Những vấn đề của hệ thống tài chính trong nước đã bộc lộ cùng với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu tồi tệ nhất từ những năm 1930, là điều kiện chín muồi để Việt Nam ban hành một quy đ
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU 2
I.MỤC ĐÍCH RA ĐỜI VÀ NHỮNG NỘI DUNG CHÍNH CỦA THÔNG TƯ 13/2010/TT-NHNN 3
1.Bối cảnh ra đời và mục đích của thông tư 13/2010/TT-NHNN 3
a.Bối cảnh ra đời 3
b.Mục đích ban hành 3
2.Những nét sửa đổi chính 4
II.TÁC ĐỘNG TỚI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 5
1.Những ưu điểm và tác động tích cực 5
2.Những hạn chế và tác động tiêu cực 7
III.NHỮNG SỬA ĐỔI, BỔ SUNG THÔNG TƯ 13/2010/TT-NHNN 11
TÀI LIỆU THAM KHẢO 13
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Sự ra đời hoạt động ngân hàng đánh dấu một bước ngoặt trong lịch sử phát triển
và tiến bộ của con người Hoạt động kinh doanh ngân hàng là một lĩnh vực kinh doanh đặc biệt bởi hàng hóa trong quá trình kinh doanh là tiền tệ - loại hàng hóa
có tính nhạy cảm và sức cuốn hút đặc biệt Chính tính đặc biệt này mà hoạt động kinh doanh ngân hàng vừa là một loại hoạt động đem lại hiệu quả rất lớn đối với nền kinh tế, vừa là một lĩnh vực có khả năng xảy ra rủi ro cao Mặc dù
ra đời muộn so với thế giới nhưng đến nay, hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam cũng đã phát triển rất mạnh mẽ tuy nhiên không tránh khỏi còn nhiều hạn chế Những vấn đề của hệ thống tài chính trong nước đã bộc lộ cùng với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu tồi tệ nhất từ những năm 1930, là điều kiện chín muồi để Việt Nam ban hành một quy định chặt chẽ và khắt khe về các điều kiện đảm bảo an toàn trong hoạt động của các ngân hàng nói riêng, hệ thống tài chính nói chung Theo đó, ngày 20/05/2010, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Thông tư 13/2010/TT-NHNN quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng có hiệu lực từ ngày1/10/2010
Xuất phát từ những ảnh hưởng không nhỏ sau khi ban hành thông tư
13/2010/TT-NHNN, chúng em xin đề xuất và thực hiện tiểu luận: “Tác động của thông tư 13/2010/TT-NHNN đến hệ thống ngân hàng thương mại” Trong tiểu luận có phân tích rõ về bối cảnh và mục đích ra đời của thông tư, những tác động tích cực, tiêu cực của thông tư đối với hệ thống ngân hàng thương mại Do thời gian hạn hẹp và kiến thức còn hạn chế, trong tiểu luận còn nhiều vấn đề phân tích chưa sâu sắc hoặc có sai sót, chúng em rất mong sự góp ý của cô giáo Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3I MỤC ĐÍCH RA ĐỜI VÀ NHỮNG NỘI DUNG CHÍNH CỦA THÔNG TƯ 13/2010/TT-NHNN
1 Bối cảnh ra đời và mục đích của thông tư 13/2010/TT-NHNN
a Bối cảnh ra đời
Kinh tế thế giới những tháng đầu năm 2010 diễn biến phức tạp Có những lúc người ta lo ngại về một cuộc khủng hoảng kép khi vấn đề nợ Hy Lạp tưởng như không thể kiểm soát nổi Các thị trường chứng khoán sụt giảm thê thảm Tình trạng thất nghiệp rất lớn làm ảnh hưởng đến tổng cầu thế giới Cục dự trữ liên bang Mỹ FED tiếp tục chính sách tiền tệ nới lỏng làm giá cả biến động mạnh… Những yếu tố này tác động trực tiếp vào nền kinh tế nước ta đặc biệt là hoạt động tài chính tiền tệ còn phát triển chưa bền vững, tiềm ẩn nhiều rủi ro Tỷ giá, lãi suất có nhiều biến động, thị trường vàng còn nhiều biến động nhiều cũng tác động không nhỏ tới ổn định tiền tệ và các cân đối vĩ mô của Việt Nam trong năm 2010 Các ngân hàng thương mại Việt Nam hoạt động còn chưa ổn định về
mô hình quản trị, chưa có chiến lược và hệ quản trị chiến lược tốt Theo đó, mức dư nợ cho vay bất động sản, chứng khoán cao, đầu tư ồ ạt vào công ty con
Hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam gặp phải hai vấn đề lớn: rủi ro về thanh khoản và rủi ro từ các hoạt động liên quan đến chứng khoán và bất động sản Nhận thấy những bất ổn trong hệ thống tài chính trong nước bộc lộ cùng với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu,vì vậy, xu hướng nâng cao khả năng bảo đảm an toàn, giảm thiểu rủi ro trên thị trường tài chính đặc biệt trong lĩnh vực tín dụng được chú trọng hơn bao giờ hết Sau một quá trình soạn thảo khá dài, ngày 20/05/1010, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã chính thức ban hành Thông tư 13/2010/TT-NHNN Quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng có hiệu lực từ 01/10/2010
b Mục đích ban hành
Thông tư 13/2010/TT-NHNN ban hành nhằm đảm bảo an toàn, nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh của hệ thống tài chính ngân hàng Việt Nam Và nó cũng nằm trong chiến lược cơ cấu lại nền kinh tế để đảm bảo tăng trưởng với
Trang 4tốc độ cao và bền vững Thông tư ra đời trước mắt để giải quyết 2 vấn đề: thứ nhất là tăng khả năng thanh khoản của các ngân hàng thương mại; thứ hai là hạn chế các ngân hàng thương mại tham gia vào quá nhiều hoạt động kinh doanh mang nhiều rủi ro là chứng khoán và bất động sản
2 Những nét sửa đổi chính
Thông tư 13 bao gồm rất nhiều nội dung chủ yếu liên quan tới qui định về các tỉ
lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng Trong đó tập trung ở
ba điểm mấu chốt:
Tăng hệ số an toàn vốn CAR từ 8% lên 9%
Theo điều 4 mục 1 thông tư 13/2010/TT-NHNN quy định như sau:
“Tổ chức tín dụng trừ chi nhánh ngân hàng nước ngoài, phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 9% giữa vốn tự có so với tổng tài sản “Có” rủi ro của tổ chức tín dụng (tỷ lệ an toàn vốn riêng lẻ)
Tổ chức tín dụng phải thực hiện Báo cáo tài chính hợp nhất theo quy định của pháp luật, ngoài việc duy trì tỷ lệ an toàn vốn riêng lẻ quy định tại khoản 1 điều này, phải đồng thời duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 9% trên cơ sỏ hợp nhất vốn, tài sản của tổ chức tín dụng của công ty trực thuộc (tỷ lệ an toàn vốn hợp nhất).”
Thông tư 13 là một bước đi cứng rắn của Ngân hàng nhà nước trong việc quy định tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu Theo đó, tổ chức tín dụng, trừ chi nhánh ngân hàng nước ngoài, phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 9% ( thay vì 8% trước đó) giữa vốn tự có và tổng tài sản “Có” rủi ro của tổ chức tín dụng
Thay đổi hệ số rủi ro đối với tài sản “Có”
Có hai thay đổi cơ bản:
(1) Các khoản vay đối với công ty con, công ty liên doanh, công ty liên kết với
tổ chức tín dụng sẽ có hệ số rủi ro điều chỉnh tăng từ 100% lên 150%
(2) Các khoản vay kinh doanh bất động sản và các khoản vay đối với công ty chứng khoán có hệ số rủi ro nâng từ 100% lên 250% Hệ số rủi ro của khoản
Trang 5cho vay đầu tư chứng khoán vẫn giữ nguyên ở mức 250% như Quyết định số 03/2008/QĐ-NHNN/
Tăng cường qui định về đảm bảo khả năng thanh khoản
Tỉ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động giới hạn ở mức 80% đối với ngân hàng và 85% với các tổ chức phi tín dụng Điểm đáng lưu ý là các khoản huy động được tính lại không bao gồm tiền gửi không kì hạn của các tổ chức kinh
tế, tiền của kho bạc nhà nước và tiền vay của các tổ chức tín dụng trong nước
II TÁC ĐỘNG TỚI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1 Những ưu điểm và tác động tích cực
Thứ nhất, nâng cao tỉ lệ an toàn cho hoạt động tín dụng.
