1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Việt Nam và Biến Đổi Khí Hậu: Báo cáo thảo luận các chính sách phát triển con người bền vững

62 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Danh mục các từ viết tắt BAT Công Nghệ Tốt Nhất Hiện Có BPT Công Nghệ Hữu Dụng Tốt Nhất CCFSC Ban Phòng Chống Lụt Bão Trung Ương PCLB CCS Hấp Thụ & Lưu Giữ Các-bon CDM Cơ Chế Phát Triển

Trang 1

Việt Nam và Biến Đổi Khí Hậu:

Báo cáo thảo luận các chính sách phát triển con người bền vững

Hà Nội, tháng 12 năm 2009

Trang 2

VII Tăng cường khả năng tự phục hồi trước các ảnh hưởng của biến đổi khí hậu 20

IX Củng cố kiến thức và nâng cao nhận thức về biến đổi khí hậu 28

X Tài chính và đầu tư dành cho công tác ứng phó với biến đổi khí hậu 31

XI Tham gia các cuộc thương lượng quốc tế về biến đổi khí hậu 34

Phụ lục 1: Ví dụ về các hành động biến đổi khí hậu do

Trang 3

Danh mục các từ viết tắt

BAT Công Nghệ Tốt Nhất Hiện Có

BPT Công Nghệ Hữu Dụng Tốt Nhất

CCFSC Ban Phòng Chống Lụt Bão Trung Ương (PCLB)

CCS Hấp Thụ & Lưu Giữ Các-bon

CDM Cơ Chế Phát Triển Sạch (trong khuôn khổ Nghị Định Thư Kyoto)

CO2 Các-bon-níc

COP15 Hội nghị các Bên tham gia Công ước Khí hậu lần thứ 15, Copenhagen, tháng

12 năm 2009 DRR Giảm nhẹ rủi ro thiên tai

GCM Mô hình khí hậu toàn cầu (còn gọi là Mô hình phân bố toàn cầu)

GDP Tổng sản phẩm trong nước

GEF Quỹ Môi trường toàn cầu (kênh tài trợ chính thức của Công ước Khí hậu) GHGs Các khí nhà kính

IHMEN Viện Khí tương-Thuỷ văn và Môi trường (Bộ TN&MT)

IPCC Uỷ ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu

KP Nghị định thư Kyoto (NĐT)

LDCs Các nước kém phát triển

LECZ Các vùng ven biển có độ cao thấp

MARD Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT)

MDGs Các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ

MOC Bộ Xây dựng

MOCST Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch (VH,TT&DL)

MOET Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT)

MOF Bộ Tài chính

MOFA Bộ Ngoại giao

MOIT Bộ Công- Thương

MOLISA Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (LĐ,TB&XH)

MONRE Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT)

MOST Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN)

MOT Bộ Giao thông

MPI Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT)

NAMAs các Hành động Giảm thiểu Phù hợp Quốc gia

NGO Tổ chức phi Chính phủ

NTP-RCC Chương trình Mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu

R&D Nghiên cứu và Phát triển

REDD Cắt giảm Phát thải từ Phá rừng và Suy thoái rừng

SEA Đánh giá Môi trường Chiến lược

SEDP Quy hoạch Phát triển Kinh tế-Xã hội (KT-XH) (ví dụ giai đoạn 2011-2015) SEDS Chiến lược Phát triển KT-XH (ví dụ giai đoạn 2011-2020)

SIDS Quốc gia Phát triển Đảo nhỏ

UN Liên Hợp Quốc (LHQ)

UNFCCC Công ước khung LHQ về Biến đổi Khí hậu (Công ước Khí hậu)

V&A (những đánh giá) Tính dễ bị tổn thương và Thích ứng

VASS Viện Khoa học Xã hội Việt Nam

VAST Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam

VUSTA Liên hiệp Hội Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Trang 4

Lời tựa

Liên Hợp Quốc tại Việt Nam giới thiệu báo cáo thảo luận chính sách biến đổi khí hậu này Chúng tôi hy vọng báo cáo sẽ có ích đối với các nhà hoạch định chính sách và công dân Việt Nam quan tâm đến biến đổi khí hậu, cũng như cộng đồng quốc tế

Trong 2 năm qua, biến đổi khí hậu đã được nói đến nhiều trên toàn thế giới và ở Việt Nam, cũng như trong các cuộc đối thoại giữa Chính phủ Việt Nam và cộng đồng quốc tế Điều đó cũng chẳng có gì ngạc nhiên bởi những diễn biến trong năm 2007 và tất cả chúng ta đều trở nên ý thức được sâu sắc những rủi ro đặt ra cho thế giới, trong đó có Việt Nam

Đến nay, chúng ta cũng hiểu rằng chúng ta có khả năng để hành động nhiều hơn

khí hậu và hành động của chúng ta có thể mang lại nhiều cơ hội tiếp tục phát triển đất nước với những lợi ích vượt trội, chứ không phải chỉ để ngăn ngừa các mối nguy hiểm

do các ảnh hưởng bất lợi của biến đổi khí hậu gây ra Báo cáo thảo luận này cho rằng cần phải hiểu biến đổi khí hậu là lời kêu gọi thức tỉnh theo nhiều cách, cũng như cần nhìn nhận những hành động ứng phó cần thiết như một cơ hội để đẩy mạnh phát triển con người Liên Hợp Quốc đã có vai trò rất tích cực trong các cuộc đối thoại quốc gia về biến đổi khí hậu, và chúng tôi hy vọng sẽ tiếp tục vai trò đó và tăng cường tham gia có tính xây dựng nhiều hơn nữa trong các cuộc đối thoại đó

Báo cáo thảo luận chính sách này là kết quả của những đóng góp về chuyên môn và hiểu biết sâu sắc vấn đề cụ thể này của các tổ chức Liên Hợp Quốc khác nhau Báo cáo còn là một ví dụ về một gia đình Liên Hợp Quốc cùng công tác với nhau tốt hơn như một phần của quá trình cải cách Liên Hợp Quốc đang diễn ra ở Việt Nam

Kết quả phân tích và các kiến nghị đưa ra trong báo cáo đã được thảo luận sâu giữa những người đứng đầu và nhân viên của nhiều tổ chức Liên Hợp Quốc khác nhau ở Việt Nam Họ

đã sửa cách hành văn Tác giả chính của báo cáo là Cố vấn chính sách về biến đổi khí hậu cho Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc ở Việt Nam Nhóm công tác truyền thông của Liên Hợp Quốc đã hỗ trợ việc biên tập cuối cùng và phát hành báo cáo này

Chúng tôi rất biết ơn một số cán bộ và các nhà nghiên cứu Việt Nam đã lưu ý chúng tôi về những chỗ không chính xác và đã cung cấp các thông tin Chúng tôi cũng xin ghi nhận với lòng biết ơn đối với những đóng góp của một số chuyên gia làm việc với Liên Hợp Quốc, họ

đã đảm nhận công tác nghiên cứu và đã có những đóng góp cho báo cáo này

Trong những năm tới, Liên Hợp Quốc sẽ xây dựng các chiến lược và kế hoạch mới để hỗ trợ Việt Nam và chúng tôi sẽ đảm bảo là hỗ trợ kỹ thuật, xây dựng năng lực và những bài học đúc kết từ công tác ứng phó với biến đổi khí hậu sẽ là những phần cốt lõi trong sứ mệnh của chúng tôi

Tôi trân trọng giới thiệu báo cáo này tới các bạn, và khuyến khích các bạn tham gia thảo luận về nhiều vấn đề được nêu lên trong báo cáo

Jesper Morch

Quyền Điều phối viên thường trú Liên Hợp Quốc

Trang 5

Tóm tắt

Biến đổi khí hậu là mối đe doạ chủ yếu đến phát triển bền vững, song xây dựng chính sách quốc tế cũng như các chính sách và hành động của quốc gia còn tạo ra các cơ hội Báo cáo này nhằm xác định và phân tích các vấn đề chính sách chính mà Việt Nam đang gặp phải trong việc ứng phó với những ảnh hưởng và nguyên nhân của biến đổi khí hậu, nhằm đảm bảo tiếp tục phát triển con người

Những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu

Các dữ liệu khoa học chỉ ra rằng Việt Nam „đặc biệt dễ bị tổn thưởng trước những ảnh hưởng bất lợi của biến đổi khí hậu‟, như định nghĩa trong Công ước Khung Liên Hợp Quốc

về Biến đổi khí hậu (Công ước Khí hậu) Các dự báo cho các vùng của Việt Nam theo các kịch bản phát thải khí nhà kính toàn cầu trong tương lai như đã được Uỷ ban Liên chính phủ

về Biến đổi khí hậu (IPCC) sử dụng cho thấy những ảnh hưởng nghiêm trọng của biến đổi khí hậu như gia tăng các sự kiện cực đoan nguy hiểm của khí hậu cũng như mất đi khả năng có thể dự đoán chúng, song những áp lực căng thẳng của khí hậu lại tích tụ dần dần

và đè nặng lên các nguồn tài nguyên và các cộng đồng

Việc tăng các mức nhiệt độ trung bình và những thay đổi về lượng mưa trung bình theo các

mô hình khí hậu không giải thích được đầy đủ mức độ „biến đổi khí hậu nguy hiểm‟, nghĩa là các sự kiện khí hậu trở nên cực đoan hơn Điều quan trọng là bởi vì „tránh được biến đổi khí hậu nguy hiểm‟ vẫn là một khả năng mặc dù chưa chắc chắn, do vậy cần phải áp dụng

„nguyên tắc phòng ngừa‟: bởi vì những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu có thể rất cực đoan, ngay cả các dữ liệu khoa học cũng không thể khẳng định chắc chắn là cần phải tiến hành hành động mang tính đề phòng nào

Chính sách biến đổi khí hậu

Việt Nam có các luật, chiến lược, kế hoạch và các chương trình nhất quán với những

nguyên tắc phát triển bền vững, trong đó có Chương trình Mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu (Chương trình Mục tiêu quốc gia) Chương trình này tạo cơ sở để quy hoạch hành động ở mọi ngành và địa phương đến năm 2015, hỗ trợ nghiên cứu và nâng cao nhận thức, cũng như giúp công tác điều phối

Chương trình Mục tiêu quốc gia sẽ giúp Việt Nam xây dựng một chiến lược bao trùm về biến đổi khí hậu, với các mục tiêu dài hạn về thích ứng cũng như giảm thiểu phát thải khí nhà kính Việt Nam cần cân nhắc đến rủi ro mà mực nước biển dâng và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu về bão, lượng mưa, hạn hán và nhiệt độ có thể tồi tệ hơn cả những mức dự báo ở trường hợp tồi tệ nhất Do vậy, cần phải áp dụng nguyên tắc phòng ngừa trong quy hoạch và tầm nhìn dài hạn

Các kế hoạch đầu tư dài hạn cũng cần phải xem xét đến những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu dù không thể dự báo tuyệt đối chắc chắn, nhưng chắc sẽ trở nên rõ ràng hơn trong tương lai, và theo các công trình nghiên cứu kinh tế, những khoản đầu tư trước về thích ứng sẽ mang lại lợi nhuận Hơn nữa, bảo vệ khỏi ngập lụt cần phải tốt hơn trong tương lai

so với trước đây cho dù có những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, và điều đó phù hợp với khát vọng của Việt Nam trở thành một quốc gia phát triển vào năm 2050 trong tương lai trung hạn

Tích hợp và lồng ghép ngay các mối quan ngại về biến đổi khí hậu trong các quy hoạch đầu

tư của khu vực nhà nước và tư nhân là cần thiết, đặc biệt trong lĩnh vực năng lượng Có

Trang 6

nhiều việc có thể làm được một cách dễ dàng và nhanh chóng để giảm sử dụng năng

lượng, tạo ra lợi ích cho cả các ngành công nghiệp và xã hội Các quyết định đầu tư hôm nay cũng có thể có tác động dài hạn đến các mức phát thải

Tăng cường quy hoạch đô thị và nông thôn, cũng như xây dựng các kế hoạch tổng hợp tổng thể có ý nghĩa quyết định cho cả thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển một nền kinh tế phát thải ít carbon Các kế hoạch hành động biến đổi khí hậu (trong Chương trình Mục tiêu quốc gia), các kế hoạch tổng thể (ví dụ, của các vùng như Đồng bằng Sông Cửu Long) và các quy hoạch đầu tư cần phải phản ánh được các kết quả nghiên cứu về các tác động và các hành động thích ứng biến đổi khí hậu, cũng như các hành động giảm thiểu khí nhà kính có bóc tách những sự khác biệt về mặt xã hội

Điều phối tốt giữa các ngành và giám sát hiệu quả việc thực hiện chính sách đòi hỏi có sự giám sát sát sao Thủ tướng, với những cơ cấu giúp việc được cấp kinh phí hợp lý và có số lượng đáng kể nhân viên có chất lượng cao Văn phòng thường trực của Chương trình Mục tiêu quốc gia cần được tăng cường hơn nữa và cần có sự tham gia tích cực của Bộ KH&ĐT

và Bộ Tài chính, đặc biệt bởi vì dự kiến sẽ có những thay đổi về tính chất của nguồn ODA dành cho Việt Nam

Nâng cao nhận thức của công chúng về biến đổi khí hậu là một nhiệm vụ cấp bách, cũng như vậy với công tác xây dựng năng lực cho các cơ quan và tổ chức ngay trong các giai đoạn đầu của công tác triển khai Chương trình Mục tiêu quốc gia Hoạt động trợ giúp này cần có sự tham gia của các tỉnh và các tổ chức quần chúng Các tỉnh có nhu cầu phải nhanh chóng xây dựng các kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu của chính địa

phương mình

Các khả năng dễ bị tổn thương và thích ứng

Mục tiêu bao trùm của thích ứng biến đổi khí hậu là tăng cường khả năng chống chịu và phục hồi của nam giới, phụ nữ và trẻ em, các cộng đồng, các vùng và các ngành, và nâng cao khả năng cung cấp dịch vụ của các doanh nghiệp và các cấp chính quyền khi phải đối mặt với các ảnh hưởng của biến đổi khí hậu

