1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích rủi ro dự án vệ sinh môi trường TP hồ chí minh thuộc lưu vực nhiêu lộc thị nghè trước bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu và nước biển dâng

193 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 193
Dung lượng 7,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Dự án Vệ sinh môi trường TP.HCM thuộc lưu vực Nhiêu Lộc – Thị Nghè TN nằm trong số các dự án ưu tiên được tài trợ bằng vốn của Ngân hang Thế giới WB nhằm cải tạo vệ sinh môi trường ngậ

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đồ án tốt nghiệp này là thành quả từ sự nghiên cứu nghiêm túc

và khoa học trên cơ sở các số liệu thực tế và được thực hiện theo hướng dẫn chân tình của TS Trịnh Hoàng Ngạn, chuyên gia Tài nguyên nước và Môi trường

Mọi sự số liệu và thông được sử dụng trong đồ án đều được trích dẫn từ nguồn

tư liệu trong các báo cáo chính thức, danh mục tài liệu tham khảo và các thông tin trong đồ án đều được chỉ rõ nguồn gốc

Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm quy chế của nhà trường, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

TP Hồ Chí Minh, ngày 16 tháng 7 năm 2017

Học viên thực hiện đồ án

(Ký và ghi rõ họ tên)

Phan Anh Tú

Trang 2

LỜI CÁM ƠN

Trước tiên em xin gửi lời biết ơn đến tất cả quý Thầy, Cô của trường Đại học Công nghệ TP Hồ Chí Minh (HUTECH) , khoa Công nghệ Sinh học – Thực phẩm và Môi trường đã tận tình giảng dạy và hướng dẫn em trong suốt quá trình học tập

Bên cạnh đó em cũng xin gửi lời cám ơn đến tất cả các anh chị, bạn bè lớp kỹ thuật môi trường đã động viên, khuyến khích giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt khóa học Đặc biệt em xin chân thành biết ơn sâu sắc đến TS Trịnh Hoàng Ngạn – Thầy đã tận tình giúp đỡ và trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành đồ án tốt nghiệp (ĐATN)

Tuy nhiên, do kiến thức và thông tin của em còn hạn chế nên đồ án không thể tránh khỏi những thiếu sót nên em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của Thầy/Cô để bài làm được hoàn chỉnh và ý nghĩa hơn

Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn đến Khoa, Trường đã tạo điều kiện và hỗ trợ

em trong thời gian tham gia khóa học và làm ĐATN Xin chân thành cảm ơn

TP Hồ Chí Minh, ngày 16 tháng 7 năm 2017

Học viên thực hiện đồ án

(Ký và ghi rõ họ tên)

Phan Anh Tú

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CÁM ƠN

MỤC LỤC - i

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT - vi

DANH SÁCH CÁC HÌNH - vii

DANH MỤC CÁC BẢNG - x

MỞ ĐẦU - 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ MÔI TRƯỜNG NGẬP NƯỚC ĐÔ THỊ VÀ DỰ ÁN VỆ SINH MÔI TRƯỜNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THUỘC LƯU VỰC NHIÊU LỘC – THỊ NGHÈ - 9

1.1 Tóm tắt về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của TP.HCM và lưu vực kênh NL-TN - 9

1.1.1 Vị trí địa lý - 9

1.1.2 Điều kiện tự nhiên - 11

1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội - 19

1.3 Các hệ thống thoát nước của TP.HCM - 21

1.3.1 Sông Sài Gòn: - 21

1.3.2 Sông Đồng Nai: - 22

1.3.3 Sông Vàm Cỏ Đông - 23

1.3.4 Hệ thống kênh, rạch trong vùng trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh - 23

1.3.5 Các hạng mục thoát nước trong lưu vực Nhiêu Lộc – Thị Nghè - 24

1.4 Tổng quan về môi trường ngập nước đô thị - 26

1.4.1 Môi trường ngập nước đô thị trên Thế giới - 27

1.4.2 Môi trường ngập nước ở các đô thi khác của Việt Nam - 31

1.4.3 Môi trường ngập nước đô thị ở Tp.HCM và lưu vực kênh NL-TN - 33

1.5 Dự án vê sinh môi trường TP.HCM thuộc lưu vực Nhiêu Lộc-Thị Nghè - 40

1.5.1 Tóm tắt - 40

1.5.2 Các giai đoạn của dự án: - 41

1.5.3 Các hạng mục công trình chính thuộc giai đoạn 1 của dự án: - 43

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ KHOA HỌC ĐÁNHH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG DỰ ÁN, HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG VÀ CHẤT LƯỢNG NƯỚC KHU VỰC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ LƯU VỰC KÊNH NHIÊU LỘC –THỊ NGHÈ - 50

2.1 Cơ sở khoa học đánh giá tác động môi trường - 50

Trang 4

2.1.1 Khái quát - 50

2.1.2 Khái niệm về đánh giá tác động môi trường - 50

2.1.3 Khái niệm về tác động tích luỹ và phân tích, đánh giá rủi ro - 51

2.1.4 Chu trình đánh giá tác động môi trường - 53

2.1.5 Phương pháp đánh giá tác động môi trường - 54

2.1.6 Lựa chọn phương pháp đánh giá tác động môi trường dự án - 54

2.2 Hiện trạng môi trường sinh thái và chất lượng nước khu vực TP.HCM - 55

2.2.1 Hiện trạng môi trường sinh thái - 55

2.2.2 Chất lượng nước - 60

2.3 Môi trường và chất lượng nước lưu vực kênh NL-TN: - 67

2.3.1 Trước khi thực hiện dự án VSMT Thành phố thuộc lưu vực NL-TN - 67

2.3.2 Hiện trạng chất lượng nước mặt kênh NL – TN sau khi thực hiện dự án, khảo sát năm 2013 - 69

2.3.3 Đánh giá sự thay đổi môi trường và chất lượng nước lưu vực kênh NL – TN sau khi thực hiện giai đoạn I của dự án - 77

CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH RỦI RO MÔI TRƯỜNG NGẬP NƯỚC ĐÔ THỊ CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ LƯU VỰC NHIÊU LỘC –THỊ NGHÈ DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA CÁC HỆ THỐNG TỰ NHIÊN VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU - 81

3.1 Xác định rủi ro (mối nguy hiểm) môi trường ngập nước đô thị TP.HCM - 81

3.1.1 Rủi ro môi trường ngập nước do vị trí địa lý, điạ hình và địa mạo - 81

3.1.2 Rủi ro môi trường ngập nước do chế độ mưa, bão - 82

3.1.3 Rủi ro môi trường ngập nước do chế độ thuỷ triều biển Đông - 83

3.1.4 Rủi ro môi trường ngập nước đô thị do chế độ thuỷ văn lũ trên các hệ thống lưu vực sông - 84

3.1.5 Rủi ro môi trường ngập nước do phát triển kinh tế và đô thị hoá - 85

3.2 Đặc tính rủi ro (mối nguy hiểm) - 89

3.3 Phân tích rủi ro môi trường ngập nước đô thị dưới tác động của các yếu tố tự nhiên và ảnh hưởng của biến đổi khi hậu - 89

3.3.1 Phân tích rủi ro do các yếu tố vị trí địa lý, địa hình và địa mạo: - 89

3.3.2 Phân tích rủi ro do yếu tố thuỷ văn (mưa, bão, thuỷ triều và sóng thần) - 90

3.3.3 Phân tích rủi ro do tổ hợp các yếu tố thuỷ văn (xả lũ hiếm từ trên sông Đồng Nai-Sài Gòn mưa tại chỗ dị thường và thuỷ triều biển Đông) - 94

3.3.4 Phân tích rủi ro do tác động của dòng chảy lũ sông Mekong - 96

Trang 5

3.3.5 Phân tích rủi ro do các yếu tố phát triển kinh tế xã hội và đô thị hoá - 98

3.3.6 Phân tích rủi ro do các yếu tố khai thác nước ngầm quá mức và tình trạng lún nền khu vực TP.HCM - 102

3.3.7 Phân tích rủi ro do các yếu tố phát triển hạ tầng thuỷ lợi vùng ĐBSCL - 105

3.3.8 Phân tích rủi ro môi trường ngập nước đô thị dưới ảnh hưởng của biến đổi khi hậu - 106

3.4 Phân tích rủi ro môi trường ngập nước lưu vực Nhiêu Lộc-Thị Nghè - 117

3.4.1 Xác định rủi ro môi trường ngập nước trong lưu vực NL-TN - 117

3.4.2 Phân tích rủi ro môi trường ngập nước trong lưu vực NL-TN - 118

CHƯƠNG 4: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ, GIẢM THIỂU RỦI RO NGẬP NƯỚC ĐÔ THỊ ĐỂ THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ NƯỚC BIỂN DÂNG CHO TP.HCM VÀ LƯU VỰC NL-TN - 134

4.1 Nguyên tắc quản lý rủi ro - 134

4.2 Xác định khó khăn, thách thức của TP.HCM và đề xuất xây dựng chiến lược thích ứng với biến đổi khí hậu - 136

4.2.1 Xác định những khó khăn và thách thức - 136

4.2.2 Đề xuất xây dựng chiến lược thích ứng với BĐKH - 137

4.3 Quản lý hiểm hoạ và rủi ro lũ, lụt tổng hợp cho TP.HCM - 140

4.3.1 Giảm thiểu rủi ro bằng gỉải pháp phi công trình: - 143

4.3.2 Giảm thiểu rủi ro bằng giải pháp công trình - 145

4.3.3 Đề xuất điều chỉnh quy hoạch chống ngập và kiến nghị giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng - 150

