1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

PHÂN TÍCH RỦI RO DỰ ÁN

25 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 312 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

 Mô tả phương pháp phân tích rủi ro bằng mô phỏng Monte Carlo Trong các chương trước, khi thẩm định dự án, chúng ta giả thiết một cách đơn giảnrằng các biến số ngân lưu của dự án được

Trang 1

CHƯƠNG 7

PHÂN TÍCH RỦI RO DỰ ÁN

Mục tiêu học tập

Sau khi học xong chương này người học có khả năng:

 Định nghĩa và giải thích các loại rủi ro của dự án

 Giải thích tầm quan trọng của việc phân tích rủi ro dự án

 Trình bày các lợi ích và chi phí của phân tích rủi ro dự án

 Giải thích được mục đích của phương pháp phân tích định đính

 Nắm được kỹ thuật phân tích độ nhạy

 Nắm được kỹ thuật phân tích tình huống và mô tả các ưu điểm của nó sovới kỹ thuật phân tích độ nhạy

 Mô tả phương pháp phân tích rủi ro bằng mô phỏng Monte Carlo

Trong các chương trước, khi thẩm định dự án, chúng ta giả thiết một cách đơn giảnrằng các biến số ngân lưu của dự án được xác định một cách chắc chắn, và chúng taphân tích ngân lưu của dự án để đánh giá xem dự án có đáng giá hay không để quyếtđịnh chấp nhận hay bác bỏ Tuy nhiên, một điều hiển nhiên là ngân lưu không thểđược ước tính một cách chắn chắn vì có nhiều yếu tố rủi ro liên quan đến các biến sốcủa ngân lưu, chẳng hạn như giá bán sản phẩm có thể thay đổi, hoặc các chi phí của

dự án có thể gia tăng Trong chương này chúng ta nghiên cứu về rủi ro của dự án đầu

tư, tìm hiểu các kỹ thuật mà các công ty sử dụng để phân tích rủi ro của một dự án, vàđánh giá dự án trong điều kiện có rủi ro

7.1 Các rủi ro của dự án

Trang 2

Có ba loại rủi ro khác biệt nhau có thể được nhận diện: (1) rủi ro của riêng dự án(stand-alone risk), (2) rủi ro công ty (coporate risk), và (3) rủi ro thị trường (marketrisk)

(1) Rủi ro của riêng dự án (stand-alone risk) Đây là rủi ro gắn liền với một dự

án đầu tư, hay nói một cách khác các rủi ro này được tạo ra bởi một dự án cụthể của công ty Loại rủi ro này được đo lường bởi sự thay đổi lợi nhuận kỳvọng của dự án

(2) Rủi ro công ty (corporate risk) Là rủi ro của dự án đối với công ty, xét trong

ngữ cảnh dự án chỉ là một trong số các danh mục đầu tư của công ty, do vậymột số ảnh hưởng của rủi ro này lên lợi nhuận của công ty sẽ được loại bỏbằng sự đa dạng hóa đầu tư Loại rủi ro này được đo lường bằng ảnh hưởngcủa dự án lên tính không chắc chắn về lợi nhuận trong tương lai của công ty

(3) Rủi ro thị trường (market risk) Là rủi ro của một dự án mà không thể nào

loại bỏ bằng cách đa dạng hóa đầu tư Rủi ro này còn được gọi là rủi ro hệthống hay rủi ro beta (beta risk) Loại rủi ro này được đo lường bởi hệ số beta(bi) của dự án

Một dự án có mức rủi ro của bản thân dự án đó hoặc mức rủi ro công ty cao, nhưngchưa hẳn đã ảnh hưởng đến rủi ro beta của công ty Tuy nhiên, nếu dự án có lợi nhuận

