ỦY BAN NHÂN DÂN TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN NGUYỄN THỊ CẨM NHUNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN, ĐẢO HUYỆN ĐẢO PHÚ QUÝ, TỈNH BÌNH THUẬN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH SƯ PHẠM ĐỊA LÍ TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO ĐẠ[.]
Trang 1NGUYỄN THỊ CẨM NHUNG
PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN, ĐẢO
HUYỆN ĐẢO PHÚ QUÝ, TỈNH BÌNH THUẬN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGÀNH: SƯ PHẠM ĐỊA LÍ TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO: ĐẠI HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS.TS PHẠM VIẾT HỒNG
TP HỒ CHÍ MINH, THÁNG 5 NĂM 2021
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kì một công trình nào khác.
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Cẩm Nhung
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, ngoài sự cố gắng của bản thân, em đã nhận được
sự giúp đỡ từ phía gia đình, thầy cô và bạn bè Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến
Thầy: PGS.TS Phạm Viết Hồng Giảng viên khoa Sư Phạm Khoa Học Xã Hội
-Trường Đại học Sài Gòn đã luôn tận tình hướng dẫn và góp ý chi tiết để em có thểhoàn thành khóa luận này
Em chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô trong khoa Sư Phạm Khoa Học Xã Trường Đại học Sài Gòn đã tận tình truyền đạt kiến thức trong những năm qua Vớivốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học không chỉ là nền tảng cho quá trìnhnghiên cứu khóa luận mà còn là hành trang quý báu để em bước vào đời một cách vữngchắc và tự tin
Hội-Với sự hiểu biết cũng như kiến thức còn hạn chế, nên khóa luận không tránhkhỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự nhận xét góp ý quý báu của các thầy
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN 3
MỤC LỤC 4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 8
DANH MỤC CÁC BẢNG 9
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ 10
DANH MỤC CÁC BẢN ĐỒ 11
MỞ ĐẦU 12
1 Tính cấp thiết của đề tài 12
2 Mục tiêu, nhiệm vụ 13
3 Giới hạn của đề tài 13
4 Lịch sử nghiên cứu có liên quan đến đề tài 14
5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 17
6 Cấu trúc của khóa luận 20
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN, ĐẢO 21
1.1 Cơ sở lí luận về phát triển du lịch biển, đảo 21
1.1.1 Một số khái niệm về du lịch biển, đảo 21
1.1.2 Đặc điểm của du lịch biển, đảo 22
1.1.3 Vai trò của du lịch biển, đảo 28
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch biển đảo 34
1.2 Thực tiễn phát triển du lịch biển đảo 38
1.2.1 Tình hình phát triển du lịch biển, đảo trên thế giới 38
1.2.2 Tình hình phát triển du lịch biển, đảo tại Việt Nam 41
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 52
Trang 5CHƯƠNG 2: TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN,
ĐẢO TẠI HUYỆN ĐẢO PHÚ QUÝ, TỈNH BÌNH THUẬN 53
2.1 Khái quát về huyện đảo phú quý 53
2.1.1 Vị trí địa lí 53
2.1.2 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển huyện đảo Phú Quý 55
2.1.3 Đặc điểm tự nhiên 58
2.1.4 Đặc điểm kinh tế - dân cư - xã hội 65
2.2 Tiềm năng phát triển du lịch biển, đảo huyện đảo phú quý 72
2.2.1 Tiềm năng về tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa 72
2.2.2 Tiềm năng về nguồn nhân lực 83
2.2.3 Đánh giá chung về tiềm năng phát triển du lịch biển, đảo tại huyện đảo Phú Quý 85
2.3 Thực trạng phát triển du lịch biển, đảo tại huyện đảo Phú Quý 86
2.3.1 Thực trạng khai thác du lịch 86
2.3.2 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật phụ vụ du lịch 95
2.3.3 Khách du lịch 100
2.3.4 Thực trạng phát triển sản phẩm du lịch 103
2.3.5 Thực trạng phát triển doanh thu du lịch 104
2.3.6 Thực trạng phát triển công tác đầu tư phát triển du lịch 105
2.3.7 Thực trạng phát triển công tác xúc tiến, quảng bá du lịch 107
2.3.8 Thực trạng phát triển công tác bảo vệ môi trường 108
2.4 Đánh giá chung 109
2.4.1 Những thành tựu 109
2.4.2 Những mặt hạn chế 110
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 112
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN, ĐẢO TẠI HUYỆN ĐẢO PHÚ QUÝ, TỈNH BÌNH THUẬN 113
Trang 63.1 Định hướng phát triển du lịch biển, đảo 113
3.1.1 Quan điểm và mục tiêu phát triển du lịch 113
3.1.2 Định hướng phát triển du lịch biển, đảo tại huyện đảo Phú Quý 115
3.2 Giải pháp phát triển du lịch biển, đảo 120
3.2.1 Giải pháp phát triển các sản phẩm du lịch biển, đảo 120
3.2.2 Giải pháp quảng bá, xúc tiến du lịch 121
3.2.3 Giải pháp phát triển nhân lực 122
3.2.4 Giải pháp bảo vệ, tôn tạo tài nguyên, môi trường du lịch 123
3.2.5 Giải pháp thu hút sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương vào hoạt động .124
3.2.6 Giải pháp về thị trường 125
3.2.7 Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật 126
3.2.8 Giải pháp về quy hoạch 129
3.2.9 Huy động vốn đầu tư và chính sách đầu tư 129
3.2.10 Đảm bảo an ninh, quốc phòng và trật tự, an toàn vùng biển đảo 130
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 132
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 133
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 135
PHỤ LỤC 137
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCH : Ban chấp hành
CĐĐP : Cộng đồng địa phươngDLST : Du lịch sinh thái
GTVT : Giao thông vận tải
VHTT : Văn hóa thông tin
VHTTDL : Văn hóa thông tin du lịch
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
1 Bảng 2.1 Diện tích, dân số các xã tại Phú Quý năm 2014 65
2 Bảng 2.2 Hệ thống đảo lẻ lân cận đảo Phú Quý 76
3 Bảng 2.3 Các di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh, cấp quốc gia trên đảo
4 Bảng 2.4 Danh sách một số nhà nghỉ trên địa bàn đảo Phú Quý 97