4.3.4 Xây dựng Chương trình giám sát và quan trắc - 154

4.3.5 Học tập kinh nghiệm chống ngập ở trong và ngoài nước: - 156

4.4 Quản lý hiểm hoạ và rủi ro ngập, lụt cho lưu vực NL-TN - 165

4.4.1 Cải thiện khả năng thấm bề mặt - 165

4.4.2 Chống ngập bằng bể trữ nước mưa trên mái và bể chứa dưới đất - 166

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ - 170

TÀI LIỆU THAM KHẢO - 174

PHỤ LỤC - 177

Trang 7

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Hình 1.1 Bản đồ khu vực TP.HCM 10

Hình 1.2: Vị trí lưu vực kênh NL – TN (màu hồng) và sông Sài Gòn 11

Hình 1.3 Sự tạo thành chu kỳ thủy triều 18

Hình 1.4 Một quán ăn trên đường Trường Sa (phường 5, quận Tân Bình) 20

Hình 1.5: Diễn biến ngập nước đô thị ở Mỹ 27

Hình 1.6: Diễn biến ngập nước đô thị ở Pháp 28

Hình 1.7: Sân bay Donmuong, Bangkok trong trận lũ, lụt xảy ra vào năm 2011 29

Hình 1.8: Đường phồ Hà Nội thành nơi đánh bắt cá trong trận lụt tháng 11/2008 32

Hình 1.9: TP Huế trong ngập lụt 33

Hình 1.10: Cảnh ngập, lụt ở Hội An 33

Hình 1.11: Môi trường ngập, úng ở TP.HCM 36

Hình 1.12: Nước từ ống cống trào lên mặt đường Phan Xích Long, Q.Phú Nhuận, TP.HCM tối 26-8 37

Hình 1.13: Nguyên nhân và bản chất của thực trạng ngập, úng ở TP,HCM 39

Hình 1.14: Cống ngăn triều Thị Nghè và trạm bơm chống ngập và mặt bằng cống, nhìn từ trên cao và nhìn từ phía sông Sài Gòn 41

Hình 1.15: Sơ đồ mặt bằng tuyến kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè và vị trí quan trắc chất lượng nước 41

Hình 1.16 Sơ đồ tổng thể dòng chảy kết hợp nước mưa và nước thải 45

Hình 1.17 Mặt cắt dọc đường ồng vượt sông 48

Hình 2.1 Sơ đồ mô tả chu trình đánh giá tác động môi trường (ĐTM) 54

Hình 2.2 Bản đồ vị trí các trạm quan trắc chất lượng nước và thủy văn khu vực hạ lưu hệ thống sông Sài Gòn - Đồng Nai 61

Hình 2.3 Bản đồ phân chia vùng chất lượng nước sông và kênh rạch TP.HCM trong mùa khô 63

Hình 2.4 Bản đồ phân chia vùng chất lượng nước sông và kênh rạch TP.HCM trong mùa mưa 63

Hình 2.5 Bản đồ vị trí các trạm quan trắc chất lượng nước kênh rạch nội thành TP.HCM 65

Hình 2.6 Bản đồ vị trí các trạm quan trắc nước dưới đất tại TP.HCM 66

Trang 8

Hình.2.7: Biểu đồ thể hiện hàm lượng BOD5tại vị trí khảo sát so với QCVN

08:2008/BTNMT, (cột B2) 75

Hình 2.8: Biểu đồ thể hiện hàm lượng COD tại các vị trí khảo sát so với QCVN 08: 2008/BTNMT (cột B2) 76

Hình 2.9: Biểu đồ thể hiện hàm lượng N_NH3 tại các vị trí khảo sát so với QCVN 08: 2008/BTNMT (cột B2) 77

Hình 3.1: Vị trí Thành phố Hồ Chí Minh và hiểm hoạ, rủi ro lũ, lụt 90

Hình 3.2: Thống kê quỹ đạo các cơn bão xuất hiện trên vùng biển đổ bộ vào đất liền (1951-2015) 91

Hình 3.3 Bão Kaitak đổ bộ ngày 2/4/2012 92

Hình 3.4 Áp thấp nhiệt đới đổ bộ ngày 5/11/2016 92

Hình 3.5: Bậc thang thuỷ điện trên lưu vực sông Đồng Nai 96

Hình 3.6 Lũ sông Mekong tác động tới rủi ro môi trường ngập nước đô thị của TP.HCM 93

Hình 3.7: Bản đồ thể hiện diện tích bê-tông hóa bề mặt và nhiệt độ tối đa bề mặt tại TP HCM 100

Hình 3.8: Điều chỉnh quy hoạch phát triển đô thị TP.HCM đến năm 2025 101

Hình 3.9: Bản đồ dự báo vùng ngập lụt vào năm 2050 của ICEM thực hiện cho UBND TP.HCM (tài trợ bởi Ngân hàng Phát triển Châu Á - ADB) trong kịnh bản có hệ thống đê bao bảo vệ như quy hoạch cho thấy hiệu quả của hệ thống này còn hạn chế và nguy cơ ngập,lụt sẽ bị đẩy sang các địa phương khác 113

Hình 3.10: Người dân dùng ván chắn, không cho nước chảy vào nhà ở đường Nguyễn Xí (Q.Bình Thạnh) tối 26-8 – 2016 119

Hình 3.11: Ngập nặng do mất van ngăn triều, đường D1, P.25, Q.Bình Thạnh 119

Hình 3.12: Giao lộ ngã tư Hàng Xanh đông kín người di chuyển chiều tối 26-8-2016 ở TP.HCM 120

Hình 3.13: Xe cộ chạy trên đường Trường Sơn (Q.Tân Bình) đầy nước trong cơn mưa ngày 26/8/2016 - Ảnh: Hữu Thuận 121

Hình 3.14: Hình ảnh tiêu biểu cho tình trạng ngập triều trong các con hẻm và đường phố ở vùng trũng ở TP.HCM 122

Hình 3.15: Kết nối đường ống thoát nước không liên thông 124

Hình 3.16: Mặt đường Trường Sa (quận Phú Nhuận) xuất hiện hố tử thần 125

Hình 3.17: Hố tử thần trước số nhà 68, P.17, quận Phú Nhuận 126

Hình 3.18: Hố tử thần trước số nhà 46, P.2, quận Phú Nhuận 126

Trang 9

Hình 3.19: Hố sâu xuất hiện ngày 13/10 do hở tường cừ dọc bờ kênh 127

Hình 3.20 Hố xuất hiện dọc kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè có chiều ngang 0,4m, dài 1,2m 128

Hình 3.21: Nhân viên Công ty TNHH MTV Môi trường đô thị TP.HCM vớt cá chết trên kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè chiều 17-5-2016 131

Hình 4.1: Giải pháp quản lý quản lý hiểm hoạ và rủi ro lũ tổng hợp thích ứng với BĐKH 141 Hình 4.2: Mặt Cắt Của Đường Tháo Lũ Bên Ngoài Khu Trung Tâm Đô Thị 159

Hình 4.3: Công trình Đông Schelde 161

Hình 4.4: Kè chắn di động lớn nhất Thế giới tại Hà Lan 162

Hình 4.5: Quy trình quản lý và giảm nhẹ thiên tai lũ, lụt 163

Hình 4.6: Công trình chống ngập sông Thames 164

Hình 4.7: Công trình chống ngập ở Saint - Petersburg 165

Hình 4.8: Một bãi đậu xe trên đường lắp gạch ca rô để tăng khả năng thấm nước 166

Hình 4.9: Một giải pháp thu trữ nước mưa trên mái 167

Hình 4.10: Thu trữ nước mưa cũng là giải pháp phòng chống ngập, lụt đô thị hiệu quả 168

Hình 4.11: Hầm thu trữ nước mưa dưới các công viên……… 168

Trang 10

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Mực nước sông thấp nhất các tháng trong năm của sông Sài Gòn 14

Bảng 1.2 Mực nước cao nhất các tháng trong năm của sông Sài Gòn 15

Bảng 1.3 Mật độ cống trên lưu vực NL - TN 26

Bảng 1.4 Tình hình ngập, úng trên địa bàn TP.HCM và lưu vực NL-TN 34

Bảng 2.1: Chỉ thị màu chất lượng nước 62

Bảng 2.2: Chất lượng nước kênh NL – TN, năm 1996 68

Bảng 2.3: Tổng hợp kết quả phân tích trong 2 đợt (mùa khô và mùa mưa) 70

Bảng 2.4: Lượng mưa trung bình trong tháng, năm 2013 71

Bảng 3.1 Đỉnh trìều tại trạm Phú An trên sông Sài Gòn 83

Bảng 3.2: Mực nước đỉnh lũ các năm lũ lớn trên sông Vàm Cỏ Đông (m) 85

Bảng 3.3: Giá trị lưu lượng đỉnh lũ ứng với tần suất 0,5% (điều kiện tự nhiên/lý thuyết) 94 Bảng 3.4: Tác động xả lũ của hồ Dầu Tiếng và mực nước tại trạm Rạch Tra 95

Bảng 3.5: Mức thay đổi lượng mưa năm (%) so với thời kỳ 1980-1999 115

Bảng 3.6: Mực nước biển dâng (cm) so với thời kỳ 1980-1999 116

Bảng 4.1 Mô tả một số giải pháp quản lý hiểm hoạ lũ, lụt cho TP.HCM 142

Trang 11

- Dự án Vệ sinh môi trường TP.HCM thuộc lưu vực Nhiêu Lộc – Thị Nghè TN) nằm trong số các dự án ưu tiên được tài trợ bằng vốn của Ngân hang Thế giới (WB) nhằm cải tạo vệ sinh môi trường ngập nước, chỉnh trang đô thị và xử lý sơ bộ nguồn nước thải trong lưu vực NL-TN, nơi môi trường bị ô nhiễm nặng nề bởi nước thải sinh hoạt của cộng đồng cư dân sống dọc 2 bờ kênh Đặc biệt là đầu tư các công trình nhằm mục tiêu giảm thiểu rủi ro môi trường ngập nước của Thành phố nói chung