dự kiến chứa đựng nhiều yếu tố không chắn chắc và lợi nhuận của dự án tương quanchặt chẽ với lợi nhuận của các tài sản khác của công ty, cũng như các tài sản kháctrong nền kinh tế, thì chắc chắn rằng dự án này sẽ có tất cả các loại rủi ro với mức độrất cao Ví dụ, giả sử Công ty Toyota Việt Nam quyết định mở rộng hoạt động kinhdoanh bằng cách thành lập một công ty cho thuê tài chính và bán hàng trả Hoạt độngchủ yếu của công ty này là cung cấp các dịch vụ cho thuê tài chính và bán trả góp chokhách hàng các loại xe ôtô do Toyota Việt Nam sản xuất ra Ban giám đốc công tykhông biết một cách chắn chắn về nhu cầu thị trường đối với loại hình dịch vụ này, vìvậy có rất nhiều rủi ro gắn liền với dự án này – rủi ro của bản thân dự án này là rấtlớn Ban quản lý công ty cũng nhận thấy rằng dự án này có khả năng hoạt động tốtnếu công việc kinh doanh hiện tại của công ty tốt đẹp, và ngược lại dự án sẽ hoạt độngkém nếu công việc kinh doanh hiện tại của công ty không tốt Đây là trường hợp dự

án cũng có rủi ro công ty cao Sau cùng, lợi nhuận của Toyota Việt Nam có tươngquan chặt chẽ với kết quả kinh doanh của các công ty khác như Công ty Ford Việt

Trang 3

Nam, vì vậy rủi ro thị trường của dự án cũng sẽ cao Tóm tại dự án thành lập công tycho thuê tài chính và bán hàng trả góp của Toyota Việt Nam là rủi ro theo cả ba loạirủi ro

Về lý thuyết, trong ba loại rủi ro này, rủi ro thị trường là thước đo hợp lý nhất của rủi

ro vì nó được phản ánh trong giá của cổ phiếu Nhưng đây cũng là loại rủi ro khó xácđịnh nhất Vì vậy, hầu hết những người ra quyết định xem xét tất cả các loại rủi rotheo cách phán đoán và phân loại dự án theo các mức rủi ro một cách chủ quan.Chẳng hạn như, công ty có thể phân loại dự án theo ba mức độ rủi ro: dự án có mứcrủi ro cao, mức trung bình, và mức thấp

Trong phần lớn các trường hợp, tất cả các loại rủi ro đều có mối tương quan chặt chẽvới nhau Nếu nền kinh tế nói chung đang tiến triển tốt, thì công ty sẽ tốt, và nếu công

ty hoạt động tốt, thì hầu hết các dự án của nó có xu hướng tốt đẹp Vì sự tương quannày, rủi ro của bản thân dự án (stand-alone risk) thường là một đại diện tốt để đolường rủi ro công ty và rủi ro thị trường Thêm vào đó, việc đo lường loại rủi ro nàytương đối dễ dàng hơn rủi ro của công ty và rủi ro thị trường Vì những nguyên nhântrên, trong cuốn giáo trình này chúng ta chỉ tập trung nghiên cứu các kỹ thuật để phântích rủi ro của bản thân dự án

7.2 Phân tích rủi ro dự án là gì?

Phân tích rủi ro dự án là quá trình nhận diện và phân tích các rủi ro gắn liền với một

dự án Nếu được thực hiện tốt, phân tích rủi ro sẽ giúp giảm thiểu hoặc loại bỏ các rủi

ro tiềm ẩn trong dự án và giúp gia tăng khả năng đạt được các mục tiêu và hiệu quảcủa dự án

Quá trình phân tích rủi ro dự án có thể được chia thành hai giai đoạn: (1) giai đoạnphân tích định tính (qualitative analysis), nhằm nhận diện và đánh giá một cách chủquan các rủi ro của dự án, và (2) phân tích định lượng (quantitative analysis) tập trungđánh giá khách quan các rủi ro của dự án

Phân tích định tính

Phân tích này cho phép nhận diện các nguồn hoặc nhân tố rủi ro chủ yếu của dự án.Công việc này có thể được thực hiện với sự trợ giúp của các công cụ như danh sáchkiểm tra, phỏng vấn, hoặc huy động ý kiến của nhiều người (brainstorming) Phân tíchnày thường gắn liền với một hình thức đánh giá nào đó, có thể là sự mô tả từng loại

Trang 4

rủi ro và các tác động của nó; hoặc là sự xếp hạn mang tính chủ quan từng rủi ro (ví

dụ như cao/trung bình/thấp) theo cả tác động và xác suất xuất hiện của nó

Mục đích chính của phân tích định tính là để nhận diện những rủi ro chủ yếu,

có lẻ khoảng từ 5 đến 10 rủi ro, cho một dự án (hoặc một phần của một dự án lớn).Những rủi ro chủ yếu được nhận diện sẽ được phân tích và quản lý chi tiết hơn