5 Bảng 2.5 Số lượng cửa hàng, quán ăn, giải khát phục vụ trên đảo 98
6 Bảng 2.6 Danh sách một số nhà nghỉ trên địa bàn đảo Phú Quý 99
7 Bảng 2.7 Lượt khách du lịch đến đảo Phú Quý giai đoạn 2010 - 2015 104
8 Bảng 2.8 Doanh thu và tốc độ tăng trưởng doanh thu du lịch của huyện
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
1 Biểu đồ 2.1 Cấu trúc thành phần sinh học biển một số đảo ở Việt Nam 73
2 Biểu đồ 2.2 Tỉ trọng khách du lịch phân theo nội địa và quốc tế của
Phú Quý giai đoạn 2010 – 2018
103
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢN ĐỒ
1 Bản đồ 2.1 Bản đồ hành chính huyện đảo Phú Quý 55
2 Bản đồ 2.2 Bản đồ tuyến điểm du lịch sinh thái tại đảo Phú Quý 96
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, ngành du lịch đã và đang đóng góp rất lớn vào sự phát triển kinh tế vàđược xem là ngành công nghiệp không khói ở nhiều nước trên thế giới, trong đó cóViệt Nam Trong các loại hình thì du lịch biển chiếm một vị trí khá quan trọng trong sựphát triển của ngành du lịch
Du lịch biển đảo là một loại hình du lịch đang phát triển mạnh mẽ trên thế giới
và ở Việt Nam trong những năm gần đây, ở thực tại và trong tương lai du lịch biển đảo
sẽ là loại hình du lịch chủ đạo sau du lịch sinh thái và du lịch văn hóa Loại hình dulịch biển đảo đã và đang mang lại hiệu quả kinh tế cao cho ngành du lịch, góp phần tạo
ra sự đa dạng trong loại hình du lịch, giúp xóa đói giảm nghèo cho người dân ven biển.Không chỉ vậy, du lịch biển đảo còn góp phần bảo vệ môi trường phát triển bền vững
Bình Thuận nằm trong vùng duyên hải Nam Trung Bộ Từ năm 1995 đến nay,
du lịch Bình Thuận phát triển nhanh, kinh doanh du lịch đạt hiệu quả kinh tế cao Dùcòn non trẻ, du lịch Bình Thuận đã có tiếng vang không chỉ trong nước mà còn trên thếgiới Để hoạt động du lịch tại Bình Thuận ngày càng khởi sắc, thì bên cạnh việc đầu tưvào cơ sở hạ tầng, cần phải xây dựng một sản phẩm du lịch đặc trưng, một điểm nhấncho du lịch Đây là một yêu cầu cấp thiết và huyện đảo Phú Quý là nơi ẩn chứa trongmình tiềm năng, đặc biệt là tài nguyên du lịch để đáp ứng yêu cầu đó
Huyện đảo Phú Quý (thuộc tỉnh Bình Thuận), là hòn đảo tiền tiêu của Việt Nam.Đây là đảo có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch sinh thái Tuy nhiên, hiện nay hoạtđộng du lịch vẫn còn rất khiêm tốn so với tiềm năng hiện có Hơn hết, du lịch biển, đảocũng có ý nghĩa rất quan trọng cả về phát triển kinh tế cũng như quốc phòng an ninh
Là một sinh viên học ngành sư phạm địa lí, lại được sinh ra và lớn lên trên mảnhđất Bình Thuận, tôi đã được tiếp cận thực tế với du lịch Bình Thuận một phần nào vànhận thấy tầm quan trọng của du lịch biển với sự phát triển du lịch thành phố, đồngthời thấy rõ mối quan hệ khăng khít giữa du lịch với môi trường tự nhiên cũng nhưviệc phát triển du lịch với việc khai thác, bảo tồn, gìn giữ các giá trị tài nguyên du lịch
Trang 12Với những tình cảm tốt đẹp dành cho quê hương mình, tôi mong muốn đượcgóp phần nào đó vào việc xây dựng ngành du lịch Bình Thuận nói riêng và du lịch ViệtNam nói chung ngày một tốt đẹp hơn
Vì những lí do trên tôi đã chọn đề tài: ''Phát triển du lịch biển, đảo huyện đảo
Phú Quý, tỉnh Bình Thuận" làm khóa luận tốt nghiệp
- Tổng quan một số vấn đề lí luận và thực tiễn về phát triển du lịch biển, đảo
- Nghiên cứu tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch biển, đảo huyện đảo PhúQuý, tỉnh Bình Thuận
- Đưa ra định hướng và đề xuất một số giải pháp xây dựng phát triển du lịchbiển, đảo huyện đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận
3 Giới hạn của đề tài
3.1 Về thời gian
Đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề phát triển du lịch biển, đảo huyện đảo PhúQuý, tỉnh Bình Thuận trong giai đoạn 2010 - 2018 Đây là khoảng thời gian ngành dulịch ở Phú Quý được chú trọng phát triển
3.2 Về không gian
Phạm vi không gian nghiên cứu tập trung tại địa bàn huyện đảo Phú Quý, tỉnhBình Thuận
3.3 Về nội dung
Nghiên cứu cơ sở lí luận về phát triển biển đảo và các vấn đề thực tiển phát triển
du lịch biển đảo ở huyện Phú Quý, tỉnh Bình Thuận
Trang 134 Lịch sử nghiên cứu có liên quan đến đề tài
sử dụng tài nguyên phục vụ mục đích giải trí du lịch
Vấn đề du lịch biển đảo thu hút nhiều sự quan tâm của các học giả trên nhiều
phương diện khác nhau Trong đó phải kể đến các công trình nghiên cứu: 1 “Marine
Tourism: Deverlopment, Impacts and Management, Mark Orams 1999”, Công trình
nghiên cứu về Marine Du lịch xem xét cả hai du lịch thành công và không thành côngtrong môi trường biển và ven biển Tác giả cung cấp một cái nhìn tổng quan về lịch sử,phát triển và tăng trưởng của du lịch biển và mô tả các đặc điểm của khách du lịch biển
"và" nhà cung cấp "của những hoạt động du lịch Cuốn sách bao gồm các nghiên cứutrường hợp của loại hình cụ thể của du lịch biển Phần cuối cùng xem xét tác động của
du lịch trên hệ sinh thái biển và cộng đồng ven biển và khám phá các kỹ thuật quản lý
nhằm giảm tác động tiêu cực và tối đa hóa lợi ích của du lịch biển 2 “Global Trends
in Coastal Tourism, Martha Honey and David Krantz 2007” Trung tâm du lịch sinh
thái và phát triển bền vững (CESD), một viện nghiên cứu theo định hướng chính sáchcam kết cung cấp phân tích và các công cụ cho phát triển du lịch bền vững, được ủyquyền bởi Chương trình biển của Quỹ Động vật Hoang dã Thế giới (WWF) tạiWashington, DC để phân tích các xu hướng hiện tại và để kiểm tra giả thuyết củaWWF về các trình điều khiển chính đằng sau du lịch biển và ven biển, và từ đó đề xuất
Trang 14những biện pháp can thiệp sẽ là hữu ích nhất nên WWF phát triển một chương trình dulịch mới.