Việc tăng hệ số CAR từ 8% lên 9% đòi hỏi các tổ chức tín dụng phải tăng tử số (Vốn tự có) hoặc giảm mẫu số (giảm tài sản “Có”' rủi ro) hoặc cả hai Mà trong cách tính tài sản có rủi ro, các khoản cho vay để đầu tư chứng khoán và cho các Cty chứng khoán vay được gán chung một hệ số rủi ro là 250% (mức rủi ro cao nhất) Như vậy, vô hình chung, để đảm bảo CAR, tín dụng cho đầu tư chứng khoán sẽ là khoản mục hàng đầu đưa vào danh sách điều chỉnh cắt giảm hoặc hạn chế Như vậy, nguồn vốn giải ngân để rót vào TTCK sẽ càng bị thắt
chặt Điều này sẽ giúp nâng cao tiềm lực tài chính, đảm bảo an toàn trong thanh toán, giảm thiểu rủi ro cho tổ chức tín dụng Ngoài ra còn góp phần tăng tiềm lực tài chính cho toàn bộ hệ thống ngân hàng
Basel II chỉ quy định tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu là 8%, nhưng đây chính là một trong những điểm yếu của nó như đã phân tích ở bài viết về Basel Dự kiến trong phiên bản sắp tới, hệ số đủ vốn CAR sẽ được nâng lên Do vậy, việc đưa
hệ số CAR lên 9% như Thông tư 13 là phù hợp với xu hướng chung của toàn cầu Đối với quy định về vốn pháp định tối thiểu 3.000 tỷ đồng, thông lệ quốc tế
đã không đưa ra bất kỳ một tiêu chuẩn hay giới hạn này vì quan điểm của họ đủ vốn là được Tuy nhiên trong bối cảnh nếu để quy mô ngân hàng quá nhỏ, thì rất
dễ để một cá nhân hay doanh nghiệp thâu tóm và biến ngân hàng thành một đơn
vị huy động vốn cho họ Vì thế, những giới hạn về sở hữu, cấp tín dụng nhằm
Trang 6hạn chế sự lũng đoạn tổ chức tín dụng đã được quy định chặt chẽ trong các quy định hiện hành
Thứ hai, hạn chế ngân hàng thương mại tham gia vào các hoạt động kinh
doanh nhiều rủi ro
Thông tư 13 và các quy định hiện hành đã giới hạn khá chặt chẽ việc tham gia vào các hoạt động kinh doanh chứng khoán và bất động sản của các ngân hàng thương mại Hệ số rủi ro điều chỉnh tăng từ 100% lên 150% với các khoản đầu
tư vào công ty con, công ty liên doanh, công ty liên kết với tổ chức tín dụng; từ 100% lên 250% với các khoản vay kinh doanh bất động sản và khoản vay của các công ty chứng khoán khiến ngân hàng cẩn trọng với các danh mục đầu tư mạo hiểm trên Từ đó các ngân hàng tăng cường khả năng và quản lí thanh khoản, chủ động với những khoản nợ, khoản đầu tư có rủi ro cao, kịp thời giải quyết những vấn đề phát sinh trong việc thu hồi nợ
Một điểm cần lưu ý đối với cơ quan điều tiết trong lĩnh vực này là cần tăng cường hơn nữa việc tách bạch giữa các hoạt động của ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư, nhất là trong bối cảnh biên giới giữa hai lĩnh vực này đã mờ
đi rất nhiều, nhất là việc cấp tín dụng và mua chứng khoán
Thứ ba, tăng cường khả năng và quản lý thanh khoản
Thông tư 13/2010/TT-NHNN yêu cầu các tổ chức tín dụng phải tính toán và quản lý các tỷ lệ về khả năng chi trả hàng ngày Đây sẽ là một thách thức lớn trong quá trình thay đổi và hoàn thiện của các tổ chức tín dụng để đảm bảo phát triển lành mạnh và an toàn