Phân tích định lượng

Phân tích định lượng liên quan đến các kỹ thuật phức tạp hơn, thường cần các phântích trên máy tính Theo ý kiến của nhiều người, phân tích này là khía cạnh chủ yếucủa toàn bộ quá trình phân tích rủi ro, yêu cầu:

 việc định lượng các yếu tố không chắc chắn theo cả các ước tính chi phí vàthời gian

 xác định phân phối xác suất của các yếu tố không chắc chắn

Những kỹ thuật này có thể được áp dụng theo các mức độ từ vừa phải đến phân tíchsâu, kỹ lưỡng

Việc phân tích định tính ban đầu là cần thiết Nó đem lại lợi ích đáng kể về mặt

am hiểu về dự án và các vấn đề của nó bất chấp việc phân tích định lượng có đượcthực hiện hay không Kinh nghiệm cho thấy rằng phân tích định tính (nhận diện vàđánh giá rủi ro) thường dẫn đến một phân tích định lượng sơ bộ Nếu như vì bất kỳmột nguyên nhân nào đó, chẳng hạn như sự hạn chế về tiền bạc, thời gian, hoặc nhân

sự, mà cả phân tích định tính và phân tích định lượng không thể cùng thực hiện đượcthì phân tích định tính nên được giữ lại

7.3 Vì sao phải phân tích rủi ro?

Chúng ta cần nhận thức rõ rằng rủi ro tồn tại như là hậu quả của sự không chắc chắn.Trong bất kỳ dự án nào cũng tồn tại sự không chắc chắn của các biến số và yếu tốkhác nhau, ví dụ như:

 Các nguồn lực của dự án không được cung cấp đủ theo yêu cầu

 Chi phí của dự án có thể có những biến động lớn

 Nhu cầu về sản phẩm của dự án có thể chưa được nghiên cứu kỹ càng

 Vốn đầu tư của dự án chưa được ước tính đầy đủ

Trang 5

Tất cả những điều không chắc chắn này tạo ra rủi ro đối với dự án, có thể làm cho dự

án thất bại trong việc đạt được mục tiêu về hiệu quả tài chính và kinh tế được yêu cầu.Chính vì vậy, chúng ta cần thực hiện phân tích rủi ro của dự án nhằm giảm thiểu hoặcloại bỏ các rủi ro tiềm ẩn có thể đe dọa đến việc đạt được các mục tiêu của dự án

Phân tích rủi ro dự án có rất nhiều lợi ích Một số lợi ích của phân tích rủi ro

dự án bao gồm:

 Giúp hiểu rõ hơn về dự án, và điều này sẽ đóng góp vào việc xây dựng các

kế hoạch khả quan hơn, về cả chi phí và thời gian thực hiện

 Hiểu rõ hơn về các rủi ro trong dự án và những tác động có thể của chúng,điều này giúp tìm ra các biện pháp để giảm thiểu rủi ro

 Việc am hiểu về các rủi ro trong một dự án có thể giúp ký kết các loại hợpđồng phù hợp hơn

 Việc đánh giá một cách độc lập về các rủi ro dự án có thể giúp chứng minhtính đúng đắn của các quyết định và cho phép quản lý các rủi ro một cáchhiệu quả hơn

 Phân tích rủi ro giúp ngăn chặn việc chấp nhận một dự án không hấp dẫn vềtài chính

 Giúp thiết lập các thông tin thống kê về những rủi ro trong quá khứ, và điềunày sẽ trợ giúp cho việc thiết kế các dự án tương lai tốt hơn

 Tạo điều kiện thuận lợi hơn và sáng suốt hơn trong việc chấp nhận rủi ro, vìvậy gia tăng được các lợi ích có thể đem lại từ việc chấp nhận rủi ro

 Giúp phân biệt rõ giữa việc quản lý tốt và sự may mắn, và phân biệt rõ giữaviệc quản lý tồi với vận rủi (Nguồn: APM, 2000)