(NL-và lưu vực NL-TN nói riêng

Kết quả bước đầu của các dự án cải tạo vê sinh môi trường biểu hiện rõ nét bằng việc cải thiện cảnh quan môi trường dọc các tuyến kênh trục thoát nước đã được đầu tư hoàn thiện như: Nhiêu Lôc – Thị Nghè, Tàu Hũ – Bến Nghé, Tân Hoá – Lò Gốm

…Tuy nhiên môi trường ngập nước đô thị vẫn tái diễn hàng năm, nhất là vào mùa mưa,

cả vùng nội thành đến ngoại vi Thành phố Rõ ràng hiệu quả đầu tư còn hạn chế, mục tiêu giảm thiểu rủi ro môi trường ngập nước chưa đạt như đã nêu ra trong các quy hoạch tiêu, thoát nước vĩ mô của JICA (2000) hay Quy hoạch thuỷ lợi chống ngập của

Bộ NNPTNT (Quy hoạch 1547) và các dự án khác

Trước bối cảnh biến đổi khí hậu (BĐKH) thì rủi ro về môi trường ngập nước đô thị sẽ ngày càng gia tăng đòi hỏi Thành phố phải đầu tư nhiều hơn nữa, đa dạng các

Trang 12

loại hình nghiên cứu tìm kiếm các giải pháp giảm thiểu rủi ro về môi trường ngập nước hữu hiệu hơn với tầm nhìn dài hạn, tương thích các kịch bản thích ứng với BĐKH khác nhau Trong đó việc phân tích rủi ro môi trường ngập nước đô thị hiện nay và trong tương lai là một hoạt động nghiên cứu mới, để cập nhật, bổ sung cho các quy hoạch phát triển kinh tế xã hội (KTXH) bền vững cho Thành phố nói chung và cho lưu vực NL-TN nói riêng Đây chính là lý do nghiên cứu của đồ án tốt nghiệp (ĐATN) có tên

gọi là: “Phân tích rủi ro Dự án vệ sinh môi trường TP.HCM thuộc lưu vực Nhiêu Lộc-Thị Nghè trước bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu và nước biển dâng”

2 Tính cấp thiết của đề tài

Theo đánh giá của các nhà khoa học nghiên cứu về thiên tai do BĐKH thì lũ, lụt

là một trong những rủi ro, hiểm hoạ tiềm tàng, khó lường nhất Đặc biệt ngập, lụt ở các

đô thị lớn ven biển do ảnh hưởng của sóng thần, triều cường, mưa lớn đã gây ra thảm hoạ với những tổn thất khủng khiếp nhất về người và vật chất Các nhà thống kê học đã dẫn chứng số liệu về sự gia tăng đến mức chóng mặt những thiệt hại do lũ, lụt gây ra Nếu như đầu thế kỷ 20, trung bình mỗi năm trên Thế giới, thiệt hại do ngập, lụt vào khoảng 100 triệu USD thì đến nửa sau của thế kỷ con số này đã vượt quá 1 tỷ USD Trong mười năm trở lại đây thiệt hại do lũ, lụt đã vượt trên 10 tỷ USD

Ở Việt Nam, theo số liệu thống kê của Cục Đê điều và phòng chống lụt bão, BNNPTNT, từ năm 1954-2015, trong tổng số gần 800 cơn bão hoạt động ở biển Đông (50% xuất phát từ Tây Thái Bình Dương), có khoảng 290 cơn bão và áp thấp nhiệt đới (ATNĐ) đổ bộ hoặc ảnh hưởng trực tiếp đến thời tiết nước ta gây ra những trận lũ, lụt khủng khiếp làm thiệt hại hàng trăm triệu USD tài sản và môi trường, hàng ngàn người chết và mất tích Số lượng bão, áp thấp đổ bộ vào Nam Bộ ít hơn (khoảng 10 cơn trong vòng 60 năm trở lại đây) nhưng tác động tới môi trường cũng vô cùng lớn Đặc biệt theo đánh giá của các cơ quan dự báo và nghiên cứu khí tượng thuỷ văn của BTNMT

Trang 13

cho thấy các cơn bão hoạt động trên biển Đông đang có xu thế dịch chuyển vào phía Nam, trong đó có TP.HCM

Đối với TP.HCM, do vị trí địa lý đặc thù nằm kẹp giữa hai lưu vực sông Đồng Nai –Sài Gòn, châu thổ sông Mê Kông (ĐBSCL) – Vàm Cỏ và biển Đông cũng như đặc điểm địa hình đã tạo cho Thành phố phải hứng chịu những rủi ro từ nước (mưa, bão, lũ, lụt và thuỷ triều) Mặt khác sức ép về dân số và phát triển kinh tế và đô thị hoá quá nóng dẫn đến tình trạng ngập nước đô thị ngày càng gia tăng Trước bối cảnh BĐKH, Thành phố sẽ phải đối mặt với các mối rủi ro, nguy cơ và hiểm hoạ về thiên tai

lũ, lụt trong tương lai, khi mà ảnh hưởng của BĐKH thúc đẩy gia tăng nhiệt độ, lượng mưa và mực nước biển Điều đó cũng dẫn tới gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan, kéo theo mưa dị thường, siêu bão, sóng thần xuất hiện kết hợp với các điều kiện

tự nhiên tiêu cực (như trên) Tổ hợp các tác nhân do tự nhiên và con người có thể gây

ra hậu quả không lường trước về môi trường, sinh thái cho khu vực TP.HCM nói chung và lưu vực NL-TN nói riêng

Kiểm nghiệm thực tế các trận mưa dị thường xuất hiện ngày càng nhiều, như cơn mưa chiều tối ngày 26/8/2016 (lượng mưa đạt 159mm, kéo dài khoảng 180 phút), cơn mưa chiều tối ngày 26/9/2016 (lượng mưa đạt 202mm, kéo dài khoảng 180 phút)

đã gây tình trạng ngập nước trên toàn Thành phố (hơn 100 điểm ngập do mưa và triều cường) Đặc biệt trong lưu vực NL-TN, nhiều nơi địa hình cao như sân bay Tân Sơn Nhất, đường Trường Sơn (quận tân Bình), đường Phan Xích Long (Phú Nhuận), Kỳ Đồng (quận 3), Lê Đức Thọ (quận Gò Vấp), Nguyễn Xí, Nguyễn Hữu Cảnh (quận Bình Thạnh) Ngay trong mùa khô năm 2017 cũng đã xuất hiện một số trận mưa cực đoan, như chiều 2/2 (mùng 6 Tết), Chiều 16.3, chiều các ngày 1,2,3,4 tháng 4, đều có mưa lớn (trận mưa lớn chiều ngày 1/4 xảy ra trên hầu khắp các tỉnh thành Nam Bộ và TP.HCM (mưa to nhất xảy ra ở quận Tân Bình, kéo dài khoảng 7 tiếng, lượng đo được

là gần 163 mm, quận Tân Phú hơn 111 mm) Thực tế trên đây minh chứng cho thầy BĐKH là rõ rang và thực trạng về rủi ro môi trười ngập nước đô thị ngày càng tồi tệ

Trang 14

Cho đến nay, các giải pháp nhằm giải quyết rủi ro môi trường ngập nước đô thị

do các cơ quan, tổ chức trong và ngoài nước đa phần tập trung vào giải pháp công trình

là chủ yếu mà thiếu những nghiên cứu, phân tích rủi ro và cảnh báo thiên tai, hiểm hoạ

lũ, lụt có thể xảy ra dưới tác động kết hợp của tự nhiên và con người trước bối cảnh BĐKH đối với TP.HCM và lưu vực NL-TN Trong đó tổ hợp dòng chảy lũ sông Mekong theo hai hướng: từ sông Tiền chảy sang sông Vàm Cỏ và từ Campuchia đổ xuống sông Vàm Cỏ Đông trùng hợp lũ chồng lũ trên lưu vực sông Đồng Nai-Sài Gòn, mưa lớn dị thường tại chỗ kết hợp triều cường từ biển Đông cuối năm

Nếu kịch bản trên xảy ra thì nguy cơ lũ, lụt lớn ở TP.HCM và vùng lân cận là

rất tiềm tàng Vì vậy, nghiên cứu “Phân tích rủi ro Dự án vệ sinh môi trường TP.HCM thuộc lưu vực Nhiêu Lộc-Thị Nghè trước bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu và nước biển dâng” là việc làm rất cần thiết, cấp bách và hữu hiệu nhằm tìm hiểu

về bản chất, các mối rủi ro, hiểm hoạ có thể xảy ra tại TP.HCM nói chung và kênh

NL-TN nói riêng do BĐKH và NBD để bổ sung và điều chỉnh quy hoạch chống ngập và đề xuất giải pháp thích ứng với BĐKH và NBD, giảm thiểu tác động tiêu cực do thiên tai, thảm hoạ lũ, lụt có thể xuất hiện trong tương lai

3 Mục tiêu, nội dung và phương pháp nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chính của đề tài phân tích rủi ro Dự án VSMT Thành phố thuộc lưu vực NL-TN là nhận diện các mối nguy cơ và hiểm hoạ do thiên nhiên và con người tác động tới môi trường ngập nước đô thị và giải pháp chống ngập của TP.HCM nói chung

và của lưu vực NL-TN nói riêng Đồng thời đề xuất các giải pháp quan trắc, giám sát, giảm thiểu rủi ro môi trường ngập nước đô thị và nâng cao nhận thức về BĐKH và NBD

