết học Mác, vai trò con người càng cần được chú ý đặc biệt khi nghiên cứu các qui luật xã hội Bởi tính khách quan của các qui luật xã hội không thể hiểu theo nghĩa nó tác động tách rời với hoạt động của con người Nhìn chung, các trường phái triết học trước Mác đã xem xét con người một cách trừu tượng, đã tuyệt đối hóa mặt tinh thần hoặc thể xác của con người, tuyệt đối hóa mặt tự nhiên sinh học mà không thấy mặt xã hội trong đời sống con người

1.1 CON NGƯỜI LÀ MỘT THỰC THỂ THỐNG NHẤT GIỮA MẶT SINH VẬT VỚI MẶT XÃ HỘI

Chủ nghĩa Mác phân biệt rõ hai mặt trong khái niệm con người: mặt sinh vật và mặt xã hội Triết học Mác kế thừa những quan niệm về con người trong lịch sử và khẳng định con người hiện thực là sự thống nhất giữa yếu tố sinh học

Trang 4

và yếu tố xã hội Con người tự nhiên là con người mang đầy đủ bản tính sinh học Yếu tố sinh học là điều kiện đầu tiên quy định sự tồn tại của con người

Con người là sản phẩm của quá trình phát triển lâu dài của giới tự nhiên Các giai đoạn mang tính sinh học mà con người trải qua từ sinh thành phát triển đến mất đi quy định bản tính sinh học trong đời sống con người

Như vậy, con người trước hết là một tồn tại sinh vật, biểu hiện trong những

cá nhân là tổ chức cơ thể người và quan hệ của nó với tự nhiên Những thuộc tính, những đặc điểm sinh học, các giai đoạn phát triển khác nhau nói lên bản chất sinh học của cá nhân con người

Tuy nhiên, mặt tự nhiên không phải là yếu tố duy nhất quy định bản chất con người Đặc trưng cơ bản quy định sự khác biệt con người với thế giới loài vật

là mặt xã hội

Với phương pháp biện chứng duy vật, trước học Mác nhận thức bản chất con người một cách toàn diện, cụ thể trong toàn bộ tính hiện thực xã hội của nó,

mà trước hết là vấn đề sản xuất ra của cải vật chất Tính xã hội của con người biểu hiện trong sản xuất vật chất Thông qua sản xuất vật chất, con người tự thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần, hình thành ngôn ngữ, phát triển các năng lực tư duy, xác lập các quan hệ xã hội

Bởi vậy, lao động là yếu tố quyết định sự hình thành bản chất xã hội của con người, đồng thời hình thành nhân cách cá nhân trong cộng đồng xã hội Là sản phẩm của tự nhiên và xã hội, con người luôn luôn bị quyết định bởi ba hệ thống quy luật khác nhau nhưng thống nhất với nhau Đó là:

* Hệ thống các quy luật tự nhiên như quy luật về sự phù hợp giữa cơ thể với môi trường, quy luật về sự trao đổi chất, về di truyền, biến dị, tiến hóa … chúng quy định bản chất sinh học của con người

* Hệ thống quy luật tâm lý, ý thức hình thành và phát triển nền tảng sinh học của con người như tình cảm, khát vọng niềm tin, ý chí…

* Hệ thống các quy luật xã hội quy định quan hệ xã hội giữa người với người

Trang 5

Ba hệ thống quy luật trên cùng tác động tạo nên thể thống nhất hoàn chỉnh trong đời sống con người bao gồm cả mặt sinh học và mặt xã hội Mối quan hệ sinh học và xã hội là cơ sở để hình thành hệ thống các nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội trong đời sống con người như nhu cầu ăn, mặc, ở, nhu cầu tái sản xuất

xã hội, nhu cầu tình cảm, nhu cầu thẩm mỹ và hưởng thụ các giá trị tinh thần … Quan hệ giữa mặt sinh học và xã hội, cũng như nhu cầu xã hội trong mỗi con người là thống nhất Mặt sinh học là cơ sở tự nhiên tất yếu, còn mặt xã hội là đặc trưng bản chất để phân biệt con người với các loài động vật khác