Phân tích rủi ro dự án đem lại lợi cho nhiều đối tượng khác nhau, bao gồm công ty vàcác nhà quản lý công ty, người quản lý dự án, và cả khách hàng Việc hiểu rõ về cácrủi ro của dự án đóng vai trò quan trọng đối với công ty và các nhà quản lý trong việcxem xét phê chuẩn thực hiện dự án Phân tích rủi ro dự án giúp các nhà quản lý dự áncải thiện chất lượng công việc của họ trên các khía cạnh chi phí, thời gian, và hiệu quảđược yêu cầu Phân tích rủi ro dự án còn giúp khách hàng biết rõ hơn về khả năng đạtđược những điều họ muốn và chi phí mà họ có thể chịu đựng được

Trang 6

Phân tích rủi ro dự án có nhiều lợi ích nhưng cũng có các chi phí để thực hiện,bao gồm chi phí tiền bạc, thời gian, và nhân sự để thực hiện

 Chi phí phân tích rủi ro dự án có thể chiếm từ 5-10% chi phí quản lý dự án.Tuy nhiên, so với tổng chi phí của một dự án thì chi phí này tương đối nhỏ.Chi phí phân tích dự án thường được tính vào chi phí chung của công ty,chứ không tính vào chi phí của dự án

 Thời gian phân tích rủi ro dự án tùy thuộc vào tính sẵn có của thông tin, qui

mô và mức độ phức tạp của dự án Thông thường, thời gian thực hiện mộtphân tích có thể mất một hoặc hai ngày

 Nhân sự cần cho việc phân tích rủi ro dự án phải là người trong công ty cókinh nghiệm trong vấn đề này Nếu công ty không có chuyên gia trong lĩnhvực này thì công ty phải thuê mướn các chuyên gia tư vấn bên ngoài

7.4 Các kỹ thuật phân tích rủi ro của dự án

Phương pháp điều chỉnh suất chiết khấu của dự án theo mức độ rủi ro của từng dự án,như được trình bày ở cuối chương 6, là một kỹ thuật đơn giản và cũng thường được sửdụng để đánh giá dự án trong điều kiện rủi ro Tuy nhiên, việc xếp loại rủi ro của dự

án theo mức độ rủi ro cao/trung bình/thấp thường mang tính chủ quan Cũng tương tự,việc điều chỉnh suất chiết khấu theo các mức rủi ro được đã được xếp hạn thườngthiếu căn cứ và không khách quan Phương pháp này cũng không thể nhận diện nhữngyếu tố không chắc chắn, cũng như mức độ ảnh hưởng của chúng đến ngân lưu, hiệngiá ròng NPV, hoặc sức sinh lời IRR của dự án Chính vì vậy, chúng ta cần nhữngphương pháp và công cụ hữu hiệu hơn để đánh giá dự án trong điều kiện rủi ro

Có nhiều kỹ thuật và phương pháp được phát triển để đánh giá rủi ro của một

dự án Các kỹ thuật phân tích định lượng thường được sử dụng bao gồm: (1) phân tích

độ nhạy, (2) phân tích tình huống, và (3) phân tích xác suất bằng mô phỏng MonteCarlo Trong những phần dưới đây, chúng ta tìm hiểu và thảo luận ba kỹ thuật này

Trước khi nghiên cứu các phân tích định lượng, việc tìm hiểu sơ qua về phântích định tính nhằm xác định những biến số rủi ro chủ yếu của một dự án là điều cầnthiết, vì kết quả của phân tích định tính đóng vai trò quan trọng để thực hiện các phântích định lượng

Trang 7

7.4.1 Phân tích định tính

Bước đầu tiên của phân tích định đính là nhận diện các rủi ro Một số người cho rằngđây là bước quan trọng nhất trong quá trình phân tích rủi ro vì mỗi khi các rủi ro đãđược xác định thì chúng ta mới có thể làm một điều gì đó đối với các rủi ro này Việcxác định các rủi ro có thể được thực hiện bằng:

 phỏng vấn những thành viên chủ yếu của đội ngũ dự án

 tổ chức các cuộc họp để huy động ý kiến của tất cả các bên và các thànhviên liên quan đến dự án

 sử dụng kinh nghiệm của cá nhân của các chuyên gia phân tích rủi ro

 xem xét lại những kinh nghiệm trong quá khứ nếu các dữ liệu đánh giáđược lưu trữ

Tất cả các phương pháp trên đây sẽ hiệu quả hơn nhiều bằng cách sử dụng các bảngliệt kê, có mẫu hoặc đặc điểm chung áp dụng cho bất kỳ dự án nào hoặc mang tínhđặc thù cho loại dự án đang phân tích