4.2 Ở Việt Nam
Ở Du lịch biển đảo là một vấn đề không mới đối với việc nghiên cứu phát triển
du lịch trên thế giới và tại Việt Nam Hiện nay, đã có nhiều đề tài cấp Bộ của Tổng cục
du lịch, các viện nghiên cứu, nhiều bài báo nghiên cứu đề cập đến loại hình du lịchbiển đảo Việt Nam Cụ thể Viện khoa học xã hội Việt Nam (năm 2005) đã triển khai đề
tài cấp Bộ “Điều kiện kinh tế, xã hội – nhân văn vùng ven biển Việt Nam” Đề tài đã
nghiên cứu tất cả các điều kiện kinh tế, xã hội – nhân văn của các vùng ven biển trên cảnước, từ đó đề xuất các giải pháp thực hiện phát triển bền vững kinh tế xã hội vùng venbiển Việt Nam Đối với du lịch biển đảo Việt nam nói chung và biển đảo Bình Thuậnnói riêng, cũng đã có những nghiên cứu đề cập tới Cụ thể như: Tác giả Phạm Trung
Lương (2008), đã nghiên cứu đề tài: “Những điều kiện để và cơ sở khoa học để phát
triển du lịch đảo ven bờ vùng du lịch Bắc Trung Bộ” Từ đó định hướng những điều
kiện cần thiết để phát triển du lịch biển đảo cho vùng Bắc Trung Bộ Tác giả NguyễnThu Hạnh (2012), cũng đã quan tâm, nghiên cứu và đề xuất những giải pháp phát triển
các khu du lịch biển quốc gia tại vùng du lịch bắc Trung Bộ qua đề tài: “Hiện trạng và
giải pháp phát triển các khu du lịch biển quốc gia tại vùng du lịch Bắc Trung Bộ” Tác
giả Trần Thị Lan cũng đã quan tâm đến các điều kiện phát triển du lịch đảo Lý Sơn
cùng với việc bảo vệ chủ quyền quốc gia qua việc nghiên cứu đề tài: “Các điều kiện để
phát triển du lịch Lý Sơn để khẳng định chủ quyền biển đảo Việt Nam” Tác giả Hà
Văn Siêu cũng đã dựa trên những điều kiện, tiềm năng du lịch của vùng Bắc Trung Bộ,
tiến hành nghiên cứu đề tài: “Những định hướng để phát triển sản phẩm du lịch và quy
hoạch phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”.
Từ đó đưa ra những mục tiêu, định hướng và giải pháp cụ thể cho việc phát triển dulịch vùng Bắc Trung Bộ Tác giả Hà Văn Siêu cũng đã quan tâm đến những điều kiện,
tiềm năng phát triển du lịch vùng duyên hải Miền Trung với việc nghiên cứu đề tài:
Trang 15“Những vấn đề và điều kiện để tạo những bước đột phá trong thu hút đầu tư phát triển
du lịch các tỉnh/thành phố vùng duyên hải miền Trung”
Ngoài ra, nhiều luận văn Thạc sĩ đã đề cập đến các vấn đề về nghiên cứu du lịchbiển đảo của các địa phương khác như: Tác giả Trần Thị Kim Bảo (2009), đã triển khai
đề tài: “Nghiên cứu điều kiện phát triển du lịch sinh thái dải ven biển tỉnh Quảng Trị”.
Từ đó, tác giả đã đưa ra những giải pháp phù hợp cho việc phát triển du lịch sinh thái
tại Quảng Trị Tác giả Ngô Quang Duy (2008), đã triển khai đề tài “Phát triển du lịch
biển đảo ở Vân Đồn, Quảng Ninh” Tác giả đã hệ thống hóa được những cơ sở lý luận
và đồng thời đề xuất giải pháp phát triển du lịch biển đảo của Vân Đồn – Quảng Ninh
Tác giả Trần Thị Kim Ánh (2012), đã triển khai đề tài: “Nghiên cứu phát triển du lịch
biển Đà Nẵng” Tác giả đã phân tích thực trạng phát triển du lịch biển Đà Nẵng, nêu ra
các thế mạnh của du lịch biển Đà Nẵng và đưa ra các giải pháp phát triển du lịch biển
Đà Nẵng trong tương lai
4.3 Ở Bình Thuận
Đối với du lịch biển đảo Việt nam nói chung và biển đảo Phú Quý nói riêng,cũng đã có những nghiên cứu đề cập tới Cụ thể như: Tác giả Đỗ Thị Chẩn, đã nghiên
cứu đề tài: “Tiềm năng và định hướng phát triển du lịch sinh thái huyện đảo Phú Quý,
tỉnh Bình Thuận” (năm 2011) Tác giả Võ Thị Kim Liên, đã nghiên cứu đề tài: “Phát triển du lịch sinh thái huyện đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận” (năm 2017) Tác giả
Nguyễn Ngọc Quốc, đã nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu giải pháp bảo vệ môi trường
nước đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận” (năm 2013) Tác giả Nguyễn Thị Lê, đã nghiên
cứu đề tài: “Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng vào hoạt động du lịch tại huyện
đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận” (năm 2016) Tác giả Ngô Đặng Thị Thu Hằng (2013),
đã triển khai đề tài “Hoạt động bảo vệ môi trường du lịch ven biển Hàm Tiến, Mũi Né
– Bình Thuận” Tác giả đã tổng hợp những thông tin, dữ liệu liên quan đến việc bảo vệ
môi trường và đưa ra các giải pháp cho việc bảo vệ môi trường du lịch ven biển BìnhThuận
Trang 16Mặc dù tài nguyên du lịch biển đảo Bình Thuận là rất lớn, nhưng tình hình khaithác tài nguyên biển đảo chưa tương xứng với tiềm năng do chưa có sự quan tâm, đầu
tư đúng mức của các ban ngành và chính quyền địa phương Chính vì vậy, qua tổnghợp các kết quả nghiên cứu, có thể khái quát: Nghiên cứu phát triển du lịch huyện đảoPhú Quý, tỉnh Bình Thuận là rất quan trọng, đặc biệt trong quá trình đẩy mạnh pháttriển du lịch của tỉnh Bình Thuận Do đó, việc nghiên cứu một cách toàn diện nhất vềphát triển du lịch biển, đảo huyện đảo Phú Quý ở tỉnh Bình Thuận là rất cần thiết
5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
5.1 Quan điểm điểm nghiên cứu
5.1.1 Quan điểm tổng hợp – hệ thống
Trong nghiên cứu địa lí du lịch, quan điểm tổng hợp – hệ thống luôn được vậndụng một cách triệt để Mọi sự vật, hiện tượng đều có mối quan hệ biện chứng vớinhau, tạo thành một thể thống nhất, hoàn chỉnh Quan điểm này yêu cầu người nghiêncứu cần phải nghiên cứu tất cả các hợp phần cấu tạo nên hệ thống, không nghiên cứuriêng lẽ một số hợp phần trong hệ thống Để từ đó có cái nhìn khái quát và tổng hợpđúng những yếu tố liên quan đến vấn đề nghiên cứu