Thông qua các mối quan hệ xã hội, các nhu cầu sinh học của con người đã mang giá trị văn hóa, văn minh; đến lượt nó, nhu cầu xã hội không thể thoát ly khỏi tiền đề sinh học Hai mặt thống nhất hoà quyện vào nhau tạo thành con người tự nhiên - xã hội

1.2 BẢN CHẤT CON NGƯỜI LÀ TỔNG HÒA CÁC MỐI QUAN HỆ XÃ HỘI

Vấn đề con người, bản chất và tồn tại con người, vấn đề giải phóng con người, giải phóng nhân loại, v.v luôn là đối tượng nghiên cứu của chủ nghĩa Mác Khi xây dựng quan niệm của mình về con người nói chung và quan niệm về bản chất con người nói riêng, C.Mác và Ph Anghen đã tiếp thu một cách có chọn lọc,

có phê phán quan niệm của các nhà triết học tiền bối, đặc biệt là quan niệm của hai nhà triết học cổ điển Đức - Hêgen và L Phoiơbắc

“Bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội” -Luận điểm này cho thấy con người là một thực thể có tính loài Đặc tính “loài” của con người hiện thực tức là tính người Tính người bào gồm toàn bộ các thuộc tính vốn có của con người, trong đó ba thuộc tính cơ bản nhất đó là thuộc tính tự nhiên, thuộc tính xã hội và thuộc tính tư duy Trong ba thuộc tính này thì thuộc tính tự nhiên là điều kiện sinh lý để loài người sinh tồn và phát triển, nó đóng vai trò là cơ sở vật chất của thuộc tính xã hội, tư duy, nhưng thuộc tính tự nhiên chỉ biểu thị mặt nguồn gốc và liên hệ giữa con người với các sinh vật khác, nó chưa nói lên được sự khác nhau căn bản giữa con người và con vật vì thế nó không phải là thuộc tính bản

Trang 6

chất của con người Còn thuộc tính tư duy của con người (ngôn ngữ, tư duy, lý tính,…) là hiện tượng riêng có ở loài người, song nó cũng không phải thuộc tính bản chất vì nó không có ý nghĩa chi phối đối với các thuộc tính khác Chỉ có thuộc tính xã hội là thuộc tính chế ước và quy định thuộc tính tư duy và thuộc tính tự nhiên của con người, khiến cho dấu ấn xã hội được in đậm, thấm sâu vào nội dung của các thuộc tính đó Bởi do tác động của thuộc tính xã hội mà các nhu cầu tự nhiên ở con người đã bị xã hội hóa và ý thức, ngôn ngữ, v.v của con người là sản phẩm của xã hội, mang tính xã hội

Theo quan niệm triết học Mác, tồn tại con người là tồn tại mang tính tự nhiên, con người là bộ phận của tự nhiên, là sản phẩm cao nhất trong quá trình phát triển của tự nhiên Cùng với đó, con người còn là một thực thể xã hội Con người vừa

là sản phẩm của tự nhiên, vừa là sản phẩm của xã hội và do vậy yếu tố sinh học trong mỗi con người không tồn tại bên cạnh yếu tố xã hội mà chúng hòa quyện vào nhau tồn tại trong yếu tố xã hội Do đó, bản tính tự nhiên của con người được chuyển vào bản tính xã hội và được cải biến trong đó

Con người là một thực thể hiện thực, thực thể sinh học - xã hội và trong tính hiện thực ấy, “bản chất con người là tổng hòa những mối quan hệ xã hội” Quan

hệ xã hội đây được hiểu là tổng thể những quan hệ mà con người đã có, đang có

và trong chừng mực nào đó nó còn bao hàm cả những quan hệ trong tương lai Các quan hệ xã hội của loài người bao gồm hai loại quan hệ: Quan hệ vật chất (quan hệ sản xuất) và quan hệ tư tưởng (quan hệ chính trị, pháp luật, đạo đức v.v) trong đó quan hệ vật chất qui định quan hệ tư tưởng Chỉ có đặt con người trong tổng hòa các quan hệ xã hội đó để tiến hành khảo sát, tổng hợp thì mới có thể nắm được toàn diện bản chất con người Bản chất con người không phải là cái gì nhất thành bất biến mà luôn vận động, phát triển cùng với sự vận động, phát triển, biến đổi của hoàn cảnh sống, với những biến đổi của thời đại, gắn liền với phương thức sản xuất ra của cải vật chất Chính vì vậy mà thời nào thì sản sinh ra con người của thời đại ấy