Mỗi khi các rủi ro đã được nhận diện, chúng sẽ được đánh giá sơ bộ nhằmphân loại rủi ro theo xác suất xảy ra (cao/trung bình/thấp) và theo mức độ ảnh hưởngcủa chúng (nhiều/trung bình/ít) lên dự án Nhiều người khuyên rằng, một kế hoạch đốiphó sơ bộ với từng rủi ro được nhận diện nên được chuẩn bị, đặc biệt khi rủi ro đượcnhận diện cần được xem xét khẩn cấp Quá trình phân tích có thể chấm dứt trong giaiđoạn này nếu kết quả của đánh giá đề nghị rằng nhiều rủi ro được nhận diện có thểđược giảm nhẹ hoặc loại trừ

Có thể rằng giai đoạn nhận diện và xác định rủi ro cần phải xem xét lại sau giaiđoạn đánh giá để xem thử có xuất hiện bất kỳ rủi ro phái sinh (secondary risk) nàokhông Rủi ro phái sinh có thể xuất hiện từ kế hoạch đối phó với rủi ro được nhậndiện lần đầu, và có thể làm cho kế hoạch đối phó với rủi ro thất bại Ví dụ, giai đoạnnhận diện rủi ro cho thấy rằng nguồn cung ứng nguyên liệu có thể khan hiếm trongmột thời điểm nào đó Sau khi rủi ro này được nhận diện, một biện pháp đối phó vớirủi ro này là ký kết các hợp đồng mua trước nguyên liệu với số lượng lớn Tuy nhiên,khi kế hoạch đối phó với rủi ro này được đưa ra, một rủi ro mới (rủi ro phái sinh) cóthể xuất hiện: đó là gia tăng mức tồn kho, làm cho chi phí lưu kho tăng lên và nhu cầu

Trang 8

vốn lưu động cũng tăng theo Nhu cầu thực hiện công việc này sẽ phụ thuộc nhiều vàoqui mô và mức độ phức tạp của dự án

7.4.2 Phân tích độ nhạy

Để minh họa cho việc thẩm định dự án và kỹ thuật phân tích độ nhạy, chúng ta lấy ví

dụ về một dự án đầu tư mới của Công ty BQC, một công ty hoạt động trong lĩnh vựccông nghệ

a) Mô tả dự án

Bộ phận nghiên cứu và phát triển của BQC đang phát triển một loại máy tính đượcthiết kế để kiểm soát các thiết bị trong gia đình Sau khi được lập trình, máy tính sẽ tựđộng điều khiển hệ thống sưởi ấm, điều hòa không khí, máy đun nước nóng, và một

số thiết bị điện khác trong ngôi nhà Bằng việc gia tăng hiệu quả sử dụng năng lượngcủa ngôi nhà, máy tính này có thể cắt giảm chi phí năng lượng của gia đình đủ đểtrang trải chi phí mua nó trong một vài năm Ban giám đốc công ty đang xem xétquyết định có thực hiện dự án phát triển sản xuất loại máy tính này hay không Cácthông tin liên quan đến dự án được mô tả như sau:

Giám đốc tiếp thị của BCQ tin tưởng rằng sản lượng tiêu thụ hàng năm vàokhoảng 20.000 chiếc mỗi năm nếu giá bán của sản phẩm được thiết lập ở mức

$3.000/chiếc Như vậy, doanh thu hàng năm từ việc tiêu thụ loại máy tính này đượcước tính vào khoảng $60.000.000