Thông tư quy định về tỷ lệ tối đa nguồn vốn huy động được sử dụng để cấp tín dụng Tuy vẫn có những tranh cãi và điểm không rõ ràng khi tính toán và quy định tỷ lệ này, nhưng đây là một trong những giới hạn để một tổ chức tài chính không rơi vào tình trạng mất thanh khoản khi sử dụng vốn quá mức, nhất là việc
sử dụng các nguồn vốn ngắn hạn và không ổn định (vay liên ngân hàng chẳng hạn) để cho vay hay đầu tư dài hạn
Trang 7Thứ tư, dần dần hoàn thiện các tỉ lệ an toàn của ngân hàng thương mại
theo thông lệ quốc tế, nâng cao vai trò quản lí của Nhà nước
Thông tư 13 là một chủ trương đúng đắn trong việc bảo đảm an toàn trong hoạt động của hệ thống NHTM nói riêng và hệ thống tài chính tiền tệ nói chung theo tiêu chuẩn quốc tế Tuy nhiên trong ngắn hạn, việc thực hiện Thông tư 13 sẽ gây nên những tác động theo hướng không thuận lợi Vì lẽ đó mà sau khi ban hành, Thông tư 13 đã vấp phải rất nhiều phản ứng từ các chủ thể trên thị trường tài chính, đặc biệt từ ba lĩnh vực chịu tác động mạnh mẽ nhất là ngân hàng, chứng khoán và bất động sản
Ngày 30/07/2010/ Hiệp hội ngân hàng Việt Nam lập công văn gửi thống đốc NHNN ghi nhận sự phản hồi về những bất cập về các tỉ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng Trước hết văn bản này nhận đinh” Nhìn chung các qui định đề cập trong Thông tư 13 hướng tới các chuẩn mực quốc tế trong hoạt động ngân hàng, bảo đảm an toàn cao cho hoạt động kinh doanh và
an toàn hệ thống ngân hàng Là điều kiện cần để hệ thống ngân hàng Việt Nam nhanh chóng hội nhập với bên ngoài”
2 Những hạn chế và tác động tiêu cực
a Hạn chế
Thứ nhất, về quy định tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu ở Điều 4 Mục 1 Hầu hết
các tổ chức tín dụng không thể tăng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8-9% đúng hạn 1/10/2010, do khi ban hành Thông tư không có thêm văn bản nào đi kèm hướng dẫn lộ trình tăng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, các ngân hàng và tổ chức tài chính buộc phải tăng và duy trì ổn định tỷ lệ này trong thời gian 3 tháng
Thứ hai, trong Điều 5 thông tư này quy định về hệ số rủi ro 250% của tài
sản “Có” bao gồm: các khoản cho vay để đầu tư chứng khoán, các khoản cho vay các công ty chứng khoán, các khoản cho vay nhằm mục đích kinh doanh bất động sản Với tình hình thị trường chứng khoán và bất động sản còn ảm đạm hiện nay, quy định này đúng là đảm bảo an toàn cho các khoản vay nhưng gây phản ứng dữ dội từ phía các nhà đầu tư và chính từ các ngân hàng Hệ số rủi ro
Trang 8này quá lớn nếu áp dụng với một số khoản cho vay ứng trước tiền bán chứng khoán do mức độ rủi ro về tín dụng lúc này được xem là không đáng kể Hệ số này không hợp lý nếu tính chung cho tất cả các khoản vay kinh doanh bất động sản Cần phân biệt thêm bất động sản đã hình thành hay là tài sản hình thành trong tương lai vì mức rủi ro sẽ khác biệt nhau