Người dân dễ bị tổn thương trước các ảnh hưởng của biến đổi khí hậu bao gồm những người sống ở dải ven biển (là nơi mực nước biển dâng đang khiến rủi ro ngập lụt và xâm mặn trở nên trầm trọng hơn); người dân sống ở các châu thổ sông của Việt Nam (họ đang phải trải qua các nguy cơ lũ cao hơn); các cộng đồng ven biển miền Trung (chịu rủi ro do bão trầm trọng hơn và hạn hán gay gắt hơn) và người dân ở các khu vực miền núi (những người phải chịu các trận mưa lớn ngày càng gia tăng, sạt lở đất, và hạn hán) Những nhóm người dễ bị tổn thương nhất gồm có phụ nữ, trẻ em và cả người già Các dân tộc ít người,

do tương đối nghèo, cũng rất dễ bị tổn thương trước các ảnh hưởng của biến đổi khí hậu,

và cũng giống như vậy trong trường hợp của nhiều người di cư Cư dân thành thị nghèo hơn dễ bị tổn thương vì họ thường sống và làm việc ở các khu dân cư nằm ở vùng đất thấp,

có hệ thống tiêu thoát nước kém và ít được sử dụng nước sạch

Các ngành bị ảnh hưởng đặc biệt là nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản (bao gồm cơ sở hạ tầng của các ngành này) An ninh lương thực của cả quốc gia lẫn toàn cầu gặp rủi ro vì Đồng bằng Sông Cửu Long là nguồn sản xuất và xuất khẩu gạo chủ yếu Các ngành khác cũng dễ bị tổn thương gồm có hệ thống cấp nước thành thị và nông thôn, cơ sở hạ tầng giao thông, và các dịch vụ xã hội như y tế và giáo dục Thương mại và ngành công nghiệp chế tạo sản phẩm cũng dễ bị ảnh hưởng, đặc biệt trước thiên tai

Chương trình Mục tiêu quốc gia đã xác định nhu cầu tiến hành các đánh giá về tính dễ bị tổn thương và thích ứng (V&A) ở các cấp ngành, vùng và cộng đồng, cũng như xác định

Trang 7

các nhóm xã hội dễ bị tổn thương nhất trước các tác động của biến đổi khí hậu Tuy nhiên, Chương trình này lại chưa giải thích những vai trò khác nhau giữa nam giới và phụ nữ trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu, cũng như chưa xác định rõ các trách nhiệm hoặc các quyền lực ra quyết định Những khác biệt có tính xã hội và các quan hệ xã hội đó cần được phân tích như một bộ phận không thể tách rời của các đánh giá tính dễ bị tổn thương và thích ứng

Phụ nữ chẳng hạn còn chưa được đại diện đầy đủ trong các quá trình quy hoạch và ra quyết định liên quan đến các biện pháp ứng phó với biến đổi khí hậu ở cấp quốc gia và địa phương Trong khi phụ nữ nông thôn rất tích cực trong nông nghiệp, nhiều chị em không có quyền hợp pháp về đất đai và do vậy, thường không thể được hưởng tín dụng quy mô lớn hơn hoặc giữ đất đai khi ly dị hoặc chồng chết, cũng như các dịch vụ khuyến nông vẫn do nam giới chi phối Những rào cản đối với sự tham gia của phụ nữ cần được quan tâm giải quyết, bởi vì biến đổi khí hậu sẽ tạo ra các áp lực mới lên các nguồn tài nguyên và sinh kế Trẻ em cũng cần được tham gia trong đánh giá tính dễ bị tổn thương và thích ứng biến đổi khí hậu bởi vì các em đã chứng tỏ rằng các em có thể là những thông tin viên tốt và là các tác nhân thay đổi trong giảm nhẹ rủi ro thiên tai

Hơn nữa, trong khi các áp lực khí hậu sẽ ảnh hưởng mạnh lên người dân tộc ít người ở các vùng cao, không nên chỉ xem họ như nạn nhân Kiến thức truyền thống và các phương thức bản địa có thể có giá trị quan trọng trong công tác xây dựng các hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu

Để thích ứng thành công trước biến đổi khí hậu cần phải tăng cường các cơ hội sinh kế cho nam giới và phụ nữ kém khả giả hơn trong nông nghiệp, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản và lâm nghiệp Các cách tiếp cận giới là rất cần thiết trong công tác giảm nhẹ rủi ro thiên tai và cần phải đảm bảo các dịch vụ y tế và giáo dục dưới ánh sáng của các áp lực căng thẳng khí hậu thêm mới Các chính sách cần tạo thuận lợi cho phụ nữ và nam giới để di cư không bị cản trở và chị em cần phải là đối tượng để được hỗ trợ trong trong các chiến lược sinh kế

đô thị Điều đó có nghĩa là việc đăng ký hộ khẩu cần phải tạo thuận lợi hơn là cản trở các cơ hội hưởng dụng các dịch vụ địa phương, kể cả việc học hành của con em những người di

Tăng cường khả năng chống chịu và phục hồi của người dân các vùng và các ngành bằng cách tạo ra các cơ hội sinh kế cho nam giới và phụ nữ, cũng như bảo vệ tính mạng, sinh kế

và tài sản sẽ đòi hỏi cả các biện pháp „mềm‟ và „cứng‟ Các biện pháp „mềm‟ bao gồm các

nỗ lực như các sáng kiến nhằm tạo ra thay đổi hành vi cải thiện công tác chuẩn bị trước thiên tai, chia sẻ thông tin tốt hơn, và nghiên cứu và phát triển trong nông nghiệp Các biện pháp „cứng‟ bao gồm xây dựng cơ sở hạ tầng chắc chắn sẽ phải đòi hỏi các khoản đầu tư rất lớn trong quy hoạch tổng thể và nghiên cứu cơ bản

Chắc chắn là cơ sở hạ tầng lớn là thực sự cần thiết để bảo vệ tính mạng, sinh kế và tài sản

Đê điều cũng như mở rộng rừng ngập mặn là cần thiết để bảo vệ làng xóm, thị trấn và thành phố, trong khi các công trình ngăn nước bão dâng cao là phải có để bảo vệ các thành phố

và cảng biển Các hồ chứa nước lớn là cần thiết để trữ nước ngọt Đường sá và cầu cống cần phải „chịu được khí hậu‟ để điều chỉnh theo các yêu cầu tiêu thoát nước Việc xác định

vị trí các khu công nghiệp có ý nghĩa quyết định đối với khả năng dễ bị tác động của các khu công nghiệp trước những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, trong khi sử dụng hay sản xuất hoá chất có thể gây ra tai biến khi xảy ra thiên tai Cần phải thiết kế hoặc điều chỉnh các hệ thống đường sắt, tiêu thoát nước và nước thải đô thị theo các mức cao hơn của lượng mưa

và theo các mức đỉnh xả thải nước Các cơn bão đòi hỏi gia cố nhà cửa của tư nhân và nhà nước Cần phải đảm bảo cơ hội sử dụng các dịch vụ trong và sau thiên tai (ví dụ như khả

Trang 8

năng tiếp cận các bệnh viện) Vấn đề này có thể đạt được một phần bằng cách điều chỉnh các tiêu chuẩn và phương thức xây dựng

Trong các chương trình đầu tư lớn, áp dụng các cách tiếp cận có tham vấn và có sự tham gia rộng rãi có ý nghĩa quyết định Một chính sách quan trọng đang được triển khai là di dời dân sống phân tán ở các nhà vườn ở Đồng bằng Sông Cửu Long đến những khu vực đất tôn cao có trường học, cấp nước và các dịch vụ khác quanh năm Kinh nghiệm này cần được đánh giá nghiêm túc, điều chỉnh nếu có thể và nhân rộng

Giảm thiểu phát thải khí nhà kính: Năng lượng

Việt Nam có nền kinh tế tăng trưởng nhanh, góp phần vào giảm đáng kể đói nghèo, mặc dù bất bình đẳng đang gia tăng Trong tương lai, Việt Nam có khả năng sẽ gia tăng nhanh tốc

độ tiêu thụ và các lượng phát thải khí nhà kính có liên quan, đặc biệt tại các trung tâm đô thị Theo ước tính, tổng mức phát thải của Việt Nam chắc chắn tăng hơn gấp đôi trong giai đoạn 2000-2020, đặc biệt là phát thải từ ngành năng lượng Việt Nam đang chứng kiến mức

sử dụng nhiên liệu hoá thạch gia tăng trong các ngành giao thông, sản xuất công nghiệp và phát điện Một trong số đó là than đá, nguồn nhiên liệu hóa thạch có rất nhiều ở Việt Nam Tuy nhiên, việc sử dụng năng lượng vẫn còn không hiệu quả ở hộ gia đình và khu vực nhà nước, trong lĩnh vực giao thông và ngành công nghiệp chế tác Nói cách khác, có rất nhiều

„cơ hội dễ hái‟ để cải thiện hiệu suất năng lượng theo các cách chi phí hiệu quả theo các ý kiến của chuyên gia Hiệu suất năng lượng có thể cải thiện được bằng quá trình chuyển giao công nghệ, xây dựng năng lực và đầu tư Đồng thời còn có tiềm năng lớn để mở rộng sản xuất năng lượng tái tạo, đặc biệt là từ gió và điện mặt trời

Quy hoạch một nền kinh tế chủ yếu là đô thị và phát thải ít các-bon hiện nay sẽ có khả năng

có được những ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế, trong khi vẫn đem lại nhiều lợi ích khác như giảm thiểu ô nhiễm đô thị: giao thông công cộng giúp cải thiện chất lượng không khí đô thị và giảm bớt các bệnh hô hấp Chuyển giao công nghệ bao gồm việc đưa vào áp dụng và phát triển các công nghệ phát thải thấp khí nhà kính cũng có thể tạo ra các lợi ích trước mắt đối với các hộ gia đình có thu nhập thấp, kể cả các lợi ích xã hội

Hầu hết việc chuyển giao công nghệ sẽ được tiến hành trong ngành công nghiệp chế tạo sản phẩm và cần phải có các định mức và có thể dự báo các dòng lợi nhuận trước khi có thể dự kiến các khoản đầu tư lớn Các doanh nghiệp cần có các cách cải tiến để cải thiện hiệu suất năng lượng, tiến hành kiểm toán năng lượng và thực hiện các tiêu chuẩn quản lý năng lượng (mới được đề xuất) Các doanh nghiệp này cần có cơ hội sử dụng vốn cũng như có thể được khuyến khích để áp dụng các công nghệ mới bằng các tiêu chuẩn (tự nguyện) cải tiến và được giám sát hợp lý và kiểm toán môi trường Chính phủ Việt Nam cần

có quy định, xây dựng năng lực và tạo ra các biện pháp kích thích để làm cho việc chuyển giao công nghệ này được diễn ra

Thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp

Theo các dự báo trong ngành lâm nghiệp và „thay đổi sử dụng đất‟, mức hấp thụ CO2 sẽ vượt mức phát thải CO2 Gia tăng sản xuất lúa nước và chăn nuôi gia súc đang góp phần đáng kể vào phát thải khí nhà kính Tuy nhiên, những cải thiện về quản lý nước và các phương thức làm đất lúa nước, cũng như sử dụng phân bón hiệu quả hơn là có thể giúp cắt giảm chi phí nông nghiệp trong khi đó lại giảm thiểu phát thải khí mê-tan và NO2 Có thể cắt giảm phát thải khí mê-tan bằng cách điều chỉnh thức ăn gia súc và sản xuất và thu khí sinh học từ chất thải gia súc Các hành động giảm thiểu đó có thể có các đồng lợi ích đáng kể về

an ninh lương thực, giảm đói nghèo, cũng như cải thiện bình đẳng giới Điều này sẽ đòi hỏi phải có các khoản đầu tư đáng kể của nhà nước cho việc xây dựng năng lực, phát triển thể

Trang 9

chế, khuyến nông và tài trợ cho nông nghiệp, để nam và nữ nông dân có thể thực hiện việc chuyển dịch sang các phương thức nông nghiệp bền vững

Việt Nam đã mở rộng độ che phủ rừng nhưng chất lượng đa dạng sinh học đang bị suy giảm ở một vài khu vực và rủi ro cháy rừng cũng tăng lên khi hạn hán gia tăng do biến đổi khí hậu Các cơ hội cô lập các-bon nhiều hơn cũng sẽ tăng bảo tồn đa dạng sinh học và giảm đói nghèo thông qua các kế hoạch sử dụng đất thích hợp Các dải rừng ngập mặn dọc theo bờ biển có tầm quan trọng đặc biệt, giúp bảo vệ đê điều và giữ vai trò chủ yếu trong việc duy trì đa dạng sinh học biển và và các nguồn lực sinh kế

Cắt giảm phát thải từ phá rừng và suy thoái rừng (REDD) có thể mang lại nguồn tài trợ (mới, bổ sung) để bảo tồn và bảo vệ rừng theo thoả thuận mới của Công ước Khí hậu Việt Nam đang được cộng đồng quốc tế hỗ trợ chuẩn bị thực hiện các cơ chế tài trợ mới theo REDD Sự thành công sẽ tuỳ thuộc vào sự cam kết liên tục và đầy đủ của Việt Nam trong việc xây dựng năng lực ở các cấp khác nhau và đảm bảo sao cho các nguồn tài trợ này mang lại lợi ích cho người dân địa phương, những người đạt được các mức cắt giảm thực

tế

Trong khi đổi mới công nghệ và tăng các dòng tài trợ cho các ngành như lâm nghiệp là quan trọng, những hoạt động này cũng có thể làm xói mòn hơn là cải thiện địa vị xã hội của phụ nữ Do vậy, điều có ý nghĩa quan trọng là đưa phân tích giới vào trong các chiến lược phát triển và chuyển giao công nghệ Phân tích giới còn có ý nghĩa quan trọng khi triển khai các chiến dịch thay đổi hành vi liên quan đến phát thải khí nhà kính – như nâng cao nhận thức về vết chân các-bon của các sản phẩm tiêu dùng