Bộ phận kỹ thuật báo cáo rằng công ty sẽ cần gia tăng năng lực sản xuất, vàBCQ hiện đang có một lựa chọn để mua một tòa nhà với giá $12.000.000 có thể đápứng nhu cầu này Tòa nhà dự kiến sẽ được mua và thanh toán vào ngày 31/12/2001 và

dự kiến được khấu hao trong vòng 40 năm theo mô hình khấu hao đều Thiết bị sảnxuất cần thiết sẽ được mua và lắp đặt vào cuối năm 2001, và sẽ được thanh toán vàongày 31/12/2001 Thiết bị có giá mua là $8.000.000, bao gồm cả chi phí vận chuyển

và lắp đặt, được dự kiến được khấu hao trong 5 năm, theo mô hình khấu hao theo kết

số giảm dần kép (DDB) Thêm vào đó, dự án cũng cần một lượng vốn đầu tư ban đầu

$6.000.000 vào vốn lưu động ròng

Bộ phận sản xuất ước tính rằng các chi phí biến đổi sẽ là $2.100/chiếc, và chiphí cố định (không kể khấu hao) khoảng $8.000.000/năm

Trang 9

Tuổi thọ kinh tế của dự án dự kiến là 4 năm Dự án sẽ đi vào hoạt động vàongày 01/01/2002 Cuối thời kỳ hoạt động của dự án (cuối năm 2005), tòa nhà dự kiến

có mức giá thị trường là $7.500.000 và thiết bị sản xuất có giá thị trường ước tính là

$2.000.000

Thuế thu nhập doanh nghiệp của công ty BCQ là 28% và chi phí sử dụng vốncủa nó là 15% Giả thiết rằng, tất cả doanh thu bán hàng và chi phí (ngoài trừ khấuhao) sẽ được thu hoặc chi trả toàn bộ bằng tiền trong năm (vào thời điểm cuối năm)

Giả sử rằng chúng ta là các nhà phân tích tài chính và đầu tư của công ty vàchúng ta phải thực hiện phân tích và đánh giá dự án đầu tư sản xuất máy vi tính này b) Đánh giá dự án

Chúng ta cũng giả thiết rằng, các biến số đầu vào của ngân lưu dự án như giá bán, chiphí biến đổi đơn vị, chi phí cố định, sản lượng hàng năm, v.v…được ước tính với độtin cậy cao (gần như chắc chắn) Với suất chiết khấu được chọn là WACC của công ty,

dự án này có đáng giá thực hiện không?

Các dữ liệu đầu vào của dự án được tóm tắt trong Bảng 7.1 như sau:

Bảng 7.1 - Dữ liệu đầu vào của dự án sản xuất máy tính – Công ty BCQ

($1.000)

($1.000) Chi phí tòa nhà 12.000 Giá của tòa nhà (năm 2005) 7.500 Chi phí thiết bị 8.000 Giá của thiết bị (năm 2005) 2.000

Mức tăng trưởng sản lượng 0.0% Mức tăng trưởng giá bán 0.0% Giá bán đơn vị 3,0 Mức tăng trưởng chi phí biến đổi 0.0% Chi phí biến đổi đơn vị 2,1 Mức tăng trưởng chi phí cố định 0.0% Chi phí cố định hàng năm 8.000

Các biến số của ngân lưu, ngân lưu của dự án và các tiêu chuẩn đánh giá dự án đượctính toán và trình bày trong các Bảng 7.2 – 7.6 dưới đây:

Chi phí đầu tư

Chi phí đầu tư của dự án bao gồm chi phí mua tòa nhà là $12,000.000; chi phí muathiết bị sản xuất $6.000.000 Các chi phí này được chi trả vào ngày 31/12/2001, được

Trang 10

tính vào ngân lưu năm 0 (đầu năm thứ nhất) của thời kỳ hoạt động của dự án Ngoài

ra, chi phí đầu tư còn bao gồm nhu cầu gia tăng vốn lưu động ròng, được ước tính là

$6.000.000 Vậy, tổng chi phí đầu tư ban đầu của dự án là $26.000.000, được trìnhbày trong Bảng 7.2

