Khái niệm CN tự do kinh tế là các lý thuyết tư sản coi nền kinh tế tư bản chủ nghĩa là hệ thống hoạt động tự động, do các quy luật kinh tế khách quan tự phát điều tiết.. Học thuyết kinh
Trang 1Chương 1:
LÝ THUYẾT CHUNG VỀ TỰ DO KINH TẾ
1.1 Khái niệm
CN tự do kinh tế là các lý thuyết tư sản coi nền kinh tế tư bản chủ nghĩa là hệ thống hoạt động tự động, do các quy luật kinh tế khách quan tự phát điều tiết Tư tưởng cơ bản của nó là tự do kinh doanh, tự do tham gia thị trường, chống lại sự can thiệp của Nhà nước vào kinh tế
1.2 Các học thuyết kinh tế về tư tưởng tự do kinh tế
Những người đề xướng ra tư tưởng tự do kinh tế là các nhà kinh tế học tư sản
cổ điển, bắt đầu từ W.Petty Tư tưởng tự do kinh tế được tiếp tục phát triển trong tác phẩm nghiên cứu về nguyên nhân và bản chất giàu có của các dân tộc của A.Smith Từ những năm 30 của thế kỷ 20 trở về trước là thời của chủ nghĩa tự do cũ Với sự phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước và sự xuất hiện của lý thuyết Keynes, lần đầu tiên chủ nghĩa tự do mất vị trí thống trị Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới tư bản chủ nghĩa càng làm tan rã tư tưởng của trường phái kinh tế Thêm vào đó những thành tựu quản lý kinh tế theo kế hoạch ở các nước xã hội chủ nghĩa càng tác động mạnh mẽ tới tư tưởng tự do kinh tế Do đó, tư tưởng tự do kinh tế mới xuất hiện
1.2.1 Lý thuyết kinh tế của trường phái tư sản cổ điển:
Cuối thế kỷ 18, ở Anh và Pháp học thuyết kinh tế cổ điển xuất hiện Vào thời kỳ này, sau khi tích luỹ được khối lượng tiền tệ lớn, giai cấp tư sản tập trung phát triển lĩnh vực sản xuất Sự tồn tại của chế độ phong kiến không chỉ kìm hãm sự phát triển của chủ nghĩa tư bản mà còn làm sâu sắc hơn mâu thuẫn trong giai cấp quý tộc Do sự phát triển của công trường thủ công, tư bản đã chuyển sang sản xuất Nhiều vấn đề kinh tế của sản xuất đặt ra vượt quá khả năng giải thích của học thuyết chủ nghĩa trọng thương, học thuyết kinh tế cổ điển xuất hiện
Học thuyết kinh tế cổ điển là xu hướng của tư tưởng kinh tế tư sản phát sinh trong thời kỳ hình thành phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Các nhà kinh tế học của trường phái này lần đầu tiên chuyển đối tượng nghiên cứu từ lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vực sản xuất, nghiên cứu các vấn đề kinh tế của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa đặt ra Lần đầu tiên, họ xây dựng một hệ thống các phạm trù và quy luật của nền kinh tế thị trường như phạm trù giá trị, giá cả, lợi nhuận, tiền lương, địa tô, lợi tức, các quy luật giá trị cung cầu, lưu thông tiền tệ… Lần đầu tiên họ áp dụng phương pháp trừu tượng hoá Họ ủng hộ tư tưởng tự do kinh tế chống lại sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế
Trang 2W.Petty là người áp dụng phương pháp mới trong nghiên cứu khoa học, gọi là phương pháp khoa học tự nhiên Về bản chất, đó là phương pháp nghiên cứu thừa nhận
và tôn trọng các quy luật khách quan, vạch ra mối liên hệ phụ thuộc, nhân quả giữa các
sự vật, hiện tượng Ông viết “trong chính sách và trong kinh tế phải tính đến những quá trình tự nhiên, không nên dùng hành động cưỡng bức để chống lại quá trình đó”
Đó là mầm mống của tư tưởng tự do cạnh tranh mà các đại biểu sau này của phái cổ điển và những người kế tục họ phát triển
Trường phái trọng nông chuyển đối tượng nghiên cứu sang lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, ủng hộ tư tưởng tự do kinh tế Điều đó thể hiện ở thuyết quyền tự nhiên của F.Quesnay Theo Quesnay có hai loại quy luật tự nhiên: quy luật vật lý và quy luật luân lý Quy luật luân lý cũng tất yếu như quy luật vật lý, họ kêu gọi nên tuân theo quyền tự nhiên và trật tự tự nhiên Nội dung cơ bản của học thuyết về luật tự nhiên của Quesnay là thừa nhận vai trò tự nhiên của con người, coi đó là luật tự nhiên của con người, không thể thiếu được Chống lại chế độ phong kiến và xem nó là một chế độ không bình thường Chủ trương có sự tự do cạnh tranh giữa những người sản xuất, đưa