Sự phát triển du lịch biển, đảo huyện đảo Phú Quý phải được nhận định, đánhgiá trong tương quan hữu cơ và tổng hợp giữa các yếu tố về tự nhiên và kinh tế xã hội.Vận dụng quan điểm tổng hợp – hệ thống vào khóa luận, cần phân tích các nhân tố ảnhhưởng đến sự phát triển du lịch biển, đảo huyện đảo Phú Quý, bao gồm về vị trí địa lí,tài nguyên du lịch và các nhân tố kinh tế - xã hội, nhằm tạo cơ sở cho sự phân tích thựctrạng phát triển du lịch biển, đảo huyện đảo Phú Quý cũng như định hướng phát triểntrong tương lai
5.1.2 Quan điểm lãnh thổ
Mọi sự vật, hiện tượng địa lí đều tồn tại và phát triển trong một không gian lãnhthổ xác định Các lãnh thổ du lịch thường tồn tại và phát triển trong mối quan hệ qualại chặt chẽ với nhau
Để vận dụng quan điểm lãnh thổ vào nghiên cứu, cần phải đặt vấn đề phát triển
du lịch biển, đảo của huyện đảo Phú Quý trong mối quan hệ chặt chẽ với phát triển du
Trang 17lịch biển, đảo ở tỉnh Bình Thuận, cũng như lãnh thổ du lịch biển, đảo cấp vùng DuyênHải Nam Trung Bộ và lãnh thổ du lịch biển, đảo Việt Nam nói chung Vì vậy, khi vậndụng quan điểm lãnh thổ vào nghiên cứu sẽ hỗ trợ cho bài nghiên cứu trong việc phântích, đánh giá thực trạng phát triển du lịch biển, đảo huyện đảo Phú Quý thuận lợi, do
có mối quan hệ với các hệ thống tổ chức lãnh thổ lớn hơn
5.1.3 Quan điểm lịch sử, viễn cảnh
Mọi sự việc, hiện tượng đều không ngừng vận động, biến đổi, phát triển theothời gian và phân hóa trong không gian Nghiên cứu lịch sử trước đó để có được nhữngđánh giá đúng đắn ở thực tại Áp dụng quan điểm lịch sử, viễn cảnh yêu cầu phải giảithích được nguyên nhân hình thành và phát triển của sự vật, hiện tượng để có cơ sở dựbáo trong tương lai
Vận dụng quan điểm lịch sử, viễn cảnh vào đề tài, cần phải nghiên cứu lịch sửphát triển, nguồn gốc hình thành của một số nhân tố phát triển du lịch biển, đảo, từ đólàm cơ sở để định hướng, dự báo được xu hướng phát triển cho giai đoạn về sau
5.1.4 Quan điểm phát triển bền vững
Phát triển du lịch biển, đảo luôn gắn với bảo vệ môi trường nhằm mục đíchhướng tới mục tiêu phát triển bền vững Vừa phát triển du lịch biển, đảo có hiệu quảtrong kinh tế, vừa thỏa mãn nhu cầu của con người, vừa bảo vệ môi trường và đặc biệt
là không ảnh hưởng đến sự phát triển của thế hệ mai sau
Vận dụng quan điểm phát triển bền vững vào nghiên cứu phát triển du lịch biển,đảo huyện đảo Phú Quý, trong quá trình nghiên cứu thực trạng, người nghiên cứu cầnphải nhận diện được những tồn tại, hạn chế trong môi trường và những vấn đề có thểgây tổn hại đến sự phát triển bền vững của du lịch biển, đảo huyện đảo Phú Quý gắnvới sự phát triển bền vững, không ảnh hưởng đến sự phát triển của thế hệ mai sau
5.2 Phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Phương pháp phân tích tổng hợp và phân tích hệ thống
Đây là phương pháp cơ bản và quan trọng được sử dụng phổ biến trong hầu hếtcác nghiên cứu xây dựng các đề án phát triển Phân tích không thể thiếu tổng hợp, tức
là sự liên kết các bộ phận của hiện tượng, quá trình thành cái toàn bộ Phân tích và tổnghợp thể hiện trong quá trình nghiên cứu, trong sự thống nhất và mối liên hệ toàn bộ
Trang 18không tách rời Liên kết phân tích và tổng hợp cần thiết khi nghiên cứu các hiện tượngriêng biệt cũng như các kết quả chung của các hoạt động Nghiên cứu về phát triển dulịch có quan hệ chặt chẽ với các điều kiện tự nhiên, các điều kiện về văn hóa và kinh tế– xã hội, vì vậy phương pháp này có ý nghĩa quan trọng trong quá trình xây dựng đề
án Tính hệ thống còn được thể hiện ở việc kế thừa kết quả nghiên cứu của các côngtrình có liên quan
5.2.2 Phương pháp thống kê
Đây là phương pháp không thể thiếu trong quá trình nghiên cứu những vấn đềđịnh lượng trong mối quan hệ chặt chẽ về mặt định tính của các hiện tượng và quátrình; đối chiếu so sánh biến động về tài nguyên, môi trường du lịch, hoạt động pháttriển du lịch với biến đổi các điều kiện liên quan Ngoài ra, phương pháp thống kê cònđược vận dụng nghiên cứu trong đề án để xác định hiện trạng hoạt động du lịch biểnthông qua các chỉ tiêu phát triển ngành cơ bản
5.2.3 Phương pháp điều tra thực địa
Đây là phương pháp nghiên cứu định tính của thu thập dữ liệu tự nhiên nhằmquan sát, phân tích những yếu tố trong môi trường tự nhiên, từ đó đưa ra những phântích về hành vi, đặc điểm của từng cá nhân, vật thể trong môi trường đó Công tác thựcđịa có mục đích cơ bản là kiểm tra chỉnh lí và bổ sung những tư liệu; đối chiếu và lêndanh mục cụ thể từng đối tượng nghiên cứu; sơ bộ đánh giá mức độ ảnh hưởng của cácđiều kiện có liên quan đến phát triển du lịch biển
5.2.4 Phương pháp bản đồ
Đây là phương pháp cần thiết trong quá trình nghiên cứu biến động liên quanđến tổ chức lãnh thổ du lịch biển Bản đồ được sử dụng chủ yếu theo hướng chuyênngành để phân tích sự phân bố của các đối tượng trong không gian; đánh giá khả năngphát triển du lịch với phân bố tài nguyên du lịch của lãnh thổ
6 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kiến nghị - đề xuất, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo,danh mục chữ viết tắt, danh mục bản số liệu, các biểu đồ và bản đồ; nội dung của khóaluận được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về phát triển du lịch biển, đảo
Trang 19Chương 2: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch biển, đảo tại huyện đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận.
Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch biển, đảo tại huyện đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận.
Trang 20CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN, ĐẢO 1.1 Cơ sở lí luận về phát triển du lịch biển, đảo
1.1.1 Một số khái niệm về du lịch biển, đảo
Theo Luật Du lịch 2017 (Khoản 1 Điều 3) Du lịch được định nghĩa như sau:
“Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trúthường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu thamquan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mụcđích hợp pháp khác”
Du lịch có rất nhiều loại hình khác nhau, dựa trên đặc điểm tài nguyên, sự phânbố… du lịch được chia thành nhiều loại hình như: du lịch miền núi, du lịch đô thị, dulịch đồng quê, du lịch biển đảo…
Như vậy du lịch ngày càng trở thành một trong những hoạt động quen thuộc đốivới con người và ngày càng phát triển phong phú ở nhiều mặt Và một trong những loạihình du lịch được con người biết đến và quan tâm nhiều trong những thời gian gần đâychính là du lịch biển, đảo Vậy du lịch biển, đảo là gì?
Du lịch biển đảo là một khái niệm có liên quan đến không gian và tài nguyên dulịch, dựa vào khái niệm về du lịch cộng với các đặc điểm của loại hình này có thể đưa
ra khái niệm như sau:
Du lịch biển đảo là loại hình du lịch được phát triển dựa trên những tiềm năng
về biển đảo, diễn ra trong các vùng có tài nguyên về biển đảo hướng tới thỏa mãn nhucầu của con người về nghỉ dưỡng biển đảo, tham quan, vui chơi giải trí, tắm biển,nghiên cứu, học tập… tại khu vực bờ biển, ven biển, vịnh biển và đảo
Du lịch biển đảo là loại hình du lịch được tiến hành nhằm tận dụng các hệ sinhthái cảnh quan, tài nguyên thiên nhiên của vùng biển, đảo là chủ yếu kết hợp với các tàinguyên du lịch nhân văn có liên quan, thông qua các dịch vụ du lịch tạo ra các sảnphẩm du lịch biển, đảo đa dạng để thoả mãn các nhu cầu du lịch cho du khách
Hay du lịch biển đảo là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên diễn ra trong cácvùng có tiềm năng về biển đảo hướng tới thõa mãn nhu cầu của con người về vui chơigiải trí, nghỉ dưỡng, tham quan, tắm biển, nghiên cứu
Trang 21Du lịch biển, đảo được xây dựng và phát triển dựa trên cơ sở khai thác tàinguyên du lịch tự nhiên là ven biển, nước biển, cát biển… và các hòn đảo tự nhiên.Dựa trên cơ sở khai thác và phát triển cùng với du lịch văn hóa
Từ khái niệm về du lịch biển đảo, có thể hiểu rằng: sản phẩm du lịch biển đảo làcác tài nguyên du lịch và dịch vụ du lịch, hàng hóa và tiện nghi cung ứng cho khách dulịch, được xây dựng và phát triển dựa trên cơ sở các vùng có tiềm năng về biển đảo, từ
đó hình thành các sản phẩm du lịch mang đặc trưng và màu sắc riêng chỉ có thể hìnhthành và phát triển ở vùng biển đảo nhằm hướng tới thỏa mãn nhu cầu của con người
về vui chơi giải trí, nghỉ dưỡng, tham quan, tắm biển, lặn biển, nghiên cứu… tại khuvực bờ biển, vịnh biển và đảo
Cũng như các sản phẩm du lịch khác, sản phẩm du lịch biển đảo là tập hợp cácdịch vụ nhằm thỏa mãn các nhu cầu của khách du lịch Tuy nhiên, sản phẩm du lịchbiển đảo có những đặc trƣng riêng bởi những đặc thù của tài nguyên du lịch biển đảo
Du lịch biển đảo còn có tính chất mùa vụ rõ rệt, phụ thuộc vào thời tiết, nhiệt độ…
1.1.2 Đặc điểm của du lịch biển, đảo
Về không gian du lịch biển đảo được khai thác dự trên tài nguyên biển đảo Cácquốc gia có lợi thế về biển đảo sẽ thuận lợi cho phát triển loại hình du lịch này Do tínhchất đặc thù nên du lịch biển đảo thường phát triển mạnh ở các quốc gia đới nóng hơn
là ở ôn hòa và đới lạnh
Sản phẩm du lịch biển đảo đa dạng Dựa trên những đặc điểm, phân bố, sự đadạng và những đặc trưng riêng biệt của tài nguyên du lịch lịch biển đảo, và với mụcđích nhằm tạo ra sự đa dạng và phong phú cho các sản phẩm du lịch và khách du lịch
sẽ có những lựa chọn cho phù hợp với khả năng, độ tuổi và sở thích của mình khi thamgia vào các sản phẩm đó Vì vậy, những sản phẩm du lịch biển đảo được chia thànhtừng nhóm sản sản phẩm sau:
* Du lịch nghỉ dưỡng biển đảo:
- Du lịch nghỉ dưỡng biển đảo là một sản phẩm du lịch được hình thành dựa trêncác tài nguyên du lịch và dịch vụ du lịch, hàng hóa và tiện nghi cung ứng cho khách du
Trang 22lịch, nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch về nghĩ dưỡng, tắm biển, vui chơi giảitrí, tham quan… tại các vùng biển đảo
- Du lịch nghỉ dưỡng biển đảo là những hoạt động tắm biển, nghỉ dưỡng nhằmkhôi phục lại sức khỏe của con người, tận dụng bầu không khí trong lành, khí hậu dễchịu và phong cảnh đẹp trên các bãi tắm đẹp, các hòn đảo xinh đẹp trên các vịnhbiển… sẽ làm cho du khách cảm thấy thoải mái, thư giãn và phục hồi sức khoẻ sau mộtthời gian làm việc căng thẳng Địa điểm yêu thích với du khách thường là nơi có khíhậu trong lành, mát mẻ, phong cảnh đẹp ven biển và trên đảo…
- Du lịch nghỉ dưỡng biển đảo là một trong những hoạt động phổ biến rộng rãitrên các vùng có tài nguyên về biển đảo và cũng là một trong những sản phẩm chủ đạocủa du lịch biển đảo hiện nay
- Để phục vụ cho du lịch nghỉ dưỡng biển đảo, cần phải có những khu nghỉdưỡng được đầu tư hoàn thiện, hệ thống bãi tắm được quy hoạch an toàn, có những bãicát đẹp, bãi biển sạch, hệ thống tắm nước ngọt phục vụ khách du lịch sau khi tắm biển,
cơ sở vật chất tiện nghi như: nơi thư giãn, nghỉ ngơi, ăn uống, vui chơi giải trí… đápứng và phục vụ nhu cầu khách du lịch