Bảng 7.2 – Tổng vốn đầu tư ban đầu

Kế hoạch khấu hao

Bảng 7.3 trình bày kế hoạch khấu hao tài sản cố định của dự án trong 4 năm hoạtđộng Trong đó, tòa nhà được khấu hao trong thời hạn 40 năm theo mô hình khấu haođều Do vậy, tỷ lệ khấu hao hàng năm sẽ là 2.5% (=1/40*100%) Thiết bị sản xuấtđược khấu hao theo mô hình kết số giảm dần kép (DDB) với tỷ lệ khấu hao bằng200% tỷ lệ khấu hao đều và thời gian khấu hao của thiết bị là 5 năm Vì vậy, tỷ lệkhấu hao hàng năm của thiết bị sẽ là 40% (= 1/5*2) Mức khấu hao thiết bị hàng nămđược tính theo mô hình DDB bằng tỷ lệ khấu hao nhân cho giá trị bút toán của tài sảnvào đầu năm đó Bảng 7.3 cũng trình bày thông tin về giá trị bút toán (giá trị còn lại)của từng tài sản ở cuối mỗi năm Giá trị bút toán của tài sản được tính bằng nguyêngiá của tài sản trừ cho khấu hao tích lũy đến thời điểm tính toán

Bảng 7.3 – Kế hoạch khấu hao

Khấu hao tòa nhà

Khấu hao thiết bị

(1) Mức khấu hao đều = Nguyên giá x Tỷ lệ khấu hao = 12.000 x 2.5% = 300

Trang 11

(2) Giá trị còn lại = Nguyên giá - khấu hao lũy kế

(3) Mức khấu hao DDB hàng năm = Tỷ lệ khấu hao x Giá trị còn lại đầu năm

Tính toán giá trị thu hồi khi kết thúc dự án

Bảng 7.4 trình bày việc tính toán giá trị thu hồi của dự án vào thời điểm kết thúc dự

án Như đã trình bày trong chương 2 về phương pháp ước lượng ngân lưu của dự án,giá trị thu hồi nên được đánh giá theo giá thị trường ước tính Nếu giá trị thanh lý củatài sản có sự chênh lệch với giá trị bút toán của tài sản thì phần chênh lệch (có thể làkhoản dôi vốn nếu giá trị thanh lý lớn hơn giá trị bút toán hoặc có thể là khoản hụtvốn nếu giá trị thanh lý nhỏ hơn giá trị bút toán) phải chịu thuế Với tòa nhà, giá trịthanh lý ước tính của nó là $7.500, trong khi đó giá trị bút toán (ở Bảng 7.3) là

$10.800, nên có một khoản hụt vốn là -$3.300 (= 7.500 – 10.800) Trong khi đó, thiết

bị được thanh lý với giá ước tính là $2.000 và giá trị bút toán là $1.036,8 nên sẽ cókhoản dôi vốn là 963,2 (= 2.000 – 1.036,8) Thuế đối với khoản dôi/hụt vốn là -$924cho tòa nhà và $269,7 cho thiết bị Với những thông tin này, ngân lưu ròng của giá trịthu hồi của dự án được tính toán và trình bày trong bảng 7.4 dưới đây

Bảng 7.4 – Giá trị còn lại ròng vào cuối năm 2005

Tòa nhà Thiết bị Cộng Giá thị trường ước tính năm 2005 7.500 2.000

Giá trị bút toán năm 2005 10.800 1.036,8

Thuế của khoản dôi/hụt vốn 4 (924) 269,7

Ngân lưu ròng của giá trị còn lại 5 8.424 1.730,3 10.154,3

(4) Thuế của khoản dôi/hụt vốn = Thuế suất thuế TNDN x Khoản dôi/hụt vốn

(5) Ngân lưu ròng của giá trị còn lại = Giá thị trường – Thuế của khoản dôi/hụt vốn

Tính toán ngân lưu ròng của dự án

Tiếp theo, chúng ta sử dụng các dữ liệu đầu vào của dự án và các thông tin được xácđịnh và trình bày trong các Bảng 7.2 – 7.4 để tính toán ngân lưu của dự án trong suốttuổi thọ kinh tế của dự án, được trình ở Bảng 7.5 bên dưới Năm kỳ được thể hiện, bắtđầu từ cuối năm 2001 (năm 0) đến cuối năm 2005 (năm 4) Chi phí đầu tư ban đầuđược yêu cầu tại năm 0 (cuối năm 2001 hoặc đầu năm 2002) là những con số âm,được trình bày ở cột 0, số tổng cộng là -$26.000 Trong 4 cột tiếp theo (cột 1 – 4),

