Bằng chứng của chúng tôi cho thấy mục tiêu kiểm soát lạm phát trong những quốc gia mới nổi góp phần làm giảm tác động trung chuyển lên nhiều chỉ số giá khác nhau chỉ số giá nhập khẩu, ch
Trang 1MỤC TIÊU KIỂM SOÁT LẠM PHÁT CÓ LÀM GIẢM HIỆU ỨNG TRUNG CHUYỂN TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ Ở NHỮNG QUỐC GIA MỚI NỔI HAY
Dramane Coulibaly Paris School of Economic University Paris 1 Pantheon Sorbone
Đề tài này được bắt đầu trong khi Dramane Coulibaly đang ở vị trí nghiên cứu thăm dò tại Banque de France Banque de France không nhất thiết chia sẻ ý kiến nêu ra trong bài này Sử dụng dự báo thông thường Chúng tôi cảm ơn Isabelle Méjean
và Michel Normandin vì những bản nháp trước đó Rất cảm kích những ý kiến và câu hỏi từ các thành viên hội thảo tại CEPII và Banque de France
Trang 2Tổng quan
Trong nghiên cứu này, chúng tôi điều tra thực nghiệm ảnh hưởng của mục tiêu kiểm soát lạm phát đến hiệu ứng trung chuyển tỷ giá lên giá cả ở những quốc gia mới nổi Chúng tôi sử dụng hồi quy bảng giúp chúng tôi xây dựng một tập dữ liệu lớn của 27 quốc gia mới nổi (15 quốc gia đặt mục tiêu kiểm soát lạm phát và 12 quốc gia không đặt mục tiêu kiểm soát lạm phát) Bằng chứng của chúng tôi cho thấy mục tiêu kiểm soát lạm phát trong những quốc gia mới nổi góp phần làm giảm tác động trung chuyển lên nhiều chỉ số giá khác nhau (chỉ số giá nhập khẩu, chỉ số giá sản xuất và chỉ số giá tiêu dùng) từ một mức cao xuống một mức mới khác 0 một cách đáng
kể Phân tích phương sai từng phần cho thấy ảnh hưởng của các cú sốc tỷ giá đến biến động giá cả thì quan trọng hơn ở những quốc gia mục tiêu so với những quốc gia không mục tiêu, và tác động của các cú sốc tỷ giá đến biến động giá cả ở những quốc gia mục tiêu giảm xuống sau khi các nước này thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát
1.Giới thiệu
Sau khi New Zealand đề ra mục tiêu kiểm soát lạm phát lần đầu tiên năm 1990, nhiều quốc gia công nghiệp và mới nổi đã một cách rõ ràng thiết lập mục tiêu kiểm soát lạm phát như cái neo danh nghĩa của họ
thống mục tiêu kiểm soát lạm phát hoàn chỉnh làm chính sách kiểm soát tiền tệ của mình Nhiều quốc gia mới nổi khác đang có ý định áp dụng cơ chế tiền tệ này trong tương lai gần Khi cân nhắc đến tính dễ tổn thưởng của các nền kinh tế mới nổi do các cú sốc tỷ giá chúng ta có thể thấy rằng, một trong những yếu tố quyết định sự thành công của chiến lược này là khả năng của quốc gia đó trong việc kiểm soát hiệu ứng trung chuyển tác động của tỷ giá Nhiều nghiên cứu đã cho thấy có một sự giảm xuống của hiệu ứng trung chuyển tác động của tỷ giá trong 20 năm qua: Liệu nó có liên quan đến mục tiêu kiểm soát lạm phát?
Nhiều nghiên cứu đã cung cấp những bằng chứng cho thấy việc thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát đi cùng với sự cải thiện về kết quả đạt được của nền kinh tế ( Bernanke và Mishkin (1997); Svensson (1997); Bernanke et al.(1999) là một trong những số đó) Ball và Sheridan (2005), một trong rất ít những nghiên cứu thực nghiệm không ủng hộ việc thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát, tranh luận rằng việc thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát dường như không gây tác động gì ở những nước công nghiệp Dựa trên kiểm định OLS, những kết quả của họ chỉ ra rằng sự giảm xuống trong tỷ lệ lạm phát và mức biến động của tỷ lệ lạm phát ở những nước chọn mục tiêu kiểm soát lạm phát chỉ đơn giản là phản ánh sự hồi quy về giá trị trung bình Nghĩa là, lạm phát sẽ giảm xuống nhanh hơn ở những nước vốn có một tỷ lệ lạm phát cao so với những nước có tỷ lệ lạm phát thấp ban đầu Vì những nước đặt mục tiêu kiểm soát lạm phát vốn có mức lạm phát cao, sự giảm xuống nhanh của tỷ lệ lạm phát đơn giản thể hiện xu hướng của biến này quay về giá trị trung bình của nó Nhưng nghiên cứu của họ chỉ tập trung ở các nước công nghiệp và do đó không thể vận dụng kết luận này ở những đất nước mới nổi Gon calves và Salles (2008) đã mở rộng nghiên cứu của Ball và Sheridan ở một nhóm nhỏ 36 nền kinh tế mới nổi và phát hiện ra rằng, ở những quốc gia đó cho ra kết quả khác biệt Đặc biệt những quốc gia mới nổi đặt mục tiêu kiểm soát lạm phát có tỷ lệ lạm phát giảm đáng kể và sự biến động tốc độ phát triển, thậm chí sau khi đã kiểm soát những ảnh hưởng của hồi quy về giá trị trung bình
1 10 quốc gia công nghiệp mục tiêu là Australia, Canada, Finland, New Zealand, Norway, Spain, Sweden, Switzerland và United Kingdom Finland và Spain hiện nay ở trong khu vực đồng tiền chung Euro 20 quốc gia mới nổi mục tiêu là Brazil, Chile, Colombia, Czech republic, Ghana, Guatemala, Hungary, Indonesia, Israel, Korea, Mexico, Peru, Philippines, Poland, Romania, Serbia, Slovakia, South Africa, Thailand và Turkey Slovakia khai tử mục tiêu kiềm soát lạm phát của mình vào tháng 01/ 2009 với việc tham gia ERM II
Trang 3Nghiên cứu này đóng góp vào mảng tài liệu về mục tiêu kiểm soát lạm phát qua phân tích ảnh hưởng của mục tiêu kiểm soát lạm phát đến hiệu ứng trung chuyển tác động của tỷ giá ở những quốc gia mới nổi Điều này dựa trên giả thuyết của Taylor (2000) cho rằng hiệu ứng trung chuyển tác động của tỷ giá thì thấp hơn trong môi trường lạm phát thấp Một cách chính xác hơn, Taylor tranh luận rằng trong môi trường lạm phát thấp, các công ty
kỳ vọng lạm phát sẽ ổn định hơn và do đó sẽ trung chuyển một tỷ lệ ít hơn của mức tăng giá nguyên liệu nhập khẩu do tăng tỷ giá lên giá bán sản phẩm của nó Giả thuyết này được chứng minh bởi bằng chứng thực nghiệm dựa trên chỉ số giá tiêu dùng (CPI), cả cho những quốc gia công nghiệp và những quốc gia mới nổi (xem ví dụ của Gagnon và Ihrig, 2001; hay Choudhri và Hakura, 2006) Vì Gon¸calves và Salles (2008) đã chỉ ra rằng mục tiêu kiểm soát lạm phát đã giúp giảm tỷ lệ lạm phát ở các nước mới nổi, sẽ rất thú vị nếu chúng ta phân tích xem liệu
Nghiên cứu này giải quyết vấn đề này sử dụng một nhóm gồm hai mươi bảy nền kinh tế mới nổi (mười
số giá tiêu dùng CPI như là chỉ số giá duy nhất, chúng tôi thực hiện phân tích biến thứ hai trong đó bao gồm thêm