ra khẩu hiệu: tự do buôn bán, tự do hoạt động
Điểm xuất phát trong phân tích kinh tế của A.Smith là nhân tố con người kinh
tế Theo ông, xã hội loài người là một liên minh trao đổi Thiên hướng trao đổi là đặc tính vốn có của con người Trong khi trao đổi sản phẩm và lao động cho nhau, phục vụ lẫn nhau thì con người bị chi phối bởi lợi ích cá nhân Mỗi người chỉ biết tư lợi, song khi chạy theo tư lợi thì có một bàn tay vô hình buộc con người kinh tế đồng thời thực hiện một nhiệm vụ không nằm trong dự kiến, là đáp ứng lợi ích cho xã hội và đôi khi còn đáp ứng lợi ích xã hội tốt hơn Bàn tay vô hình đó chính là các quy luật kinh tế khách quan tự phát hoạt động, chi phối hành động của con người Ông gọi hệ thống các quy luật kinh tế khách quan đó là trật tự tự nhiên Ông chỉ ra điều kiện cần thiết để các quy luật kinh tế khách quan hoạt động là phải có sự tồn tại phát triển của sản xuất
và trao đổi hàng hoá, nền kinh tế phải phát triển trên cơ sở tự do kinh tế, tự do mậu dịch Quan hệ giữa người với người là quan hệ phụ thuộc về kinh tế Từ đó, ông cho rằng nhà nước không nên can thiệp vào kinh tế Ông cho rằng quy luật kinh tế là vô địch, mặc dù chính sách kinh tế có thể kìm hãm hay thúc đẩy sự hoạt động của quy luật kinh tế Muốn xã hội giàu có phải phát triển kinh tế theo tinh thần tự do
Nếu như A.Smith sống trong thời kỳ công trường thủ công phát triển mạnh mẽ thì D.Ricardo sống trong thời kỳ cách mạng công nghiệp Học thuyết thực hiện và khủng hoảng kinh tế, lý thuyết lợi thế so sánh cũng thể hiện rõ tư tưởng về tự do kinh tế
1.2.2 Học thuyết kinh tế tư sản hiện đại
Trang 3Từ cuối thế kỷ 19 đến nay, sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, khoa học kỹ thuật làm cho chủ nghĩa tư bản một mặt phát triển nhanh chóng, một mặc khác làm tăng thêm những mâu thuẫn, những hạn chế vốn có của nó
Sau thời kỳ trường phái kinh tế tư sản cổ điển suy đồi thì trường phái cổ điển mới xuất hiện Với tư cách là trường phái kinh tế chủ chốt của thời kỳ cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, vẫn ủng hộ tư tưởng tự do kinh tế song phê phán lý thuyết giá trị lao động của trưởng phái cổ điển Vào những năm 30 của thế kỷ 20, các nhà kinh tế trường phái Keynes cho rằng nguyên nhân của khủng hoảng và thất nghiệp là nhà nước không can thiệp vào kinh tế Sự ra đời và phát triển của trường phái chính hiện đại với đặc trưng là kết hợp giữa hai cơ chế kinh tế là cơ chế kinh tế thị trường với cơ chế, vai trò của chính phủ để hình thành nên cơ chế kinh tế hỗn hợp Đặc điểm nổi bật khác là lượng hoá các quy luật kinh tế
Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, những mâu thuẫn vốn có và những khó khăn về kinh tế của chủ nghĩa tư bản ngày càng trầm trọng, khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp càng làm tăng thêm mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh giai cấp Chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh chuyển sang chủ nghĩa tư bản độc quyền ở các nước tư bản làm nảy sinh nhiều hiện tượng kinh tế xã hội Chủ nghĩa Mác ra đời với bản chất cách mạng và khoa học đã chỉ ra xu hướng vận động tất yếu của xã hội loài người Trước bối cảnh đó, các học thuyết kinh tế của trường phái tư sản cổ điển tỏ ra bất lực trong việc bảo vệ chủ nghĩa tư bản Trường phái cổ điển mới ủng hộ tự do cạnh tranh, chống lại sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế, họ tin tưởng chắc chắn cơ chế thị trường tự phát sẽ đảm bảo thăng bằng cung cầu, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển Trường phái cổ điển mới dựa vào yếu tố tâm lý chủ quan để giải thích các hiện tượng và quá trình kinh tế xã hội Theo thuyết giá trị chủ quan, cùng một hàng hoá với người cần nó hay ích lợi nhiều thì giá trị sẽ lớn và ngược lại
Lý thuyết về giá cả của Leon Walras cho rằng trao đổi là một sự kiện xã hội, một sự kiện khách quan, ông chủ trương phân tích thị trường tự do cạnh tranh, trên thị trường tự do cạnh tranh hai bên trao đổi với nhau và đều muốn đổi sản phẩm mà mình muốn và cung của người này tạo thành cầu của người kia
Lý thuyết cân bằng tổng quát được các nhà kinh tế học tư sản đánh giá cao Trong kinh tế học tư sản, lý thuyết này phản ánh sự phát triển tư tưởng bàn tay vô hình của A.Smith về tự do kinh tế Theo Leon Walras, trong cơ cấu nền kinh tế thị trường có ba loại thị trường là thị trường sản phẩm, thị trường tư bản, thị trường lao động Ba thị trường này độc lập với nhau song nhờ hoạt động của doanh nhân nên có quan hệ với nhau Điều kiện để có sự
Trang 4cân bằng là cân bằng giữa thu nhập bán hàng và chi phí sản xuất Trong nền kinh tế tự do cạnh tranh, trạng thái cân bằng này được thực hiện thông qua dao động tự phát của cung cầu và giá cả hàng hoá trên thị trường
Lý thuyết giá cả của trường phái Cambridge: giá cả được hình thành theo người mua và người bán, giá cả thị trường là kết quả của sự va chạm giá cả giữa người mua và người bán, tức là sự va chạm giữa cầu và cung, sự va chạm này hình thành nên giá cả cân bằng
Chủ nghĩa tự do mới là một trong các trào lưu tư tưởng tư sản hiện đại Họ muốn áp dụng và kết hợp tất cả các quan điểm cũng như phương pháp luận của các trường phái tự do cũ, trường phái Keynes để hình thành tư tưởng mới điều tiết nền kinh tế tư bản chủ nghĩa Tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa tự do mới là cơ chế thị trường
có sự điều tiết của nhà nước ở một mức độ nhất định Họ đưa ra khẩu hiệu thị trường nhiều hơn, nhà nước can thiệp ít hơn Họ đặc biệt nhấn mạnh yếu tố tâm lý của các cá nhân trong việc quyết định sản xuất và tiêu dùng
Chủ nghĩa tự do mới ở Đức: sau chiến tranh thế giới thứ hai, về lý thuyết cũng như thực tiễn sự điều tiết độc tài phát xít dựa trên cơ sở lý thuyết chủ nghĩa tư bản có điều tiết không mang lại hiệu quả cho nền kinh tế, họ phê phán chủ nghĩa độc tài dân tộc, kinh tế chỉ huy và ủng hộ mạnh mẽ quan điểm tự do, sức mạnh tự do, kinh tế thị trường tự do Lý thuyết về nền kinh
tế thị trường xã hội cho rằng nền kinh tế thị trường xã hội kết hợp nguyên tắc tự do với nguyên tắc công bằng xã hội, nhà nước chỉ can thiệp ở mức độ tối thiểu còn chủ yếu để cho chính nền kinh tế tự thân vận động Một trong 6 tiêu chuẩn của nền kinh tế thị trường xã hội là đảm bảo quyền tự do cá nhân
và đảm bảo công bằng xã hội
Lý thuyết kinh tế của trường phái trọng tiền ở Mỹ: Lý thuyết tiền tệ của trường phái trọng tiền hiện đại nhằm điều tiết mức cung tiền tệ và chống lạm phát Các đại biểu phái trọng tiền hiện đại ủng hộ và bảo vệ quan điểm
tự do kinh doanh, ủng hộ chế độ tư hữu, bảo vệ quyền tự do hoạt động và trách nhiệm của chủ doanh nghiệp Theo họ, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa thường xuyên ở trạng thái cân bằng động, đó là hệ thống tự điều chỉnh, hoạt động dựa vào các quy luật kinh tế vốn có của nó, do đó cần phải dựa vào thị trường, nhà nước không nên can thiệp vào kinh tế
Trường phái chính hiện đại: trong quá trình phê phán học thuyết Keynes, những nhà kinh tế học cổ điển mới không thể phủ nhận vai trò ngày càng tăng của nhà nước
tư bản trong điều chỉnh kinh tế, mặc dù họ chỉ thừa nhận sự can thiệp đó trong phạm vi hạn chế Trong những năm 60-70 của thế kỷ 20, diễn ra sự xích lại giữa hai trường
Trang 5phái Keynes chính thống và cổ điển mới hình thành nên kinh tế học của trường phái chính hiện đại Trường phái chính hiện đại sử dụng một cahcs tổng hợp các quan điểm kinh tế của các xu hướng, các trường phái kinh tế học để đưa ra các lý thuyết kinh tế của mình, nhằm làm cơ sở lý thuyết cho hoạt động của doanh nghiệp và chính sách kinh tế của nhà nước tư sản Lý thuyết về nền kinh tế hỗn hợp, theo Samuelson, cơ chế thị trường là một hình thức tổ chức kinh tế trong đó cá nhân người tiêu dùng và các nhà kinh doanh tác động lẫn nhau qua thị trường để xác định ba vấn đề trung tâm của
tổ chức kinh tế là sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai Kinh tế thị trường phải được hoạt động trong môi trường cạnh tranh do các quy luật kinh tế khách quan chi phối