3.2 Nội dung nghiên cứu

Trang 15

- Thu thập cố liệu, thông tin cơ bản liên quan tới điều kiện tự nhiên, KTXH, thực trạng ngập nước đô thị, biến đổi khí hậu

- Điều tra, khảo sát thực tế

- Sàng lọc, biên hội và phân tích số liệu đã thu thập

- Xác định cơ sở khoa học nghiên cứu về đánh giá tác động môi trường, xác định mối nguy hiểm và phân tích rủi ro môi trường ngập nước đô thị của TP.HCM và lưu vực NL-TN

- Đánh giá hiện trạng môi trường ngập nước đô thị TP.HCM và lưu vực NL-TN

- Phân tích các nguyên nhân gây hiệu ứng ngập nước đô thị ở Tp.HCM và lưu vực NL-TN

- Phân tích rủi ro môi trường ngập nước đô thị của TP.HCM và lưu vực NL-TN dứơi tác động của các hệ thống tự nhiên và BĐKH,

- Đề xuất các giải pháp quản lý rủi ro môi trường ngập nước đô thị thích ứng với BĐKH và NBD, đề xuất mạng lưới quan trắc và giám sát môi trường cho TP.HCM và lưu vực NL-TN

3.3 Phương pháp nghiên cứu

- Thu thập số liệu thông tin cần thiết liên quan tới đề tài

- Khảo sát thực địa kênh NL – TN

- Phương pháp xác định và phân tích rủi ro môi trường

- Phương pháp chẩn đoán môi trường, sinh thái lưu vực sông

- Phương pháp so sánh, tương quan thuỷ văn

- Thừa kế có chọn lọc các kết quả nghiên cứu trước đây

- Tham vấn các chuyên gia có kinh nghiệm liên quan đến đề tài

4 Kết quả dự kiến đạt được của đề tài

4.1 Xây dựng kho tư liệu đã thu thập

Trang 16

- Số liệu cơ bản ien quan tới điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội lưu vực NL-TN

- Liệt kê danh mục các tài liệu tham khảo

4.2 Xây dựng cơ sở khoa học nghiên cứu về đánh giá tác động môi trường, xác định mối nguy hiểm và phân tích rủi ro môi trường ngập nước đô thị của TP.HCM và lưu vực NL-TN

4.3 Đánh giá hiện trạng môi trường ngập nước đô thị TP.HCM và lưu vực

NL-TN

4.4 Phân tích các nguyên nhân gây hiệu ứng ngập nước ở Tp.HCM

- Các nguyên nhân chủ quan

- Các nguyên nhân khách quan

- Các nguyên nhân kết hợp

4.5 Phân tích rủi ro môi trường ngập nước đô thị của TP.HCM và lưu vực

NL-TN

- Tác động về kinh tế và kỹ thuật

- Tác động tới môi trường, sinh thái

- Tác động tới xã hội và công đồng

4.6 Đề xuất giải pháp giảm thiểu rủi ro môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu

- Dự báo diễn biến ngập nước đô thị trước bối cảnh BĐKH

Trang 17

- Đề xuất điều chỉnh quy hoạch chống ngập thích ứng với BĐKH bằng giải pháp công trình và phi công trình

- Giải pháp quản lý rủi ro và thích ứng với BĐKH và NBD

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

5.1 Ý nghĩa khoa học:

Đề tài có ý nghĩa khoa học trong việc dự báo rủi ro, ảnh hưởng của biến đổi khí, nước biển dâng đến hoạt động sống và phát triển của dân TP.HCM nói chung, lưu vực kênh NL-TN nói riêng Trên cơ sở phân tích các số liệu thực tế và các nghiên cứu có liên quan, đề tài làm rõ các rủi có thể xảy ra do biến đổi khí hậu và nước biển dâng tới “ Dự

án vệ sinh môi trường TP.HCM thuộc lưu vực Nhiêu Lộc-Thị Nghè”

- CHƯỚNG 1: TỔNG QUAN VỀ MÔI TRƯỜNG NGẬP NƯỚC ĐO THỊ VÀ

DỰ ÁN VỆ SINH MÔI TRƯỜNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THUỘC LƯU VỰC NHIÊU LỘC – THỊ NGHÈ

Trang 18

- CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC ĐÁNHH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG

DỰ ÁN, HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG VÀ CHẤT LƯỢNG NƯỚC TP.HCM VÀ LƯU VỰC KÊNH NL-TN

- CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH RỦI RO MÔI TRƯỜNG NGẬP NƯỚC ĐÔ THỊ CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ LƯU VỰC NHIÊU LỘC –THỊ NGHÈ DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA CÁC HỆ THỐNG TỰ NHIÊN VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

- CHƯƠNG 4: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ, GIẢM THIỂU RỦI RO NGẬP NƯỚC ĐÔ THỊ ĐỂ THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ NƯỚC BIỂN DÂNG CHO TP.HCM VÀ LƯU VỰC NL-TN

Trang 19

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ MÔI TRƯỜNG NGẬP NƯỚC ĐÔ THỊ VÀ DỰ

ÁN VỆ SINH MÔI TRƯỜNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THUỘC LƯU VỰC NHIÊU LỘC – THỊ NGHÈ

1.1 Tóm tắt về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của TP.HCM và lưu vực kênh NL-TN

bộ về phía Nam Thành phố có ranh giới với các địa phương như sau: phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, phía Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh, Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An

và Tiền Giang (Nguồn http://www.congdantretphcm.com/)

Theo số liệu công bố trên trang Web, cổng điện tử của Uỷ ban nhân dân (UBND), tổng diện tích tự nhiên của TP.HCM là 2.095 km2, chiếm 6,36% diện tích cả nước, với 24 đơn vị hành chính Trong đó có 19 quận nội thành chiếm diện tích 442,13

km2 (bao gồm 12 quận mang tên số từ 1 đến 12 và 7 quận mang tên chữ gồm Phú Nhuận, Gò Vấp, Bình Thạnh, Tân Bình, Bình Tân, Tân Phú và Thủ Đức) và 5 huyện ngoại thành rộng 1.652,88km2 (Bình Chánh, Nhà Bè, Củ Chi, Cần Giờ và Hóc Môn) Hình 1.1 Mô tả bản đồ khu vực TP.HCM

Ngày nay, ít ai biết được kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè (NL – TN) từng một thời

là con kênh đẹp nhất nhì của Thành phố Người Pháp ấn tượng trước vẻ đẹp và sự trong sạch của kênh, đã đặt cho nó cái tên “Arroyo de l’Avalanche - Kênh Tuyết đổ”

Trang 20

Trong quá trình hình thành và phát triển của đô thị Sài Gòn - TP.HCM, kênh NL – TN luôn đóng vai trò quan trọng hình thành nên bộ mặt cảnh quan của TP.HCM Với diện tích 3.324 ha, lưu vực kênh NL – TN (một nhánh của sông Sài Gòn) nằm trong khu trung tâm TP.HCM, chảy qua địa bàn 7 quận: Tân Bình, Phú Nhuận, Gò Vấp, quận 1, quận 3, quận 10, và quận Bình Thạnh Kênh NL – TN có chiều dài đoạn chính khoảng 8,7 km, chảy uốn khúc trong nội thành TP.HCM, bắt đầu từ quận Tân Bình chảy qua quận Phú Nhuận (bờ Trường Sa), quận 3 (bờ Hoàng Sa và một phần bờ Trường Sa), quận 1 (bờ Hoàng Sa), quận Bình Thạnh (bờ Trường Sa) và kết thúc ở sông Sài Gòn (cửa vàm kênh NL – TN, gần xưởng đóng tàu Ba Son) Hình 1.2 mô tả vị trí lưu vực kênh NL – TN

Trang 21

Hình 1.1 Bản đồ khu vực TP.HCM

1.1.2 Điều kiện tự nhiên

Hình 1.2: Vị trí lưu vực kênh NL – TN (màu hồng) và sông Sài Gòn

1.1.2.1 Điều kiện địa hình và địa chất

TP.HCM nằm trong vùng giáp ranh giữa vùng đồi miền Đông Nam Bộ và đồng bằng Sông Cửu Long Độ dốc chung của khu vực theo hướng từ Bắc - Đông Bắc đến Tây - Tây Nam Xét về địa hình, TP.HCM có thể được chia làm ba vùng:

Bắc), Quận Gò Vấp, Tân Bình (một phần), Quận 1 và 3 Vùng này có cao độ từ 8 đến

10 m, địa hình khá dốc và nhiều đồi, lồi lõm dạng lượn sóng, tương đối ít khu vực bị ngập, rất thích hợp cho việc thoát nước về các đường tụ thủy là hệ thống kênh rạch

(ii) Vùng thấp: Giữa phía Nam và Đông - Nam Tp HCM, bao gồm Đông Hóc Môn (phía Tây Bắc Thành phố), Nam Bình Chánh (phía Tây), Nam Thủ Đức (phía Đông), Nhà Bè, các Quận 4, 6 và 8 (phía Nam) Vùng này có cao độ từ 0,6 đến 1,2 m, địa hình tương đối bằng phẳng, cao độ thấp, chung quanh là kênh rạch dày đặc Việc xây dựng ở khu vực này đòi hỏi phải tôn nền cao hơn mức triều cường từ các cửa sông

Trang 22

(iii) Vùng trũng: Phần Tây - Tây Nam của TpHCM, bao gồm một vùng dọc theo các kênh tiêu nước Thầy Cai và An Hạ Khu vực này nơi giáp nước, thường xuyên

bị ngập vào mùa mưa do nước lũ từ tỉnh Đồng Tháp đổ về, vì vậy vùng này không phù hợp với việc phát triển đô thị