Trang 12

chúng ta tính toán ngân lưu hoạt động của dự án Chúng ta bắt đầu bằng việc tính toándoanh thu, được xác định bằng giá bán ($3,0/chiếc) nhân cho sản lượng (20.000chiếc/năm)

Bảng 7.5 – Ngân lưu của dự án

Thu nhập hoạt động trước thuế 8 6.500,0 7.780,0 8.548,0 9.008,8

Thu nhập hoạt động ròng sau thuế 10 4.680,0 5.601,6 6.154,6 6.486,3 Cộng trở lại khấu hao 3.500,0 2.220,0 1.452,0 991,2

Ngân lưu hoạt động 11 8.180,0 7.821,6 7.606,6 7.477,5

NGÂN LƯU NĂM KẾT THÚC

(6) Doanh thu hàng năm = Giá bán x Sản lượng = $3/chiếc x 20.000 chiếc = $60.000,0

(7) Chi phí biến đổi hàng năm = Chi phí biến đổi đơn vị x Sản lượng = $2,1 x 20.000 = $42.000,0

(8) Thu nhập hoạt động trước thuế = Doanh thu – Chi phí biến đổi – Chi phí cố định – Khấu hao

(9) Thuế TNDN = Thu nhập hoạt động trước thuế x Thuế suất (28%)

(10) Thu nhập hoạt động sau thuế = Thu nhập hoạt động trước thuế - Thuế TNDN

(11) Ngân lưu hoạt động = Thu nhập hoạt động sau thuế + Khấu hao

(12) Ngân lưu dòng dự án = Ngân lưu hoạt động + Chi phí đầu tư + Ngân lưu thu hồi khi kết thúc dự án

Ngày đăng: 18/04/2022, 08:57

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Các dữ liệu đầu vào của dự án được tóm tắt trong Bảng 7.1 như sau: - PHÂN TÍCH RỦI RO DỰ ÁN
c dữ liệu đầu vào của dự án được tóm tắt trong Bảng 7.1 như sau: (Trang 9)
Bảng 7.3 trình bày kế hoạch khấu hao tài sản cố định của dự án trong 4 năm hoạt động. Trong đó, tòa nhà được khấu hao trong thời hạn 40 năm theo mô hình khấu hao đều - PHÂN TÍCH RỦI RO DỰ ÁN
Bảng 7.3 trình bày kế hoạch khấu hao tài sản cố định của dự án trong 4 năm hoạt động. Trong đó, tòa nhà được khấu hao trong thời hạn 40 năm theo mô hình khấu hao đều (Trang 10)
Bảng 7.2 – Tổng vốn đầu tư ban đầu - PHÂN TÍCH RỦI RO DỰ ÁN
Bảng 7.2 – Tổng vốn đầu tư ban đầu (Trang 10)
Bảng 7.4 – Giá trị còn lại ròng vào cuối năm 2005 - PHÂN TÍCH RỦI RO DỰ ÁN
Bảng 7.4 – Giá trị còn lại ròng vào cuối năm 2005 (Trang 11)
Bảng 7.5 – Ngân lưu của dự án - PHÂN TÍCH RỦI RO DỰ ÁN
Bảng 7.5 – Ngân lưu của dự án (Trang 12)
NPV của dự án, thể hiện ở Bảng 7.6, được tính toán theo các giá trị này là $5.540. Chúng ta gọi đây là tình huống cơ sở (base-case) - PHÂN TÍCH RỦI RO DỰ ÁN
c ủa dự án, thể hiện ở Bảng 7.6, được tính toán theo các giá trị này là $5.540. Chúng ta gọi đây là tình huống cơ sở (base-case) (Trang 15)
Bảng 7.7 - Phân tích tình huống: Công ty BQC - PHÂN TÍCH RỦI RO DỰ ÁN
Bảng 7.7 Phân tích tình huống: Công ty BQC (Trang 17)
Hình 7.2 - Đồ thị phân phối xác suất của NPV - PHÂN TÍCH RỦI RO DỰ ÁN
Hình 7.2 Đồ thị phân phối xác suất của NPV (Trang 18)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w