1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Thong tin chuyen de so 8

16 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 206,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với mục đích đó, Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế - xã hội Quốc gia đã nghiên cứu, tổng hợp thông tin chọn lọc “Bàn về phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam” với những mục như

Trang 1

Bàn về phát triển ngành công nghiệp ôtô Việt Nam

Lời nói đầu

Để góp phần phục vụ có hiệu quả quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và xây dựng tiềm lực an ninh, quốc phòng của đất nước, Nhà nước ta đã khuyến khích phát triển ngành công nghiệp ô tô Phát triển nhanh ngành công nghiệp ô tô trên cơ sở thị trường và hội nhập với nền kinh tế thế giới, lựa chọn các bước phát triển thích hợp, khuyến khích chuyên môn hoá - hợp tác hoá nhằm phát huy lợi thế, tiềm năng của đất nước; đồng thời tích cực tham gia quá trình phân công lao động và hợp tác quốc tế trong ngành công nghiệp ô tô

Hơn 10 năm phát triển, mặc dù ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đã có những bước tiến, nhưng nhìn chung vẫn chưa đạt được kết quả như mong đợi Việt Nam đã bước vào trong cánh cửa của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), tương lai của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam sẽ như thế nào và làm gì để phát triển ngành công nghiệp ô tô trong môi trường hội nhập? Đấy là vấn đề mà các nhà chuyên môn và quản lý cần tìm lời giải Để tiếp tục hoạch định chính sách cho phát triển ngành công nghiệp ô tô trong môi trường hội nhập thực sự vào nền kinh tế thế giới cần nhìn nhận một cách tường tận những khó khăn, thách thức đối với ngành công nghiệp ô tô Việt Nam và đưa ra những kế sách để phát triển có hiệu quả Với mục đích đó, Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế - xã hội Quốc gia đã nghiên cứu, tổng hợp

thông tin chọn lọc “Bàn về phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam” với những mục

như sau:

Mục I - Thị trường và giá cả ô tô Việt Nam hiện nay

Mục II - Tình hình sản xuất ô tô tại Việt Nam hiện nay

Mục III - Những vấn đề đặt ra đối với ngành công nghiệp ô tô Việt Nam khi hội nhập Mục IV - Một số giải pháp phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam trong môi trường

hội nhập

Xin trân trọng giới thiệu kết quả nghiên cứu nói trên và hy vọng những thông tin trong nghiên cứu này có tác dụng tốt cho các cấp lãnh đạo.

TRUNG TÂM THÔNG TIN VÀ DỰ BÁO KINH TẾ – XÃ HỘI QUỐC

GIA

I THỊ TRƯỜNG VÀ GIÁ CẢ Ô TÔ VIỆT NAM HIỆN NAY

1 Thị trường ô tô Việt Nam

Thị trường ô tô là một trong những thị trường có nhiều rào cản nhất Thứ nhất là rào cản về chính sách - chủ yếu là chính sách thuế, thứ hai là rào cản về sở hữu trí tuệ, thứ ba là rào cản

kỹ thuật, thứ tư là rào cản về biên giới giữa các quốc gia và tình trạng “chuyển giá” (transfer pricing)

Trong một thị trường có nhiều rào cản như vậy, nếu các doanh nghiệp sản xuất ô tô liên kết với nhau, thì khả năng người tiêu dùng bị thiệt hại là không tránh khỏi Theo các chuyên gia đánh giá, hiện nay ô tô ở thị trường Việt Nam có mức giá cao nhất thế giới và khu vực Ví

dụ xem cụ thể về giá bán xe Toyota Camry 3.0 trên thị trường nội địa: xe Toyota Camry 3.0 lắp ráp tại Việt Nam đã có lúc bán giá 65.000 USD, gấp 3 lần cùng loại xe này sản xuất tại

Trang 2

Nhật - từ 18.000 đến 25.000 USD (giá CIF Việt Nam cùng thời điểm)

Giá ô tô đắt như vậy, nhưng trong một vài thời điểm các nhà sản xuất ô tô Việt Nam lại tạo

ra những “cơn sốt” giả tạo tại thị trường ô tô nội địa Chẳng hạn như vào thời điểm những tháng cuối năm 2004, khi mức thuế tiêu thụ đặc biệt tăng từ 24% lên 40% thì lúc này hầu như các nhà sản xuất “găm” xe lại không bán ra

Tiêu dùng ô tô ở Việt Nam hiện nay còn ở mức thấp, thuế đối với ô tô còn cao, người tiêu dùng phải mua ô tô với giá cao so với mặt bằng của các nước trong khu vực và còn có ít cơ hội để lựa chọn

Các doanh nghiệp sản xuất ô tô Việt Nam trong thời gian qua hầu như chỉ lắp ráp sản xuất

ô tô khi đã có đơn đặt hàng của khách hàng Chính vì vậy, người tiêu dùng có ít cơ hội để lựa chọn Khi Nhà nước cho phép nhập xe cũ, người tiêu dùng đã kỳ vọng mua được ô tô giá rẻ, nhưng điều đó đã không xẩy ra vì ô tô cũ nhập khẩu vẫn bán với giá rất cao do phải chịu mức thuế quá cao Do đó tại thị trường ô tô Việt Nam hầu như các doanh nghiệp sản xuất ô tô tại Việt Nam chưa phải chịu sức ép cạnh tranh từ bên ngoài, có chăng chỉ là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp với nhau Đây cũng là nguyên nhân khiến giá bán ô tô sản xuất tại Việt Nam vẫn giữ ở mức rất cao

Cả nước hiện có chưa đến 1 triệu ô tô các loại Xét một quốc gia có nền kinh tế đang phát triển với tốc độ trên 8%/năm và dân số trên 84 triệu người thì con số này là quá nhỏ, điều đó nói lên Việt Nam là một thị trường còn rất nhiều tiềm năng Hiện nay số lượng xe ô tô tiêu thụ của cả nước hàng năm đạt trên dưới 130.000 xe các loại, trong đó lượng tiêu thụ xe con chiếm khoảng 27% tương đương với khoảng 35.000 xe Năm 2004 nước ta đã nhập khẩu 22.500 xe các loại, năm 2005 nhập khoảng 18.500 xe và 2006 dự kiến nhập khoảng 21.000 xe