Về điều kiện địa hình, lưu vực kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè bao gồm hai phần chính là vùng đồi và vùng thấp, phân bố như sau: (i) Vùng đồi: có độ cao địa hình lớn hơn 2,5 m MSL nằm ở khu vực quận 1, quận 3 (phía Nam lưu vực kênh); quận Gò Vấp, Phú Nhuận (phía Đông Bắc lưu vực), có độ dốc địa hình lớn nên thoát nước khá tốt; (ii) Vùng thấp: có độ cao địa hình nhỏ hơn 2,5m MSL nằm dọc tuyến kênh, các tuyến cống thoát nước chịu ảnh hưởng lớn từ thủy triều hầu như là vùng chứa nước của toàn bộ lưu vực khi mưa Do kênh thoát nước mưa không kịp nên khu vực này thường

bị ngập sau thời gian mưa

Về điều kiện địa chất, lưu vực kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè được phủ bởi một lớp trầm tích pleistocen sông, cấu tạo chủ yếu từ cát và đất sét Ở những vùng thấp dọc tuyến kênh do ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa một cách tự phát nên bề mặt phủ đa dạng gồm: cát xà bần, bột đất, đá vụn v.v

Có hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng

10, tháng 8 là tháng mưa nhiều nhất, chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, khô nhất vào tháng 2, chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc Nhìn chung, lượng mưa bình quân năm của thành phố cao từ 1.742,8 – 2.340,2mm/năm Mưa tập trung nhiều vào các tháng mùa mưa, chiếm 90% lượng mưa

cả năm Trong đó mưa lớn nhất xảy ra từ tháng 8 đến tháng 10, riêng các tháng 1, 2 và

Trang 23

3 lượng mưa rất thấp hoặc hầu như không có mưa Tuy nhiên năm 2017 xảy ra một số cơn mưa rải rác từ tháng 1 tới tháng 4 Cơn mưa có vũ lượng khá lớn (162mm đo được trại trạm Tân Bình) xuất hiện vào chiều ngày 1/4/2017, kéo dài hơn 3 giờ

TP.HCM chịu ảnh hưởng bởi 2 hướng gió chính là gió mùa Tây – Tây Nam và Bắc – Đông Bắc Trong đó, gió Tây – Tây Nam từ Ấn Độ Dương thổi vào mùa mưa, với tốc độ trung bình 2,4m/s và gió Bắc – Đông Bắc từ Biển Đông thổi vào mùa khô,

có tốc độ trung bình 2,4m/s Ngoài ra có gió Tín Phong theo hướng Nam Đông Nam vào khoảng tháng 3 tới tháng 5, có tốc độ trung bình 3,7m/s

Tổng số giờ nắng trong năm là 2.003, trong đó tháng 3 là tháng có nhiều giờ nắng nhất (236,9 giờ) Tổng lượng bức xạ trung bình hằng ngày trong năm khoảng 110 –

160 Kcal/cm2

Độ ẩm không khí tại TP.HCM trung bình 76,4%, chênh lệnh nhiều về độ ẩm giữa nơi khô nhất và nơi ẩm ướt nhất vào khoảng 10 – 15% Độ ẩm cao vào các tháng mùa mưa lớn nhất đạt khoảng 83% (tháng 9) và thấp vào các tháng mùa khô 68% (tháng 2)

1.1.2.3 Đặc điểm thuỷ văn sông Sài Gòn và kênh NL-TN

Hầu hết các sông, rạch trong Thành phố đều chịu ảnh hưởng dao động của chế độ bán nhật triều không đều biển Đông Mỗi ngày, nước lên xuống hai lần, theo đó thủy triều xâm nhập sâu vào các kênh, rạch trong Thành phố nên thường gây ra tình trạng ngập úng cục bộ ở khu vực nội thành

Chế độ thủy văn của sông Sài Gòn chịu ảnh hưởng rõ rệt của thủy triều lên đến tận chân đập hồ Dầu Tiếng, còn khá mạnh tại vị trí Bến Than, cách hợp lưu sông Sài Gòn và sông Đồng Nai 60km Lưu lượng thủy triều của sông Sài Gòn ở vàm kênh NL-

TN (15km thượng nguồn của hợp lưu sông Sài Gòn và sông Đồng Nai), vào khoảng ± 3.000m3/s Ở Phú Cường (45km thượng nguồn vàm kênh NL-TN), lưu lượng thủy triều khoảng ±1.500m3/s Lưu lượng thủy triều của kênh NL-TN ở vàm kênh vào khoảng

±75m3/s

Trang 24

Ở lưu vực thấp của hệ thống sông Đồng Nai, dòng chảy thường xuyên bị ảnh hưởng bởi thủy triều từ cửa sông và các dòng chảy từ thượng nguồn, được điều tiết bởi các công trình thủy lợi và thuỷ điện

Theo kết quả quan trắc tại trạm Phú An năm 2009 cho thấy: Mức nước triều bình quân cao nhất tại sông Sài Gòn là 1,385m MSL Bảng 1.1 mô tả trị số mực nước tháng cao nhất là tháng 1 (1,54m MSL) và tháng 11 (1,56m MSL) Trong khi Bảng 1.2 trình bày mực nước tháng thấp nhất là tháng 6 (- 2,27m MSL) và tháng 7 (-2,21m MSL) Về mùa khô, lưu lượng của nguồn các sông nhỏ, độ mặn 0,4‰ có thể xâm nhập trên sông Sài Gòn đến Lái Thiêu; có năm đến tận Thủ Dầu Một và trên sông Đồng Nai đến Long Đại Mùa mưa lưu lượng của nguồn lớn, nên mặn bị đẩy lùi ra xa hơn và độ mặn bị pha loãng đi nhiều

Bảng 1 1 Mực nước sông thấp nhất các tháng trong năm của sông Sài Gòn

Trang 25

Các dòng chảy vào sông Sài Gòn:

Dòng chảy sông Thị Tính ước tính vào khoảng 5,0 m3/s Lưu lượng của lưu vực NL-TN ước tính khoảng 1,16m3/s

Trang 26

Dòng chảy ra khỏi sông Sài Gòn:

Theo số liệu thống kê của Sở NN&PTNT, các khu công nghiệp và dân cư trong TP.HCM, Biên Hòa và Thủ Dầu Một đang sử dụng lượng nước khoảng 13,5m3/s từ sông Sài Gòn và sông Đồng Nai, đặc biệt là các nhà máy nước Bến Than, Bình An, Thiên Tân, và Nhà máy Quốc lộ No.1 đang sử dụng 21,0m3/s Lượng nước lấy từ sông Sài Gòn và sông Đồng Nai dùng cho thủy nông ước tính khoảng 20m3/s

Dòng chảy trong kênh NL-TN:

Chế độ thủy văn lưu vực NL-TN chịu ảnh hưởng từ sông Sài Gòn, theo chế độ bán nhật triều không đều, hầu hết các ngày trong thấng đều có 2 lần triều lên 2 lần triều xuống nhưng có một số ngày chỉ có 1 lần triều lên hoặc 1 lần triều xuống Sự chênh lệch mực nước giữa triều cường và triều kém dao động trong khoảng 2,5 – 4m

Do kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè có đáy sông nông, nhỏ và hẹp cùng với ảnh hưởng của chất thải gây cản trở dòng kênh Ngoài ra do độ cao địa hình thay đổi nhanh nên ảnh hưởng của thủy triều không mạnh mẽ dẫn đến nước bị lắng đọng gây ô nhiễm lòng kênh

Các loại nguồn nước từ mưa, từ nước thải, từ thủy triều hình thành nguồn nước kênh NL-TN Nguồn nước kênh gắn liền với các điều kiện cụ thể của lưu vực, phụ thuộc chặt chẽ vào thời điểm xuất hiện của từng quá trình Mỗi loại sẽ có những tính chất, những đặc trưng riêng về độ lớn và cường suất biến đổi hàm lượng vật chất gây mức độ độc và nó sẽ quyết định nên tính chất cơ bản về nguồn nước của kênh NL-TN Vào mùa mưa, nhờ lượng nước mưa lớn, kênh bớt ô nhiễm hơn do nước thải được pha loãng và đưa ngay ra sông Sài Gòn Kênh bị thu hẹp và bồi lấp nên khi mưa lớn, lượng nước mưa không thoát ngay ra sông mà kéo dài trong nhiều giờ, nhờ đó lưu lượng dòng kênh vẫn lớn hơn mùa khô giảm bớt ô nhiễm Tuy nhiên, bùn lắng đọng trên kênh vẫn phân hủy tạo mùi hôi Kết quả đo đạc lưu lượng trên kênh cho thấy:

- Lưu lượng mùa khô: tỉ lệ với biên độ triều (thay đổi theo ngày, tháng và vị trí mặt cắt đo đạc) Càng xa cửa rạch mực nước đỉnh triềuvà biên độ mực nước càng giảm

Trang 27

Do đó, nước từ cầu Kiệu đến vàm kênh tiêu thoát nước dễ dàng hơn đoạn bên trên thượng nguồn

- Lưu lượng mùa mưa: khu vực phía Bắc của lưu vực, mạng lưới thoát nước còn

thưa thớt, phần lớn nước thấm giúp điều hòa một phần lưu lượng Lượng nước mưa rất lớn so với nước thải (gấp hơn 20 lần) tạo dòng chảy mạnh trong kênh Tuy nhiên, dòng chảy này không đủ sức cuốn theo toàn bộ lượng cặn lắng đọng trên kênh, vẫn có sự phân hủy chất hữu cơ ngay trên kênh gây ô nhiễm với mức độ nhẹ hơn mùa khô