Thứ ba, Điều 16 Mục 4 Thông tư 13/2010/TT-NHNN quy định về giới
hạn góp vốn, mua cổ phần, tuy nhiên, quy định còn chưa rõ ràng, chi tiết Sau khi ban hành Thông tư, hàng loạt câu hỏi thắc mắc đặt ra: Liệu tổ chức tín dụng đang ủy thác đầu tư nước ngoài theo dịch vụ quản lý tài sản để đầu tư vào các loại chứng khoán ở nước ngoài có chịu điều chỉnh của giới hạn này không? Trường hợp TCTD góp vốn vào DN khác để đầu tư vào một dự án mà giá trị của dự án đầu tư lớn hơn vốn điều lệ của DN đó thì giới hạn góp vốn được xác định theo vốn điều lệ của DN hay giá trị của dự án đầu tư? Và rất nhiều những câu hỏi khác được đặt ra, chứng tỏ các quy định được ban hành còn nhiều điều bất cập
Thứ tư, vấn đề được đưa ra tranh cãi nhiều nhất là tỷ lệ cấp tín dụng được
quy đinh trong Điều 18 Mục 5
Tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động đối với các ngân hàng là 80% và đối với tổ chức phi ngân hàng là 85% Tỷ lệ này theo như phản hồi của 14 ngân hàng thương mại và tổ chức tài chính là không hợp lý, làm ứ đọng nguồn vốn trong khi nguồn huy động lại khó khăn như hiện nay
Tỷ lệ này được tính so với nguồn vốn huy động Một ngân hàng, tổ chức tài chính ngoài nguồn vốn huy động còn dùng các nguồn khác để cấp tín dụng như vốn tự có, các loại vốn mang tính chất “coi như tự có” (những nguồn vốn do chính họ tạo ra như vốn khấu hao tài sản cố định, các quỹ…), hoặc một số trường hợp là vốn huy động trên thị trường liên ngân hàng và vốn giao dịch nghiệp vụ thị trường mở OMO Những nguồn vốn này đã đảm bảo an toàn, sử dụng cấp tín dụng 100% không cần thêm tỷ lệ trên để đảm bảo tính thanh
Trang 9khoản, bởi vậy, đưa vào để tính tỷ lệ so với nguồn vốn huy động là không hợp lý
Hơn nữa, theo Khoản 3 Điều này, nguồn vốn huy động sử dụng để cho vay không bao gồm tiền gửi không kỳ hạn của tổ chức kinh tế, Kho bạc Nhà nước, Bảo hiểm xã hội và các tổ chức khác Tiền gửi không kỳ hạn của những đối tượng này thường chiếm tỷ lệ từ 15%-20% trong tổng nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng, đây là nguồn vốn có tính ổn định cao Vậy, ngoài 20% theo quy định không được sử dụng để cho vay, thì có 15%-20% khoản tiền gửi không kỳ hạn của các tổ chức trên không được cấp tín dụng nữa, tổng cộng là 35%-40% trên tổng nguồn vốn huy động phải giữ lại để đảm bảo tính thanh khoản là quá cao Bên cạnh đó, khi huy động, các tổ chức tín dụng đã giữ lại một lượng vốn trong NHNN theo tỷ lệ dự trữ bắt buộc để đảm bảo an toàn, lại thêm tỷ lệ này quá cao dẫn đến vốn dành cho hoạt động kinh doanh của các tổ chức sẽ bị hạn chế Hệ thống ngân hàng không thể phát triển được
b Tác động tiêu cực
Thứ nhất, Giảm khả năng mở rộng tín dụng