Theo tính toán, khi mức thu nhập bình quân đầu người đạt mức 3.000 USD/người/năm thì thị trường ô tô sẽ bùng nổ Hiện nay các thành phố lớn của Việt Nam mới đạt thu nhập bình quân đầu người khoảng 1.500-2.000 USD/năm, nên cần có thời gian để đời sống người dân tiếp tục được nâng lên

Một số nhà chuyên môn thì cho rằng, thị trường ô tô con Việt Nam sẽ đạt mức 100.000 xe/năm sau vài năm nữa Các cơ quan chức năng thì dự báo quy mô thị trường ô tô Việt Nam

có thể đạt mức 1 triệu xe/năm trong tương lai xa, tương đương với Thái Lan hiện nay Điều này cũng có thể thực hiện được bởi Việt Nam đang nằm trong khu vực (ASEAN và Trung Quốc), mà khu vực này đang được đánh giá là thị trường ô tô tiềm năng cuối cùng trên thế giới với mức tiêu thụ sẽ đạt khoảng 12 triệu xe/năm, bằng thị trường Bắc Mỹ hiện nay Nhưng

từ nay đến năm 2010 thị trường ô tô Việt Nam vẫn phát triển chậm do chính sách thuế còn quá cao, hệ thống giao thông chưa phát triển và mức thu nhập bình quân đầu người vẫn ở mức thấp

Không thể phủ nhận việc các liên doanh ô tô trong nước đã có được những “cú hích” tác động mạnh mẽ lên thị trường trong thời gian qua Đó là sự xuất hiện các dòng xe mới như Innova của Toyota Việt Nam, dòng xe thương mại Sprinter của Mercedes-Benz Việt Nam, mẫu xe hạng nhỏ Civic của Honda Việt Nam… Ngoài các nhà sản xuất đang có mặt tại Việt Nam, thị trường ô tô trong nước cũng sẽ cạnh tranh sôi động hơn với sự có mặt của dòng xe Trung Quốc rẻ tiền và sự ra đời sản phẩm ô tô giá rẻ của Công ty Liên doanh ô tô JRD - Việt Nam tại Phú Yên

Thị trường ô tô Việt Nam vẫn chưa xoá bỏ được tâm lý chờ đợi xe giá rẻ từ phía người tiêu dùng, nhất là từ khi ô tô cũ được nhập khẩu vào Việt Nam Xe ô tô cũ nhập khẩu thực tế hiện nay bán trên thị trường nội địa với giá cũng cao, vì thế ô tô sản xuất trong nước tiếp tục lấy lại

Trang 3

được thị trường và hiện nay vẫn chưa phải chịu sức ép cạnh tranh với luồng xe cũ nhập khẩu Thị trường ô tô trong nước tuy có nhiều chủng loại xe nhưng vẫn chưa có được mức giá thấp như mong đợi của người tiêu dùng Các chuyên gia đánh giá, thị trường ô tô trong nước vẫn chưa thoát khỏi tình cảnh khó khăn, hiện nay còn rất nhỏ và đang trên đà phát triển, nhưng được các nhà đầu tư đánh giá chung là trong tương lai thị trường ô tô Việt Nam sẽ là một thị trường tiêu thụ lớn và nhiều tiềm năng lợi nhuận cho nhà đầu tư

2 Giá bán xe ô tô tại Việt Nam

Theo các chuyên gia đánh giá, hiện nay giá bán các loại xe (cả xe sản xuất trong nước và

xe nhập khẩu) tại thị trường Việt Nam vẫn ở mức rất cao so với thị trường khu vực và thị trường thế giới

Người tiêu dùng Việt Nam đang phải mua ô tô với giá cao hơn gấp 2 lần so với các nước phát triển như Tây Âu, Nhật Bản và khoảng 1,5 lần so với các nước như Thái Lan, Singapore , trong khi mức thu nhập của người tiêu dùng Việt Nam vẫn đang đứng ở mức gần như thấp nhất trên thế giới

Trong năm 2006, mặc dù một số doanh nghiệp sản xuất ô tô tại Việt Nam đã thực hiện một

số chương trình khuyến mại, giảm giá nhưng giá bán ô tô sản xuất trong nước vẫn còn rất cao

và người tiêu dùng cho là giá xe còn quá đắt so với mặt bằng chất lượng của xe

Qua bảng so sánh dưới đây có thể thấy rõ sự chênh lệch quá lớn về giá xe ô tô bán tại thị trường Việt Nam so với các nước trong khu vực Đông Nam á

Bảng so sánh giá bán một số loại xe mới thông dụng tại Việt Nam với các nước trong khu vực

Đơn vị: USD

Nhãm xe

Giá bán xe tại các nước trong khu vực Đông Nam

Á

Giá bán

xe tại Việt Nam

Chênh lệch

Ford Focus 2.0 MT 14.075 - 17.410 37.200 +(23.125 - 19.790) Mazda 6 : 2.3 18.995 - 24.345 46.900 +(27.905 - 22.555) Toyota Camry 3.0 19.025 - 25.555 65.000 +(45.975 - 39.445)

Ford Escape 3.0 19.425 - 28.455 47.400 +(27.975 - 18.945) Ford Ranger XLT 14.610 - 20.275 31.300 +(16.690 - 11.025) Mitsubishi Lancer Gala 2.0 15.199 39.280 + 24.081

Theo nguồn: www.otoxemayviet.com.

Mặt khác, xe sản xuất tại Việt Nam không được đảm bảo đủ tiêu chuẩn như xe tại các nước, cụ thể ở các điểm sau đây:

+) Các nhà máy sản xuất ô tô Việt Nam không có đủ điều kiện chạy thử xe trên băng chuyền

để kiểm định sức chịu lực khi đâm nhau và cũng chưa có kiểm tra xe thử nghiệm đường trường

Trang 4

đối với sản phẩm ô tô xuất xưởng

+) Xe sản xuất trong nước không có hệ thống lọc hơi xăng từ bình xăng và hệ thống lọc khói

+) Công nghệ sản xuất thấp về chất lượng ở các khâu sơn điện ly (mạ điện sơn), hàn, khuôn mẫu, dập ép, phun sơn tĩnh điện…

Trong khi đó, xe nhập khẩu có các ưu điểm: xe được chế tạo, lắp ráp, kiểm tra theo những tiêu chuẩn chất lượng rất nghiêm ngặt, quy trình chế tạo vật liệu, chi tiết máy móc, khung gầm, vỏ, nội ngoại thất, các trang thiết bị an toàn chủ động, thụ động cho ô tô đều tuân thủ các tiêu chuẩn chất lượng cao; hệ thống giảm xóc, kết cấu chịu tải của xe ít bị hư hỏng… Chính vì vậy, xe ô tô nhập khẩu (cả mới và cũ) đều thu hút sự quan tâm của người tiêu dùng Việt Nam

Nguyên nhân giá bán ô tô tại thị trường Việt Nam còn quá cao chủ yếu là do ô tô sản xuất trong nước chưa phải cạnh tranh với hàng nhập khẩu, các doanh nghiệp sản xuất trong nước còn có sự liên kết với nhau để giữ giá xe trên thị trường, các mức thuế áp dụng đối với xe ô

tô (cả xe sản xuất trong nước lẫn xe nhập khẩu) còn cao

Để bảo vệ lợi ích người tiêu dùng và phát triển thị trường tiêu thụ ô tô, giá bán xe ô tô tại Việt Nam cần được điều chỉnh giảm xuống ngang bằng với giá trị thực của nó và ngang bằng với giá bán xe cùng loại tại các nước trong khu vực

II TÌNH HÌNH SẨN XUẤT Ô TÔ TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

1 Mục tiêu phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam

Phát triển ngành công nghiệp ô tô là một trong những lựa chọn của các quốc gia đang phát triển trong quá trình công nghiệp hoá đất nước vì ngành công nghiệp ô tô góp phần thúc đẩy

sự phát triển của các ngành khác Việt Nam cũng đã đặt ra mục tiêu phát triển ngành công nghiệp ô tô và coi đây là ngành công nghiệp rất quan trọng cần được ưu tiên phát triển để góp phần phục vụ có hiệu quả quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và xây dựng tiềm lực an ninh, quốc phòng của đất nước

Chiến lược phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đặt ra mục tiêu chung là “Phát triển ngành công nghiệp ô tô trên cơ sở tiếp thu và ứng dụng công nghệ tiên tiến của thế giới, kết hợp với khai thác và từng bước nâng cao công nghệ và thiết bị hiện có, đáp ứng phần lớn nhu cầu thị trường ô tô trong nước, hướng tới xuất khẩu ô tô và phụ tùng” Mục tiêu đó là phù hợp và rất cần thiết cho sự phát triển của Việt Nam Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp

ô tô Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến 2020 đã được Chính phủ phê duyệt ngày 05 tháng

10 năm 2004 (tại Quyết định số 177/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ)

Phát triển theo định hướng chiến lược đó, đến nay nhiều doanh nghiệp lắp ráp và sản xuất phụ tùng ô tô đã ra đời, nhiều chủng loại xe đã được sản xuất ra tại Việt Nam như xe khách,

xe bán tải, xe con Tuy nhiên, chúng ta cũng thấy rằng ngành công nghiệp ô tô Việt Nam mới hình thành, còn quá trẻ, cho nên kết quả còn quá hạn chế, đặc biệt là về tỷ lệ nội địa hóa, về phát triển ngành công nghiệp phụ trợ, về năng lực cạnh tranh của sản phẩm ô tô sản xuất tại Việt Nam

Theo các chuyên gia nghiên cứu sự phát triển của ngành công nghiệp ô tô trong và ngoài nước, để phát triển ngành công nghiệp ô tô chúng ta có thể đi từ lắp ráp và cũng như hầu hết các quốc gia trong khu vực đều phải như vậy khi quyết định phát triển ngành công nghiệp ô

tô Song để có ngành công nghiệp ô tô thực sự, ngành công nghiệp phụ trợ sản xuất phụ tùng, linh kiện của ô tô cũng phải phát triển để đáp ứng cho nhu cầu của các nhà lắp ráp

Trang 5

Chương trình nội địa hóa trong ngành công nghiệp ô tô Việt Nam trong những năm qua đã không đạt được kết quả như mục tiêu đề ra trong Quy hoạch phát triển, mà một trong những nguyên nhân quan trọng là do hệ thống mạng lưới sản xuất phụ tùng, linh kiện của ngành công nghiệp phụ trợ chưa phát triển Các nhà máy lắp ráp ô tô rất muốn đạt tỷ lệ nội địa hóa cao để được hưởng thuế suất thuế nhập khẩu thấp, nhưng họ lại không tìm được nguồn cung ở trong nước Ngược lại, do nhu cầu quá nhỏ nên các doanh nghiệp cũng không đầu tư nhiều vốn vào sản xuất phụ tùng

Để phát triển ngành công nghiệp phụ trợ, trước hết Việt Nam cần xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển cho từng ngành cụ thể Song song với xây dựng quy hoạch là phát triển các trung tâm hỗ trợ kỹ thuật và các cơ sở đào tạo về kinh doanh, kỹ thuật và công nghệ sản xuất

ô tô Đây là giải pháp giúp cho các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp phụ trợ ô tô tiếp cận các chuẩn mực chất lượng quốc tế

2 Năng lực sản xuất ô tô của Việt Nam

Hiện tại Việt Nam có 11 liên doanh chuyên lắp ráp ô tô, chưa kể 5 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vừa được cấp phép Đối với các doanh nghiệp ô tô vốn đầu tư trong nước, hiện nay có hơn 30 công ty chuyên lắp ráp và 10 công ty nữa đang trong quá trình xây dựng Năng lực lắp ráp sản xuất ô tô các loại của các doanh nghiệp tại Việt Nam có công xuất thiết

kế trên 200.000 xe các loại mỗi năm, trong đó khoảng 160.000 xe con

Nhìn chung tại thời điểm hiện nay, so với nhu cầu tiêu dùng xe của thị trường trong nước thì cơ cấu sản xuất, lắp ráp xe ở nước ta đang thừa năng lực sản xuất xe con và còn thiếu năng lực sản xuất xe tải và xe chuyên dùng Các doanh nghiệp liên doanh chủ yếu lắp ráp xe con, hiện nay mới đạt được khoảng 30% công suất thiết kế Có lẽ chính vì thừa năng lực sản xuất nên các doanh nghiệp lắp ráp các loại xe con cao cấp chỉ sản xuất và lắp ráp khi đã có đơn đặt hàng của khách hàng

Về phát triển công nghiệp phụ trợ, hiện nay năng lực sản xuất của công nghiệp phụ trợ ngành ô tô còn rất yếu, chưa đáp ứng được nhu cầu linh kiện và phụ tùng ô tô (cả về số lượng

và chất lượng sản phẩm) của các doanh nghiệp lắp ráp Hiện nay cả nước mới chỉ có khoảng

60 doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp phụ trợ sản xuất linh kiện và phụ tùng ô tô, trong khi nhu cầu cần đến hàng nghìn doanh nghiệp sản xuất trong lĩnh vực này

Ngoài tiêu thụ sản phẩm tại thị trường Việt Nam, một số doanh nghiệp lắp ráp sản xuất ô tô

và linh kiện, phụ tùng đã xuất khẩu sản phẩm ra thị trường nước ngoài Cụ thể như Tổng công

ty Ô tô Việt Nam (Vinamotor) đã xuất khẩu được loại xe buýt sang châu Phi; Công ty Vidamco xuất khẩu phụ tùng sang ASEAN, cụ thể là đã xuất khẩu bình xăng sang thị trường Thái Lan; Công ty Toyota Việt Nam xuất khẩu phụ tùng hàng năm khoảng 20 triệu USD

3 Trình độ công nghệ sản xuất và chất lượng sản phẩm ô tô của Việt Nam

Hiện nay các doanh nghiệp sản xuất ô tô tại Việt Nam đang sử dụng công nghệ lắp ráp thủ công là chủ yếu Thực tế trong nước ta chưa có nhà máy nào có dây chuyền sản xuất mang tính đồng bộ và tự động hóa các công đoạn Do công nghệ sản xuất lạc hậu đã dẫn tới sản phẩm ô tô sản xuất tại Việt Nam có chất lượng thua kém chất lượng ô tô cùng loại của nước ngoài Ô tô sản xuất tại Việt Nam không đạt tiêu chuẩn về tiếng ồn, độ an toàn và không đạt tiêu chuẩn về khí thải của khu vực và thế giới Một số doanh nghiệp sản xuất ô tô trong nước và các liên doanh chỉ chú trọng đến bán sản phẩm mà chưa quan tâm nhiều đến nâng cao chất lượng sản phẩm và hiện đại hóa công nghệ sản xuất

Các nhà máy sản xuất ô tô Việt Nam mới chỉ dừng lại ở công đoạn lắp ráp với các khâu

Trang 6

sơn, hàn và lắp ráp linh kiện phụ tùng Chỉ có hai doanh nghiệp liên doanh hoàn tất được bốn khâu của công đoạn lắp ráp là: dập (khung), hàn, sơn và lắp ráp linh kiện phụ tùng, đó

là Công ty Toyota Việt Nam và Công ty Ô tô Honda Việt Nam

Đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đa phần các doanh nghiệp lựa chọn sản phẩm xe con và xe khách nhỏ (dưới 17 chỗ ngồi) để sản xuất Cho tới nay với 11 doanh nghiệp liên doanh cung cấp cho thị trường ô tô Việt Nam hơn 110 chủng loại xe con

Đối với doanh nghiệp có vốn nhà nước, chủ yếu tập trung sản xuất xe khách từ 35 – 64 chỗ ngồi và cũng đưa vào thị trường trên 10 chủng loại xe Đối với các doanh nghiệp tư nhân, chủ yếu tập trung vào dòng xe tải hạng nhẹ có trọng tải từ 0,5 – 2,5 tấn, chủng loại

của dòng xe này cũng rất phong phú Xe tải sản xuất và lắp ráp trong nước chiếm 90% số

lượng tiêu thụ trên thị trường nội địa và đã được thị trường Việt Nam chấp nhận vì sản phẩm được nghiên cứu cải tiến công năng phù hợp với địa hình và thời tiết ở Việt Nam Ngành sản xuất ô tô Việt Nam còn hạn chế rất nhiều ở khâu sản xuất linh kiện và phụ tùng

Hệ thống các doanh nghiệp sản xuất linh kiện, phụ tùng (công nghiệp phụ trợ ngành sản xuất

ô tô) chưa phát triển tương xứng với sự phát triển của các nhà máy lắp ráp Mặt khác, chất lượng sản phẩm phụ tùng và các linh kiện sản xuất trong nước còn quá thấp chưa đáp ứng được yêu cầu của các nhà máy lắp ráp ô tô Hiện nay, chỉ có Công ty Ô tô Honda Việt Nam, là liên doanh duy nhất có đầu tư dây chuyền lắp ráp động cơ ô tô Ngoài ra nhà máy sản xuất ô

tô Honda cũng được trang bị các máy móc và thiết bị phục vụ cho sản xuất tương đương như tại những nhà máy khác của Honda ở các nước khu vực ASEAN

Nhìn chung, còn có rất nhiều mặt hạn chế trong công nghệ sản xuất ô tô mà Việt Nam chưa tiếp thu và tích hợp nhiều thành tựu khoa học công nghệ như các ngành như luyện kim, điện

tử, hoá chất, vật liệu mới, khí động học

Lợi thế của ngành công nghiệp ô tô của Việt Nam là đội ngũ công nhân có tay nghề tương đối tốt, chịu khó học tập và được đánh giá là rất thông minh trong các ý tưởng cải tiến thiết bị

và kỹ thuật trong công đoạn lắp ráp Điều này được thể hiện qua các cuộc thi tay nghề hàng năm được tổ chức với sự tham gia của tất cả các công ty sản xuất và lắp ráp xe của Tập đoàn Toyota trên toàn cầu, công nhân Việt Nam luôn đạt được giải cao và được các đồng nghiệp tôn trọng

4 Công nghiệp phụ trợ của ngành sản xuất ô tô Việt Nam

Công nghiệp phụ trợ của ngành sản xuất ô tô Việt Nam hiện nay còn ở mức độ manh mún, quy mô sản xuất nhỏ, sản phẩm chủ yếu là các linh kiện giản đơn, ít bí quyết công nghệ, có giá trị thấp trong cơ cấu sản phẩm nội địa hoá 60 doanh nghiệp sản xuất linh kiện với tổng giá trị tài sản mỗi doanh nghiệp không vượt quá 20 tỷ đồng Trong khi số lượng các doanh nghiệp sản xuất linh kiện tăng chậm, thì ngược lại số lượng các doanh nghiệp lắp ráp ô tô lại tăng quá nhanh Thông thường một chiếc xe ô tô có từ 20.000 đến 30.000 chi tiết và cần tới khoảng 1.000 nhà cung cấp linh kiện, nhưng hiện tại ở Việt Nam nhà cung cấp linh kiện lại quá ít so với nhu cầu thực tế cần thiết Theo tính toán của các nhà quản lý thì một doanh nghiệp ô tô phải cần tối thiểu 20 nhà cung cấp với nhiều loại linh kiện khác nhau, nhưng cho đến nay chưa doanh nghiệp sản xuất lắp ráp ô tô nào tại Việt Nam có được 20 nhà cung cấp linh kiện trong nước

Mặt khác, những thiết bị phụ tùng do Việt Nam sản xuất chưa hoàn toàn phù hợp với yêu cầu sử dụng của chính những người tiêu dùng trong nước do những yếu kém về chất lượng, mẫu mã và giá cả

Trang 7

Rất ít đơn vị đầu tư sản xuất các bộ linh kiện quan trọng trong ô tô, chưa có nhà máy nào đầu tư hoàn chỉnh vào chế tạo các bộ phận quan trọng như động cơ, hộp số và hệ thống truyền động Ngay cả những liên doanh ô tô tên tuổi như Toyota, Ford có hệ thống các nhà cung cấp linh kiện lớn cũng không lôi kéo được các nhà đầu tư vào Việt Nam

Tính trung bình đối với các nước có ngành công nghiệp ô tô phát triển thì 1 hãng ô tô sẽ có khoảng 1.600 nhà cung cấp linh kiện, phụ tùng ở Thái Lan, mặc dù tên của nước này chưa thể hiện rõ nét trên bản đồ công nghiệp ô tô thế giới, nhưng cũng đã có đến trên 1.000 doanh nghiệp phụ trợ

Để thực hiện được Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp ô tô đến năm 2010 đã được phê duyệt cụ thể là tỷ lệ sản xuất trong nước đối với hầu hết các chủng loại sản phẩm ô tô đạt trên 50% và phấn đấu xuất khẩu ô tô và phụ tùng đạt 5-10% giá trị tổng sản lượng của ngành, Nhà nước cần khuyến khích ưu tiên các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư tại Việt Nam để sản xuất động cơ ô tô, hộp số, cụm truyền động, phụ tùng với quy mô công suất lớn Trong 10 năm qua, Nhà nước đã có chủ trương bảo hộ các doanh nghiệp sản xuất ô tô trong nước nên tỷ lệ nội địa hoá hiện tại của các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam

đã đạt 20-40% Nhưng con số tỷ lệ nội địa hoá này còn quá khiêm tốn so với sự kỳ vọng của quốc gia và sự ưu đãi mà các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô nhận được từ chính sách

hỗ trợ của Nhà nước Việt Nam

Để đạt được chiến lược phát triển từ nay đến năm 2010 mà tỷ lệ nội địa hoá của các doanh nghiệp ô tô Việt Nam phải đạt 60%, công nghiệp phụ trợ của ngành ô tô Việt Nam phải thay đổi từ công nghệ gò hàn, sơn, đóng thùng, khung xe như hiện nay sang công nghệ mới như lắp ráp động cơ, hệ thống truyền động và tiến tới công nghệ cơ điện tử, chế tạo động cơ Để làm được những việc đó, ngay bây giờ các doanh nghiệp trong nước cần phải đầu tư công nghệ chiều sâu như phát triển công nghệ vật liệu và một số công nghệ khác Theo Viện nghiên cứu chiến lược công nghiệp Nhật Bản thì cho rằng, Việt Nam nên trở thành một cơ sở xuất khẩu cho một số loại linh kiện ô tô và ban đầu thực hiện xuất khẩu tới 90-100% sản lượng sản xuất ra

III NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI NGÀNH CÔNG NGHIỆP Ô TÔ VIỆT NAM KHI HỘI NHẬP

1 Về khả năng phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam trong điều kiện hội nhập

Việt Nam rất cần phát triển ngành công nghiệp ô tô để thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và an ninh quốc phòng của quốc gia, điều đó đã được khẳng định Hiện nay Việt Nam đã là thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Vấn đề đặt ra là ngành công nghiệp ô tô Việt Nam có thể phát triển được hay không sau khi Việt Nam gia nhập WTO

và hội nhập đầy đủ vào nền kinh tế thế giới Chúng ta có đầy đủ cơ sở để khẳng định Việt Nam

có thể phát triển được ngành công nghiệp ô tô trong môi trường hội nhập

Ngành công nghiệp ô tô Việt Nam chắc chắn sẽ gặp rất nhiều khó khăn sau khi Việt Nam gia nhập WTO, nhưng điều đó không có nghĩa là các doanh nghiệp ô tô Việt Nam không có

cơ hội để phát triển Bởi sản xuất trong nước có lợi thế nhân công rẻ, chi phí thấp, tiền thuê đất thấp, thuế doanh nghiệp thấp Hiện nay hầu hết các doanh nghiệp liên doanh có vốn đầu

tư nước ngoài đều đã khấu hao xong Để cạnh tranh được, các doanh nghiệp này cần có lộ trình giảm chi phí sản xuất, chi phí lao động gián tiếp và thu lợi nhuận nhằm tăng tính hấp dẫn Đối với các doanh nghiệp trong nước, hiện nay nhiều doanh nghiệp cũng đã sắp xếp lại,

cổ phần hóa và giải thể hoặc chuyển sang lĩnh vực sản xuất khác Còn lại những doanh nghiệp

Trang 8

lớn, đầu tư bài bản vẫn tiếp tục phát triển Thị trường sẽ có sự phân chia và các doanh nghiệp trong nước sẽ có cơ hội hơn ở những loại xe tải, xe buýt Các doanh nghiệp trong nước đang hoạt động rất tốt trong lĩnh vực sản xuất lắp ráp xe tải, xe buýt như Công ty TNHH Xuân Kiên, Công ty TNHH Ô tô Trường Hải

Các yếu tố quan trọng để phát triển ngành công nghiệp ô tô của một quốc gia là các vấn đề

về vốn, công nghệ, thị trường, cơ sở hạ tầng giao thông, công nghiệp phụ trợ, lao động Về vốn và công nghệ, Việt Nam đang có điều kiện môi trường đầu tư thuận lợi thu hút từ bên ngoài Về lao động, Việt Nam có ưu thế là giá nhân công rẻ so với các quốc gia trong khu vực Các nhà phân tích kinh tế cho rằng vấn đề khó khăn nhất đối với ngành công nghiệp ô tô Việt Nam hiện nay là vấn đề thị trường, cơ sở hạ tầng giao thông và phát triển công nghiệp phụ trợ ngành ô tô Các vấn đề này Việt Nam có thể khắc phục và vẫn có cơ hội phát triển trong môi trường hội nhập

Về cơ sở hạ tầng giao thông

Cơ sở hạ tầng giao thông Việt Nam hiện nay được nhiều người cho là còn kém phát triển

và không đáp ứng được giao thông bằng ô tô Song cũng nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, vấn đề quy hoạch và quản lý điều hành giao thông tại Việt Nam còn rất yếu làm cho hiệu quả sử dụng hạ tầng giao thông hiện có không cao Nếu vì lý do hạ tầng giao thông còn kém phát triển mà chúng ta hạn chế tiêu dùng ô tô thông qua việc đánh thuế cao vào mặt hàng ô

tô thì sẽ dẫn đến thị trường ô tô không phát triển và hạ tầng giao thông cũng sẽ không phát triển Nhiều người cho rằng, tại một số thủ đô ở những quốc gia với diện tích nhỏ hơn Việt Nam có hệ thống giao thông nhỏ và chật hẹp nhưng quản lý điều hành tốt vẫn không hay xảy ra tình trạng tắc đường, mặc dù ở những thành phố đó có tới hàng triệu ô tô; hoặc như ở đất nước Singapore có diện tích chỉ bằng đảo Phú Quốc của Việt Nam mà họ có tới 300.000

xe (bình quân 13,3 người thì có 1 xe ô tô) nhưng rất hiếm khi bị tắc đường, so sánh với nước ta có diện tích rộng lớn hơn rất nhiều lần nhưng hiện nay mới có khoảng hơn 700.000

xe ô tô (bình quân 120 người mới có 1 xe ô tô) thì thấy rằng mức tiêu dùng ô tô của Việt Nam chưa nhiều để dẫn tới nguyên nhân là hạ tầng không đáp ứng được Có thể vấn đề ở đây là do năng lực quản lý, quy hoạch và điều hành giao thông ở nước ta còn yếu kém, chưa đồng bộ trong công tác quy hoạch và xây dựng (xây dựng đường phải đi đôi với việc làm hạ tầng cho ô tô như bãi đỗ xe, phân luồng cho các dòng xe qua lại )

Mặt khác, việc đầu tư cơ sở hạ tầng của Việt Nam lâu nay chủ yếu vẫn là từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước Để đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước, Việt Nam cần thực hiện chính sách xã hội hóa đầu tư trong lĩnh vực phát triển cơ sở hạ tầng giao thông nhằm thu hút nhiều thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển mạnh hơn về cơ sở hạ tầng giao thông tại thành thị cũng như ở nông thôn

Nhìn nhận đúng thực chất của vấn đề như nêu trên, Việt Nam có thể khắc phục được trong tương lai bằng những giải pháp hữu hiệu để phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đáp ứng nhu cầu đặt ra

Về phát triển ngành công nghiệp phụ trợ

Theo các nhà chuyên môn, muốn phát triển ngành công nghiệp phụ trợ ô tô thì yếu tố thị trường là rất quan trọng, đòi hỏi phải có được một lượng đặt hàng tối thiểu tương đối lớn, bởi ngành công nghiệp phụ trợ ô tô cần đầu tư nhiều vốn hơn là công đoạn lắp ráp Các nhà sản xuất linh phụ kiện ô tô cho rằng ngành công nghiệp phụ trợ sẽ phát triển tự nhiên khi dung lượng thị trường tối thiểu mỗi năm là 100.000 ô tô Với mức dự báo thị trường ô tô Việt Nam đến năm 2010, nếu điều chỉnh chính sách thuế cho phù hợp, sẽ tiến tới con số trên 100.000 xe

Trang 9

ô tô/năm là cơ sở thu hút các nhà sản xuất linh phụ kiện ô tô thế giới đầu tư nhà máy sản xuất tại Việt Nam

Mặt khác, các chuyên gia nghiên cứu cho rằng, sản xuất ô tô là ngành công nghệ cao, Việt Nam không hy vọng làm được tất cả các chi tiết phụ tùng ô tô, nhưng trong tương lai các doanh nghiệp Việt Nam có thể tham gia một phần vào chuỗi sản xuất linh kiện, phụ tùng cho các hãng

xe trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài Việt Nam có lợi thế tiềm năng về cao su tự nhiên, vì thế công nghiệp phụ trợ Việt Nam có thể sản xuất và xuất khẩu lốp Ngoài ra, Việt Nam có thể làm nhiều chi tiết phụ tùng, linh kiện không đòi hỏi trình độ công nghệ cao như sát xi, khung, gầm, hệ thống điện

Từ năm 2004 Công ty Toyota Việt Nam đã bắt đầu xuất khẩu linh kiện phụ tùng ô tô ra thế giới, năm 2006 Công ty Cao su Đà Nẵng (DRC) xuất khẩu lốp ô tô siêu nặng sang thị trường Xinhgapo và Ma-lai-xia, Công ty Vidamco cũng đã bắt đầu xuất khẩu được bình chứa xăng ô

tô sang Thái Lan Việt Nam gia nhập WTO là điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu và tham gia cạnh tranh trên thị trường thế giới trong lĩnh vực sản xuất linh kiện, phụ tùng và thiết bị nội thất ô tô Việt Nam có thể trở thành một cơ sở xuất khẩu cho một số loại linh kiện ô tô theo hướng quy mô lớn Như vậy, Việt Nam hoàn toàn có điều kiện phát triển công nghiệp phụ trợ ngành ô tô trong tương lai

Về thị trường tiêu thụ sản phẩm ngành công nghiệp ô tô

Theo các chuyên gia, ngành ô tô cần có thị trường tiêu thụ khoảng 150.000 xe/năm

Việt Nam hiện nay với dân số hơn 84 triệu người, tiêu thụ bình quân khoảng 50.000 xe/năm Nguyên nhân số lượng xe ô tô tiêu thụ tại Việt Nam còn thấp là do giá bán ô tô còn quá cao Theo các nhà kinh tế tính toán, mặt bằng giá bán ô tô tại Việt Nam cao hơn các nước trong khu vực một phần do mức thuế áp dụng đối với ô tô còn quá cao: tổng cộng các mức thuế chiếm khoảng 40% giá bán một chiếc ô tô lắp ráp trong nước với xe từ 5 chỗ ngồi trở xuống và mức trên 30% với xe từ 6-15 chỗ ngồi Việt Nam còn nhiều yếu tố có thể kích cầu phát triển thị trường nội địa tiêu thụ ô tô, đó là việc điều chỉnh chính sách thuế, nâng cấp đầu

tư và nâng cao hiệu quả quản lý cơ sở hạ tầng giao thông đô thị và nông thôn, nâng cao mức thu nhập của người dân…Trong tương lai Việt Nam cũng có thể mở rộng thị trường tiêu thụ ô

tô bằng mức như hiện nay ở Malaysia với 400.000 xe/năm (trên tổng dân số 24 triệu dân) và vươn lên bằng mức ở Thái Lan với 1 triệu xe/năm (trên tổng dân số 64 triệu dân)

Ngoài thị trường nội địa, sản phẩm ngành công nghiệp ô tô Việt Nam hiện nay đã bắt đầu vươn ra thị trường nước ngoài Ngoài việc xuất khẩu linh kiện và phụ tùng ô tô như nêu trên, năm 2006 Tổng công ty Ô tô Việt Nam (Vinamotor) đã xuất khẩu 40 xe khách sang thị trường châu Phi Kết quả này là bước đột phá tìm kiếm mở rộng thị trường của các doanh nghiệp sản xuất ô tô trong nước và nó cũng báo hiệu tiềm năng đầy triển vọng của ngành công nghiệp ô

tô Việt Nam Với sự nhận dạng xu thế ô tô thế giới và bắt đầu một chiến lược dài hạn, Việt Nam có thể hướng vào những thị trường ngách của ngành công nghiệp ô tô toàn cầu: sản xuất những chủng loại xe thị trường cần nhưng ít nhà sản xuất và tham gia sản xuất phụ tùng hay một số chi tiết linh kiện mà Việt Nam có lợi thế và tiềm năng

Tóm lại, để giải quyết bài toán thị trường, Chính phủ cần tác động thông qua các giải pháp (đặc biệt là biện pháp giảm các loại thuế) nhằm kích cầu thị trường nội địa và hỗ trợ cho doanh nghiệp việc tìm kiếm thị trường xuất khẩu sản phẩm ô tô và phụ tùng linh kiện

Qua phân tích các yếu tố quan trọng để phát triển ngành công nghiệp ô tô như trên chúng

ta có thể nhận định rằng: Việt Nam vẫn có thể phát triển được ngành công nghiệp ô tô trong môi trường hội nhập