Trang 7

Bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội nhưng con người bao giờ cũng là con người riêng biệt con người cụ thể ứng với những thời đại, những giai đoạn lịch sử nhất định, với từng tập đoàn người, đồng thời nó cũng mang bản chất chung của nhân loại, phát triển trong toàn bộ lịch sử loài người Mỗi cá nhân từ khi sinh ra buộc phải tiếp nhận những quan hệ xã hội đã có và đang có, quá trình con người lớn lên, trưởng thành, nắm bắt văn hóa xã hội, hòa nhập vào xã hội, hòa nhập vào các quan hệ xã hội, quá trình xã hội hóa ấy chính là quá trình hình thành bản chất con người, không những là cơ sở để phân biệt sự khác nhau giữa con người và con vật mà còn là cơ sở để phân biệt giữa cá nhân với cá nhân trong cộng đồng, bởi vì mỗi cá nhân do hoạt động thực tiễn của họ khác nhau cho nên quan hệ xã hội của họ cũng khác nhau Tổng hòa các quan hệ xã hội không những cho phép giải thích bản chất cộng đồng của loài người mà còn giải thích được bản chất đặc thù của cá nhân trong cộng đồng đó

1.3 CON NGƯỜI LÀ CHỦ THỂ VÀ LÀ SẢN PHẨM CỦA LỊCH SỬ

Không có thế giới tự nhiên, không có lịch sử xã hội thì không tồn tại con người Bởi vậy, con người là sản phẩm của lịch sử, của sự tiến hóa lâu dài của giới hữu sinh

Song, điều quan trọng hơn cả là con người là chủ thể của lịch sử xã hội Với

tư cách là thực thể xã hội, con người hoạt động thực tiễn, tác động vào tự nhiên, cải biến giới tự nhiên, đồng thời thúc đẩy sự vận động phát triển của lịch sử, xã hội

Trong quá trình cải biến giới tự nhiên, con người cũng làm ra lịch sử của mình Con người là sản phẩm của lịch sử đồng thời là chủ thể sáng tạo ra lịch sử Hoạt động lao động sản xuất vừa là điều kiện cho sự tồn tại vừa là phương tiện

để biến đổi đời sống xã hội

Trên cơ sở nắm bắt các quy luật của tự nhiên và xã hội, con người thông qua hoạt động thực tiễn thúc đẩy xã hội phát triển từ thấp đến cao, phù hợp với mục tiêu và nhu cầu do con người đề ra

Trang 8

Bản chất con người trong mối quan hệ với điều kiện lịch sử, xã hội luôn vận động, biến đổi cũng phải thay đổi cho phù hợp Bản chất con người không phải là một hệ thống đóng kín, mà là một hệ thống mở, tương ứng với điều kiện tồn tại của con người Có thể nói rằng mỗi sự vận động tiến lên của lịch sử sẽ quy định tương ứng với sự vận động và biến đổi của bản chất con người

Vì vậy, để phát triển, hoàn thiện bản chất con người theo hướng tích cực, cần phải làm cho hoàn cảnh ngày càng mang tính người nhiều hơn Hoàn cảnh đó chính là toàn bộ môi trường tự nhiên và xã hội tác động đến con người theo khuynh hướng phát triển nhằm đạt tới các giá trị có tính mục đích, tự giác, có ý nghĩa định hướng giáo dục Thông qua đó, con người tiếp cận hoàn cảnh một cách tích cực và tác động tích cực trở lại hoàn cảnh bằng nhiều phương thức khác nhau

CHƯƠNG II QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG TA VỀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI TOÀN DIỆN VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY NGUỒN LỰC CON

NGƯỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1 Quan điểm của Đảng tại Đại hội XIII về phát triển con người Việt Nam