2 chỉ số giá khác: Chỉ số giá nhập khẩu IMP và chỉ số giá sản xuất PPI Việc sử dụng hai chỉ số giá này trong phân tích Var cho phép chúng tôi có được câu trả lời trực tiếp cho giả thuyết của Taylor Sự giảm xuống của hiệu ứng trung chuyển lên chỉ số giá nhập khẩu có nghĩa là sau khi thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát, một công ty bán
lẻ nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài sẽ chịu phần lớn ảnh hưởng của cú sốc tỷ giá thông qua tỷ lệ thay đổi nhỏ hơn của giá bán sản phẩm của nó Sự giảm xuống của hiệu ứng trung chuyển lên chỉ số giá sản xuất có nghĩa là sau khi thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát, một công ty sản xuất có nhập khẩu nguyên liệu sản xuất sẽ chịu một tỷ lệ lớn hơn của cú sốc tỷ giá thông qua tỷ lệ thay đổi nhỏ hơn của giá bán sản phẩm cuối cùng của nó
Mặc dù những phản xạ không điều kiện cho biết thông tin về mức độ ảnh hưởng của hiệu ứng trung chuyển tác động của tỷ giá đến các chỉ số giá nội địa, nó không chỉ ra được cú sốc tỷ giá có ảnh hưởng quan trọng như thế nào trong việc giải thích những biến động của các chỉ số giá trong nước Vì việc thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát đòi hỏi một cơ chế tỷ giá linh hoạt, mục tiêu kiểm soát lạm phát có thể dẫn tới những biến động rất lớn của tỷ giá Do đó, ngay cả khi mục tiêu kiểm soát lạm phát có giúp giảm ảnh hưởng của hiệu ứng trung chuyển tác động của tỷ giá đến các chỉ số giá trong nước, nó có thể dẫn đến việc làm giảm đi những ảnh hưởng của cú sốc tỷ giá đến biến động của các chỉ số giá trong nước Vì thế, để tính toán ảnh hưởng của cú sốc tỷ giá đến biến động chỉ số giá trong nước, chúng tôi cũng thực hiện một phân tích phương sai từng phần của các chỉ số giá trong nước
2Ý tưởng này được đưa ra đầu tiên bởi Mishkin và Schmidt-Hebbel (2007) Mishkin và Schmidt-Hebbel (2007) đã nghiên cứu thực nghiệm mối liên hệ giữa mục tiêu kiểm soát lạm phát với một số thước đo kết quả đạt được của nền kinh tế trong đó
có hiệu ứng trung chuyển tác động của tỷ giá lên chỉ số giá tiêu dùng Sử dụng dữ liệu của hai mươi mốt nước công nghiệp và nước mới nổi đặt mục tiêu kiểm soát lạm phát (những quốc gia mục tiêu) và mười ba quốc gia công nghiệp không đặt mục tiêu kiểm soát lạm phát (những quốc gia không mục tiêu), họ sử dụng kỹ thuật phân tích hồi quy bảng Để kiểm tra sự khác nhau, họ sử dụng cách tiếp cận trước và sau bằng cách so sánh những phản ứng tự nhiên trong những mẫu quốc gia khác nhau, phụ thuộc vào việc quốc gia đó có chọn mục tiêu kiểm soát lạm phát hay không Những kết quả từ phân tích này cho thấy hiệu ứng trung chuyển đến chỉ số giá tiêu dùng gần bằng 0 ở những quốc gia mục tiêu công nghiệp trước và sau khi thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát và ở những nước không mục tiêu Ở những quốc gia mục tiêu mới nổi, hiệu ứng trung chuyển tác động của tỷ giá lên chỉ số giá tiêu dùng giảm xuống sau khi quốc gia đó đạt được mục tiêu cố định, nhưng vẫn duy trì một mức khác 0 đáng kể Tuy nhiên, những kết quả trong nghiên cứu của Mishkin và Schmidt-Hebbel (2007) bị hạn chế ở độ sai lệch lựa chọn khi không có quốc gia mới nổi không mục tiêu nào trong mẫu nghiên cứu
3Trong phần tiếp theo, “quốc gia mục tiêu” ám chỉ những quốc gia mới nổi chọn mục tiêu kiểm soát lạm phát, và “quốc gia
ko mục tiêu” ám chỉ những quốc gia mới nổi không chọn mục tiêu kiểm soát lạm phát
Trang 4Những kết luận chính của nghiên cứu này như sau Việc theo đuổi mục tiêu kiểm soát lạm phát đã giúp các nước mới nổi giảm tác động trung chuyển đến chỉ số giá tiêu dùng từ một mức cao ban đầu xuống một mức mới Tuy nhiên, vẫn duy trì ở một mức đáng kể khác 0 Với những quốc gia không mục tiêu, hiệu ứng trung chuyển lên chỉ số giá tiêu dùng khác 0, không đáng kể trước năm 1990 và trở nên lớn hơn 0 đáng kể sau 1999 Bằng cách so sánh những nước mục tiêu sau khi đã thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát với những nước không mục tiêu thời điểm sau năm 1999, hiệu ứng trung chuyển lên chỉ số giá tiêu dùng không khác biệt đáng kể giữa hai nhóm nước này Sự giảm xuống của hiệu ứng trung chuyển lên chỉ số giá tiêu dùng ở những quốc gia mục tiêu
là do sự giảm xuống của hiệu ứng trung chuyển theo chuỗi giá Tác động trung chuyển lên chỉ số giá nhập khẩu
và chỉ số giá sản xuất đã giảm xuống một cách đáng kể ở những nước mục tiêu sau khi thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát Những kết luận này được chứng minh bởi phân tích phương sai từng phần Phân tích phương sai từng phần cho thấy các cú sốc tỷ giá đóng góp một phần quan trọng trong biến động của các chỉ số giá ở những quốc gia có mục tiêu lạm phát, trong khi đó ảnh hưởng của cú sốc tỷ giá đến biến động của các chỉ số giá ở những nước không mục tiêu là không đáng kể Phân tích phương sai từng phần cũng cho thấy ảnh hưởng của cú sốc tỷ giá đến biến động của các chỉ số giá ở những quốc gia mục tiêu đã giảm xuống sau khi thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát
Phần còn lại của bài nghiên cứu này được sắp xếp như sau Phần 2 trình bày về phương pháp luận và dữ liệu Phần 3 đề cập những kết quả thực nghiệm và những diễn giải từ những kết quả này Phần 4 trình bày kết luận của nghiên cứu này
2.Phương pháp luận và dữ liệu:
Chúng tôi sử dụng dữ liệu của 27 nền kinh tế mới nổi ( 15 quốc gia có mục tiêu lạm phát và 12 quốc gia không có mục tiêu lạm phát), từ quý 1 năm 1989 đến quý 1 năm 2009 Sử dụng phương pháp hồi quy ( hồi quy biến Var) trước và sau khi áp dụng chiến lược lạm phát mục tiêu đã sử dụng trong Mishkin and Schimidt Hebbel (2007) Chúng tôi xét xem là mục tiêu lạm phát có giúp làm giảm hiệu ứng trung chuyển tác động tỷ giá đến giá
cả trong nước tại các quốc gia mới nổi hay không?
Chúng tôi dùng những phương pháp hồi quy vector để ước lượng các yếu tố ảnh hưởng Việc sử dụng các phương pháp hồi quy biến Var có 2 ưu điểm Thứ nhất, phương pháp hồi quy xác định tương tác nội tại bằng sự tác động nội sinh giữa các biến trong hệ thống Thứ hai, kết quả tiệm cận là dễ dàng hơn cho việc chuyển hoá cơ
sở dữ liệu bảng
Mô hình kinh tế lượng sử dụng hình thức giảm lược theo sau:
cho những sai số thuộc về các đặc tính cá nhân
Một vấn đề trong ước lượng mô hình này liên quan đến sự có mặt của các yếu tố cố định Tuy các yếu tố
cố định có mối quan hệ hồi quy, bởi vì độ trễ của biến phụ thuộc, chúng tôi sử dụng kiểm định khác biệt ý nghĩa
Trang 5về phía trước ( phương pháp Helmert) theo Love and Zicchino (2006) Trong phương pháp này, để loại bỏ các yếu
tố cố định, tất cả các biến trong mô hình được biến đổi độ lệch từ các giá trị tương lai Khi
biểu thị mức ý nghĩa từ các giá trị tương lai của , một biến trong vector với biểu thị thời kỳ gần nhất của dữ liệu có sẵn cho một chuỗi các quốc gia đã
) (2) Và
) (3)
vì nó không có giá trị tương lai của năm tiếp theo (2010) cho sự việc xây dựng mức ý nghĩa tương lai Mô hình chuyển đổi cuối cùng thì do đó được cho bởi
(4)
Sự chuyển đổi này là một độ lệch trực giao, tại đó mỗi quan sát được biểu diễn như một độ lệch từ trung bình các quan sát trong tương lai Mỗi quan sát được xem xét để chuẩn hoá phương sai Nếu những lỗi lúc đầu không tự tương quan và được mô tả bởi những phương sai không đổi Những lỗi được chuyển đổi nên trình bày những tính chất tương tự Vì thế, sự chuyển đổi này giữ lại sự thuần nhất và không bao gồm tương quan chuỗi (Arelano and Bover, 1995) Ngoài ra, phương pháp này cho phép dùng những giá trị lệch của hồi quy như là những công cụ và ước lượng hệ số bởi phương pháp tổng quát hoá của thời điểm (GMM)
Một khi tất cả các hệ số của bảng hồi quy được ước lượng, chúng tôi tính toán “ phản ứng xung lực”
liệt kê trước trong thứ tự biến tác động đến các biến còn lại cùng một lúc, trong khi các dữ liệu sắp xếp sau trong
4Bảng Var được ước lượng bởi sử dụng cônng cụ được cung cấp bới Inessa Love Đó là một chương trình Stata dùng cho nghiên cứu của Love ( 2001) và nó được sử dụng trong nghiên cứu của Love và Zicchino (2006)
Trang 6thứ tự biến tác động đến những dữ liệu trước bằng với độ chậm Vì vậy, các biến đã liệt kê sớm hơn trong thứ tự biến được cân nhắc là có khả năng ngoại sinh hơn Chúng tôi sử dụng phương pháp Bootstrap nhằm xây dựng khoảng tin cậy của IRFs Bởi vì chúng ta không thể giả định sự độc lập giữa các mẫu, chúng tôi cũng dùng phương pháp bootstrap để xây dựng khoảng tin cậy cho sự khác biệt trong IRFs hơn là chỉ đơn giản nhận thấy sự
Trong đó, biến dầu biểu hiện cho ln của giá dầu thế giới, gap khoảng cách sản lượng, m là ln cho cung tiền, ner là tỷ giá danh nghĩa, cpi là chỉ số giá tiêu dùng (CPI), và là tương ứng cho sự khác biệt đầu tiên Việc thay đổi trong giá dầu bao gồm để nhận dạng cú sốc về cung ứng Chúng tôi bao gồm khoảng cách sản lượng để nắm bắt các khía cạnh về nhu cầu Cung ứng tiền tệ là được bao gồm trong biến để thừa nhận hiệu quả của chính sách tiền tệ khi phản ánh biến động lớn trong tỷ giá hay sự mất giá tiền tệ
Để trả lời phỏng đoán Taylor một cách trực tiếp, chúng tôi cũng chỉ dẫn thêm một ước lượng với mô hình
7 biến số VAR bằng việc thêm 2 chỉ số giá khác: Chỉ số giá sản xuất (PPI) và chỉ số giá nhập khẩu ( IMP) Như đề cập trên, một sự giảm trong hiệu ứng tác động trung chuyển trong giá nhập khẩu sẽ có nghĩa là các công ty phân phối mà nhập khẩu hàng hoá của họ sẽ thay đổi một phân số thấp hơn trong cú sốc tỷ giá vào trong giá bán hàng của họ Và một sự giảm trong hiệu ứng tác động trung chuyển trên giá nhà sản xuất sẽ có nghĩa là các doanh nghiệp mà nhập khẩu nguyên liệu đầu vào của họ ảnh hưởng một tỷ lệ thấp hơn trên một cú sốc đến giá các sản phẩm cuối cùng
Theo Brustein, Eichenbaum vaf Rebelo ( 2002, 2005), phạm vi của lạm phát CPI của một sự thay đổi lớn trong tỷ giá phụ thuộc quan trọng và mối liên hệ của nguyên liệu nhập khẩu đang được sử dụng trong sản xuất trong nước và sự hiện hữu của các chi phí phân phối Sản xuất hay các kênh phân phối có thể làm giảm hiệu ứng của những thay đổi về tỷ giá và có thể giải thích cho một ảnh hưởng không nhiều đến giá tiêu dùng Thế thì mô hình 7 biến Var cho phép chúng ta khảo sát sự ảnh hưởng tỷ giá cùng với chuỗi giá cả Hay nói cách khác, nó chấp nhận cho chúng ta đánh giá mục tiêu lạm phát có thể có tác động ngược chiều trong việc ảnh hưởng tới giá tiêu dùng bằng một tác động yếu hơn trong giá nhập khẩu hay giá nhà sản xuất không?
Như đã thảo luận ở trên, trật tự các biến ngoại sinh là quyết định đến sự nhận dạng các cú sốc về cấu trúc Thay đổi trong giá dầu đã được xem như là sự biến động trong cung ứng và được xếp là biến đầu tiên trong phương trình Khoảng cách sản lượng được đặt vị trí số hai Các thay đổi trong cung và cầu mà ảnh hưởng đến chênh lệch sản lượng là được giả thiết là cho trước Cung tiền ở vị trí thứ 3 trước tỷ giá danh nghĩa và các biến về giá cả Do đó, sự sắp xếp 5 biến trong mô hình là oil, gap, m, ner, cpi Trong mô hình 7 biến Var, nó dường như thích hợp cho việc đặt các biến giá cả nhập khẩu trước biến giá tiêu dùng và sản xuất và để biến tiêu dùng là
cuối cùng Vì thế, sự sắp xếp trong mô hình 7 biến là oil, gap, m, ner, imp, ppi, cpi
5 Nếu giả định mẫu độc lập và khoảng tin cậy cho sự khác biệt trong IRFs là có thể là có giới hạn hẹp hơn
6Ito và Sato (2007) đã dùng phương pháp hồi quy biến để so sánh hiệu ứng trung chuyển tỷ giá của Đông Á và Các nước Châu Mỹ Latinh, trong khi Ito va Sato (2008) đã dùng phân tích hồi quy xem xét hiệu ứng tỷ giá ở các nưới khối Đông Á
Trang 73 Kết quả thực nghiệm:
Phần này trình bày kết quả của phân tích các yếu tố có tác động Chi tiết về dữ liệu cho ước lượng thực nghiệm được trình bày trong phụ lục Trước khi tiến hành ước lượng hồi quy biến, chúng tôi đã kiểm định cho tính ổn định Bởi vì giá dầu là một biến mà không phụ thuộc vào các quốc gia, kiểm định tính ổn định trên biến này được sử dụng kiểm định đơn vị tiêu gốc Augmented Dickey-Fuller ( kiểm định này dùng để bổ sung và tránh trường hợp tương quan chuỗi giữa các biến) Những biến còn lại, chúng tôi sử dụng kiểm định đơn vị gốc trên số liệu bảng Maddala và Wu (1999) Kết quả những kiểm định ( xem bảng 1) cho thấy là giá dầu, 3 loại giá trong nước, cung tiền và tỷ giá danh nghĩa là không ổn định trong một mức độ, những ổn định trong phương sai bậc một cho tất cả các quốc gia Khoảng cách về sản lượng được thể hiện tính ổn định Ở những nghiên cứu trước đây ( ví
dụ Ito và Sato 2007, 2008), Mishkin vaf Schimidt-Hebbel, 2007) đề nghị bao gồm biến khoảng cách sản lượng trong cùng một mức độ với những biến khác trong phương sai bậc một Chúng tôi theo phương pháp luận này trong phân tích hồi quy của chúng tôi Những mô hình kết quả tương tự IRFs khi chúng ta cho độ trễ là 3 cho các mẫu có mục tiêu lạm phát Mẫu phi mục tiêu, thì có độ trễ nhiều hơn 3 là không được chấp nhận cho ước lượng IRFs vì những định thức ma trận gần như suy biến Vì thế, chúng tôi đã lựa chọn một độ trễ là 3 cho những lý do của sự cân xứng
Chúng tôi bắt đầu thảo luận tác động phản ánh của CPI đến các thay đổi tỷ giá trong mô hình 5 biến VAR dành cho các nhóm có mục tiêu và phi mục tiêu lạm phát Chúng ta cũng xem xét tác động của các yếu tố giá (CPI, PPI, IMP) đến các cú sốc tỷ giá trong mô hình 7 biến Var của nhóm có mục tiêu lạm phát
Chú ý: Kiểm định nghiệm đơn vị ( Unit root test) cho oil và oil là kiểm nghiệm theo tiêu chuẩn tổng bình phương nhỏ nhất
- Dickey- Fuller Gerneralized Least Square (DFGLS) bởi vì các biến này không phụ thuộc vào quốc gia nào Giả thiết đảo của kiểm định DGGLS, biến là không ổn định Còn những biến khác, kiểm định nghiệm đơn vị là sử dụng kiểm định bảng được xây dựng bởi Maddala va Wu (1999), với giả thiết đảo là các chuỗi dữ liệu là không ổn định ngược lại với khả năng là
co ít nhất một dữ liệu trong bảng là ổn định Không có độ trễ được dùng cho biến g Độ dài của độ trễ được dùng trong kiểm định bảng là tối đa thời gian của độ trễ dùng cho từng kiểm định cá thể thì được lựa chọn trên cở sở của tiêu chuẩn thông tin Schwarz 1(3) độ trễ dùng cho oil ( oil), 10 (5), 10 (6), 10 (11), 7 (8), và 10 (10) là các độ trễ trên được dùng cho m, ner (
Trang 8ner), cpi, ( cpi), imp ( imp) và ppi ( ppi) một cách có thứ tự Sử dụng một độ trễ dài hơn, những kết quả đã vẫn cho thấy sự tương tự Ở các mức độ của các biến ( biến g được mong đợi), hằng số và xu hướng thời gian đã được bao gồm Phương sai bậc một của các biến, chỉ hằng số là được bao gồm ***, **, * biểu thị có mức ý nghĩa theo thứ tự 1, 5, 10%
3.1 Hiệu ứng trung chuyển tác động của tỷ giá đối với giá nội địa ở các quốc gia mới nổi có mục tiêu: Trước
và sau khi có mục tiêu lạm phát.