Trang 10

2 Chính sách bảo hộ sản xuất ô tô trong nước và việc thực hiện các cam kết hội nhập

Trong 10 năm qua để thực hiện Chiến lược phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam, Nhà nước ta đã có chính sách ưu đãi khuyến khích và bảo hộ cho các nhà đầu tư sản xuất ô tô trong nước, cũng như khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia vào lĩnh vực sản xuất các linh kiện phụ tùng ô tô nhằm tăng tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm, giảm chi phí sản xuất và lắp ráp, tăng khả năng cạnh tranh tiến tới xuất khẩu ra thị trường nước ngoài Chúng ta đã dùng chính sách thuế quan để bảo hộ sản xuất ô tô trong nước với mục tiêu thu hút đầu tư sản xuất nhiều phụ tùng linh kiện ô tô, nhưng trên thực tế mục tiêu này đã không đạt yêu cầu và cũng vì thế mà chương trình nội địa hóa trong ngành ô tô không đạt được kết quả như mong muốn

Trong thời gian qua do được Nhà nước bảo hộ nên các doanh nghiệp sản xuất ô tô trong nước hầu như không phải cạnh tranh với sản phẩm cùng loại nhập khẩu từ nước ngoài Hiện nay tại thị trường ô tô Việt Nam mới chỉ có sự cạnh tranh tiêu thụ sản phẩm giữa các doanh nghiệp sản xuất ô tô trong nước với nhau Do đó có thể dẫn đến việc các doanh nghiệp sản xuất ô tô trong nước liên kết với nhau tăng giá bán xe trên thị trường nội địa Giá cả của ô tô sản xuất trong nước vẫn chưa giảm như mong muốn và vì thế vẫn chưa khuyến khích người tiêu dùng tiêu thụ mạnh ô tô sản xuất trong nước

Thuế nhập khẩu cao áp dụng đối với xe nhập khẩu nguyên chiếc đã tạo ra một bức tường thành bảo hộ cho các liên doanh ô tô trong nước, nhưng không tạo được tính cạnh tranh đối với xe sản xuất trong nước và cũng không khuyến khích phát triển thị trường

Gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới, Việt Nam đã cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu đối với

ô tô con từ 90% như hiện nay xuống 3 mức là 47%, 52%, 70% phân theo loại với thời gian thực hiện việc cắt giảm tương ứng của 3 mức đó là 10 năm, 12 năm, 7 năm; đối với xe tải các loại từ 60% và 80% như hiện nay xuống các mức 50%, 70% và thời gian thực hiện việc cắt giảm của các mức từ 5 năm đến 10 năm

Thực hiện lộ trình thuế CEPT/AFTA trong các nước ASEAN, các loại ô tô nguyên chiếc mới, dưới 9 chỗ ngồi, có xuất xứ từ các nước trong ASEAN, như Bộ Tài chính đề xuất, sẽ áp dụng mức thuế 20% vào năm 2008, thay cho mức 90% như hiện nay Mức thuế này sẽ tiếp tục giảm xuống 10% vào năm 2009 và đến năm 2010 sẽ chỉ còn 5%

Như vậy, ngoài việc mở cửa thị trường ô tô theo cam kết khi gia nhập WTO, Việt Nam phải sớm có lộ trình giảm thuế đối với việc nhập khẩu ô tô theo cam kết nêu trên, đồng nghĩa với việc dỡ bỏ chính sách bảo hộ sản xuất ô tô bằng hàng rào thuế quan Khi đó môi trường cạnh tranh sẽ được thiết lập, thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam và không gây thiệt hại cho người tiêu dùng Việt Nam, cũng như tạo điều kiện để thị trường tiêu thụ ô tô Việt Nam ngày càng phát triển

3 Phát triển công nghiệp phụ trợ ngành công nghiệp ô tô

Sau hơn 10 năm phát triển ngành công nghiệp sản xuất ô tô, đến nay ngành công nghiệp phụ trợ ô tô Việt Nam đã được hình thành, song vẫn còn non yếu và thực sự gặp rất nhiều khó khăn

Cần có chính sách đưa ngành công nghiệp phụ trợ vào đối tượng được đặc biệt ưu tiên hỗ trợ để phát triển phù hợp với các cam kết quốc tế, có chính sách ưu đãi cho doanh nghiệp sử dụng nguyên liệu, phụ tùng trong nước và chính sách khuyến khích doanh nghiệp tham gia hỗ trợ về công nghệ, kỹ thuật cho các doanh nghiệp sản xuất linh kiện, phụ tùng ô tô

Ngành công nghiệp phụ trợ nên được tổ chức sản xuất theo hướng chuyên môn hóa, việc chuyên môn hóa sâu sẽ giải quyết được vấn đề chất lượng và khắc phục phần nào nhược điểm

Ngày đăng: 18/04/2022, 08:45

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Qua bảng so sánh dưới đây có thể thấy rõ sự chênh lệch quá lớn về giá xe ôtô bán tại thị trường Việt Nam so với các nước trong khu vực Đông Nam á - Thong tin chuyen de so 8
ua bảng so sánh dưới đây có thể thấy rõ sự chênh lệch quá lớn về giá xe ôtô bán tại thị trường Việt Nam so với các nước trong khu vực Đông Nam á (Trang 3)
Bảng 2: Cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu theo nhóm mặt hàng ôtô và phụ tùng ôtô - Thong tin chuyen de so 8
Bảng 2 Cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu theo nhóm mặt hàng ôtô và phụ tùng ôtô (Trang 14)
Bảng 1: Dự kiến sản lượng ôtô các loại đến năm 2020 của Việt Nam - Thong tin chuyen de so 8
Bảng 1 Dự kiến sản lượng ôtô các loại đến năm 2020 của Việt Nam (Trang 14)
Bảng 3: Các dự án hỗ trợ hai chiến lược chính trong Quy hoạch sản xuất ôtô của Thái - Thong tin chuyen de so 8
Bảng 3 Các dự án hỗ trợ hai chiến lược chính trong Quy hoạch sản xuất ôtô của Thái (Trang 15)
1. Dự án phân tích tình hình công nghiệp 2. Trung tâm thông tin ngành - Thong tin chuyen de so 8
1. Dự án phân tích tình hình công nghiệp 2. Trung tâm thông tin ngành (Trang 15)
w