Quan điểm con người là trung tâm của sự phát triển đã trở thành định hướng chiến lược, triết lý hành động xuyên suốt quá trình phát triển của đất nước ta Có thể nói, trải qua các thời kỳ khác nhau, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra nhiều quan điểm và giải pháp phát huy nhân tố con người, nhằm khơi dậy tiềm năng, sức sáng tạo, lòng tự tôn tự hào dân tộc, nhân cách cao đẹp của con người Việt Nam để xây dựng và phát triển đất nước Nghị quyết các kỳ đại hội của Đảng đều khẳng định: Con người là vốn quý nhất, chăm lo hạnh phúc con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta… Phát triển con người - nhân tố quyết định sự phát triển xã hội, thể hiện trong quan điểm của Đảng tại Đại hội XIII là sự minh

Trang 9

chứng sâu sắc cho quan điểm mang tính chiến lược: Tất cả do con người, tất cả vì con người, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển

Kế thừa và phát triển những nội dung cốt lõi về vấn đề con người trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Đại hội XIII của Đảng

đã khái quát và đề ra những mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể về xây dựng, phát triển con người Việt Nam toàn diện, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững kinh tế - xã hội đất nước

Để phát huy sức mạnh nguồn lực con người cần phải hết sức quan tâm cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân, thực hiện đầy đủ các quyền con người, quyền lợi của người dân được ghi nhận trong Hiến pháp Bảo đảm quyền con người phải là khâu kết nối cần thiết, không thể thiếu giữa khâu lấy con người làm trung tâm và phát triển con người toàn diện

Đi đôi với đường lối tiếp tục đổi mới phát triển kinh tế, Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh việc phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam Trong

đó, Đại hội nêu bật chủ trương: “Tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới Quan tâm chăm lo công tác giáo dục, bồi dưỡng và bảo vệ trẻ em, thiếu niên, nhi đồng Tăng cường giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thanh niên Thực hiện những giải pháp đột phá nhằm ngăn chặn có hiệu quả sự xuống cấp về đạo đức, lối sống, đẩy lùi tiêu cực xã hội và các tệ nạn xã hội Bảo vệ và phát huy các giá trị tốt đẹp, bền vững trong truyền thống văn hóa Việt Nam Đẩy mạnh giáo dục nâng cao nhận thức, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc của người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ Từng bước vươn lên khắc phục các hạn chế của con người Việt Nam; xây dựng con người Việt Nam thời đại mới, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống

và giá trị hiện đại”4

Trang 10

2.2 Phương hướng phát huy nguồn con người trong quá trình xây dụng Chủ nghĩa xã hội ở nước ta

Yêu cầu về nguồn con người giai đoạn hiện nay đã có nhiều thay đổi so với trước Trước đây các tiêu chuẩn thường được đưa ra là : tính tốt, cần cù, trung thành, có trách nhiệm… Nhưng ngày nay những tiêu chuẩn này đã có sự thay đổi đòi hỏi phải có tính sách tạo, khả năng xử lý tốt vấn đế, khả năng phân

tích, khả năng giao tiếp, có tinh thần đồng đội

Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VIII, một quan điểm rất cơ bản được khẳng định: “tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và suốt quá trình phát triển” Quan điểm này được diễn đạt cụ thể hơn trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX: “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Đó là quan điểm giải phóng dân tộc phải kết hợp chặt chẽ với giải phóng xã hội và giải phóng con người; giành độc lập cho Tổ quốc phải đi liền với thống nhất Tổ quốc và đem lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân

Chiến lược phát triển con người ở nước ta, về thực chất, là tổng thể những giải pháp nhằm nâng cao nhân cách con người Việt Nam lên ngang tầm thời đại Nói cách khác, nhân cách là một tổng thể những giá trị được sắp xếp trong một cấu trúc chặt chẽ với sự nổi bật của hai nhân tố cốt lõi: đức – tài Chính vì thế, khi nói về con người, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nói về đức – tài, về mối quan hệ giữa đức - tài Theo Người, có tài mà không có đức thì hỏng, ngược lại nếu không

có tài thì không thể làm việc được Người luôn gắn phẩm chất chính trị với trình

độ học vấn, chuyên môn Tư tưởng này là cơ sở của một phương hướng phát triển con người ở nước ta

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX đã gắn việc phát huy nguồn lực con người với sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc ta Đại hội nêu chủ trương lớn:

“Thực hiện đại đoàn kết các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, tầng lớp, thành phần kinh

tế, mọi giới, mọi lứa tuổi, mọi vùng của đất nước, người trong Đảng và người

Ngày đăng: 19/12/2023, 21:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm