LỜI MỞ ĐẦU LỜI MỞ ĐẦU Ngày nay, cuộc sống hiện đại đang có sự phân cực lớn về mức sống, lối sống và sản xuất Dân số ngày càng tăng và mức tiêu dùng cũng tăng kể cả về số lượng, chất lượng và chủng loạ[.]
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, cuộc sống hiện đại đang có sự phân cực lớn về mức sống, lối sống vàsản xuất Dân số ngày càng tăng và mức tiêu dùng cũng tăng kể cả về số lượng, chấtlượng và chủng loại; cách thức sản xuất ngày càng đa đạng; quá trình đô thị hóa, côngnghiệp hóa đất nước cùng với các hoạt động kinh tế - xã hội được đẩy mạnh đang gâysức ép không nhỏ đến môi trường, làm cho môi trường ngày càng biến đổi sâu sắc theochiều hướng không có lợi, tác động xấu đến hệ sinh thái Tài nguyên ngày càng cạnkiệt nhanh cùng với phương tiện khai thác hiện đại nên gây ra nguy cơ khủng hoảng vềtài nguyên thiên nhiên cho thế hệ mai sau Trong xu thế hội nhập, những năm qua ViệtNam đã đạt được nhiều thành tựu kinh tế - xã hội quan trọng, vượt qua những tác độngcủa suy thoái toàn cầu và duy trì được tỷ lệ tăng trưởng kinh tế hàng năm cao Tuynhiên, nước ta vẫn đang phải đối mặt với rất nhiều thách thức, trong đó có vấn đề suythoái môi trường gay gắt và nhiều hậu quả của biến đổi khí hậu khôn lường Ô nhiễmmôi trường tại các đô thị, khu công nghiệp, làng nghề, các lưu vực sông trên cả nước
và nhiều vấn đề môi trường bức xúc khác đã trở thành những vấn đề nóng và là mốiquan tâm của toàn xã hội
Sau một quá trình học tập và nghiên cứu bộ môn Kinh tế phát triển và được sựgiảng dạy của Giảng viên, Thạc sĩ Lương Thị Ngọc Oanh, dựa trên những thực trạng
về môi trường Việt Nam cùng những kiến thức đã học, nhóm chúng tôi quyết địnhthực hiện quá trình nghiên cứu về đề tài “Môi trường và phát triển bền vững”
Mục tiêu nghiên cứu: dựa trên việc lựa chọn đề tài môi trường và phát triển bềnvững nhằm các mục đích sau: phân tích các ảnh hưởng của môi trường trên cácphương diện đất, nước, không khí, đại dương, hệ sinh học; nhận thức rõ các nguy cơ,mặt lợi, mặt hại của sự phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, hướng đến sự pháttriển bền vững
Phạm vi nghiên cứu: Đánh giá môi trường Việt Nam năm 2010 và tác động đếnquá trình phát triển bền vững ở nước ta
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu đề tài này thông qua việc thu thập, phântích các tài liệu có liên quan đến môi trường và phát triển bền vững, các bài báo, cáctác phẩm nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước và nước ngoài đã được công bố,các tài liệu, giáo trình môn kinh tế phát triển, các số liệu thống kê, các quan sát thực tế
Trang 2Trong bài tiểu luận không thể tránh khỏi những thiếu sót mong cô giáo và cácbạn cùng góp ý để bài viết của nhóm chúng tôi được hoàn thiện hơn Chúng tôi xin gửilời cám ơn đến giảng viên: Thạc sĩ Lương Thị Ngọc Oanh đã hướng dẫn nhóm hoànthành đề tài nghiên cứu này
Trang 3“ Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo, quan hệmật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồntại, phát triển của con người và thiên nhiên.”(điều 1 Luật bảo vệ môi trường của ViệtNam).
1.2 Phát triển bền vững
Đây là khái niệm hoàn toàn mới mẻ, xuất hiện trên cơ sở đúc kết kinh nghiệmphát triển của các quốc gia trên thế giới từ trước tới nay, phản ánh xu thế của thời đại
và định hướng tương lai của loài người
Năm 1987,Uỷ ban thế giới về Môi trường và Phát triển đã công bố báo cáo: “Pháttriển bền vững là sự phát triển đáp ứng được các nhu cầu của hiện tại mà không tổn hạiđến khả năng đáp ứng các nhu cầu khác của tương lai” Có thể coi đây là định nghĩađầu tiên được sử dụng và hiện vẫn được sử dụng trong các văn bản của chương trìnhmôi trường Liên hợp quốc
Phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội côngbằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ Để đạt được điều này, tất cả các thành phầnkinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội phải bắt tay nhau thực hiện nhằmmục đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế - xã hội - môi trường
2 Các chỉ tiêu đánh giá môi trường dưới góc độ phát triển bền vững theo Uỷ ban PTBV của Liên hợp quốc
Uỷ ban PTBV của LHQ (CSD) được ra đời năm 1992 do sự ủng hộ của Hội đồngKinh tế và Xã hội thuộc LHQ và là kết quả trực tiếp của Hội nghị LHQ về môi trường
và phát triển Một yếu tố quan trọng trong hoạt động của Uỷ ban này là tập trung vàoviệc xây dựng và thử nghiệm một bộ gồm 58 tiêu chí (lúc đầu là 134) Bộ tiêu chí này
Trang 4đã bao quát các khía cạnh xã hội, môi trường, kinh tế và thể chế của phát triển bềnvững Mặc dù ý định ban đầu là xây dựng một bộ tiêu chí chung ở cấp quốc gia, sau đó
sẽ xuất bản như một bộ số liệu toàn diện theo từng thời kỳ, nhưng hiện nay CSD vẫnthận trọng nhấn mạnh rằng Bộ tiêu chí đó chỉ được sử dụng cho các quốc gia trên cơ
sở tự nguyện, phù hợp với các điều kiện riêng của mỗi nước và sẽ không liên quan tớibất cứ một điều kiện nào về tài chính, kỹ thuật và thương mại Đây là bộ chỉ thị đượcnhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam lựa chọn để xây dựng bộ tiêu chí đánh giá pháttriển bền vững cho quốc gia mình
Bộ chỉ tiêu đánh giá môi trường dưới góc độ phát triển bền vững của LHQ:
1.KK 1 Thay đổi khí hậu 1 Phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính
2 Phá huỷ tầng ôzôn 2 Mức độ tàn phá tầng ôzôn
3 Chất lượng KK 3 Mức độ tập trung của chất thải khí khu vực đô thị2.Đất 4 Nông nghiệp 4 Đất canh tác và diện tích cây lâu năm
5 Sử dụng phân hoá học
6 Sử dụng thuốc trừ sâu4.Rừng 7 Tỷ lệ che phủ rừng
8 Cường độ khai thác gỗ
5 Hoang hoá 9 Đất bị hoang hoá
6 Đô thị hoá 10 Diện tích đô thị chính thức và phi chính thức3.Đạidương,
biển,bờ biển 7 Khu vực bờ biển 11 Mức độ tập trung của tảo trong nước biển
12.% dân số sống ở khu vực bờ biển
8 Ngư nghiệp 13 Loài hải sản chính bị bắt hàng năm4.Nước sạch 14 Mức độ cạn kiệt của nguồn nước ngầm và nước
mặt so với tổng nguồn nước
9 Chất lượng nước 15 BOD của khối nước
16 Mức tập trung của Faecal Coliform
5 ĐDSH 10 Hệ sinh thái 17 Diện tích hệ sinh thái chủ yếu được lựa chọn
18 Diện tích được bảo vệ so với tổng diện tích
11 Loài 19 Sự đa dạng của số loài được lựa chọn
Ngoài bộ chỉ tiêu đánh giá của LHQ, nhóm cũng kết hợp với các chỉ tiêu đánh giá màViệt Nam đưa ra để lựa chọn những chỉ tiêu phù hợp nhất cho bài tiểu luận
II Đánh giá môi trường Việt Nam giai đoạn 2006-2011 dưới góc độ phát triển bền vững
1.Môi trường không khí
1.1 Hiện tượng hiệu ứng nhà kính
Theo thống kê về phát thải khí nhà kính tại Việt Nam gần đây nhất năm 2000 thì
tỷ lệ phát thải của nước ta khá khả quan
Trang 5Bảng 1: Tỷ lệ phát thải ước tính trên thế giới
Theo thống kê năm 2000 thì nước ta thải 150,9 triệu tấn CO2 tương đương trong
đó ngành nông nghiệp thải ra nhiều nhất với 65 triệu tấn tương đương 43,1% tiếp đến
là lĩnh vực năng lượng (35%) còn lại là từ công nghiệp, chất thải và lâm nghiệp
Xét về việc giảm phát thải khí nhà kính ở nước ta thì chỉ có ngành lâm nghiệp vàchuyển đổi đất là có hiệu quả nhất, theo đó thì hấp thụ CO2 tương đương từ rừng vàcác vùng đất khác là 75,74 triệu tấn, từ việc chuyển đổi sử dụng đất và từ mặt đất là90,85 triệu tấn
Trong tống số những chất khí nhà kính (quy ra CO2) cho thấy lượng CO2 là 67,8tiệu tấn (44,9%), CH4 là 44%, N2O là 11%
Nông nghiệp là nguồnphát thải khí CH4, N2O chiếm 75% - 80% chủ yếu, và CO2 đươc tạo ra chủ yếu trongnăng lượng chiếm 70%
Năm 2000 tỷ lệ phát thải chủ yếu là nông nghiệp, nhưng theo tốc độ phát triểnhiện nay thì lượng phát thải khí nhà kính sẽ còn tăng mạnh
2.1 Mức độ tập trung của chất thải khí khu vực đô thị
Trang 6Các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia ngày càng tập trung trongcác đô thị Năng lượng tiêu thụ ở các đô thị có thể chiếm tới 3/4 tổng năng lượng tiêuthụ của quốc gia Năng lượng tiêu thụ, tức là tiêu thụ nhiên liệu than, dầu, xăng, khíđốt càng nhiều, nguồn khí thải ô nhiễm càng lớn, do đó các vấn đề ô nhiễm không khítrầm trọng thường xảy ra ở các đô thị, đặc biệt là thường xảy ra ở các đô thị lớn.
Môi trường không khí đô thị bị ô nhiễm bụi có tính phổ biến, nặng nề và ô nhiễmcác khí độc hại có tính cục bộ
Thực trạng:
- Ô nhiễm bụi:
Môi trường không khí xung quanh của hầu hết các khu vực trong thành phố đều
bị ô nhiễm bụi, đặc biệt là ở các nút giao thông, các khu vực có công trường xây dựng
và nơi tập trung hoạt động sản xuất công nghiệp
Tình trạng ô nhiễm đối với bụi lơ lửng tổng số (TSP) rất đáng lo ngại, đặc biệt là
ô nhiễm dọc hai bên các đường giao thông chính của đồ thị
Diễn biến nồng độ TSP tại một số tuyến đường phố giai đoạn 2005-2009
Nguồn: Các trạm QT&PTMT vùng (Đất liền 1, 2, 3) – Mạng lưới QT&PTMT quốc gia, 2010
Không chỉ ở các tuyến đường giao thông đường phố mà các khu vực dân cư của
các đô thị cũng gặp phải vấn đề ô nhiễm bụi, đặc biệt là các khu vực dân cư nằm sátkhu vực đang có hoạt động xây dựng hoặc gần đường có mật độ xe lớn (như khu dân
cư gần công ty tuyển than Hạ Long
- Ô nhiễm một số khí độc hại:
Trang 7Các khí CO, SO2, NO2 trong không khí tại các đô thị nhìn chung vẫn trongngưỡng cho phép Tuy nhiên, tại một số địa điểm và trong một số thời điểm, nồng độcác chất này có tăng lên, một số trường hợp đã vượt trị số cho phép Nồng độ SO2 và
CO trung bình năm tại các khu vực trong thành phố nhìn chung vẫn trong giới hạn chophép của QCVN 05:2009/BTNMT Tại những nơi có mật độ giao thông cao, nồng độ
CO cao hơn hẳn Tại các đô thị phía Nam, nồng độ CO tại các đường giao thông cácnăm 2005-2009 đều vượt QCVN
Nguyên nhân:
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng ô nhiễm không khí đô thị, trong đó
có thể kể tới một số nguyên nhân sau:
- Phương tiện giao thông cơ giới tăng nhanh: Đô thị càng phát triển thì số lượngphương tiện GTVT lưu hành trong đô thị càng tăng nhanh Đây là áp lực rất lớn đốivới môi trường không khí đô thị
- Nhu cầu tiêu thụ năng lượng càng lớn, nguồn ô nhiễm không khí càng tăng.Trong đó, nhu cầu tiêu thụ xăng dầu trong nước ngày càng tăng và dự báo trong 25năm tới còn tiếp tục tăng cao Tiêu thụ xăng dầu là một trong những nguyên nhân phátthải các chất độc hại như CO, hơi xăng dầu (HmCn, VOC), SO2, chì, BTX
- Hoạt động giao thông vận tải, các ngành công nghiệp, thủ công nghiệp và hoạtđộng xây dựng là những nguồn chính gây ô nhiễm không khí ở các khu đô thị Theođánh giá của các chuyên gia, ô nhiễm không khí ở đô thị do giao thông gây ra chiếm tỷ
Trang 82.1.1Hiện trạng sử dụng đất ở Việt Nam
Theo niên giám thống kê(2009) , tổng diện tích đất tự nhiên cả nước là 33,105triệu ha trong đó diện tích đất sông suối và núi đá chiếm khoảng 4,16%, phần đất liềnchiếm khoảng 94,5%,và là một trong những nước có diện tích đất tự nhiên nhỏ đứngthứ 203 trong số 218 nước Trong đó đất nông lâm nghiệp và thủy sản chiếm 79%,đáng chú ý là đất chưa sử dụng chiếm khoảng 10% tức khoảng 33 triệu ha và đang bịsuy thoái và hoang mạc hóa gây lãng phí
Hơn thế nữa, hiện nay, với xu hướng dân số tăng nhanh thì áp lực với nhu cầu sửdụng đất ngày càng nghiêm trọng Bên cạnh đó, áp lực từ quá trình công nghiệp hóa,hiện đại hóa cũng gây ra nhiều sức ép đối với đất đai Quy hoạch sử dụng đất củanhiều tỉnh thành cũng bộc lộ nhiều bất hợp lý Xu hướng hiện nay đó là chuyển dịchmục đích sử dụng đất nông nghiệp sang các lĩnh vực khác tràn lan và thiếu quy hoạchtổng thể Trong đó điển hình đó là chuyển đổi sang các khu công nghiệp, đô thị và sângolf Theo thống kê, từ năm 2006 đến năm 2009 thì tỉ lệ sử dụng đất phi nông nghiệp
có xu hướng gia tăng từ 0,133% lên 0,138% Nghiên cứu ở đồng bằng sông Hồng thìtrung bình mỗi năm diện tích đất nông nghiệp giảm khoảng 0,43% do quá trình côngnghiêp hóa diễn ra nhanh và thiếu quy hoạch
2.1.2 Phân tích về vấn để chuyển đổi đất nông nghiệp sang sử dụng sân golf
Năm 1991, Việt Nam có sân golf đầu tiên đi vào hoạt động ở Bà Rịa- Vũng Tàu,tuy nhiên cho tới nay thì đã có 18 sân golf đang hoạt động và hơn 140 dự án có mụctiêu kinh doanh được cấp phép ở hơn 41 tỉnh thành Chỉ riêng 2 năm gần đây ( 2006-2008) đã có khoảng 106 dự án được cấp phép gấp hơn 13 lần so với 16 năm trước Sựphát triển quá mức của sân golf đang đặt ra nhiều vấn đề đáng lo ngại Diện tích đấtcủa các sân golf đang hoạt động chiếm khoảng 2.400 ha trong đó phần lớn là đất nôngnghiệp màu mỡ Hơn thế nữa, để duy trì hoạt động của một sân golf 18 lỗ chúng ta
Trang 9phải cung cấp 150.000 m3 nước sạch mỗi tháng, bằng lượng nước sử dụng cho khoảng20.000 hộ dân Hơn thế nữa, các loại hóa chất, sử dụng cho sân golf cũng vô cùng độchại và ngấm dần xuống đất gây ảnh hưởng rất lớn cho sinh vật và con người Các cuộctranh cãi về vấn đề này vẫn diễn ra rất sôi nổi, tuy nhiên một thực tế cho thấy, liệu mộtđất nước nghèo như chúng ta có nên phát triển mạnh lại hình xa xỉ này không? Và thực
tế, lượng nước ngọt của chúng ta cũng giảm đáng kể trong những năm trở lại đây.Trong tương lai, nếu không có sự quy hoạch hợp lý, thì rất có thể những sân golf dànhcho vài cá nhân này sẽ giết chết cuộc sống của hàng ngàn con người và đe dọa môitrường sinh thái nghiêm trọng
Đó là vấn đề sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam, sau đây chúng ta sẽ tìm hiểuthêm hai khía cạnh khác mà cũng gây ảnh hưởng tới quá trình phát triển bền vững củachúng ta hiện nay đó là ô nhiễm đất và suy thoái đất
2.2 Ô nhiễm đất
Các nhà khoa học môi trường thế giới đã cảnh báo rằng: cùng với ô nhiễm nguồnnước, ô nhiễm không khí thì ô nhiễm đất đai cũng là vấn đề đáng báo động hiên nay Ônhiễm đất do một số nguyên nhân sau:
2.2.1Ô nhiễm đất do sử dụng không hợp lí phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật trong nông nghiệp
Đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến ô nhiễm đất, chúng tích lũy dần trong đấtqua các mùa vụ Việc sử dụng phân bón hóa học không cân đối , lạm dụng thuốc bảo
vệ thực vật gây ô nhiễm môi trường là thực trạng đáng báo động ở nước ta và đã đượcBáo cáo môi trường quốc gia 2010 tập trung làm rõ Việc sử dụng phân bón hóa họckhông cân đối, không đúng lúc cây cần, hàng năm một lượng lớn phân bón bị rửa trôihoặc bay hơi đã gây ô nhiễm đất nghiêm trọng, làm xấu đi môi trường sản xuất nôngnghiệp và môi trường sống Việc lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật trong phòng trừ dịchhại không tuân thủ các quy trình kĩ thuật, không đảm bảo thời gian cách li của từngloại thuốc đã dẫn đến hậu quả đồng ruộng ô nhiễm, ảnh hưởng trực tiếp tới vệ sinh antoàn thực phẩm Một số nơi dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong đất đã xấp xỉ bằnghoặc vượt quá ngưỡng giá trị cho phép theo QNVN 15:2008/BTNMT
Trang 102.2.2 Ô nhiễm đất do các chất ô nhiễm từ hoạt động công nghiệp, xây dựng và dân sinh
Các hoạt động xây dựng, sản xuất, khai thác mỏ đã gây ra những tác động về vật línhư xói mòn, nén chặt đất, phá hủy cấu trúc đất Bên cạnh đó rác y tế chiếm tỉ trọngthấp trong thành phần chất thải xả ra môi trường nhưng tỉ lệ các chất nguy hại cao, mộtkhi xâm nhập vào đất khó phục hồi, khả năng tái sử dụng vào mục đích dân sinh là rấtthấp Đặc biệt, đất nông nghiệp của vùng ngoại thành xung quanh các làng nghề táichế kim loại đang đứng trước thực trạng ô nhiễm kim loại nặng ngày càng tăng
2.2.3 Ô nhiễm đất cục bộ do các chất độc hóa học còn tồn lưu sau chiến tranh
Trong chiến tranh Việt Nam, quân đội Mỹ đã sử dụng 77 triệu lít chất diệt cỏ gâytrụi lá làm hủy diệt mùa màng và tán rừng, trong đó chất da cam chiếm gần một nửatổng lượng sử dụng Chúng đề có chứa một lượng lớn dioxin, một chất siêu độc chocác hệ sinh thái và sức khỏe con người Theo tính toán có khoảng 366kg dioxin đãphát tán vào môi trường Qua 40 năm nồng độ dioxin ở những vùng bị phun rải đãxuống mức bình thường hoặc dưới bình thường,tuy nhiên vẫn còn nhiều “điểm nóng”
mà tác hại của dioxin vẫn kéo dài rất nặng nề( các khu vực bị phun rải, ba sân bayquân sự-điểm nóng về dioxin khu vực miền Nam Việt Nam : sân bay Biên Hòa, sânbay Đà Nẵng, sân bay Phù Cát)
Trang 112.3 Suy thoái đất
2.3.1Các nguồn gây suy thoái đất
Sự biến đổi khí hậu và thiên tai
Những năm gần đây, khí hậu biến đổi rõ rệt Biến đổi khí hậu cũng với sự khắcnghiệt của thời tiết, sự phân bố không đồng đều của lượng mưa đã gây hạn hán, lũ lụt,hay nước biển dâng cao cũng đe dọa trực tiếp tới tiềm năng sản xuất của đất, làm ônhiễm và suy thoái đất Biến đổi khí hậu thường làm cho nước biển dâng cao gây nêntình trạng xâm nhập mặn ở các vùng trũng và ven biển Đồng bằng sông Cửu Long làvùng chịu ảnh hưởng nặng nhất của vấn đề này Trong những năm trở lại đây, lượngmưa/ năm của ĐBSCL thay đổi thất thường, mùa khô kéo dài, hạn hán tăng cao dẫnđến tình trạng xâm nhập mặn gia tăng vào mùa khô và gia tăng diện tích đất nhiễmphèn do thiếu nước ngọt để ém phèn
Thiên tai, bão lũ gia tăng cũng làm cho gia tăng quá trình sói mòn, rửa trôi, sạt lở
bờ biển bờ sông… gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới tài nguyên đất Hiện tượng thiếunước cũng đang dẫn tới tình trạng hoang mạc hóa ở Miền Trung
Phá rừng
Nạn phá rừng, và khai thác gỗ quá mức đã làm mất đi lớp phủ thực vật làm giatăng quá trình rửa trôi và sói mòn đất, làm suy thoái, mất các chất dinh dưỡng trongđất Trong đó các vùng chịu ảnh hưởng lớn nhất của vấn đề này đó là Trung Du Miềnnúi Bắc Bộ, Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ
Quá trình rửa trôi các kim loại kiềm, và các chất dinh dưỡng theo bề mặt vàchiều sâu làm đất có phản ứng chua và nhiễm Phốt Pho nặng, trong đó lượng chất dinh
Trang 12dưỡng mất đi ở tầng nông ( độ sâu 30 cm) và ở một số vùng ở đất ở độ sâu 90cm cũng
bị mất đi khá nhiều ( xem bảng)
Nguồn: Trạm quan trắc môi trường Tây Nguyên 2009
Trang 132.3.3 Hoang mạc hóa
Ở Việt Nam, chỉ số khô hạn hằng năm từ 0.3-1, như vậy nước ta không có quá trình samạc hóa mà chỉ có quá trình hoang mạc hóa Theo thống kê của cục nông nghiệp ViệtNam, hiện nay Việt Nam vân có khoảng 9,3 triệu ha đất liên quan tới hoang mạc hóa( chiếm 28% đất tự nhiên) Trong đó có khoảng 2 triệu ha đất đang bị thoái hóa nặng
và hơn 2 triệu ha có nguy cơ thoái hóa cao
Hoang mạc đá- hoang mạc đất khô cằn gồm các núi đá, đất trống đồi núi chọc chiếmtới 4,2 triệu ha
Hoang mạc cát- chủ yếu diễn ra ở các tỉnh ven biển miền trung từ Quảng Bình đếnBình Thuận chiếm khoảng 419.000 ha
Hoang mạc đất nhiễm mặn: các vùng có địa hình thấp và nằm ở ven biển nước ta vớidiện tích 500.000 ha đang đối mặt với tình trang xâm nhập mặn với các mức độ khácnhau Xâm nhập mặn ở ĐBSCL những năm gần đây có xu hướng ngày càng trầmtrọng Trong đó tại Bến Tre độ mặn 40/00 vào sâu từ 30-40km Kiên Giang vào sâu 10-
40 km…
2.4 Đánh giá tác động đến quá trình phát triển bền vững của quốc gia
Nông nghiệp, nông thôn và nông dân từ lâu đã trở thành những vấn đề lớn mangtính chiến lược mà Đảng và Nhà nước luôn quan tâm, cũng là những câu chuyệnthường ngày được bàn luận sôi nổi ở khắp nơi, nhất là trong giai đoạn hiện nay khi mà
an ninh lương thực đang trở thành nội dung “nóng” mang tính chất toàn cầu
Nông thôn nước ta còn lạc hậu, nông nghiệp bấp bênh thể hiện rõ nhất là khảnăng chống chịu với thiên tai, dịch bệnh còn nhiều yếu kém, bất cập Thiệt hại vật chất
Trang 14do thiên tai, dịch bệnh hàng năm khoảng 1% GDP, tác động chủ yếu vào nông nghiệp,lâm nghiệp, thủy sản và người nông dân nghèo khó Theo thống kê, nông dân chiếmđến 90% tổng số người nghèo trong cả nước, thu nhập bình quân đầu người ở nôngthôn chưa bằng một nửa khu vực thành thị nhưng đang đóng góp khoảng 20% GDP,trong khi Nhà nước nước đầu tư cho nhóm ngành nông, lâm nghiệp - thủy sản giảmchỉ còn khoảng 8,5% (chủ yếu cho thủy lợi phục vụ đa mục tiêu), đáp ứng được 17%nhu cầu phát triển Trong cơn bão giá và khan hiếm lương thực hiện nay, thế giới hìnhnhư cũng đã nhìn ra những hệ lụy đau xót của sự đối xử không đúng mức đối với “tamnông” Một vựa lúa của thế giới, với những thành tựu nhảy vọt về công nghệ giốngnhư Philippin cũng nhiều lúcphải nhăn nhó vì thiếu lương thực do sự phát triển trànlan, đặc biệt là công nghiệp Một nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu gạo do luôn dưthừa dự trữ như Thái Lan cũng có lúc phải lên tiếng xiết chặt hầu bao và lo lắng chokho gạo xuất khẩu của mình Một số nước do thiếu lương thực đã xảy ra bạo động, mất
ổn định xã hội Việt Nam nếu không kịp thời rút kinh nghiệm, điều chỉnh quy hoạchphát triển giữa công nghiệp, dịch vụ với nông nghiệp thì chắc chắn cũng sẽ gánh chịunhững hệ quả còn nặng nề hơn Một số nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới
đã cảnh báo Việt Nam sẽ là một trong số ít quốc gia bị mất nhiều diện tích sản xuấtnông nghiệp Do đó, việc bảo vệ nguồn đất có vai trò và ý nghĩa sống còn cho nềnnông nghiệp Việt Nam nói riêng và cho cae nền kinh tế Việt Nam nói chung Nó tácđộng trực tiếp đến quá trình phát triển bền vững của chúng ta
3 Môi trường biển, ven biển, hải đảo và tài nguyên biển
3.1 Tỷ lệ dân số sống ven biển
Tổng hợp số liệu thống kê về tình hình dân số Việt Nam năm 2005 và năm 2009của Tổng cục thống kê, ta có được số liệu của 27 tỉnh, thành phố ven biển như sau:
Trang 15bố dân cư sống ven biển giảm từ 49,5% xuống 48,67% dân số cả nước trong giai đoạn2005-2009 Tuy nhiên, dân cư các tỉnh thay đổi không đều, một số tỉnh, thành phố venbiển trọng điểm có số dân tăng đột biến, như Thành phố Hồ Chí Minh tăng từ 5,8 triệungười lên 7,1 triệu người.