Cơ chế phát triển sạch (CDM)

Cơ chế phát triển sạch (CDM) trong khuôn khổ Nghị định thư Kyoto quy định việc tạo ra và trao đổi các chứng chỉ chứng nhận cắt giảm phát thải là tỷ lệ bù vào các mức cắt giảm phát thải đã thoả thuận của các nước phát triển và từ đó tạo ra các khoản tiền thu CDM đang phát huy chức năng ở Việt Nam, nhưng vẫn chưa được thực hiện ở quy mô lớn Những rào cản đối với việc phát triển đầy đủ CDM ở Việt Nam là thiếu nhận thức trong cộng đồng doanh nghiệp, thiếu vốn đầu tư rủi ro cao, thiếu nhận thức về các lợi ích của các dự án CDM trong số các quan chức, cũng như năng lực còn hạn chế Ngoài ra, quy định hiện tại yêu cầu tất cả các chứng chỉ chứng nhận cắt giảm theo CDM được hỗ trợ bằng nguồn ODA phải bổ sung vào Quỹ Môi trường Việt Nam, chứ không phải dành cho các chủ dự án Điều

có ý nghĩa quan trọng là Việt Nam cần giải quyết các rào cản này và tận dụng đầy đủ các lợi thế do CDM đem lại

Rất nhiều các khoản đầu tư ở Việt Nam có thể có lợi từ cơ chế CDM Ví dụ, tiềm năng lớn

và vẫn chưa được khai thác trong sử dụng khí mê-tan từ các bãi chôn lấp rác thải, từ hoạt động khai khoáng và các nguồn khác được dùng như nguyên liệu để phát điện Việt Nam chưa bắt đầu tìm kiếm các công nghệ thu và lưu trữ các-bon Các công nghệ này rất tốn kém, nhưng việc xây dựng năng lực liên quan đến các công nghệ quan trọng này là cần thiết, chẳng hạn bởi vì trong tương lai việc xác định vị trí xây dựng các nhà máy phát điện

sẽ quyết định khả năng áp dụng các công nghệ thu và lưu giữ các-bon về lâu dài Cơ chế CDM cũng có thể đảm bảo thu hút đủ lượng tài chính khả thi đối với các khoản đầu tư vào thủy điện

Hiểu biết và nhận thức

Việt Nam cần có nguồn dữ liệu chắc chắn để hỗ trợ quá trình ra quyết định và xây dựng các

kế hoạch hành động và quy hoạch đầu tư Chương trình Mục tiêu quốc gia nhằm hỗ trợ mục tiêu này vì cần tăng cường năng lực nghiên cứu chính sách của Việt Nam về các thách thức

Trang 10

biến đổi khí hậu Việt Nam có nhiều tổ chức nghiên cứu, nhưng chỉ có một số rất ít các nhà nghiên cứu có chất lượng cao tập trung vào biến đổi khí hậu, và các nguồn lực tài chính dánh cho nghiên cứu rất mỏng và dàn trải Cơ sở nghiên cứu bị phân tán và tuy đôi lúc có được sự cộng tác nghiên cứu tốt, nhưng trong nhiều trường hợp sự cộng tác này còn rất hạn chế Nhu cầu cấp bách hiện nay là tăng đầu tư cho nghiên cứu và tăng cường cộng tác nghiên cứu thông qua việc thành lập Uỷ ban biến đổi khí hậu của Việt Nam (VPCC) chẳng hạn

Nhu cầu về hiểu biết về các tác động xã hội và kinh tế của biến đổi khí hậu cũng như các cơ hội kinh tế có được từ việc kiểm soát phát thải khí nhà kính là rất thực tế Ví dụ như hiện vẫn còn chưa nghiên cứu các quyết định di cư được tiến hành thế nào và việc di cư có thể tăng cường khả năng chống chịu và phục hồi của những người di cư cả nam lẫn nữ, cũng như người thân của họ ở lại ra sao Sự hiểu biết một cách hệ thống những vai trò và các nhu cầu (thực tế và chiến lược) của phụ nữ trong giảm thiểu phát thải khí nhà kính và làm thế nào để có thể tăng cường những vai trò đó, còn rất hạn chế

Hơn nữa, nhiều dữ liệu liên quan của quốc gia thường không bóc tách theo lứa tuổi và giới tính (ví dụ các dữ liệu về tác động của thiên tai) Cần tăng cường cơ sở hiểu biết về các ví

dụ khác, như các dự báo về chi phí và lợi ích của việc làm cho cơ sở hạ tầng chống chịu với khí hậu; tạo ra năng lượng tái tạo; cũng như hiệu suất năng lượng trong ngành chế tác Ngoài ra, cần phải nghiên cứu việc sử dụng các công cụ tài chính, như các thuế các-bon, các quy định về mức trần và buôn bán các-bon, và/hoặc các mức trợ cấp nhằm khuyến khích đổi mới ít các-bon

Trong 2 năm qua, những thách thức về biến đổi khí hậu đã được đưa tin rất nhiều trên các phương tiện truyền thông quốc gia, kể cả các chương trình tập trung vào thanh niên, và nhận thức về các tác động của biến đổi khí hậu đã và đang được nâng cao ở cấp địa

phương Tuy nhiên, công tác truyền thông cộng đồng hiện nay mới chỉ tập trung và những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với thiên tai và nông nghiệp, trong khi các ảnh hưởng

và tác động của biến đổi khí hậu đến, ví dụ sức khoẻ, cũng có ý nghĩa quan trọng Một số các áp lực khí hậu chưa thu hút được nhiều sự chú ý và chưa được đưa tin Hơn nữa, nhận thức về các cơ hội kiểm soát phát thải khí nhà kính cần được nâng cao trong các quan chức nhà nước và dân chúng

Quan trọng là phải hiểu biến đổi khí hậu như một cơ hội cũng như thách thức cho phát triển con người Tích hợp và lồng ghép biến đổi khí hậu trong giáo dục chính quy hay không chính quy, bao gồm các chương trình giảng dạy cấp học phổ thông, đại học, đào tạo giáo viên và các chiến dịch tập trung vào trẻ em, thanh thiếu niên và phụ nữ, có ý nghĩa quan trọng Các hoạt động nâng cao nhận thức cần phải đi đến thay đổi hành vi và hành động của cá nhân và cả ở cấp cộng đồng, cũng như trong Chính phủ và giới doanh nghiệp

Tài trợ và đầu tư

Theo một số công trình phân tích quốc tế, các nhu cầu tài trợ cho thích ứng với biến đổi khí hậu cũng như giảm thiểu phát thải khí nhà kính là rất lớn

Nhu cầu hiện nay là xây dựng các kế hoạch đầu tư để làm cho các cơ ở hạ tầng chống chịu được với biến đổi khí hậu Bước đầu các khoản đầu tư sẽ tập trung vào các biện pháp nhằm đảm bảo các trường học và các cơ sở y tế vẫn có thể tiếp cận được trong và ngay sau xảy ra thiên tai liên quan đến khí hậu Để bảo vệ các vùng châu thổ và các khu vực ven biển của Việt Nam khỏi mực nước biển dâng và xâm mặn, cần có các khoản đầu tư lớn cho nghiên cứu và thiết kế, tiếp đến là các khoản đầu tư lớn với quy mô chưa từng có

Trang 11

Để hạn chế các tác động của biến đổi khí hậu, Việt Nam phải và cần đầu tư vào các hoạt động giảm thiểu phát thải khí nhà kính của khu vực công và tư nhân Việt Nam thuộc về khối các nước “đặc biệt dễ bị tổn thương trước các ảnh hưởng bất lợi của biến đổi khí hậu‟, do

đó, Việt Nam có đầy đủ tư cách hợp lệ để được hưởng tài trợ „mới và bổ sung‟ trong khuôn khổ của Công ước LHQ về Biến đổi Khí hậu

Các nguồn tài trợ sẽ được nhận qua các kênh nhà nước (ODA) cũng như qua thị trường

Do Việt Nam đang trở thành nước có mức thu nhập trung bình, cho nên ODA dưới dạng tiền viện trợ và các khoản tiền vay đang giảm đi, nhưng nguồn ODA cho biến đổi khí hậu bắt đầu tăng lên Do vậy, nguồn ODA dành cho Việt Nam trong tương lai có thể sẽ tập trung cho biến đổi khí hậu Nguồn vốn ODA sẽ rất quan trọng đối với thích ứng biến đổi khí hậu và tài trợ qua kênh thị trường sẽ rất quan trọng đối với giảm thiểu phát thải khí nhà kính

Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF) là cơ chế tài trợ chính thức của Công ước Khí hậu Nguồn tài trợ của GEF có thể gia tăng, trong khi các cơ chế tài trợ khác như Quỹ thích ứng (gây quỹ bằng tiền thuế thu từ CDM thuộc NĐT Kyoto); các cửa sổ tài trợ cho khí hậu của các ngân hàng phát triển; và nguồn tài trợ mới trong khuôn khổ UNFCCC, trong đó có REDD Việt Nam cần có nhiều năng lực để có được các nguồn vốn tài trợ này và đòi hỏi phải tập trung các nỗ lực để hiểu được các phương án lựa chọn tài trợ, và hợp tác tốt nhất giữa các

bộ khác nhau

Các kế hoạch hành động của các ngành và các tỉnh đang được xây dựng trong khuôn khổ Chương trình Mục tiêu Quốc gia có thể trở thành cơ sở có tính chương trình để lập ra một quỹ uỷ thác biến đổi khí hậu nhằm tiếp nhận và quản lý các nguồn vốn tài trợ quốc tế theo các quy định phù hợp và hài hoà trong nước và đặc biệt là các nguồn tiền dành cho xây dựng năng lực

Cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chính bắt đầu từ năm 2008 đã được giải quyết bằng việc kích thích tài chính trong nước Chính sách kích thích đó có thể ưu tiên các khoản đầu tư cho cơ sở hạ tầng quy mô nhỏ „chống chịu được với khí hậu‟ Đầu tư cho công nghệ hiệu suất năng lượng, kể cả trong ngành chế tác là khả dĩ và sẽ tạo ra được các lợi ích về cả kinh tế lẫn môi trường

Trong khi giảm thiểu khí nhà kính chưa thể là nhu cầu tài trợ công trong nước chủ yếu của Việt Nam, nhưng trong tất cả các khả năng, Việt Nam sẽ cần phải nâng vốn đầu tư trong nước nhiều hơn, cho dù có đạt được kết quả thành công trong các cuộc thương lượng khí hậu quốc tế Vấn đề đầu tư này là cần thiết nhất là đối với các khoản đầu tư quy mô lớn dành cho thích ứng

Việt Nam cần xây dựng các công cụ chính sách tài chính để tạo ra các tín hiệu thị trường hạn chế phát thải khí nhà kính, bao gồm các thuế các-bon hay một hệ thống về mức trần và buôn bán các-bon trong nước Những công cụ này có thể giúp gây vốn trong nước để đầu

tư cho thích ứng Cũng cần phát triển bảo hiểm ‟dựa vào chỉ số‟ như các kế hoạch bảo hiểm cây trồng dựa trên các mức nước thượng nguồn sông, giúp nhượng lại các rủi ro từ lũ của nông dân sống dọc Sông Cửu Long cho các thị trường quốc tế Các công cụ chính sách đó đòi hỏi phải tăng cường các năng lực ở nhiều cấp

Chính phủ Việt Nam cần gây ảnh hưởng đến hành vi của các doanh nghiệp bằng việc quy định các tiêu chuẩn (tự nguyện) có cải tiến, và tạo thuận lợi cho việc buôn bán, chuyển nhượng các-bon tự nguyện Việt Nam có kinh nghiệm nào đó với các nguồn quỹ bảo lãnh tiền vay để cải thiện cơ hội hưởng dụng vốn và giảm nhẹ rủi ro đầu tư cho các công ty đầu

tư cho công nghệ hiệu suất năng lượng, phát thải ít khí nhà kính cũng như tạo ra năng lượng tái tạo Các cơ chế đó cần được nhân rộng

Trang 12

Bộ TN&MT và Bộ NN&PTNT đã tích cực tham gia và có những năng lực trong những lĩnh vực này, song một nền ngoại giao khí hậu thành công chắc chắn sẽ đòi hỏi sự tham gia tích cực và năng lực được tăng cường hơn nữa ở nhiều bộ Thành công trong việc giúp đạt được những thoả thuận quốc tế còn đòi hỏi sự quyết tâm cao của ban lãnh đạo Việt Nam, trong đó có các khoản đầu tư về nguồn lực con người để tham gia các cuộc thương lượng khí hậu, xây dựng năng lực và đi lại

Bằng việc tích luỹ các kinh nghiệm quốc gia của mình, Việt Nam cần đảm bảo phản ánh được các nguyên tắc phát triển bền vững trong mọi thoả thuận, bao gồm xoá đói nghèo (ngắn hạn) và bảo vệ tránh các ảnh hưởng của biến đổi khí hậu; tăng trưởng kinh tế; phát triển công bằng xã hội kể cả bình đẳng giới; và tính bền vững về môi trường dài hạn

Những vấn đề thương lượng dưới đây là cực kỳ quan trọng đối với Việt Nam

Giảm thiểu phát thải khí nhà kính

Nguyên tắc „các trách nhiệm chung nhưng có phân biệt‟ của Công ước Khí hậu có nghĩa là, các nước phát triển chịu trách nhiệm cắt giảm phát thải khí nhà kính và cung cấp hỗ trợ tài chính cho các nước đang phát triển, nhằm giúp thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm thiểu phát thải khí nhà kính

Các nước đang phát triển sẽ tiến hành „các hành động giảm thiểu thích hợp ở cấp quốc gia‟ (NAMAs) với sự hỗ trợ về các nguồn lực tài chính và con người của quốc gia, cũng như nguồn ODA Việt Nam đã và đang triển khai một số hành động giảm thiểu thích hợp (NAMAs) và qua đó giúp Việt Nam đưa ra luận cứ về nguồn tài chính „mới và bổ sung‟ cho việc thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm thiểu phát thải khí nhà kính

Việt Nam không mong muốn thay đổi việc sử dụng các nguồn vốn cho các nỗ lực giảm đói nghèo và cải thiện các dịch vụ cơ bản cho các mục đích khác, nhưng cần

theo đuổi các hành động giảm thiểu phát thải khí nhà kính, để thúc đẩy phát triển

KT-XH Những nỗ lực này ít ra cũng nhận được sự hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật nào

đó của các nước phát triển

Những hành động giảm thiểu phát thải khí nhà kính của các nước phát triển cũng như sự hỗ trợ cho các nước đang phát triển để giảm thiểu khí nhà kính, cần phải „Đo lường, Báo cáo và Kiểm chứng được‟ (MRV) Việt Nam cũng có thể tuân thủ nguyên tắc „Đo lường, Báo cáo và Kiểm chứng được‟ đối với các sáng kiến giảm thiểu trong nước để qua đó, giúp thuyết phục các nước khác là, Việt Nam đang góp một phần của mình, cho dù quốc tế vẫn chưa thoả thuận được cơ chế „Đo lường, Báo cáo và Kiểm chứng được‟ là gì

Trang 13

Thích ứng với biến đổi khí hậu

Chắc chắn sẽ có rất nhiều người ở Việt Nam bị ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, trừ phi tiến hành hành động có ý nghĩa quyết định Trong khi Việt Nam có các năng lực tốt và Các Nước Kém Phát Triển (LDCs) và các Quốc Đảo Nhỏ Đang Phát Triển (SIDSSs) được hưởng đối xử đặc biệt theo Công ước Khí hậu, Việt Nam rõ ràng là một nước „đặc biệt dễ bị tổn thương trước những ảnh hưởng bất lợi của biến đổi khí hậu‟ và „cần được xem xét đầy đủ‟ để hỗ trợ cho các hành động thích ứng theo quy định của Công ước Khí hậu

Các cuộc thương lượng Công ước Khí hậu phải đi đến kết quả thiết lập được các thể chế thích ứng, cũng như các cam kết hỗ trợ các nước đang phát triển trong việc thích ứng với biến đổi khí hậu

Thích ứng biến đổi khí hậu của Việt Nam cần bao gồm các biện pháp giảm nhẹ rủi ro

thiên tai; nâng cao nhận thức; tăng cường các hệ thống bảo vệ xã hội; cải thiện các dịch vụ xã hội; tăng cường bảo hiểm xã hội và thương mại trước những căng thẳng của khí hậu; tăng cường các dịch vụ hỗ trợ sinh kế, như khuyến nông; tăng cường nghiên cứu và phát triển; các khoản đầu tư về cơ sở hạ tầng quy mô lớn và làm cho các cơ sở hạ tầng khác „chống chịu với khí hậu‟; cũng như cải thiện nhiều hơn công tác quy hoạch công nghiệp hoá và đô thị hoá

Tài trợ và các thể chế tài chính

Không có được một quyết định quan trọng về tài trợ thích ứng quốc tế, thì các Bên tham gia Công ước Khí hậu không có khả năng đạt được một kết quả thành công Các yêu cầu tài chính cũng như các ước tính về các nhu cầu có thể ít nhất là 0,5% GDP của các nước phát triển

Việt Nam cần nêu rõ quy mô các nhu cầu của mình dựa trên những đánh giá có chất lượng cao, điều này sẽ tăng cường vai trò của Việt Nam trong các cuộc thương lượng quốc tế

Việc tài trợ „mới và bổ sung‟ chủ yếu sẽ là tài trợ công, đã và đang được chấp nhận rộng rãi nhưng chưa phải là tất cả Tuy vậy, vẫn còn bất đồng về tầm quan trọng

tương đối và việc thực hiện chức năng của các thị trường các-bon và đầu tư của khu vực tư nhân Các nước đang phát triển yêu cầu việc quản lý tài trợ biến đổi khí hậu phản ánh được „sự đại diện cân đối và công bằng‟ của các nước đang phát triển, như Công ước Khí hậu đã nêu Việt Nam cần tham gia tích cực trong các cuộc thương lượng này, bởi vì Việt Nam có nhiều nhu cầu tài trợ cũng như có nhiều kinh nghiệm với các cơ chế tài trợ quốc tế khác nhau

Xây dựng năng lực và chuyển giao công nghệ

Việc xây dựng năng lực là cần thiết đối với các cán bộ trong các khu vực nhà nước

và tư nhân, trong cộng đồng nghiên cứu và ngành giáo dục, để thực hiện có hiệu quả các biện pháp thích ứng biến đổi khí hậu và giảm thiểu phát thải khí nhà kính Chuyển giao công nghệ giữ vai trò then chốt trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu, nhưng các rào cản về thể chế, tài chính, pháp lý và chính trị có thể rất lớn, trong đó

có chuyển nhượng các quyền sở hữu trí tuệ cho các doanh nghiệp của các nước đang phát triển Song đến nay vẫn chưa đạt được một thoả thuận giải quyết các rào cản đối với các công nghệ giảm thiểu và thích ứng, và điều có ý nghĩa quyết định đôi với Việt Nam là tham gia các cuộc thương lượng đó, đặc biệt là do nhu cầu về năng lượng tái tạo và ít phát thải của đất nước, cũng như hiện đại hoá các ngành công nghiệp chủ chốt

Việc thành lập một tổ chức công nghệ trực thuộc Hội nghị các Bên có thể giúp lập kế hoạch, tổ chức, điều phối, giám sát và đánh gía việc phát triển và chuyển giao công

Trang 14

nghệ quốc tế cho các nước đang phát triển Đã có đề xuất lập một quỹ công nghệ

khí hậu (hay một cửa tài trợ trong quỹ khí hậu chung) dưới sự giám sát của Hội nghị các Bên Đề xuất thành lập các trung tâm ưu tú (khu vực) để đảm bảo hợp tác quốc

tế về nghiên cứu và phát triển và chia sẻ thông tin, được ủng hộ rộng rãi

Cắt giảm phát thải từ phá rừng và suy thoái rừng - REDD

Việt Nam có mối quan tâm lợi ích lớn trong việc ủng hộ ở phạm vi rộng lớn đối với REDD và những đảm bảo về các lợi ích từ tài trợ quốc tế cho người dân địa phương (dân tộc ít người) và các đối tượng quản lý rừng ở những vùng cao và dải ven biển (rừng ngập mặn)

Xây dựng năng lực cũng có ý nghĩa quyết định để Việt Nam có thể tiến hành các hành động tự nguyện trong nước trong việc cắt giảm phát thải Việt Nam đã xây dựng một dự án thuộc chương trình UN-REDD và do vậy, có thể chia sẻ các kinh nghiệm với các nước khác về cách thức có thể sử dụng các nguồn tiền tài trợ công mới và bổ sung cho nguồn ODA hiện có, nhằm hỗ trợ nhiều mục tiêu phát triển – và

do đó đóng vai trò trung tâm trong các cuộc thương lượng REDD

Kết luận

Việt Nam có các yêu cầu lớn nếu ứng phó thành công với thách thức do biến đổi khí hậu đặt ra Tại giai đoạn này, Việt Nam có Chương trình Mục tiêu Quốc gia Ứng phó với BĐKH, năng lực thể chế và về con người đáng kể, và đã bắt đầu hành động với sự hỗ trợ

có mức độ của quốc tế Tuy vậy, Việt Nam cần nhiều trợ giúp quốc tế hơn và sẽ cần phải tiếp cận được với các nguồn tài trợ và hỗ trợ khác của quốc tế mà Việt Nam có đủ điều kiện

của (UNFCCC) Sự hỗ trợ này đang diễn ra từ từ ở Việt Nam để đảm bảo sao cho các ảnh hưởng của biến đổi khí hậu hạn chế được các tác động đến cuộc sống và sinh kế của người dân Việt Nam và đảm bảo các cơ hội cho tiến bộ công nghệ và việc làm trong sản xuất và tiêu thụ ít các-bon được tạo ra

Biến đổi khí hậu là lời kêu gọi thức tỉnh và yêu cầu nhân rộng các phương thức phát triển hợp lý Các khát vọng cao cả về phát triển của Việt Nam cần được duy trì, mặc cho các thách thức của biến đổi khí hậu Hầu hết giải pháp thích ứng hiện có hoặc có thể dễ dàng xây dựng Nhiều giải pháp giảm thiểu phát thải khí nhà kính hiện có hoặc đang được xây dựng Cho dù có phải phụ thuộc vào sự hỗ trợ rất nhiều của quốc tế, nhưng bằng hành động biến đổi khí hậu lại có thể trở thành một cơ hội để thực hiện các mục tiêu phát triển con người bền vững

Liên Hợp Quốc cam kết ủng hộ Việt Nam trở thành một tấm gương về cách tiếp cận phát triển toàn diện trong đó có lồng ghép biến đổi khí hậu, cách tiếp cận mà trong đó cả các ảnh hưởng và các nguyên nhân của biến đổi khí hậu đều được quan tâm giải quyết đầy đủ

Trang 15

I Giới thiệu

1 Với Đánh giá lần thứ tư của Uỷ ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) vào năm

20071, biến đổi khí hậu rõ ràng là mối đe doạ chính của thế kỷ này đối với phát triển bền vững, cũng như biến đổi khí hậu là do con người gây ra Ngày nay, biến đổi khí hậu đã chi phối các hội nghị thượng đỉnh quốc tế, nhất là trong gia đoạn nước rút đến Hội nghị các Bên lần thứ 15 (COP15) của Công ước khung Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu (Công ước Khí hậu) ở Copenhagen vào tháng 12 năm 2009 Tổng Thư ký LHQ, Ban Ki-Moon mô

tả biến đổi khí hậu như „một thách thức tập thể lớn nhất đối mặt với chúng ta, một gia đình nhân loại‟ Tổng Thư ký còn nói, ở Copenhagen „chúng ta có cơ hội để đưa vào thực hiện một thoả thuận khí hậu mà mọi quốc gia đều có thể nắm lấy một cơ hội công bằng, cân đối

và toàn diện’2 Việt Nam đã đáp ứng với vấn đề cấp bách của toàn cầu và của quốc gia này bằng việc phê chuẩn Chương trình Mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu vào cuối năm 2008 Chương trình Mục tiêu quốc gia đã tạo ra cơ sở để quy hoạch phân tích và hành động ở tất cả các ngành và địa phương của Việt Nam, nhất là đến năm 2015

2 Báo cáo này nhằm xác định và phân tích những vấn đề chính về chính sách mà Việt Nam đang gặp phải trong việc ứng phó với những ảnh hưởng và nguyên nhân của biến đổi khí hậu, nhằm đảm bảo tiếp tục phát triển con người Báo cáo đưa ra nhiều

kiến nghị để các cấp chính quyền, các cơ quan quốc gia, cơ quan phi chính phủ và các doanh nghiệp cũng như các đối tác quốc tế cân nhắc và thảo luận thêm, khi mà Việt Nam đang đối diện với quy mô lớn của các thách thức biến đổi khí hậu, cũng như đang giữ vai trò ngày càng tích cực trong các cuộc thương lượng khí hậu quốc tế Trong những kiến nghị đưa ra, nhiều kiến nghị quan tâm đến những hành động chính sách mà Liên Hợp Quốc và các tổ chức khác trong cộng đồng quốc tế đang cộng tác, hoặc bắt đầu cộng tác giải quyết với Chính phủ Việt Nam, các cấp chính quyền địa phương, các tổ chức phi chính phủ (NGOs) và/hoặc cộng đồng các doanh nghiệp (xem thêm Phụ lục 1)

Trang 16

II Phát triển bền vững và biến đổi khí hậu

3 Các dữ liệu khoa học về biến đổi khí hậu toàn cầu và các công trình nghiên cứu mô hình

hoá đều chứng minh, Vi t Nam là một trong những nước đặc biệt bị ảnh hưởng bởi

những tác động bất lợi của biến đổi khí hậu Ví dụ bao gồm các rủi ro ngày càng tăng về lũ lụt và hạn hán, mực nước biển dâng và xâm mặn, cũng như gia tăng các rủi ro về sức khoẻ

do các đợt nắng nóng gay gắt, sốt xuất huyết và sốt rét3 Những rủi ro này đã cảm nhận được ở các vùng ven biển đất thấp và các vùng cao, các khu vực nông thôn và thành thị – nhưng theo các cách khác nhau

Tính dễ bị tổn thương tương đối của các vùng châu thổ ven biển được thể hiện bằng số dân biểu thị, có khả năng phải di dời theo các xu thế mực nước biển hiện nay cho đến 2050

(Cực đoan = >1 triệu; cao = 50.000 đến 1 triệu; trung bình = 5.000 đến 50.000 4

4 Mực nước biển dâng và xâm mặn là những ví dụ về các áp lực tăng cường của biến đổi khí

hậu, chắc chắn gây ra di dời– con số trên của IPCC (2007) cho thấy, Đồng bằng Sông Cửu Long ở Việt Nam và Campuchia là một trong ba điểm nóng toàn cầu liên quan