* Du lịch văn hóa vùng biển đảo:
- Du lịch văn hóa biển đảo là một sản phẩm du lịch được hình thành dựa trêncác tài nguyên du lịch và dịch vụ du lịch, hàng hóa và tiện nghi cung ứng cho khách dulịch, nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch về nhu cầu tìm hiểu, tham quan, vuichơi giải trí qua các hoạt động như: lễ hội, tìm hiểu các nền văn hóa, di tích lịch sử, ẩmthực, làng nghề, phong tục tập quán… tại các vùng biển đảo
- Văn hóa vùng biển đảo được hiểu là hệ thống các giá trị do con người sáng tạo
ra và tích lũy được trong quá trình tồn tại gắn bó với biển (bao gồm những di sản vănhóa hữu thể và di sản văn hóa phi vật thể) Văn hóa vùng biển đảo phản ánh những giátrị được đúc rút từ các hoạt động sản xuất gắn liền với biển, có đóng góp quan trọngđối với kinh tế - xã hội, được truyền từ đời này sang đời khác Từ đó tạo ra những sảnphẩm du lịch để phục vụ cho nhu cầu của khách du lịch có nhu cầu đến các vùng biểnđảo
Trang 23- Văn hóa vùng biển đảo có vai trò đặc biệt quan trọng trong xây dựng thươnghiệu và phát triển du lịch biển Những di tích lịch sử, công trình kiến trúc, tập quán,nghi thức, lễ hội, cách thức ứng xử của cộng đồng, phong cách ẩm thực, quy trình côngnghệ làm nghề truyền thống là một trong những nhiên liệu đầu vào quan trọng để tạo
ra sản phẩm, dịch vụ du lịch biển Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, phát huy những giátrị tích cực của văn hóa vùng biển đảo sẽ tạo những điểm nhấn, những dấu ấn đậm nét,những giá trị to lớn đối với việc xây dựng thương hiệu và phát triển du lịch biển Disản văn hóa vùng biển đảo tạo ra môi trường cho du lịch biển phát triển, là yếu tố quantrọng trong việc xác định quy mô, thể loại, chất lượng và hiệu quả hoạt động kinhdoanh du lịch vùng biển đảo nhất định Nó là nền tảng để du lịch biển tạo ra những sảnphẩm đặc trưng, độc đáo, hấp dẫn, quyến rũ đối với du khách
- Dựa trên tính đa dạng, phong phú của các di tích và di sản, của những nền vănminh xa xưa và của các dân tộc tạo ra sức hấp dẫn độc đáo trên các vùng biển đảo vàtrên những mối quan tâm của khách du lịch có thể tạo ra nhiều sản phẩm du lịch đadạng phục vụ khách Những nền văn hoá khác nhau vùng ven biển thu hút các khách
du lịch có khả năng chi tiêu Các sản phẩm du lịch có thể được xây dựng quanh năm.Các điểm di tích lịch sử biển đảo có thể gắn trong các sản phẩm du lịch chuyên đề…
- Để phục vụ cho du lịch văn hóa vùng biển đảo, những địa phương ven biểnđảo phải có những nền văn hóa lâu đời, những hoạt động văn hóa phong phú, và cónhững nét đặc trưng riêng để thu hút khách du lịch, những lễ hội mang đậm sắc màumiền biển đảo, những làng nghề truyền thống đặc trưng của biển đảo, những người dânhiền hòa, mến khách.… để đáp ứng và phục vụ nhu cầu tham quan, tìm hiểu văn hóacủa khách du lịch
* Du lịch sinh thái biển đảo:
- Du lịch sinh thái biển đảo là sản phẩm du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hoábản địa vùng biển đảo gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn vàphát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương Du lịch sinhthái biển đảo là hoạt động nhằm thỏa mãn du khách về tìm hiểu các hệ sinh thái tự
Trang 24nhiên và văn hóa bản địa vùng biển đảo Du lịch sinh thái biển đưa du khách đến tìmhiểu, tham quan những khu vực đảo núi, vịnh, vụng áng hoang sơ, các bãi biển, cácvùng biển có dải san hô ngầm quí hiếm Địa điểm tổ chức thường là vùng biển đảotương đối hoang sơ, có phong cảnh đẹp, văn hóa biển đảo bản địa gần như được bảotồn nguyên vẹn: như các bãi biển, các vũng, vịnh, các đảo, các khu dự trữ sinh quyển…
* Du lịch lặn biển ngắm san hô:
- Du lịch lặn biển ngắm san hô là một sản phẩm du lịch được hình thành dựatrên các tài nguyên du lịch và dịch vụ du lịch, hàng hóa và tiện nghi cung ứng chokhách du lịch, nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch về lặn ngắm san hô, lặn biển,tắm biển, vui chơi giải trí, tham quan, học tập và khám phá đại dương… tại các vùngbiển đảo
- Du lịch lặn biển ngắm san hô là một trong những sản phẩm du lịch “hạngsang” của loại hình du lịch biển đảo hiện nay Lặn ngắm san hô là du khách được lựachọn ở những vùng biển đảo thuận lợi, có mực nước sâu, trong xanh và rất sạch sẽ vớimôi trường biển đảo tốt để lặn biển khám phá đại dương và tận mắt ngắm những rạnsan hô lộng lẫy, những hệ sinh vật biển phong phú và đa dạng
- Du lịch lặn biển ngắm san hô có hai hoạt động chính là:
+ Ngắm san hô: khách du lịch tham gia loại hình này tại những khu vực vịnhbiển an toàn, độ sâu từ 1,0m đến 1,5m, có thể ngắm san hô qua phương tiện như tàuđáy kính, những phương tiện chuyên dụng, hoặc bơi ngắm san hô ở những khu vựcnước cạn, có những rạn san hô gần bờ biển
+ Lặn biển ngắm san hô: khách du lịch tham gia loại hình này cần phải cónhững trang thiết bị chuyên dụng (bình dưỡng khí, kính lặn, ống thở, trang phục…) đểlặn sâu xuống lòng biển và khám phá đại dương với những rạn san hô cùng hệ sinh vậtbiển phong phú
- Để phục vụ cho du lịch lặn biển ngắm san hô, các vùng biển đảo cần phải cónhững hệ thống biển đảo thuận lợi với những rạn san hô đa dạng, an toàn, hệ sinh vậtbiển phong phú… nơi có những vùng biển trong xanh, cơ sở vật chất kỹ thuật tiện nghi
Trang 25như: tàu, thuyền, trang thiết bị chuyên dụng, huấn luyện viên… đáp ứng và phục vụnhu cầu ngắm san hô của khách du lịch.