Việc ban hành Thông tư 13 là một chủ trương đúng đắn của Nhà nước trong việc đảm bảo an toàn hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại và hệ thống tài chính tiền tệ nói chung theo tiêu chuẩn quốc tế Tuy nhiên, trong ngắn hạn, như trên đã nói, việc triển khai những quy định theo Thông tư này đã gây nên những tác động theo chiều hướng không thuận lợi mà đáng kể đến đầu tiên là việc giảm khả năng mở rộng tín dụng
Trên thực tế, quy định tỷ lệ cho vay không vượt quá 80% vốn huy động sẽ làm giảm khả năng mở rộng tín dụng Sở dĩ có thể nói như vậy bởi thoạt nhìn tỷ lệ 80% có vẻ cao nhưng thực chất thì nguồn vốn mà các NHTM có thể cho vay sẽ thấp hơn nhiều so với 80% số vốn huy động được và tăng trưởng tín dụng trong thời gian tới có thể bị ảnh hưởng Tiền gửi không kỳ hạn của các tổ chức kinh
tế, kho bạc nhà nước, bảo hiểm xã hội là nguồn vốn khá ổn định, hiện chiếm 15-20% tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng Ngoài ra, vốn chủ sở hữu của
Trang 10nhiều ngân hàng cũng chiếm một tỷ lệ không nhỏ nhưng lại không được dùng
để cho vay
Thứ hai, Là một trong những nguyên nhân chính cản đà giảm của lãi suất
Thông tư 13 là một chính sách về chủ trường thì đúng song chứa đựng rất nhiều điểm chưa hợp lý, và là một nguyên nhân chính cản đà giảm của lãi suất Tỷ lệ cho vay không vượt quá 80% vốn huy động trong đó nguồn vốn để cung ứng tín dụng tín dụng không bao gồm tiền gửi không kỳ hạn của tổ chức, vốn tự có của NHTM, đầu tư của tổ chức sẽ càng làm giảm khả năng mở rộng tín dụng Chưa tính đến việc các khoản này chiếm khoảng 15% vốn huy động, khiến cho quy định này thực chất đã giảm tỷ lệ cho vay so với vốn huy động tổng thể xuống còn khoảng 60-65%, mà chỉ nói đến quy định tỷ lệ cho vay không vượt quá 80% vốn huy động, thì riêng điều này đã tạo thêm một cái khóa nữa cho ngân hàng trong nỗ lực tăng trưởng tín dụng
Quy định này cũng chưa từng có trong thông lệ quốc tế, và nó có thể chồng chéo với các quy định về quản lý nợ có, dự trữ bắt buộc v.v… Đây là một điểm
có lẽ còn chưa thật hợp lý nếu ban hành quy định này vào thời điểm này Tác động ngắn hạn của nó sẽ làm giảm đà tăng của tín dụng, và lãi suất sẽ khó giảm trong ngắn hạn Do đó, lãi suất vẫn chưa thể hạ nhiệt trong khi cung vốn tín dụng từ ngân hàng thương mại lại đang bị hạn chế
Thứ ba, Khó khăn cho việc tăng khả năng tạo tiền
Quy định tỷ lệ cho vay không vượt quá 80% vốn huy động là quy định chưa có thông lệ trên thế giới Có thể chỉ áp dụng trong những trường hợp đặc biệt trong các giai đoạn mất an toàn Quy định này làm giảm khả năng tạo tiền và số nhân tiền tệ của hệ thống ngân hàng, vì một khoản tiền lớn huy động được sẽ không dành để cho vay mà có thể nằm “chết” tại các NHTM
Đồng thời làm giảm hiệu quả can thiệp giảm lãi suất của Ngân hàng Nhà nước qua thị trường mở, cho vay liên ngân hàng theo định hướng của NHNN Thực chất, sự cạnh tranh tăng lãi suất tiết kiệm vẫn lấn át định hướng giảm của lãi