Nguyên nhân của tình trạng này là việc phân bố dân cư không có quy hoạch rõràng, dân cư phân bố tự do Người dân di cư đến vùng ven biển trọng điểm chủ yếu là
để mưu sinh, có thể bằng cách nuôi trồng và khai thác thuỷ sản hoặc bằng các hoạtđộng dịch vụ ăn theo ngành du lịch ven biển Trong khi đó, họ rời bỏ những vùng kinh
tế khó khăn, nơi có hoạt động du lịch hay khai thác thuỷ sản kém phát triển
Như vậy, tuy tổng dân số ven biển giảm đi nhưng điều này lại tiềm ẩn nguy cơphát triển không bền vững rất lớn Việc dân cư chỉ tập trung vào một số vùng ven biểntrọng điểm đã làm tăng gánh nặng quản lí môi trường ven biển cho bộ máy chínhquyền địa phương Rác thải du lịch, rác thải sinh hoạt không được thu gom xử lí hết,hoạt động tàu bè, nuôi trồng thuỷ hải sản không có quy hoạch…những điều này sẽ
Trang 16chắc chắn huỷ hoại môi trường biển Việt Nam ta, làm cho phát triển kinh tế biểnkhông bền vững.
3.2 Các vấn đề nảy sinh liên quan tới phát triển bền vững trong khai thác và bảo vệ nguồn lợi hải sản
Đối với nghề khai thác hải sản, mục tiêu chính là đánh bắt được sản lượng cao nhưngphải duy trì được sản lượng ấy từ năm này qua năm khác hoặc thay đổi sản lượng khaithác sao cho có hiệu quả kinh tế cao nhất, nhưng lâu dài không làm ảnh hưởng đếnnguồn lợi cũng như hệ sinh thái Trong thực tế, nghề khai thác hải sản của nước tađang phải đối mặt với nhiều vấn đề khó khăn cần phải giải quyết như:
- Về khía cạnh xã hội:
Ngư dân nghèo, có trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật thấp, nhận thức về bảo
vệ môi trường còn yếu dẫn đến sử dụng các ngư cụ có tính hủy diệt, khôngchọn lọc, gây cản trở đến quá trình phát triển bền vững Tỉ lệ ngư dân quatrường lớp đào tạo không quá 10% nên thiếu lao động có tay nghề giỏi, thuỷ thủgiỏi dẫn đến chủ yếu là khai thác ven bờ, gần bờ
Vùng biển chưa được phân cấp quản lý, do đó dẫn tới ngư dân chỉ tính đến lợinhuận trước mắt với mục tiêu “đánh càng nhiều càng tốt”
Hiện tượng các tàu công suất lớn vẫn thường xuyên khai thác ở vùng biển gần
bờ, gây xung đột với nghề cá gần bờ và suy giảm nguồn lợi vùng ven bờ
Mâu thuẫn giữa nghề khai thác và du lịch liên quan tới việc sử dụng các khubảo tồn biển
Số vụ tai nạn trên biển vẫn còn xảy ra do tàu thuyền công suất nhỏ, thiếu cácthiết bị an toàn
Sự suy giảm nguồn lợi vùng ven bờ đe dọa đến khả năng phục hồi nguồn lợi vàsinh kế của cộng đồng ngư dân
- Về khía cạnh kinh tế:
Đầu tư khai thác xa bờ nhằm giảm áp lực khai thác vùng ven bờ đang gặp nhiềukhó khăn trong điều kiện gia tăng chi phí sản xuất (chủ yếu là giá xăng dầu tăngmạnh trong thời gian gần đây), tổ chức sản xuất còn nhiều yếu kém dẫn đếnhiệu quả khai thác không ổn định, nhiều đội tàu bị thua lỗ, nằm bờ dài ngày
Năng suất khai thác ngày càng suy giảm làm cho hiệu quả kinh tế của các độitàu tham gia khai thác ngày càng kém