1.1.2.4 Chế độ thủy triều:

Hệ thống sông, rạch ở TP.HCM theo chế độ bán nhật triều, có 2 đỉnh triều (một cao một thấp) và 2 chân triều (một cao một thấp) Khác biệt giữa mực nước triều cường

và mực nước triều ròng thay đổi trong khoảng 2,7 - 3,3 m ở gần TP HCM và 2,5 - 4,0

m tại các cửa sông Do cao trình thấp (dưới 2,5 m), hầu hết các sông, rạch đều bị ảnh hưởng của thủy triều Một chu kỳ thủy triều đầy đủ kéo dài trung bình 12 - 15 ngày, gồm 5 - 7 ngày triều cường và 3 - 5 ngày triều ròng Thời gian triều lên thường vào khoảng 15 - 20 giờ, trong khi đó thời gian triều xuống chỉ vào khoảng 4 - 8 giờ Có ba chu kỳ thủy triều mỗi năm:

 Chu kỳ triều cao tháng 9 đến tháng 12

 Chu kỳ triều trung bình tháng 1 đến tháng 3

 Chu kỳ triều thấp tháng 4 đến tháng 8

Trang 28

ình 1.3 Sự tạo thành chu kỳ thủy triều

Hình 1.3 mô tả sự hình thành chu kỳ thuỷ triều Trong khoảng nửa tháng có 3 - 5 ngày triều lên, xuống mạnh (lên rất cao, xuống rất thấp) gọi là kỳ nước cường; sau đó

độ lớn triều giảm dần, kéo dài chừng 4-5 ngày, tiếp đó là 3-5 ngày triều lên xuống rất yếu gọi là kỳ nước kém Kế đó, độ lớn triều tăng dần trong vòng 4-5 ngày và bước vào

kỳ nước cường tiếp theo Các kỳ con nước lặp lại một cách tuần hoàn nhưng khác nhau

về cường độ Kỳ triều cường xảy ra vào tuần trăng rằm và đầu tháng âm lịch, khi mặt trăng, mặt trời và trái đất nằm trên một đường thẳng Tuần triều kém có độ lớn triều cực tiểu xảy ra vào thời kỳ trăng non và trăng già Trong trường hợp này, mặt trăng và mặt trời tạo với trái đất thành một góc vuông mà đỉnh là trái đất[22]

Trên sông Sài Gòn, ảnh hưởng của thủy triều kéo dài lên đến đập Dầu Tiếng tốc

độ của triều lên rất nhanh, bình trung 20 – 25km/giờ Tại cầu Thị Nghè 1, gần vàm sông Sài Gòn, đỉnh triều cao nhất 1,3m MSL, thường xảy ra trong tháng 12 đến tháng

1, mực nước thấp nhất khoảng – 15m MSL xảy ra vào tháng 7 và 8

Trong hệ thống kênh, rạch nội đồng, mức độ ảnh hưởng của thủy triều phụ thuộc vào địa hình lòng kênh, rạch (độ sâu, chiều rộng, quá trình truyền triều) đối với cửa sông Ở đây cần lưu ý là tốc độ chảy ra phần lớn đều lớn hơn tốc độ chảy vào, chỉ

có một vài nơi tốc độ chảy ra bằng tốc độ chảy vào Khi đó ở một số kênh, rạch thì khối lượng nước bẩn chưa chảy ra khỏi cửa kênh thì đã bị nước đẩy trở vào làm cho

Trang 29

tình hình ô nhiễm càng trầm trọng thêm (vì tính chất bán nhật triều- hai lần nước lớn và hai lần nước ròng) Thời gian quá ngắn chỉ 6 giờ nên lượng nước không kịp chảy ra ngoài sông chính và trên kênh rạch còn tồn tại vùng giáp nước Chính vì vậy nơi đây thường bị ô nhiễm rất nặng Ảnh hưởng của thủy triều lên khá xa trên 2 sông: sông Đồng Nai lên đến Trị An cách biển 150km; sông Sài Gòn lên đến Dầu Tiếng cách biển 180km Cùng với thủy triều là sự xâm nhập mặn, vào mùa mưa ảnh hưởng của thủy triều đối với độ mặn trên sông thấp nhưng về mùa khô, do lưu lượng sông giảm nhiều, ảnh hưởng rất lớn

1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội

Đứng đầu về dân số với 7.750.900 người (2010), chiếm khoảng 8,4% dân số cả nước, mật độ trungg bình là 3.669 người/km2 Nếu tính cả số cư dân tạm trú, luân chuyển thì ước tính có khoảng hơn 10 triệu người đang sinh sống, học tập và làm việc trong TP

TP.HCM là đầu tàu phát triển kinh tế của cả nước, hàng năm đóng góp 21,3 % GDP và 29,38% nguồn thu ngân sách cả nước (số liệu năm 2011) Trong đó sản xuất công nghiệp chiếm gần 30% giả trị sản xuất công nghiệp toàn quốc

Không những đi đầu trong phát triển công nghiệp, dịch vụ, tài chính, truyền thông, du lịch và thể thao, TP.HCM còn là đầu mối giao thông quan trọng nhất Việt Nam và Đông Nam Á, với đầy đủ các loại hình giao thông: đường bộ, đường sắt, đường thuỷ và đường hàng không, sắp tới sẽ phát triển cả tàu điện ngầm và đường sắt trên không v.v Đây cũng là nơi hội tụ, giao lưu văn hoá truyền thống trong và ngoài nước Rõ ràng TP.HCM đã và đang đóng vai trò vô cùng quan trọng trong phát triển

KTXH, giao lưu văn hoá và du lịch của Việt Nam và Thế giới

Lưu vực kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè nằm trên địa bàn của 7 quận nên chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi hoạt động kinh tế và đời sống của dân cư trong khu vực này Trong

đó Quận 1 là trung tâm của Thành phố, là nơi tập trung các hoạt động kinh tế, văn hóa,

du lịch, thương mại, giáo dục là chủ yếu Đây là nơi có cơ sở hạ tầng khá hoàn chỉnh

Trang 30

trên địa bàn thành phố Ven kênh chủ yếu là các hộ dân sinh sống và kinh doanh theo

mô hình cá thể nhỏ lẻ, không có doanh nghiệp lớn

Về dân số: theo thống kê trên lưu vực kênh có hơn 1.250.000 nhân khẩu (không

kể số khách vãng lai và cư trú bất hợp pháp) chiếm khoảng 30,7% dân số nội thành, phân bố không đều Cư dân chủ yếu là người nhập cư Mật độ dân số toàn khu vực chiếm bình quân là 361 người/ha, được phân bố không đồng đều trên các quận và phường trong lưu vực NL – TN Tập trung đông dân cư nhất là các khu nhà ở thấp tầng thuộc Quận 3, Quận 10, Quận Tân Bình, Quận Phú Nhuận với mật độ lên đến 500-1000người/ha (cao nhất là phường 12-Quận Phú Nhuận với mật độ 1.016người/ha); ở mức thấp với mật độ từ 90 - 200người/ha (thấp nhất là phường 8 - quận Phú Nhuận với 91người/ha) là các khu vực biệt thự trung tâm Quận 3 và các khu quân sự đang chuyển đổi thành khu dân cư hoặc các khu bán nông thôn thuộc Quận Tân Bình; mức trung

bình là các khu còn lại của lưu vựcvới mật độ khoảng 200 - 500người/ha (Nguồn: Viện

Quy hoạch xây dựng và thiết kế Đô thị)

ình 1.4 Một quán ăn trên đường Trường Sa (phường 5, quận Tân Bình) Ảnh: M Quý

– Báo Pháp luật số

Hoạt động kinh tế chủ yếu của các quận còn lại là tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, thương mại, du lịch

Trang 31

Hiện trạng nhà ở, công trình dân dụng: hơn 65% là nhà cấp 3, 4; còn lại là biệt thự và khu phố cấp 2 Bình quân diện tích nhà khoảng 8,2 m2/ người nhưng trên thực tế chỉ có 5,8 m2/ người do đất sử dụng cho các hoạt động thương mại, dịch vụ

Hiện trạng sản xuất công nghiệp: đa dạng về loại hình nhưng trình độ kỹ thuật thô sơ, không có tính tập trung cao, nằm xen kẽ trong các khu dân cư Hầu hết các cơ

sở này đều chưa có hệ thống xử lý hoặc chưa trang bị hoàn chỉnh gây ảnh hưởng đến môi trường Do đó thành phần và tính chất nước thải trong lưu vực NL-TN chủ yếu là nước thải sinh hoạt, ít ảnh hưởng bởi nước thải công nghiệp như ở các lưu vực khác

Sự dao động thành phần và tính chất nước thải theo không gian và thời gian không nhiều [7]

1.3 Các hệ thống thoát nước của TP.HCM

Hệ thống thoát nước ở trong và xung quanh Tp HCM có 3 sông lớn: sông Sài Gòn, sông Đồng Nai và sông Vàm Cỏ Đông Sông Sài Gòn và Đồng Nai hợp với nhau thành Sông Nhà Bè ở hạ nguồn Nơi đây cũng nhận nước từ sông Vàm Cỏ

1.3.1 Sông Sài Gòn:

Bắt nguồn từ vùng đồi núi cao thuộc Campuchia và huyện Lộc Ninh (Bình Phước), ở độ cao 200m, chảy qua các tỉnh Tây Ninh, Bình Phước, Bình Dương và Tp HCM rồi nhập vào song Đồng Nai tại Tân Thuận (Quận 7, Tp HCM) Sông có chiều dài khoảng 280km, diện tích lưu vực 5.105 km2 trong đó phần đất Việt Nam là 4.550

km2, chảy dọc trên địa phận Thành phố với chiều dài 80 km, chiều rộng đạt khoảng

225 m - 370 m và độ sâu tới 20 m Sông Sài Gòn có lưu lượng trung bình vào khoảng

54 m³/s Nhờ hệ thống kênh Rạch Chiếc, hai con sông Đồng Nai và Sài Gòn nối thông

ở phần nội thành mở rộng Trên sông có đập Dầu Tiếng, từ sau đập Dầu Tiếng sông Sài Gòn đi qua vùng đồng bằng thấp trũng và chịu ảnh hưởng của triều biển Đông Hằng năm tổng lượng dòng chảy sông Sài Gòn đổ vào sông Đồng Nai khoảng 2,96 tỉ m3