Trong phần nhỏ này, chúng ta thảo luận “ phản ứng xung lực” ( IRFs) của giá nội địa với cú sốc tỷ giá bằng cách sử dụng dữ liệu lạm phát của 15 quốc gia mới nổi có mục tiêu “ Phản ứng xung lực” của những mẫu khác nhau, được trình bày trong bảng số 1 và bảng số 2 Mỗi bảng báo cáo trước và sau khi có sự so sánh: Trước
và sau áp dụng mục tiêu lạm phát Trong những bảng số này, ô thứ ba cho thấy sự khác biệt giữa hai phản ứng trước và sau ( phản ứng ở ô thứ hai trừ đi phản ứng của ô thứ nhất )
Hình 1 là sự phản ứng thay đổi của lạm phát CPI với cú sốc tỷ giá sử dụng mô hình 5 biến VAR Hình 1 chỉ ra có ý nghĩa xác thực: Tác động hiệu ứng trung chuyển của tỷ giá tới giá tiêu dùng ở các quốc gia có mục tiêu lạm phát giảm sau khi họ áp dụng mục tiêu lạm phát Khoảng tin cậy ở ô thứ ba phản ánh sự giảm của hiệu ứng trung chuyển tỷ giá tới giá tiêu dùng khác 0 qua thống kê Việc này chỉ ra rằng việc sử dụng mục tiêu lạm phát ở các nước mới nổi đã làm giảm hiệu ứng trung chuyển từ một mức độ cao hơn, và ảnh hưởng của hiệu ứng trung chuyển vẫn duy trì ở 1 mức ý nghĩa khác 0
Như thảo luận ở trên, phản ứng của giá tiêu dùng đến thay đổi tỷ giá dựa trên quy mô nhập khẩu các yếu
tố đầu vào được sử dụng cho sản xuất trong nước và chi phí phân phối Sản xuất hay các kênh phân phối có thể làm giảm hiệu ứng của sự thay đổi tỷ giá đối với giá tiêu dùng và giải thích cho hiệu ứng thay đổi tỷ giá là thấp với giá tiêu dùng Để xem xét việc sản xuất và các kênh phân phối, chúng tôi kiểm định 7 biến VAR mà đã bao gồm hai chỉ số giá khác: Chỉ số giá sản xuất (PPI) và chỉ số giá nhập khẩu (IMP) Việc kiểm định giúp chúng tôi kiểm tra trực tiếp giả thuyết của Taylor, người đã cho rằng: Trong thị trường mà lạm phát thấp, các công ty mong rằng những chênh lệch của lạm phát sẽ ít liên tục và vì thế sẽ ít điều chỉnh giá bán của công ty để phản ứng với tỷ giá- bao gồm việc tăng giá của các yếu tố đầu vào nhập khẩu
Hình 2 báo cáo sự phản ứng thay đổi của ba chỉ số giá (CPI, IMP, PPI) lạm phát với cú sốc tỷ giá sử dụng
mô hình 7 biến VAR Hình 2 chỉ ra rằng việc giảm tác động đối với giá tiêu dùng ở các quốc gia mới nổi có mục tiêu được nghiên cứu thì có sự đóng góp giảm hiệu ứng trung chuyển cùng với chuỗi giá cả Hiệu ứng trung chuyển đối với ba loại giá cả giảm có ý nghĩa ở các quốc giá mới nổi có mục tiêu lạm phát được nghiên cứu sau khi áp dụng mục tiêu kiềm chế lạm phát thì có mức ý nghĩa khác 0
Bằng cách so sánh tác động tỷ giá theo chuỗi giá, kết quả cho thấy phản ứng là lớn nhất ở giá nhập khẩu, sau đó là giá sản xuất và ít nhất là giá tiêu dùng Kết quả này được khẳng định với những nghiên cứu trước của McCarthy (2000), Hahn (2003), Faruque (2006) và Ito và Sato (2007, 2008)
Tóm lại, chúng ta đã có được bằng chứng rằng việc sử dụng mục tiêu lạm phát đã giúp giảm tác động đến