* Du lịch thể thao biển đảo:
- Du lịch thể thao biển đảo là một sản phẩm du lịch được hình thành dựa trêncác tài nguyên du lịch và dịch vụ du lịch, hàng hóa và tiện nghi cung ứng cho khách dulịch, nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch về nhu cầu thể thao trên biển, vui chơigiải trí như: bóng chuyền bãi biển, kéo dù, lướt ván, chèo thuyền kaya, vận độngbiển… tại các vùng biển đảo
- Du lịch thể thao biển đảo có các hoạt động chính là:
+ Hoạt động thể thao giải trí trên biển liên quan đến các hoạt động thể thao sửdụng nhiều nguồn nước khác nhau bờ biển, vịnh biển, đảo Vài môn thể thao biển phổbiến nhất như là chèo thuyền, canoeing, câu cá, thuyền buồm, lặn và lặn khí tài, lướtsóng và ván buồm Các hoạt động trên biển yêu cầu phải có các phương tiện là thuyềnmáy, ca nô, dù lượn, thuyền buồm và các vật dụng cần thiết cho các dịch vụ giải tríkhác,…
+ Hoạt động thể thao trên cạn tập trung vào khu vực bãi biển như các hoạt độngbiển, bóng đá, bóng chuyển, đi bộ, chạy bộ, thả diều… và các hoạt động vui chơi giảitrí
+ Hoạt động trong lòng biển như: bơi lặn, lặn với ống thở, lặn khí tài và lướtsóng,… phải có những phương tiện hỗ trợ như bình oxy, trang phục lặn, thuyền kaya,
ca nô…
+ Du lịch thể thao biển đảo được xem là một hoạt động có lợi cho thể chất vàtinh thần đó là thi đấu, giải trí hay vui vẻ và đƣợc sử dụng môi trường biển làm nềntảng, với mục đích phụ vụ cho khách du lịch, nhằm thỏa mãn nhu cầu tham gia một sốmôn thể thao của du khách, mà các môn thể thao đó chỉ có thể có ở các vùng biển đảo
- Để phục vụ cho du lịch thể thao biển đảo, các vùng biển đảo cần phải cónhững bãi biển đẹp, an toàn, mực nước biển phù hợp với các hoạt động thể thao… cơ
sở vật chất kỹ thuật tiện nghi như: ca nô, dù bay, thuyền kaya, trang thiết bị chuyêndụng, huấn luyện viên, lực lượng cứu hộ… đáp ứng và phục vụ nhu cầu thể thao biểnđảo của khách du lịch
Trang 26* Các sản phẩm du lịch biển đảo khác:
- Bên cạnh các sản phẩm du lịch biển đảo trên, với nguồn tài nguyên du lịchbiển đảo vô cùng phong phú, đa dạng còn tạo nên những sản phẩm du lịch biển đảokhác nhằm tạo ra sự đa dạng cho sản phẩm du lịch và đáp ứng nhu cầu của khách dulịch
- Du lịch học tập nghiên cứu biển đảo là một hành trình kết hợp giữa học tập,nghiên cứu và du lịch tại vùng biển đảo của du khách Sản phẩm du lịch này ngày càngphổ biến, do nhu cầu kết hợp lý luận và thực tiễn, học đi đôi với hành Đặc biệt là sinhviên thuộc các ngành địa lý, lịch sử, văn hóa, môi trường… đƣợc tổ chức đi nghiêncứu thực địa Địa điểm đến là những nơi có đối tượng phù hợp với nội dung học tậpnhư vườn quốc gia, khu dự trữ sinh quyển, các di tích lịch sử văn hóa, các lễ hội, làngnghề… tại những khu vực biển đảo
- Du lịch tàu biển là sản phẩm du lịch được dựa vào tàu du lịch hay tàu du hành,dùng trên những chuyến du ngoạn, vừa để đƣa khách đến những thắng cảnh, và vừa đểkhách hưởng ngoạn các dịch vụ và tiện nghi trên tàu Sản phẩm này phát triển ở nhữngnới có những cảng biển lớn, đặc biệt có lợi thế về bờ biển với nhiều di tích thiên nhiên,
di sản văn hóa…
Du lịch biển đảo có ảnh hưởng lớn đến môi trường biển Du lịch biển đảo gópphần bảo tồn, tôn tạo cảnh quan tự nhiên, nhất là bảo tồn đa dạng sinh học biển thôngqua việc nuôi trồng các loài sinh vật quý hiếm tại các khu vực bảo tồn tự nhiên để phục
vụ khách tham quan Tuy nhiên, tình trạng nước thải, rác thải chưa được xử lý triệt để,khai thác các nguồn lợi tự nhiên quá mức gây biến dạng cảnh quan, làm suy giảm cácloài sinh vật đang diễn ra khá nghiêm trọng tại nhiều điểm du lịch biển của các quốcgia có biển Vì vậy, phát triển du lịch biển đảo cần gắn liền với bảo vệ môi trường biển,đảo
Du lịch biển đảo đem lại hiệu quả kinh tế cao và hiện đang là loại hình du lịchchủ đạo, phát triển mạnh mẽ góp phần quan trọng đưa du lịch trở thành ngành kinh tếmũi nhọn của các quốc gia có biển Du lịch biển đảo còn là giải pháp để vực dậy nềnkinh tế cho các quốc gia ven biển hiện nay có nền kinh tế chưa ổn định và còn là động
Trang 27lực thúc đẩy nền kinh tế biển đảo của các địa phương, các quốc gia phát triển mạnh mẽ
và đạt được một số thành tựu nhất định trong ngành du lịch
1.1.3 Vai trò của du lịch biển, đảo
Du lịch biển, đảo là loại hình du lịch đang được đầu tư nghiên cứu, khai thác vàphát triển mạnh ở nhiều quốc gia có lợi thế về biển, đảo trên thế giới Chủ yếu là cácnước có điều kiện khí hậu nhiệt đới ấm áp Trong đó, Đông Nam Á là một khu vực cóloại hình du lịch biển, đảo phát triển mạnh với những quốc gia như: Việt Nam, TháiLan, Malaysia, Indonesia, Singapore…phát triển du lịch biển, đảo đã mang lại nhữngvai trò và tác động tích cực cho các quốc gia, thể hiện ở những mặt sau:
1.1.3.1 Tạo ra sự đa dạng về loại hình du lịch
Các loại hình du lịch được đa dạng hóa là một trong những điều rất cần thiết củacác quốc gia muốn phát triển ngành du lịch, Việt Nam cũng không ngoại lệ Đối vớicác quốc gia và các địa phương có ngành du lịch phát triển mạnh mẽ, nó đã và đang trởthành ngành kinh tế mũi nhọn của các quốc gia và các địa phương đó
Loại hình du lịch biển đảo ngày càng được đa dạng, các loại hình du lịch nhưnghỉ dưỡng, thể thao, lưu trú, nghiên cứu, mạo hiểm được ra đời và ngày càng pháttriển mạnh mẽ đến ngành du lịch biển đảo Tất cả điều này đã và đang tạo ra sự đadạng trong các loại hình du lịch, cụ thể là ngành du lịch biển, đảo Song song đó, cùngvới việc khai thác tiềm năng của biển đảo, nhằm thõa mãn tối đa nhu cầu của khách dulịch
1.1.3.2 Phát triển kinh tế
Loại hình du lịch biển, đảo luôn có vai trò, nhiệm vụ quan trọng và có tỷ trọnglớn về các giá trị doanh thu, doanh số, số lượng lao động và cơ sở hạ tầng - vật chất kỹthuật của ngành du lịch tại các quốc gia có lợi thế về biển, đảo Hiện nay, du lịch biểnđảo được xem là loại hình du lịch mũi nhọn đóng vai trò chủ đạo tại các quốc gia này
và là giải pháp để vực dậy nền kinh tế cho các quốc gia ven biển hiện nay có nền kinh
tế chưa ổn định Chưa dừng tại đó, mà nó còn là động lực thúc đẩy nền kinh tế biển đảo
Trang 28của các địa phương, các quốc gia phát triển mạnh mẽ và đạt được một số thành tựunhất định trong ngành du lịch.