Trang 32

Sông Sài Gòn dài 220 km, bắt đầu ở cao độ 200 m chảy theo hướng Đông Nam đến hợp lưu với Sông Đồng Nai ở Cát Lái Sông Sài Gòn có lưu lượng là 2200 m3

/s tại Thủ Dầu Một Diện tích lưu vực Sông Sài Gòn là 5400 km2, gồm Tp HCM và một phần của các tỉnh Thủ Dầu Một và Bình Dương

Sông Sài Gòn là con sông lớn nhất chảy qua Thành phố với chiều rộng 225 370m, độ sâu khoảng 20m Phần sông chảy qua Tp HCM dài khoảng 23 km Chế độ thủy văn của Sông Sài Gòn bị ảnh hưởng bởi thủy triều

-Một công trình thủy lợi lớn – đập Dầu Tiếng – đã được xây trên Sông Sài Gòn và vận hành từ năm 1984 để phục vụ tưới tiêu Lượng nước từ đập Dầu Tiếng đổ vào Sông Sài Gòn là 10 - 20 m3/s trong mùa khô và 15 - 40 m3/s trong mùa mưa Sông Sài

Gòn có 3 nhánh chính: (i) Sông Thị Tính chảy vào Sông Sài Gòn tại Thủ Dầu Một, (ii) Rạch Tra tại Thuận An, và (iii) Sông Bến Lức tại phường Khánh Hội, Quận 4

1.3.2 Sông Đồng Nai:

Bắt nguồn từ dãy núi Lang Bian thuộc cao nguyên Lâm Viên của Nam Trường Sơn ở độ cao 2000m MSL kết hợp bởi 2 nhánh Đa Nhim và Đa Dung, hợp lưu bởi nhiều sông khác, có lưu vực khoảng 45.000 km² Với lưu lượng bình quân 20–500 m³/s, hàng năm cung cấp 15 tỷ m³ nước, sông Đồng Nai trở thành nguồn nước ngọt chính của Thành phố

Trên thượng nguồn sông Đa Nhim có hồ chứa Đơn Dương xả nước về sông Krông Pha (Bình Thuận) để phát điện (công suất 160MW, điện lượng 1025 triệu KWh)

và tưới cho 12.800 ha cánh đồng tỉnh Ninh Thuận Ở phần trung lưu, có các trạm thủy điện Đại Ninh, Đồng Nai 3, Đồng Nai 4 đã xây dựng, cuối cùng của nhánh này là tại Trị An (công trình thủy điện Trị An) với hồ chứa có dung tích 2.547 triệu m3) Hồ chứa Trị An đã điều tiết lại dòng chảy sông Đồng Nai để phát điện (công suất lắp máy 400MW) đồng thời làm tăng lưu lượng vào mùa khô ở hạ lưu sông Đồng Nai – Sài Gòn

Trang 33

Hạ lưu sông Đồng Nai được tính từ sau thác Trị An đến cửa sông Soài Rạp có chiều dài 150km đi qua nhiều vùng đồng bằng thấp, trũng, lòng sông mở rộng ra và sâu thêm, độ dốc nhỏ dần Chính vì vậy mà thủy triều ảnh hưởng đến tận chân thác Trị An

1.3.3 Sông Vàm Cỏ Đông

Sông Vàm Cỏ Đông chảy qua địa phận tỉnh Tây Ninh, Long An và nhập với Vàm Cỏ Tây rồi đổ vào sông Đồng Nai tại Vàm Láng, gần cửa sông Soài Rạp Sông Vàm Cỏ Đông có diện tích hứng nước 6.300 km2, chiều dài 283km, bề rộng sông biến đổi từ 200m – 300m, sâu từ 15m – 20m, độ dốc nhỏ hơn 0,0001 Diện tích nằm ngoài lãnh thổ Việt Nam là 3.344 km2, sông chảy trên đất Long An và đổ ra cửa Soài Rạp, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các cửa thoát nước lớn phía Nam và Tây – Nam qua sông Vàm Cỏ Đông và sông Cần Giuộc Đây là con sông làm nhiệm vụ tưới, tiêu kết hợp chảy qua vùng Tây Bắc và Tây Nam của Tp Hồ Chí Minh

1.3.4 Hệ thống kênh, rạch trong vùng trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh

TP.HCM có một hệ thống kênh rạch khá phát triển Các kênh thoát nước khu vực trung tâm Thành phố được chia ra làm năm lưu vực với tổng chiều dài các kênh chính là 55,6 km Các kênh phụ (dẫn nước vào kênh chính) có tổng chiều dài là 36,4

km Các kênh, rạch chính vùng trung tâm Thành phố gồm có: NL-TN, Tân Hóa – Lò Gốm, Tàu Hủ – Bến Nghé, Đôi – Tẻ, và Tham Lương – Bến Cát Trong đó, lưu vực kênh NL-TN có diện tích khoảng 33,2 km2 trải dài trong 7 quận của Tp HCM (gồm có quận 1, quận 3, quận 10, quận Bình Thạnh, quận Tân Bình, quận Phú Nhuận và quận

Gò Vấp)

Cao độ mặt đất của lưu vực NL – TN thay đổi như sau: cao nhất là quận Gò Vấp, quận 1, quận 3: 6 - 9m MSL đến thấp nhất ở ven kênh từ 1,5-2m MSL, chiều rộng kênh thay đổi từ 10 ÷ 25m, độ sâu từ 2 ÷ 4m Diện tích mặt nước khoảng 10ha với khối lượng nước về mùa cạn lúc chân triều khoảng 700.000m3

Kênh NL-TN cũng chịu ảnh

Trang 34

hưởng chế độ thủy triều sông Sài Gòn lan truyền vào kênh nên trong ngày, chiều nước chảy cũng thay đổi hai lần

1.3.5 Các hạng mục thoát nước trong lưu vực Nhiêu Lộc – Thị Nghè

Vùng đô thị trung tâm Tp HCM có hệ thống cống chung để thu gom nước mưa

và nước thải sinh hoạt Hệ thống thoát nước bao gồm mạng lưới cống ngầm và mương

hở để thu gom và thải bỏ ra kênh, rạch và cuối cùng chảy vào sông Sài Gòn, Đồng Nai

và Vàm Cỏ Đông

Sông và kênh trong trong Thành phố được nối liền với nhau về mặt thủy lực, có đặc điểm là độ dốc thủy lực rất nhỏ và chịu tác động của thủy triều sông Sài Gòn Thủy triều có biên độ dao động đáng kể từ 1,7 – 2,5 (tối đa 3,95m) với những thay đổi từ 20 – 30cm theo tháng âm lịch Sông và mạng lưới kênh được chia thành 5 lưu vực chính trong đó NL-TN (33km2) cùng với hệ thống thoát nước hiện hữu

Mạng lưới thoát nước chính (cấp 1, 2, và 3) của Thành phố gồm 92 km kênh, rạch

và 530 km cống ngầm, được phân loại thành 4 cấp như sau:

 Cấp 1: Các kênh, rạch hở tự nhiên tiếp nhận nước thải sinh hoạt và nước

mưa Kênh cấp 1 chia làm 2 loại: cấp 1a và 1b loại kênh cấp 1a là các kênh rạch hở thoát nước tự nhiện sẽ chỉ cải tạo nhỏ Loại kênh cấp 1b sẽ được cải tạo thành cống cấp

2

 Cấp 2: các tuyến cống ngầm và kênh dùng để thu nước từ các tuyến cấp 3

Cống cấp 2 tương đối lớn, đa số được cải tạo thành cống hộp, đường kính hoặc bề rộng cống 1m

 Cấp 3: các tuyến cống ngầm trên các trục đường phố thu nước từ các tuyến

cấp 4 Nhìn chung, cống cấp 3 thường có đường kính 600-800 mm hoặc cống vòm

400800 mm, 600800 mm

Trang 35

 Cấp 4: cống trong hẻm hay trên các trục đường nội bộ nối vào cống cấp 3,

đường kính thường từ 400 mm trở xuống

Kênh NL – TN chảy theo hướng Tây Bắc tới Đông Nam, tiếp nhận nước mưa và nước thải từ 29 cửa xả chính và 9 kênh nhánh Hệ thống thoát nước trong lưu vực NL –

TN gồm khoảng 130 km cống ngầm do Công ty Thoát nước Đô thị quản lý và khoảng

150 km cống ngầm do các Công ty Công ích thuộc các quận duy tu và kênh NL – TN

là cũng là tuyến chính thoát nước và thu gom nước thải chưa xử lý của khoảng 1,25 triệu dân sống trong lưu vực Nước thải từ kênh cấp 2, trực tiếp vào NL-TN hoặc vào các kênh nhánh của NL – TN bao gồm:

 Rạch cống Bà Xếp được cải tạo thành cống hộp 2,5x2m

 Rạch Bùng Binh được cải tạo thành cống hộp 2(2,5x2m),

 Rạch Miễu và rạch Ông Tiêu chuyển thành cống

 Rạch Miếu nổi: 1-6m, dài 640m

 Rạch Bùi Hữu Nghĩa rộng 2 – 8m, dài 620m vài trò chính của kênh này là thoát nước cho lưu vực nhỏ n ằm giữa 2 tuyến Đinh Tiên Hoàng và Bùi Hữu Nghĩa