đến di dân

5 Biến đổi khí hậu làm tăng thêm các khả năng dễ bị tổn thương của phụ nữ, nam giới và

trẻ em, các cộng đồng, các doanh nghiệp, cũng như các ngành kinh tế và các vùng Biến đổi khí hậu sẽ cản trở phát triển KT-XH, song các loại cơ sở hạ tầng và dịch vụ, và các năng lực khác nhau của khu vực công, các doanh nghiệp và người dân địa phương có thể giúp Việt Nam đối phó với những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, và trong một số trường hợp, lại biến các biện pháp ứng phó thành các cơ hội phát triển KT-XH Do vậy, đầu tư vào tăng cường năng lực để tăng khả năng chống chịu trước các áp lực căng thẳng của biến đổi khí hậu và phục hồi sau đó của phụ nữ, nam giới và trẻ em, của các cộng đồng, các ngành dịch vụ công và các doanh nghiệp chắc chắn đem lại những lợi ích KT-XH ngắn hạn

và dài hạn Trong thực tế, nghiên cứu ở nhiều nước cho thấy đầu tư cho những năm và các thập kỷ tới đây để tránh các chi phí ngắn hạn và dài hạn chính của biến đổi khí hậu có tính cấp bách về mặt xã hội, khôn ngoan về mặt kinh tế và hoàn toàn có tính khả thi trên phạm

vi toàn cầu5

6 Tính dễ bị tổn thương có thể nắm bắt theo các chỉ số dựa vào các tiêu chí có thể định lượng các áp lực của biến đổi khí hậu và các năng lực của một quốc gia, là đặc biệt có tác đụng đối với các mục đích so sánh Hình dưới chỉ ra rằng Việt Nam bị ảnh hưởng đặc biệt bởi những tác động bất lợi của biến đổi khí hậu như mực nước biển dâng, gia tăng lũ lụt và

Trang 17

hạn hán cũng như bão Tuy vậy, trong khi Đồng bằng Sông Cửu Long là một trong những vùng bị ảnh hưởng nhiều nhất trên thế giới, nhưng các năng lực so sánh của Việt Nam làm cho Việt Nam đỡ bị tổ thương phần nào so với Lào và Campuchia

Tính dễ bị tổn thương trước những ảnh hưởng bất lợi của biến đổi khí hậu ở

khu vực Đông Nam Á 6

Lưu ý: chỉ số được dùng trong hình là những ảnh hưởng khác nhau của biến đổi khí hậu (như lũ lụt, hạn hán, bão và mực nước biển dâng) và các năng lực so sánh giải quyết những căng thẳng đó

7 Sự ấm lên toàn cầu tính trung bình và biến đổi khí hậu là hệ quả „của hiệu ứng nhà kính‟ do con người gây ra Đặc biệt do sử dụng các nhiên liệu hoá thạch với số lượng tăng chưa từng thấy, cũng như do suy thoái rừng Sự tích luỹ các khí nhà kính khí quyển trước đây và hiện nay chủ yếu đều do các quốc gia công nghiệp gây nên Tuy nhiên, các nước đang phát triển như Việt Nam cũng đang đóng góp ngày càng nhiều các mức phát thải khí nhà kính Trong bối cảnh này, ứng phó với những nguyên nhân biến đổi khí hậu cũng còn tạo ra các cơ hội, đặc biệt nếu các công nghệ sản xuất và chế tạo năng lượng hiện đại được chuyển giao cho các nước đang phát triển sao cho các nước này nhanh chóng đạt được

tiến bộ, hướng tới một „nền kinh tế thấp các-bon‟7 (mà không ảnh hưởng đến chi tiêu cho việc giảm đói nghèo, phát triển xã hội và đồng thời duy trì nhịp độ tăng trưởng kinh tế)

8 Phát triển bền vững được định nghĩa rất nổi tiếng là „phát triển để đáp ứng các nhu cầu

của thế hệ hiện tai, mà không làm phương hại đến khả năng của các thế hệ tương lai đáp ứng các như cầu của riêng họ‟ – bổ sung một triển vọng dài hạn cho các chính sách phát

triển thường ngắn hạn.8 Hầu hết các chính sách và luật pháp hiện có của Việt Nam đều nhất quán với các nguyên tắc phát triển bền vững Việt Nam có nhiều luật, chiến lược, kế hoạch và chương trình được đưa vào thực hiện, có liên quan đến biến đổi khí hậu, như Luật Bảo vệ môi trường (BVMT) (2005), Luật Năng lượng (2005), Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (2005), Luật Tài nguyên nước và Luật Đa dạng sinh học (ĐDSH) (2008) Việt Nam có Chiến lược chung về Phát triển KT-XH (2001-2010), cũng như các chiến lược, kế hoạch và chương trình hành động ngành về BVMT, trồng rừng, và quản lý nguồn nước, phát triển

Trang 18

ven biển, giảm đói nghèo, quản lý thiên tai, hiệu suất năng lượng, sản xuất sạch hơn, v.v…

Việt Nam còn có Agenda 21 quốc gia, Định hướng chiến lược về Phát triển bền vững ở Việt Nam, được phê duyệt năm 2004 Các nguyên tắc cốt lõi của Agenda 21 Việt Nam đã được

đưa vào áp dụng trong Kế hoạch Phát triển KT-XH quốc gia (SEDP 2006–2010), gồm 3 trụ

cột - tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường

9 Việc kết hợp các tầm nhìn ngắn hạn và dài hạn như chúng ta thấy trong định nghĩa về

phát triển bền vững là thích đáng, bởi lẽ biến đổi khí hậu đã và đang xảy ra và chắc chắn

sẽ còn tiếp tục xảy ra trong những thập kỷ và thế kỷ tới, ngay cả khi có tiến hành hành động mạnh mẽ toàn cầu để giảm bớt các nguyên nhân gây ra9 Biến đổi khí hậu ít được đề cập đến trong các chính sách nói trên, cho dù những biện pháp ứng phó với biến đổi khí hậu có

ý nghĩa quyết định để đạt được phát triển bền vững Tuy nhiên, Việt Nam đã tham gia cùng các quá trình biến đổi khí hậu quốc tế và bắt đầu xây dựng các chính sách về cả những nguyên nhân lẫn những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu Việt Nam đã phê chuẩn Công ước Khí hậu năm 1994 và NĐT Kyoto năm 2002 Việt Nam đã trình Thông báo quốc gia số

1 cho Công ước Khí hậu10 và đang soạn thảo Thông báo quốc gia thứ hai với sự hỗ trợ của Liên Hợp Quốc11 Quan trọng nhất là, Việt Nam đã nhanh chóng xây dựng và phê duyệt Chương trình Mục tiêu quốc gia như đã nói ở trên

10 Việt Nam có các năng lực để ứng phó với biến đổi khí hậu vì Việt Nam có ngành nông nghiệp mạnh và có truyền thống lâu đời giải quyết thiên tai – trong khi đây chỉ là hai trong

số nhiều lý do khác Chỉ yếu hơn các nước công nghiệp, các năng lực của Việt Nam vẫn cao hơn đáng kể so với hầu hết các nước kém phát triển (LDCs) Chương trình Mục tiêu Quốc gia và một số dự án và chương trình độc lập nhưng có liên quan, đang nhận được sự

hỗ trợ tài chính và kỹ thuật của Liên Hợp Quốc, các quỹ đa phương12, các nhà tài trợ song phương, cũng như các tổ chức phi chính phủ để tăng cường các năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu Điều đó có nghĩa là, sự hỗ trợ đang dần dần hướng về một điểm, để đảm bảo

những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu (mà Việt Nam phải chịu đựng nhiều hơn hầu hết các nước) có những tác động hạn chế đối với cuộc sống và sinh kế của người Việt Nam

Sự hỗ trợ này cũng sẽ đảm bảo rằng đầu tư vào các biện pháp ứng phó với biến đổi khí hậu chắc chắn tạo ra các cơ hội về tiến bộ công nghệ và việc làm trong sản xuất và tiêu thụ

ít phát thải, cũng như đem lại các lợi ích khác về xã hội, kinh tế và môi trường

Trang 19

III Những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu

ở Việt Nam

11 Các nhà khoa học Việt Nam đã áp dụng „các mô hình khí hậu toàn cầu’ (GCM) cho các

vùng của Việt Nam theo 3 kịch bản toàn cầu về phát triển KT-XH và các mức phát thải khí

nhà kính có liên quan cho một tương lai dài hạn, được IPCC sử dụng (2007)13 Bộ TN&MT công bố các mức khí hậu và mực nước biển dâng tính trung bình rất có khả năng biến đổi

ở những vùng khác nhau của đất nước vào các năm 2050 và 2100 Các nhà khoa học nhấn mạnh đến những bất định trong các dự báo và áp dụng cách tiếp cận thận trọng trong việc lựa chọn các kịch bản biến đổi khí hậu có khả năng xảy ra nhiều nhất và các ảnh hưởng của nó14 Cách tiếp cận này là thận trọng bởi vì áp dụng kịch bản „mức phát thải trung bình toàn cầu‟, giả định thế giới sẽ hạn chế phát thải khí nhà kính và tránh được „biến đổi khí hậu nguy hiểm‟ – nghĩa là một kết quả thành công của các cuộc thương lượng khí hậu quốc tế và tiếp đến là các hành động rất quan trọng về cắt giảm phát thải khí nhà kính toàn cầu Tuy nhiên, những biến đổi về các mức phát thải, các nhiệt độ trung bình quan sát được gần đây, và ví dụ mực nước biển dâng cho thấy thế giới hiện đang trong một quá trình có các mức phát thải cao và biến đổi khí hậu nguy hiểm – và các ảnh hưởng của biến đổi khí hậu dễ có khả năng tồi tệ hơn so với đánh giá của IPCC năm 2007, không khá hơn Những dự báo biến đổi khí hậu của Việt Nam cần phải được cập nhật trong những năm tới đây, với việc tăng cường phân tích toàn cầu và thu thập các dữ liệu trong nước, cũng như

áp dụng các mô hình, như đã được quyết định trong Chương trình Mục tiêu quốc gia

Các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long với diện tích đất bị ảnh hưởng bởi mực nước biển dâng cao

1 m, theo kịch bản phát thải cao A2 15

Trang 20

12 Biến đổi khí hậu chắc chắn gây ra tổng lượng mưa hàng năm cao hơn ở mọi nơi ở Việt Nam, ước tính trung bình cho cả nước là 5% trong thế kỷ 21, theo „kịch bản phát thải trung bình‟ và lượng mưa hàng năm sẽ dễ biến đổi hơn16 Lượng mưa trung bình đang giảm đi vào những tháng khô hơn (tháng 12 đến tháng 5), đặc biệt ở Đồng bằng Sông Cửu Long, Tây Nguyên và các vùng ven biển Nam Trung Bộ; và đang tăng lên trong các tháng ẩm hơn (tháng 6 đến tháng 11), đặc biệt ở các vùng miền Bắc (xem thêm Phụ lục 2 về các dự đoán chính thức của Việt Nam) Ví dụ, lượng mưa vào mùa mưa của toàn bộ lưu vực Sông Cửu Long đang tăng lên, có nghĩa là mức xả nước đỉnh điểm cũng sẽ tăng, và lũ như năm 2000

và 2001 sẽ có thể lặp lại trừ phi các biện pháp giảm thiểu được triển khai17 Do đó, các trận

lũ lụt và các vụ hạn hán trở nên dễ xảy ra hơn, chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến nông

nghiệp, cấp nước và sản xuất thủy điện, cũng như thương mại và sản xuất công nghiệp ở các khu vực đô thị Lũ lụt và hạn hạn ảnh hưởng đặc biệt đến phụ nữ và nam giới nghèo nhất, những người có khả năng chống chịu và phục hồi kém nhất khi đối mặt với các áp lực căng thẳng của khí hậu Những căng thẳng này đặc biệt đã cảm nhận được ở các vùng nông thôn và tạo ra các yếu tố kích thích bổ sung cho tình trạng di cư

13 Việt Nam là một trong những nước gặp rủi ro nhiều nhất trước mực nước biển dâng và

xâm mặn tăng cường, về các mặt như tổng diện tích đất, số lượng người dân bị ảnh

hưởng, dự báo tổn thất GDP và tác động đến nông nghiệp chẳng hạn18 Mực nước biển dâng tính trung bình, đang tác động đến nhiều ngành kinh tế, đặc biệt là ở Đồng bằng Sông Cửu Long (như minh hoạ ở trên), thành phố Hồ Chí Minh, và các khu vực của Đồng bằng

Sông Hồng, cũng như một phần quan trọng ven biển miền Trung Mực nước biển dâng

toàn cầu tính trung bình, chắc chắn sẽ tới 0,59 m vào năm 2100, theo kịch bản phát thải khí nhà kính cao nhất được sử dụng trong Đánh giá lần thứ 4 của Ủy ban Liên Chính phủ

về Biến đổi Khí hậu (IPCC, 2007)19 Các dự báo chính thức của Việt Nam về mực nước biển dâng cao hơn kịch bản với trường hợp tồi tệ nhất này mà IPCC đưa ra bởi vì các nhà khoa học Việt Nam đã tính đến mức tan chảy nào đó của băng trên đất liền dựa trên các dữ liệu khoa học đã công bố sau báo cáo năm 2007 của IPCC Ước tính của Bộ TN&MT theo kịch bản phát thải khí nhà kính trung bình toàn cầu là mực nước biển dâng dọc theo bờ biển của Việt Nam trung bình là 75 cm vào năm 210020 Chương trình Mục tiêu Quốc gia của Việt Nam đưa ra ước số mực nước biển dâng tính trung bình là một mét vào năm 2100

là phù hợp với các tính toán của Bộ TN&MT đối với kịch bản phát thải cao21

14 Những dự báo của IPCC (2007) coi sự nở nhiệt của nước biển là nguyên nhân chính của mực nước biển dâng, nhưng sự nở nhiệt này là khác biệt ở các khu vực khác nhau trên thế giới Các dự báo đó loại trừ các ảnh hưởng của sự tan chảy và sụp đổ xuống biển của các vùng băng trên đất liền thuộc Băng Đảo Greenland, Nam cực và các vùng khác Nghiên cứu gần đây cho rằng tan băng có khả năng nghiêm trọng có thể gây ra mực nước biển dâng từ 1-1,5 mét vào năm 2100, hoặc có khả năng cao hơn tới mức dự đoán 4-6 mét trong các thế kỷ trong tương lai Do vậy, mức nước biển dâng 1 mét vào năm 2100 trong Chương trình Mục tiêu Quốc gia của Việt Nam là ước số hợp lý để các bộ ngành và các tỉnh „quy hoạch hành động‟ theo Chương trình Mục tiêu Quốc gia Lượng nước biển dâng vào năm 2100 có thể ngập một diện tích đất của quốc gia là 30.945 km2 nếu không có các biện pháp như gia cố đê điều và các hệ thống tiêu thoát nước Diện tích ngập này bằng 9,3% diện tích đất bề mặt của Việt Nam và tương đương tổng diện tích nước Bỉ22 Ngập nước là mối đe dọa lớn nhất đối với vùng Đồng bằng Sông cửu Long, nhưng cũng là rất cao cho lưu vực Sông Đồng Nai trong đó có cả Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng bằng Sông Hồng, cũng như dọc tất cả các vùng ven biển Dải ven biển Việt Nam là nơi sinh sống của

rất nhiều người dân nông thôn nghèo và phụ nữ, trẻ em và người già đặc biệt dễ bị tổn thương trước ngập lụt Song các thành phố và các khu công nghiệp cũng bị ảnh hưởng, và cư dân thành thị nghèo hơn nói chung sống ở các khu dân cư có hạ tầng cơ

sở tiêu thoát nước và chống ngập lụt chất lượng thấp Việt Nam xếp thứ sáu thế giới trong

số các nước có tỷ lệ dân số cao nhất sống ở các Vùng ven biển có độ cao thấp (LECZ).23Ngập lụt và các ảnh hưởng khác của biến đổi khí hậu là các nguồn áp lực thêm lên cuộc

Trang 21

sống và sinh kế có thể đẩy những người dễ bị tổn thương di cư tạm thời hoặc vĩnh viễn để tìm cuộc sống an toàn hơn và ổn định

15 Biến đổi khí hậu sẽ dẫn đến việc tăng lên của nhiệt độ mặt nước biển ở các vĩ độ cao hơn

của Thái Bình Dương và chắc chắn dẫn đến nhiều bão hơn ở tây bắc Thái Bình Dương

Cường độ bão cũng sẽ mạnh hơn, đặc biệt vào những năm „El Niño‟, và có những dấu hiệu

rõ ràng về giai đoạn này đang phát triển từ giữa năm 200924 Trước đây, các trận bão thường xảy ra vào tháng 8 ở miền bắc Việt Nam, vào tháng 10 ở miền trung và vào tháng

11 ở miền Nam Tuy nhiên, trong những năm gần đây, mùa bão đang diễn ra chậm hơn và

sự đổ bộ của bão đã chuyển dịch xuống phía Nam, và cường độ bão cho thấy đã gia tăng Những thay đổi đó ngụ ý rằng, các rủi ro đã gia tăng đối với người dân ven biển, đặc biệt là nước dâng do bão, sau đến mưa to do các cơn bảo đổ bộ, gây ra các vụ sạt lở lớn ở các vùng cao Điều đó đòi hỏi phải tăng cường hơn nữa các năng lực giảm nhẹ rủi ro thiên tai

và các biện pháp ở mọi cấp và ở cả các vùng ven biển lẫn các vùng cao

16 So vói năm 1990, nhiệt độ trung bình theo kịch bản phát thải trung bình, cho rằng sẽ tăng gần 2°C ở các vùng miền nam Việt Nam và tăng tới 2,8°Cở các vùng miền Bắc vào năm

2100 Tuy nhiên, với kịch bản phát thải cao thì nhiệt độ trung bình có thể tăng tới 3,6°C ở vùng ven biển miền Trung25 Các nhiệt độ tối thiểu chắc chắn sẽ tăng và số ngày với các nhiệt độ cao hơn 25°C chắc chắn sẽ tăng Các đợt nắng nóng gay gắt được cho rằng cũng

sẽ tăng và ảnh hưởng xấu nhất tới người già Các nhiệt độ cao hơn được cho rằng sẽ làm

lan tràn các vật chủ mang các bệnh ở người như sốt xuất huyết và sốt rét Nhiệt độ tăng

và những thay đổi về lượng mưa và mẫu hình hạn hán có thể lan tràn sâu, vật hại và các

bệnh cây trồng, cũng như ảnh hưởng xấu đến các hệ sinh thái và các mùa trồng trọt

Nước biển ấm hơn sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến một số hệ sinh thái biển

17 Các ảnh hưởng của biến đổi khí hậu bao gồm sự gia tăng các sự kiện khí hậu cực đoan nguy hiểm và cũng ít khả năng có thể dự đoán hơn, song lại tích tụ dần dần gây ra những

áp lực căng thẳng khí hậu đối với các nguồn tài nguyên và cộng đồng Các mô hình đưa ra

các nhiệt độ trung bình và lượng mưa vào các tháng và/hoặc các quý nhất định trong năm

trong các thập kỷ tới, và tuy có hàm ý về những hiện tượng cực đoan hơn như mưa và hạn hán, các giá trị trung bình không cho thấy đầy đủ mức độ của „biến đổi khí hậu nguy

hiểm‟ Những thất thường năm này qua năm khác và khả năng xảy ra và tần xuất của các

sự kiện cực đoan trong các năm và các mùa – tức là các sự kiện khí hậu khác xa hơn xu thế và giá trị trung bình – là rất khó để đảm bảo chắc chắn bất kỳ độ chính xác nào Các mô hình không thể chỉ rõ tất cả „tính dễ biến đổi của khí hậu‟ tăng lên và các rủi ro liên quan, nhưng các dữ liệu khác nhau đã đưa IPCC đi đến kết luận rằng, sự ấm lên tàn cầu với nhiệt

độ trung bình tăng hơn 2°C, thì chắc chắn sẽ tăng mạnh tính dễ biến đổi của khí hậu Tuy nhiên, vẫn chưa có được sự đảm bảo rằng thế giới sẽ sẵn sàng trong một quá trình hành

động phát thải thấp để thế giới có thể hạn chế được sự ấm lên toàn cầu tới 2°C.Hơn nữa, ngay cả khi nếu có đạt được mục tiêu dài hạn được chấp nhận rộng rãi này, thì việc „tránh được biến đổi khí hậu nguy hiểm‟ là có thể nhưng vẫn không chắc chắn Tuy Việt Nam chọn quá trình phát thải trung bình với mức ấm lên toàn cầu cao hơn một chút có tính thực tế

nhất đối với mọi kịch bản, nhưng cần phải đưa vào thực hiện „nguyên tắc đề phòng‟ khi xây

dựng các thông số quy hoạch và thiết kế để ứng phó với biến đổi khí hậu Điều này có nghĩa là phải tiến hành hành động phòng ngừa bởi vì những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu có thể rất cực đoan, ngay cả khi các dữ liệu khoa học chưa thể đưa ra được các bằng chứng chắc chắn cho điều đó26

Trang 22

IV Tính dễ bị tổn thương trước biến đổi khí hậu

18 Những ảnh hưởng biến đổi khí hậu ở Việt Nam gồm các tai biến khí hậu nghiêm trọng cũng như các thay đổi dần dần các biến số khí hậu, như nhiệt độ và lượng mưa – nói cách khác, biến đổi khí hậu gây ra các mức độ căng thẳng bổ sung khác nhau, ảnh hưởng đến cuộc

sống và sinh kế Tính dễ bị tổn thương trước biến đổi khí hậu được định nghĩa ở đây là

„mức độ mà một người, hộ gia đình, nhóm xã hội, doanh nghiệp, tổ chức, địa phương hay một ngành, không có khả năng đối phó, chống chịu được những ảnh hưởng bất lợi của các rối loạn và căng thẳng, kể cả tính dễ biến đổi của khí hậu và các cực đoan của khí hậu gia tăng bởi biến đối khí hậu, hoặc khả năng phục hồi sau đó’.27 Các nhóm xã hội, các ngành khác nhau, v.v…, đều dễ bị tổn thương ít hay nhiều trước các căng thẳng và rối loạn cụ thể – như nguời già đặc biệt dễ bị tổn thương trước các đợt nắng nóng gay gắt, cũng như nông

nghiệp là đặc biệt dễ bị tổn thương trước các đợt hạn hán và rét Khả năng chống chịu và phục hồi trước những rối loạn khí hậu khốc liệt (các tai biến nghiêm trọng) và các áp lực

căng thẳng (tức là các tai biến từ từ tăng dần hoặc „diễn biến chậm‟) là năng lực để phục hồi của cá nhân, cũng như cấp xã hội hay tập thể, nhưng không chắc phục hồi lại như

„trạng thái ban đầu‟ Mục tiêu tổng thể của thích ứng biến đổi khí hậu như được đưa ra là tăng cường khả năng chống chịu và phục hồi của nam, nữ và trẻ em, các cộng đồng, các vùng và các ngành, cũng như doanh nghiệp và khả năng của các cấp chính quyền trong việc cung cấp các dịch vụ xã hội.28

Cầu nối xã Đak Tram và các xã khác (tỉnh Kontum) bị bão Ketsana phá hỏng (2009)29

Trang 23

Đa số người chết trong các trận lũ năm 2000 và 2001

ở đồng bằng Sông Cửu Long là trẻ em

Thay vì để con ở nhà, nhiều phụ nữ đem con đến gửi ở các trung tâm giữ trẻ vào ban ngày, nơi các em

có thể chơi đùa và ngủ trong an toàn Nhiều trung tâm như thế này được dựng lên vào năm 2001, và nhiều trong số đó do các tình nguyện viên của Hội Phụ nữ làm

19 Dựa trên các kịch bản biến đổi khí hậu, cần phải tiến hành tất cả các loại đánh giá tính dễ

bị tổn thương và thích ứng Những đánh giá này có nhiều những yếu tố bất định bởi lẽ có

nhiều giả định về phát triển KT-XH trong tương lai (mặc dù đã hiểu biết khá nhiều về những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu) Tuy nhiên, cần phải tiến hành đánh giá, bởi vì không thể chấp nhận được nếu không hành động trong khi đang phải đối mặt với những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu chắc chắn xảy ra (thậm chí khi mà quy mô và tính chất của các ảnh hưởng biến đổi khí hậu vẫn còn chưa chắc chắn lắm) Một số khả năng dễ bị tổn thương trước những rối loạn và căng thẳng khí hậu cụ thể đã rất hiển nhiên rồi, nhất là đối với phụ

nữ, trẻ em và người già, và nói chung là những người nghèo nhất gồm quá nhiều người dân tộc ít người Những đánh giá về tính dễ bị tổn thương và thích ứng cần phải tiếp tục tiến hành trong nhiều năm tới, với quá trình tìm hiểu và đầu tư lâu dài Nói cách khác, các

kế hoạch và các hành động thích ứng sẽ cần được chỉnh sửa liên tục trong tương lai trung

và dài hạn

Trẻ em trong các trận lũ năm 2000 và 2001 ở đồng bằng Sông Cửu Long 30

Trang 24

20 Trẻ em bị ảnh hưởng nhiều hơn trước từ cả các thiên tai tăng mạnh do biến đổi khí hậu

cũng như bởi các căng thẳng khí hậu ít hơn Các căng thẳng có những tác động trực tiếp

và gián tiếp đến an ninh lương thực, các sinh kế của các gia đình, giáo dục, sức khoẻ, và tỷ

lệ tử vong Điều đó đòi hỏi phải có hành động thích ứng có mục tiêu, ví dụ đảm bảo các trường học „chống chịu với thiên tai‟, có nghĩa là, các trường học sẽ có khả năng thực hiện chức năng ngay cả ở các thời điểm có lũ lụt và không bị bão hay các sự kiện khí hậu khác gây hư hỏng một cách dễ dàng Có rất nhiều kinh nghiệm chỉ ra rằng trẻ em vừa là các thông tin viên tốt vừa là các tác nhân thay đổi trong giảm nhẹ rủi ro thiên tai Liên Hợp Quốc

ở Việt Nam với một số đối tác cũng đã có kinh nghiệm trong tham vấn với các bạn trẻ về tương lai của các em dưới ánh sáng của biến đổi khí hậu, cũng như các biện pháp cần có trong các giai đoạn ngắn và trung hạn để đảm bảo tương lai đó31 Kinh nghiệm này cho thấy mức độ phong phú và tầm quan trọng của các ý tưởng của các bạn trẻ, cũng như có thể cần thực sự chuẩn hoá quá trình tham vấn với các em nam và nữ trong các đánh giá tính

dễ bị tổn thương và thích ứng Các em còn đưa ra nhiều đề xuất về nâng cao nhận thức và giảm thiểu phát thải khí nhà kính (giải pháp công nghệ và kinh tế), như „cây cho nước‟, sử dụng năng lượng tái tạo,v.v…Tuy vậy, các cuộc tham vấn còn cho thấy, các em gái nhất là