ba loại chỉ số giá từ mức cao đến một mức mới mà vẫn có ý nghĩa khác 0 Bằng chứng của chúng tôi khẳng định quan điểm: Khi sự tín nhiệm ban đầu đối với các ngân hàng trung ương của các thị trường mới nổi thấp, tiến hành mục tiêu kiềm chế lạm phát làm chính sách tiền tệ đáng tin hơn và do đó dẫn đến môi trường lạm phát thấp Càng
Trang 9đặc biệt hơn, theo lý lẽ của Taylor, mục tiêu kiềm chế lạm phát bằng cách thực hiện môi trường lạm phát thấp ở các quốc gia đang phát triển làm cho các công ty nhập khẩu các yếu tố đầu vào cũng như các công ty bán lẻ trải qua việc giảm tỷ giá trong hình thức giá cả cao hơn ( giá sản xuất và giá nhập khẩu) Do đó, sự thay đổi bất thường của tỷ giá dẫn đến tác động nhỏ hơn trong việc ảnh hưởng tỷ giá nhà sản xuất trong nước và giá nhập khẩu
Hình 1: Phản ứng của chỉ số CPI lạm phát đối với cú sốc tỷ giá trong mục tiêu kiềm chế lạm phát
Chú ý: “IT”có nghĩa là Kiềm chế lạm phát Đường liền nét chỉ ra phản ứng có tác động đối với cú sốc tỷ giá Đường ngắt khoảng chỉ ra 5 sai số chuẩn của dải tin cậy xung quanh phép kiểm định tác động đối với người sản xuất nội địa và giá nhập khẩu
3.2 So sánh giữa quốc gia có mục tiêu kiềm chế lạm phát và quốc gia không có mục tiêu kiềm chế lạm phát.
Ở trong phần trước, chúng ta đã thu được bằng chứng rằng mục tiêu kiềm chế lạm phát đã làm giảm tác động tỷ giá đến tất cả ba chỉ số giá (CPI, IMP, PPI) Một sự so sánh với các quốc gia không có mục tiêu kiềm chế lạm phát ở cùng một giai đoạn đưa đến những thông tin thú vị Dữ liệu của mười hai quốc gia không có mục tiêu kiềm chế lạm phát được sử dụng để tiến hành phân tích so sánh này Năm 1999 được phân làm ranh giới để tiến hành so sánh của các quốc gia phi mục tiêu trước và sau thời gian này, xoay quanh tiêu chuẩn trung bình được áp
Hình 3 và 4 cho thấy sự so sánh trước và sau của các quốc gia không mục tiêu lạm phát trước và sau năm
1999 Hình 3 biểu diễn phản ứng lạm phát CPI ( giá tiêu dùng) đối với cú sốc tỷ giá với mô hình 5 biến VAR, trong khi đó hình 4 biểu diễn phản ứng của 3 chỉ số giá với cú sốc tỷ giá bằng cách sử dụng mô hình 7 biến
7 Chúng tối cũng tiến hành kiểm định, sử dụng năm 1988 và năm 2000 làm khoảng ranh giới Những thay đổi này không làm ảnh hưởng căn bản đến kết quả của chúng tôi
Trang 10Hình 2: Phản ánh giá cả trong những quốc gia có mục tiêu lạm phát với biến động tỷ giá ( trong mô hình 7 biến VAR)
Note: “IT” nghĩa là các quốc gia có mục tiêu lạm phát Đường liền nét cho thấy ảnh hưởng của thay đổi tỷ giá Đường nét đứt thể hiện 5 khoảng tin cậy sai số chuẩn xung quanh ước lượng Sai số được làm bởi Monte- Carlo với 500 lần lặp lại
Response of IMP inflation before II
Response of PPI inflation before II
Response of CPI inflation before II
Response of IMP inflation after II
Response of PPI inflation after II
Response of CPI inflation after II
Difference
Difference
Difference