 Rạch cầu Bông rộng 10 – 16m dài 1480m nối liền với rạch Cầu Sơn

 Rạch cầu Sơn (rộng 8 – 10m) dài 960m

 Rạch Phan Văn Hân (rộng 1 – 12m, dài 1.020m) thoát nước cho tuyến đường

Xô Viết Nghệ Tĩnh và Điện Biên Phủ Tuy nhiên, hiện nay do phát triển đô thị 2 đầu rạch được cải bằng cống kín

 Rạch Văn Thánh (rộng 12 – 24m, dài 1.465m) là khu vực vùng trũng thấp, rạch chức năng điều hòa lưu lượng nước

Bao phủ lưu vực là mạng lưới cống ngầm không đồng nhất Ở khu vực trung tâm thành phố, mật độ cống tương đối nhiều, nhưng trong những khu vực biên của lưu vực thì ít hơn Do mật độ không đồng nhất, phần lớn dân cư sống phía Bắc lưu vực

Trang 36

chịu ảnh hưởng thiếu cống thoát nước Bảng 1.3 trình bày mật độ cống thoát nước

trong lưu vực NL – TN Nhiều mạng lưới thoát nước được nối liền với nhau Điều này cho phép sử dụng tốt mạng lưới, nhưng kiểm soát từng đoạn kênh khó khăn

Tân Bình

Gò Vấp

Bình Thạnh

(nguồn: số liệu của Cty thoát nước đô thị,1995) [18]

1.4 Tổng quan về môi trường ngập nước đô thị

Ngày nay, các nhà thống kê học đã đưa ra những con số về sự gia tăng đến mức chóng mặt những thiệt hại nặng nề do môi trường NNĐT gây ra Nếu như ở đầu thế kỷ

20, trung bình mỗi năm trên thế giới, thiệt hại do NNĐT gây ra vào khoảng 100 triệu

đô la Mỹ, thì đến nửa sau thế kỷ con số này đã vượt quá 1 tỷ, trong 10 năm trở lại đây

là trên 100 tỳ

Các tài liệu nước ngoài cũng chỉ rõ rằng, 20 đến 30 năm gần đây, mức độ lũ, lụt tăng lên rất rõ rệt Năm 1968, tại Hội nghị tài nguyên nước, căn cứ vào tình hình công trình phòng chống lũ, lụt và tình hình thực hiện qui hoạch phát triển đồng bằng ngập, lụt, Mỹ đã dự báo tổn thất do lũ gây ra có thể từ 1,7 tỷ USD năm 1960 tăng lên đến hơn

5 tỷ USD vào năm 2020 Thực tế con số thiệt hại lớn hơn nhiều so với dự báo Dưới

Trang 37

đây sẽ cung cấp một số số liệu, thông tin về tình trạng ngập, lụt đô thị của một số nước trên Thế giới:

1.4.1 Môi trường ngập nước đô thị trên Thế giới

1.4.1.1 Diễn biến

Cơn bão Katrina đổ bộ vào bang Loisiana, Hoa Kỳ, vào ngày 29/8/2005, với sức gió đạt tới 241 km/giờ làm hàng ngìn người chết, phá hoại hai con đê bảo vệ thành phố New Orleans, khiến 80% diện tích bị ngập sâu trong nước 7- 8 m Thiệt hại ước tính khoảng 15 tỷ USD (Hình 1.5)

UNIVERSITY OF TECHNOLOGY

TÌNH HÌNH NGẬP NƯỚC TRÊN THẾ GiỚI (MỸ)

11

 Trận lụt ở Tp Lusiana, Bang New Orlean,

do siêu bão Katrina (280km/h), kéo dài từ

23-31/8/2005 làm 1.800 người chết và

thiệt hại khoảng 108 tỷ USD.

 Những người vừa thoát ra khỏi ô tô bị chìm trong nước lũ do cơn mưa vũ lượng lớn

445 mm xảy ra ở Tp Houston, ngày 18/4/2016, làm chết 5 người , 1000 nhà bị ngập v.v

Hình 1.5: Diễn biến ngập nước đô thị ở Mỹ

Trang 38

UNIVERSITY OF TECHNOLOGY

TÌNH HÌNH NGẬP NƯỚC TRÊN THẾ GiỚI (PARIS - PHÁP 2016)

12

Dưới chân tháp Effene là biển nước mênh mông.

Hình 1.6: Diễn biến ngập nước đô thị ở Pháp

Nước Pháp vừa phải gánh chịu trận lũ, lụt lịch sử xảy ra trên lưu vực sông Seine, ngay tại Thủ đô Paris Thiệt hại ước tính khoảng 2,0 tỷ EUR Hình 1.6 mô tả nước tràn bờ ở thủ đô Paris, ngày 2/6/2016, gây ngập nhiều nơi trong Thủ đô Trong đó

nước tràn lên tới chân tháp Effel (Hình 1.6)

Các đô thị vùng Đông Nam Á như Bangkok (Thái Lan), Giakata (Indonesia), Manila (Philippine), Phnom Penh (Cambodia), Vientiane (Lào) v.v cũng xảy ra ngập nước đô thị do những trận lũ, lụt gây thiệt hại về người và kinh tế nghiêm trọng Trong

đó Philippine là nước chịu thảm hoạ về bão, lũ hơn cả

Trang 39

Hình 1.7: Sân bay Donmuong, Bangkok trong trận lũ, lụt xảy ra vào năm 2011

Trận lũ, lụt đặc biệt lớn, xảy ra trong mùa mưa năm 2011 tại Thái Lan, nghiêm trọng nhất ở lưu vực sông Chao Phraya, nơi Thủ đô Bangkok chịu thiệt hại khủng khiếp nhất Bắt đầu từ cuối tháng 7 và kéo dài liên tục trong hơn hai tháng Thiệt hại do trận lũ, theo số liệu sơ bộ đã gây ra 307 ca được báo cáo là tử vong, hơn 2,3 triệu người

bị ảnh hưởng, thiệt hại ước tính lên tới 156,7 tỷ baht (5,1 tỷ USD) tính đến thời điểm ngày 18 tháng 10 năm 2011 Lũ, lụt đã tràn ngập khoảng 6 triệu ha đất, hơn 300.000 ha

là đất nông nghiệp, trong 58 tỉnh, từ Chiang Mai ở miền Bắc đến các khu vực của thủ

đô Bangkok, nằm gần các nhánh của lưu vực sông Chao Phraya Đây được mô tả là

"trận lũ, lụt tồi tệ nhất tính về lượng nước và số người dân chịu ảnh hưởng" Bảy khu công nghiệp lớn đã bị ngập sâu đến 3 mét và ước tính sẽ kéo dài khoảng 40 ngày Số liệu người chết và mất tích được thống kê sau trận lũ là 800 người, thiết hại về kinh tế

ước tính khoảng 45 tỷ USD và luỹ tiến sau trận lụt lên tới khoảng 85 tỷ USD

1.4.1.2 Kinh nghiệm xử lý ngập nước đô thị

Các trận lũ, lụt lớn tái diễn liên tục tại nhiều thành phố trên Thế giới đã dẫn đến

sự ra đời của nhiều giải pháp nhằm giảm thiểu tác động của ngập, lụt Trong đó bao gồm các giải pháp công trình và phi công trình

a) Giải pháp công trình:

Trang 40

Trong phòng, chống lũ, lụt là sử dụng các loại hình công trình để làm

thay đổi đặc tính lũ và môi trường tự nhiên, nhằm đạt đến mục tiêu ngăn ngừa

và giảm thiểu tác hại do lũ, lụt gây ra Để phòng chống lũ, lụt, thường có 5 biện

pháp công trình cơ bản là:

 Chỉnh trị sông, ngòi (nắn dòng)

 Đắp đê ngăn nước lũ tràn vào thành phố, khu dân cư, khu công nghiệp,

 Xây dựng công trình phân lũ sang lưu vực khác,

 Xây dựng các hồ chứa lũ và chậm lũ (hồ chứa điều tiết nước đa mục tiêu)

 Xây dựng các công trình xử lý đất đai

Ngoài ra còn có một số loại công trình kiêm dụng khác như:

Đê bối, đập ngăn lũ cục bộ, đê bao khu dân cư, khu tôn cao tránh lũ, đê vây

sản xuất (có trạm bơm đi kèm)

b) Giải pháp phi công trình:

Là biện pháp tôn trọng tự nhiên, thích ứng với tự nhiên mà không phải là

làm thay đổi tự nhiên một cách cứng nhắc Kế hoạch quản lý khu ngập lụt theo

biện pháp phi công trình, bất kể từ góc độ kinh tế hay từ góc độ chính trị, đều là

thích hợp; trong giai đoạn quy hoạch sơ bộ khai thác lưu vực, nên xét đến các

biện pháp phi công trình Việc sử dụng hợp lý tài nguyên đất vùng ngập lũ và

quản lý một cách khoa học sự phát triển kinh tế - xã hội ở đây là vấn đề quan

trọng nhằm giảm thiểu tổn thất do lũ, phát huy đầy đủ, hiệu qủa các giải pháp

phòng chống lũ, lụt

Giải pháp phi công trình là những biện pháp mới nhằm giảm nhẹ tổn thất

do lũ gây ra, không phải để làm thay đổi đặc tính tự nhiên của lũ, mà thông qua

việc quản lý có kế hoạch, từ hai góc độ pháp luật và hành chính, kiểm soát được

khu vực ngập lụt Bằng sự chỉ đạo và hạn chế kịp thời việc sử dụng đất và các

dự án xây dựng đối với khu vực dễ ngập lụt, đạt được mục tiêu giảm nhẹ tổn

thất Nội dung của nó có thể tóm lược như sau:

Ngày đăng: 05/03/2021, 19:12

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w