ở các vùng nông thôn xa xôi hẻo lánh hơn, cho đến nay tụt hậu so với các em trai về các thành tích học tập vì một vài lý do, cũng như nhu cầu hỗ trợ có mục tiêu để đảm bảo các

em có các cơ hội công bằng sống trong một tương lai mà trong đó biến đổi khí hậu chắc sẽ

là một thực tế của cuộc sống

21 Phụ nữ nông thôn có các vai trò „tái sản xuất‟ như cung cấp nước, và nhiều người trong số

họ đang phải đối mặt với áp lực ngày càng tăng từ các ảnh hưởng của biến đổi khí hậu Phụ nữ đặc biệt tích cực trong nông nghiệp, nhất là khi đàn ông di cư (đa số là theo mùa) hoặc gánh vác các công việc phi nông nghiệp ở địa phương Tuy vậy, phụ nữ gánh vác tất

cả các trách nhiệm đó của nam giới nhưng không có được cơ hội hưởng dụng công bằng các nguồn lực (như đất đai và tín dụng quy mô lớn hơn), và các dịch vụ khuyến nông vẫn

do nam giới chi phối Phụ nữ di cư ra các thành phố và thị trấn (theo mùa hay lâu dài) thường kiếm ít hơn đàn ông, nhưng vẫn phải đảm nhận trách nhiệm công việc tái sản xuất Trong các trường hợp thiên tai, phụ nữ đặc biệt mẫn cảm với các bệnh liên quan đến nước Phụ nữ có các năng lực và có các vai trò chủ chốt trong thích ứng biến đổi khí hậu và quản

lý thiên tai ở cấp địa phương, song lại không có địa vị bình đẳng và phụ nữ thường có ít tiếng nói trong các quyết định ở gia đình và cộng đồng có liên quan các vấn đề này Phụ nữ không được đại diện hợp lý trong các quá trình quy hoạch và ra quyết định ở cấp quốc gia

và địa phương về ứng phó với biến đổi khí hậu ngoại trừ về các vấn đề liên quan trực tiếp đến các vai trò của chị em như chăm sóc con trẻ Vấn đề này ảnh hưởng đến khả năng của quốc gia để lập kế hoạch và quan tâm giải quyết các nhu cầu và các mối quan tâm của cả phụ nữ lẫn nam giới Điều đó cũng hạn chế cơ hội khai thác năng lực và kinh nghiệm của phụ nữ để thích ứng và giảm thiểu phát thải khí nhà kính ở địa phương.32

22 Chắc chắn, người nghèo sẽ cảm nhận được các căng thẳng khí hậu, trong đó nhiều người

thuộc dân tộc ít nguời trên các vùng cao, nơi đã và đang cảm nhận được hạn hán, sạt lở

đất có liên quan đến các trận mưa to, cũng như những thay đổi về nhiệt độ Các dân tộc ít người thường sống ở các vùng sâu, vùng xa, trong khi đó mức đói nghèo tương đối và hạn chế cơ hội hưởng dụng thị trường và các dịch vụ của họ làm tăng tính dễ bị tổn thương của

họ Các căng thẳng về an ninh lương thực và thu nhập đối với những người có khả năng chống chịu và phục hồi tương đối thấp, có nghĩa là có thêm những thách thức trong việc thực hiện các chỉ tiêu phát triển con người đã được Chính phủ và các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ được nhất trí toàn cầu, đề ra Điều đó còn có nghĩa là, tri thức và tính đa dạng văn hoá bản địa đang bị đe doạ Các dân tộc ít người dù có dễ bị tổn thương thế nào

đi nữa, cũng không nên nhìn nhận chỉ là các nạn nhân, mà tri thức, các thông lệ và những nét tiêu biểu truyền thống về môi trường thiên nhiên của họ có thể mang trong nó các giá trị quan trọng đối với việc phát triển các biện pháp ứng phó thoả đáng đối với biến đổi khí hậu Tuy nhiên, các ưu tiên được phụ nữ và nam giới các dân tộc ít người bày tỏ trong bối cảnh

Trang 25

các căng thẳng của biến đổi khí hậu, chủ yếu là quan tâm giải quyết „khoảng cách phát triển‟, tức là các nhu cầu cơ bản đã có từ trước khi nhận thức được tầm quan trọng của biến đổi khí hậu, nhưng cần phải được quan tâm giải quyết, thậm chí cấp bách hơn vì chính biến đổi khí hậu

Hà Nội ngày 31 tháng 10 năm 2008: Mưa lớn và trái mùa gây ngập lụt khắp nơi, như có thể thấy trong ảnh chụp từ văn phòng của Liên Hợp Quốc 33

23 Các ngành dễ bị tổn thương đặc biệt là nông nghiệp và thủy sản vì số lượng tương đối

lớn các hộ nghèo và gần nghèo kiếm sống từ các ngành này Cũng dễ bị tổn thương là du lịch (ven biển) và ngành công nghiệp chế tác ở nhiều khu vực Nguy cơ lũ lụt và nước bão dâng cao sẽ phát tán các chất ô nhiễm từ các ngành công nghiệp sản xuất và sử dụng hóa

chất, hay từ các khu tập trung rác thải không được bảo vệ là đặc biệt cao Nhiều khu vực

đô thị đặc biệt dễ bị tổn thương do ngập lụt Bao gồm thành phố Hồ Chí Minh và tất cả các

thành phố và thị trấn lớn ven biển và nằm ở vùng đất thấp như các thành phố và thị trấn ở Đồng bằng Sông Cửu Long (Cần Thơ, Long Xuyên, v.v…), các thành phố dọc theo ven biển (ví dụ, Huế đã trải qua ngập lụt năm trong năm 2009 liên quan đến trận bão Ketsana) cũng như các thành phố bị ảnh hưởng do mưa cục bộ cực đoan (ví dụ, Hà Nội hứng chịu các trận mưa trái mùa và cực đoan cuối năm 2008 hoàn toàn vượt quá sức các hệ thống tiêu thoát nước của thành phố) Trong các thành phố và thị trấn này, những khu dân cư và các gia đình nghèo hơn nói chung, bị ảnh hưởng do tiêu thoát nước tồi và khó khăn trong

sử dụng nước sạch vào các thời điểm ngập lụt, trong khi đó an ninh thu nhập có thể bị giảm sút do mất ngày công lao động Tính dễ bị tổn thương của nông thôn và thành thị trước biến đổi khí hậu sẽ trở nên trầm trọng hơn do thực tế là toàn bộ dân số tiếp tục tăng (đã đạt tới con số 85,8 triệu người vào tháng 4 năm 2009) và nhất là các trung tâm đô thị đang tăng trưởng rất nhanh cả về quy mô lẫn mật độ dân số

24 Biến đổi khí hậu đe doạ nghiêm trọng đến việc bảo tồn các di sản thiên nhiên và văn hoá của Việt Nam Mối đe doạ về ngập lụt gia tăng, các điều kiện khí hậu mùa bất thường, mực nước biển dâng và nhiều trận bão mạnh hơn, cũng như sự ấm lên của nước biển là những

đe doạ trực tiếp đến đa dạng sinh vật và các hệ sinh thái Các mối đe doạ tương tự có thể trực tiếp ảnh hưởng đến của cải, bao gồm cả các cấu trúc vật thể cổ lẫn hiện đại Các địa điểm khảo cổ gặp rủi ro xuống cấp nếu xét về nhiệt độ trong đất tăng lên, những thay đổi về

độ ẩm và cường độ mưa Những địa điểm này được thiết kết và xây dựng, sử dụng vật liệu địa phương đối với khí hậu cụ thể của địa phương và những thay đổi về mẫu hình thời tiết có thể làm suy yếu các địa điểm này Hơn nữa, những ảnh hưởng đối với các cấu trúc xã hội

và các nơi cư trú có thể dẫn đến di cư và những thay đổi về các nhóm văn hoá, từ đó đe doạ

di sản văn hoá phi vật thể

Trang 26

V Phát thải khí nhà kính

25 Việt Nam có nền kinh tế tăng trưởng nhanh góp phần giảm đói nghèo và nâng cao chất lượng cuộc sống cho hầu hết người dân Việt Nam, mặc dù tăng trưởng kinh tế bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay và một số yếu kém về cơ cấu kinh tế trong nước, cũng như các khoảng cách đói nghèo tăng lên Dân số Việt Nam tiếp tục tăng trong khi mức tiêu thụ tính theo đầu người cũng tăng nhanh theo tăng trưởng kinh

tế Điều tra dân số năm 2009 ước tính tổng dân số là 85,8 triệu Hiện tại tỷ lệ người ở tuổi lao động trên người ăn theo là cao, và theo ước tính tình trạng này sẽ kéo dài trong 30 năm

tới và sau đó gảm đi Do vậy, Việt Nam dễ có khả năng phải trải qua tăng trưởng tiêu thụ nhanh và tăng trưởng phát thải khí nhà kính liên quan trong những năm và thập kỷ tới

Hơn nữa, theo ước tính, hầu hết tăng dân số sẽ diễn ra ở các trung tâm đô thị, dẫn đến việc mở rộng các thành phố và gia tăng mật độ dân số đô thị Do vậy, quy hoạch và đầu tư hướng tới một nền kinh tế thấp các bon và chủ yếu đô thị dễ có khả năng có những tác động nghiêm trọng đối với „cường độ các-bon‟ của nền kinh tế trong giai đoạn từ trung hạn đến dài hạn

26 Các nguồn tài nguyên môi trường đang bị đe doạ, cũng như ô nhiễm ở các thành phố và các con sông, tăng nhanh Việt Nam không đóng góp nhiều vào việc tích luỹ khí nhà kính trong khí quyển trước đây, gây ra biến đổi khí hậu toàn cầu, cũng như tính theo đầu người chưa thể so sánh với tỷ lệ phát thải của các nước giàu, song Việt Nam hiện đang đóng góp thêm vào nguyên nhân của biến đổi khí hậu toàn cầu với các mức phát thải tăng đều Theo

ước tính, tổng các mức phát thải của Việt Nam chắc chắn tăng hơn gấp đôi trong giai

đoạn 2000-2020 chủ yếu lượng phát thải là từ ngành năng lượng (do tiêu thụ năng lượng

và sản xuất điện thể hiện dưới đây) Tới năm 2010, khu vực năng lượng sẽ thay thế nông nghiệp chiếm vị trí ngành phát thải khí CO2 cao nhất Ước tính sau năm 2005, trong ngành lâm nghiệp và “thay đổi sử dụng đất”34, hấp thu CO2 sẽ vượt mức phát thải CO2 Tuy nhiên,

sự cô lập các-bon trong ngành lâm nghiệp và sử dụng đất, tóm tắt ở dưới, có thể là quá lạc quan

Ước tính phát thải khí nhà kính năm 1994 và 2000, với ước tính đến năm 2030

Đơn vị: triệu tấn CO2 quy đổi

Nguồn: ALGAS, 1997; Bộ TN-MT, 2000 Các dữ liệu này không đưa vào các phát thải của các quá trình

công nghiệp và chất thải, ước tính khoảng 6.2% tổng lượng phát thải (6.4 triệu tấn) năm 1994 35

Trang 27

Ước tính các mức phát thải khí nhà kính đối với phát điện và sử dụng năng lượng

Đơn vị: triệu tấn CO2 qui đổi

Năm Ngành

Nguồn: Uỷ ban năng lượng nguyên tử Việt Nam

Ghi chú: Các số tổng trong bảng này khác với các số liệu „ngành năng lượng‟ trình bày ở bảng „Ước tính

phát thải khí nhà kính đến 2020…‟ nhưng các số tổng ở đây gồm sử dụng năng lượng trong ngành nông

nghiệp và tính toán có một số ít vênh nhau

28 Đồng thời, việc sử dụng năng lượng ở hộ gia đình và khu vực công không có hiệu suất

cao (ví dụ, cách nhiệt chất lượng kém trong nhà ở và công sở), cũng như trong ngành công nghiệp chế tác (như nhiều cơ sở công nghiệp nhà nước và quy mô nhỏ sử dụng các công nghệ lạc hậu và không đạt hiệu suất cao về sử dụng năng lượng, với mức tổn hao năng lượng gấp hai hoặc ba lần so với các công nghệ khác để sản xuất ra cùng một khối lượng sản phẩm) Theo các chuyên gia, có rất nhiều cơ hội „trong tầm tay” về việc cải thiện hiệu suất năng lượng theo cách hiệu quả về mặt chi phí Có thể làm được điều này qua quá trình chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực và đầu tư theo từng giai đoạn trong vòng năm năm tới và sau đó Trước tiên, bằng việc áp dụng ngay Công nghệ Hữu dụng Tốt nhất (BPT) (thực sự chi phí hiệu quả, phổ biến và có thể chỉ cần hỗ trợ ít từ bên ngoài), sau đó bằng việc áp dụng Công nghệ Tốt nhất Hiện có (BAT; sẽ cần nhiều hỗ trợ từ bên ngoài hơn) và tiếp đến là phát triển và sử dụng đầy đủ công nghệ mới (việc này sẽ đòi hỏi nâng cao năng lực đáng kể và có thể cả về vấn đề bản quyền) Một trong những ngành sản xuất

có thể đạt được nhiều kết quả theo quá trình này là công nghiệp xi măng Đồng thời, có nhiều tiềm năng để mở rộng việc tạo ra năng lượng tái tạo, nhất là các năng lượng gió và mặt trời

29 Nông nghiệp là một nguồn phát thải lớn các khí nhà kính, đóng góp 14% tổng mức phát

thải toàn cầu Khi kết hợp với những chuyển đổi sử dụng đất liên quan, như phá rừng (mà động cơ chính là nông nghiệp), tỷ trọng này chiếm khoảng 1/3 tổng mức phát thải khí nhà kính Ở Việt Nam, sản xuất lúa nước và chăn nuôi đang gia tăng, góp phần đáng kể vào việc phát sinh khí nhà kính Chăn nuôi lợn và gia cầm được ưa thích hơn ở Việt Nam vì hiệu quả hơn và tạo ra khí mê-tan ít hơn nhiều trâu bò (mê-tan là khí nhà kính rất mạnh) Tuy nhiên, sản xuất lương thực các loại, đang tiếp tục tăng lên để đáp ứng các nhu cầu ngày càng tăng, liên quan đến tăng dân số và giàu có lên Diện tích đất canh tác lúa đang thu hẹp ở nhiều địa phương để mở đường cho việc mở rộng công nghiệp và đô thị, cũng như để giảm rủi ro liên quan đến ngập lụt và hạn hán, một số nông dân đã giảm thâm canh

từ 3 xuống còn 2 vụ năm Việc giảm diện tích đất canh tác lúa sẽ giảm tiềm năng phát sinh khí nhà kính từ ruộng lúa, nhưng để đảm bảo cung cấp đủ lương thực, tăng thâm canh và năng suất nông nghiệp cũng đang diễn ra Thâm canh trong nông nghiệp thường đồng

Trang 28

nghĩa với sử dụng phân bón nhiều hơn, và việc sản xuất, phân phối và sử dụng phân bón thải ra chất nitơ-ôxít (N20), cũng là một khí nhà kính Tuy nhiên, những cải thiện trong quản

lý nước và các phương pháp làm đất trong trồng lúa và việc sử dụng hiệu quả hơn phân bón là có thể, góp phần giảm chi phí nông nghiệp trong khi giảm phát thải khí Mê-tan và Nitơ-ôxít Có thể cắt giảm các mức phát thải khí Mê-tan từ chăn nuôi bằng việc điều chỉnh thức ăn chăn nuôi gia súc và bằng việc sản xuất và lưu giữ khí sinh học (biogas) từ chất thải động vật., trong khi năng lượng sản xuất là tái tạo và giảm nhu cầu sử dụng các nhiên liệu hóa thạch Một số các phương thức này đã được áp dụng ở quy mô nhỏ ở Việt Nam

36

30 Việt Nam đã tăng thêm độ che phủ rừng từ 27,2% năm 1990 lên 38,2% năm 2007 thông qua chương trình tái trồng rừng Mặc dù tăng độ che phủ rừng, chất lượng đa dạng sinh vật đang suy giảm ở các vùng của Việt Nam, cũng như rủi ro cháy rừng tăng lên do hạn hán tăng cường bởi biến đổi khí hậu Nói cách khác, việc cô lập các-bon là không thể diễn ra ở các quy mô đó và rủi ro của những thay đổi hoàn toàn đang gia tăng Hơn nữa, có nhiều cơ hội để cô lập các-bon nhiều hơn mà vẫn đáp ứng được các mục tiêu khác, là bảo tồn đa dạng sinh vật và giảm đói nghèo, thông qua các kế hoạch sử dụng đất phù hợp Có tầm quan trọng đặc biệt là các dải rừng ngập mặn dọc theo bờ biển ở các miền Bắc, Trung và Nam, phục vụ cho nhiều mục đích, kể cả các chức năng sinh thái có tầm quan trọng đặc biệt về thuỷ sản, cô lập các-bon và bảo vệ khỏi tác động của nước bão dâng cao

31 Các nguồn khí nhà kính khác gồm việc phát sinh mê-tan từ các bãi chôn lấp và các bãi

rác và từ khai khoáng Các nguồn này mới chỉ được giảm thiểu một phần và do vậy, có trữ lượng mê-tan chưa khai thác rất lớn để sử dụng (ví dụ làm nhiên liệu phát điện, phát thải

CO2, một loại khí có hiệu ứng khí nhà kính thấp hơn nhiều) Việt Nam chưa bắt đầu tìm

kiếm các công nghệ để thu và lưu trữ CO2 vì các công nghệ về thu và lưu giữ các bon

(CCS) còn đắt Tuy nhiên, đã bắt đầu có một số nghiên cứu và hoạt động xây dựng năng lực về khía cạnh này37 Điều đó là quan trọng vì việc xác định vị trí các nhà máy điện sẽ xây

Trang 29

dựng trong tương lai chẳng hạn sẽ quyết định mức độ áp dụng các kỹ thuật thu và lưu giữ các-bon trong trung hạn đến dài hạn, khi có được công nghệ thích hợp và tài trợ

32 Các mức phát thải các-bon nói chung, chưa được giám sát một cách chi tiết hoặc được tất

cả các ngành chức năng, như „giao thông đường bộ‟, „sản xuất thép‟, hoặc như „sản xuất vật nuôi‟, báo cáo – để giúp có thể xây dựng các chính sách có mục tiêu nâng cao các hiệu suất Những sáng kiến về vấn đề này đang được Bộ TN&MT triển khai cùng một số bộ ngành trong bối cảnh soạn thảo Thông báo quốc gia lần thứ hai gửi cho Công ước Khí hậu, cũng do Liên Hợp Quốc hỗ trợ Song việc triển khai phương thức tốt nhất của quốc tế trong giám sát và báo cáo sẽ đòi hỏi xây dựng năng lực bổ sung đáng kể với sự hỗ trợ của quốc

tế

Trang 30

VI Chính sách và các thể chế quốc gia

33 Chính sách biến đổi khí hậu quốc tế và quốc gia có thể chia thành 2 nhóm chung: (a) thích ứng với những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu; và (b) giảm thiểu phát thải khí nhà kính Việt Nam đã xây dựng các cơ cấu quốc gia theo yêu cầu của Công ước Khí hậu và NĐT Kyoto, cũng như quy định liên quan Việt Nam đã tôn trọng các cam kết báo cáo cho Công ước, cụ thể là Thông báo quốc gia thứ nhất, quan tâm giải quyết cả phát thải khí nhà kính lẫn thích ứng38 Việc tham gia quốc tế này đã giúp xây dựng các năng lực quốc gia Tiếp theo việc nâng cao nhận thức về những thách thức biến đổi khí hậu cả quốc tế lẫn trong

nước, Việt Nam đã xây dựng một Chương trình Mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu rất hoàn hảo, với các hành động tập trung vào giai đoạn 2009-2015, được Thủ

tướng phê duyệt tháng 12 năm 200839 Chương trình này đề cập mọi ảnh hưởng, tác động

và thích ứng biến đổi khí hậu, đặc biệt là mực nước biển dâng, cũng như giảm thiểu khí nhà kính Chương trình có liên quan đến hầu hết các ngành và sẽ giúp giải quyết nhiều

thách thức, và là một phương tiện để đảm bảo thông tin và cộng tác liên bộ Nhiệm vụ

cuối cùng này thuộc trách nhiệm của Ban Chỉ đạo Chương trình do Thủ tướng làm trưởng ban và một Ban Chủ nhiệm với các thành viên là đại diện của một số bộ

34 Chương trình Mục tiêu quốc gia được xây dựng để tích hợp lồng ghép các mối quan tâm

biến đổi khí hậu vào Chiến lược Phát triển KT-XH (SEDS 2011-2020) và Quy hoạch Phát

triển KT-XH (SEDP 2011-2015), cũng như vào các chính sách về giảm nhẹ rủi ro thiên tai, quản lý vùng ven biển và cung cấp và sử dụng năng lượng40 Các kế hoạch hành động để

giải quyết biến đổi khí hậu sẽ được xây dựng theo Chương trình Mục tiêu quốc gia ở hầu

hết các ngành và tất cả các tỉnh liên quan Kế hoạch hành động sẽ bao gồm nghiên cứu và

lập kế hoạch ngắn hạn, cũng như xây dựng và thực hiện các quy hoạch đầu tư trong các giai đoạn sau, sẽ đòi hỏi sự hỗ trợ kỹ thuật đáng kể Vấn đề quan trọng là, Chương trình

Mục tiêu quốc gia cần giúp Việt Nam xây dựng một chiến lược tổng thể về biến đổi khí hậu, trong đó đưa ra được các mục tiêu dài hạn về thích ứng cũng như giảm thiểu phát thải

khí nhà kính Vấn đề cũng có ý nghĩa quan trọng, nhưng không được đề cập rõ trong

Chương trình Mục tiêu quốc gia là việc lồng ghép biến đổi khí hậu với các quy hoạch đầu

tư của khu vực công và khu vực tư nhân Điều này bao gồm thích ứng cơ sở bảo vệ ven

biển và „xanh hoá‟ sản xuất và chế tạo năng lượng chẳng hạn

35 Việc lồng ghép những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và giảm thiểu phát thải khí nhà kính trong các khoản đầu tư có ý nghĩa quan trọng trong ngắn hạn, bởi vì có nhiều cơ hội „có nhiều lợi thế ngay trước mắt’ trong các khu vực như bảo toàn năng lượng, do có nhiều

khả năng để có được đồng lợi ích Nhiều khoản đầu tư cũng đáng giá để tránh bị lệ thuộc vào các ảnh hưởng thực sự của biến đổi khí hậu Ví dụ, tiếp tục tăng cường quản lý thiên tai, nghiên cứu nông nghiệp và khuyến nông, và hỗ trợ sinh kế nông thôn trong khi vẫn duy trì các tỷ lệ giảm đói nghèo cao có ý nghĩa quan trọng41 Lồng ghép biến đổi khí hậu trong

các khoản đầu tư sẽ còn có ý nghĩa „phòng ngừa’, nghĩa là các quy hoạch đầu tư dài hạn

cần thừa nhận biến đổi khí hậu ngay từ bây giờ, ngay cả khi những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu sẽ diễn biến phức tạp hơn sau này Ví dụ cơ sở hạ tầng có „tuổi thọ‟ vài thập kỷ, như các nhà máy phát điện, các cơ sở chế tác, hoặc hệ thống đê điều Một số công việc lồng ghép đã bắt đầu thực hiện Ví dụ, thành phố Hồ Chí Minh nằm ở vùng đất thấp và dễ

bị tổn thương trước mực nước biển dâng và các ảnh hưởng biến đổi khí hậu khác; thực tế này hiện đang được cân nhắc trong công tác quy hoạch xây mới và gia cố đê điều và các

hệ thống tiêu thoát nước Tuy nhiên, ngay cả dưới ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, cái chưa được cân nhắc là mức độ an toàn trước lụt lội trong tương lai phải cao hơn so với trước đây và ngay cả hiện tại Điều này là phù hợp với tham vọng trở thành quốc gia phát triển ví dụ vào năm 2050, và nâng cao các lợi ích một cách đáng kể

36 Quy mô để làm cho các công trình đầu tư cơ sở hạ tầng hiện có và „thông thường‟ có „sức chống chịu với khí hậu‟ dự kiến là rất lớn và cần thiết ở thành phố Hồ Chí Minh, Đồng bằng Sông Cửu Long và các nơi khác ở Việt Nam do các ảnh hưởng của biến đổi khí hậu như được dự báo, và cần phải tiến hành công việc phân tích để làm được việc này Quy mô đó

Trang 31

kêu gọi xây dựng các mối cộng tác quan trọng nhằm xây dựng năng lực ở nhiều địa

phương Đặc biệt quan trọng là phải tăng cường năng lực và quy trình quy hoạch

không gian ở cả đô thị và nông thôn và xây dựng các quy hoạch tổng thể chi tiết, quy mô lớn có lồng ghép dưới ánh sáng của cả những ảnh hưởng biến đổi khí hậu lẫn nhu cầu tạo

ra các điều kiện phát triển kinh tế ít các-bon (nhất là đối với Đồng bằng Sông Cửu Long, thành phố Hồ Chí Minh mở rộng, cũng như Đồng bằng Sông Hồng)

37 Thoạt nhìn, một số chính sách liên quan đến biến đổi khí hậu, chính sách phát triển xã hội

và bình đẳng giới không có bất kỳ mối quan hệ rõ ràng nào Tuy nhiên, điều quan trọng là xây dựng các khung phân tích và chính sách tạo ra các cộng năng giữa ứng phó với biến đổi khí hậu và theo đuổi các mục tiêu xã hội, như tăng cường khả năng chống chịu và phục

hồi trước các áp lực của biến đổi khí hậu cũng như cải thiện bình đẳng giới Đặc biệt quan

trọng là các quy hoạch (ngành) và các quy hoạch đầu tư cho biến đổi khí hậu, cho dù có liên quan đến giảm nhẹ tính dễ bị tổn thương hay giảm thiểu phát thải khí nhà kính, đều

phản ánh được phép phân tích phân biệt về mặt xã hội của các tác động biến đổi khí hậu và các hành động thích ứng, cũng như có các cơ hội giảm thiểu khí nhà kính để tạo ra các đồng lợi ích khác nhau Phép phân tích như vậy bao gồm ví dụ như những

khác biệt do giới, dân tộc, tuổi tác, nghề nghiệp và địa điểm, từ đó sẽ đưa đến các chỉ tiêu

và các hành động có sực bóc tách về mặt xã hội Cần có hành động cấp bách trong các lĩnh vực về đảm bảo sinh kế, sức khoẻ, nhân phẩm đối với phụ nữ, nam giới và trẻ em, và đặc biệt là những người nghèo nhất – bao gồm người dân thuộc các nhóm dân tộc ít người

ở vùng xa, vùng sâu Điều đó có nghĩa là cần tăng cường các cơ hội sinh kế đối với nam

giới và phụ nữ kém khá giả hơn hoạt động trong các ngành nông nghiệp, chăn nuôi, nghề

cá và nuôi trồng thuỷ sản, cũng như lâm nghiệp Cũng cần có các hành động định hướng giới để hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ, người lao động làm thuê, cũng như các chiến lược sinh kế thành thị Đặc biệt quan trọng là có các chính sách giúp phụ nữ và nam giới có khả năng di cư mà không bị trở ngại Cũng rất cần phải có các cách tiếp

cận có yếu tố giới trong hoạt động quản lý thiên tai (DRR) nhằm đảm bảo việc ứng phó với các thiên tai khốc liệt hơn do biến đổi khí hậu tạo ra các cơ hội để đạt được các mục tiêu xã hội thay vì tạo thêm các nguyên nhân gây bất bình đẳng42

43

Ngày đăng: 19/10/2021, 22:28

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w