Ngành du lịch biển đảo có một tiềm năng rất to lớn, nó đã giúp phát triển kinh tế
du lịch biển đảo Đảng và nhà nước ta đã quyết định ban hành các văn bản pháp luật vànhững chính sách thông thoáng, thuận lợi cho phát triển kinh tế du lịch biển, đảo điểnhình như: Nghị quyết số 09-NQ/TW về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020; Nghịquyết số 08-NQ/TW ngày 16/1/2017 về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũinhọn; Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 về Chiến lược phát triển bền vữngkinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 Triển khai chủ trươngcủa Đảng, Quốc hội đã ban hành các Luật liên quan đến phát triển kinh tế du lịch biển,đảo như: Luật Biển Việt Nam (2012), Luật Du lịch (2017) Chỉ thị số 18/CT-BVHTTDL về việc tổ chức triển khai thực hiện “Chiến lược phát triển du lịch ViệtNam đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030”; Quyết định số 2782/QĐ-BVHTTDL vềviệc phê duyệt Đề án “Phát triển du lịch biển, đảo và vùng ven biển Việt Nam đến năm2020”
Giống như các loại hình du lịch khác, du lịch biển, đảo cũng thuộc ngành dịch
vụ, còn được xem ngành không khói Du lịch biển, đảo đã góp phần chuyển dịch cơcấu kinh tế, tăng thu nhập, tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động phát triển kinh
tế của đất nước
Phát triển du lịch biển, đảo sẽ kéo theo sự phát triển các hoạt động khác, ví dụnhư: các hoạt động khai thác, nuôi trồng và chế biến tại chỗ do người dân địa phươnglàm ra để đáp ứng nhu cầu cho các khách hàng, du khách Chất lượng, số lượng và hìnhthức vẫn được xem trọng và ngày càng phát triển để đáp ứng đầy đủ nhu cầu của khách
du lịch Qua đó, việc phát triển du lịch biển, đảo còn là điều kiện để các địa phương cóthể xuất khẩu các sản phẩm đặc trưng của kinh tế biển đảo tại chỗ
Khi du lịch biển, đảo phát triển sẽ góp phần nâng cao đời sống, cải thiện thunhập và điều kiện phúc lợi cho dân cư ở khu vực đó Ngoài ra, còn góp phần giải quyếtvấn đề việc làm cho người dân tại địa phương Qua đó, nó còn kích thích sự phát triển
Trang 29của cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật của những vùng ven biển đảo, làm cho bộ mặt kinh
tế - xã hội của các vùng này ngày càng thay đổi và hiện đại hơn
Du lịch biển, đảo đã và đang mang lại hiệu quả cho nền kinh tế đất nước, gópphần tăng nguồn thu ngân sách nhà nước, thức đẩy các thành phần kinh tế phát triển,mang lại cơ hội xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống của người dân ở vùng ven biểnđảo nhiều địa phương trong cả nước, nhằm mục tiêu cuối cùng đó là mang lại hiệu quảkinh tế cao từ tiềm năng của biển đảo Ý nghĩa kinh tế lớn nhất của đảo không chỉ làgiá trị vật chất của bản thân chúng mà còn là vị trí chiến lược, là cầu nối vươn ra biển
cả, là điểm tựa khai thác các nguồn lợi biển, là những điểm tiền tiêu bảo vệ Tổ quốc
1.1.3.3 Bảo vệ môi trường, phát triển bền vững
Du lịch biển đảo ngày càng phát triển thì không thể không gắn chặt với môitrường, bao gồm cả môi trường xã hội – văn hóa và môi trường tự nhiên Nếu như môitrường văn hóa sẽ bảo đảm cho ngành du lịch hướng đến văn minh thì môi trường tựnhiên là sẽ cơ sở cho sự phát triển bền vững của ngành du lịch Vì vậy, việc bảo vệ môitrường đang được đặt ra như một vấn đề có tính sống còn của du lịch hiện nay
Vì vậy, phát triển du lịch phải gắn liền với quan điểm phát triển bền vững Dulịch biển, đảo lại càng phải chú ý đến vấn đề này Việc khai thác và phát triển phải gắnliền với công tác bảo tồn và tôn tạo các loại tài nguyên du lịch một cách hiệu quả Do
đó phát triển du lịch biển, đảo sẽ góp phần bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái,bảo vệ môi trường
1.1.3.4 Quốc phòng – an ninh
Chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định rằng: Kinh tế, quốc phòng – an ninh lànhững mặt hoạt động cơ bản của mỗi quốc gia, dân tộc độc lập có chủ quyền Mỗi lĩnhvực có mục đích, cách thức hoạt động và chịu sự chi phối của những quy luật riêng,song chúng lại có mối quan hệ, tác động lẫn nhau Trong đó, kinh tế là yếu tố quyếtđịnh đến quốc phòng – an ninh; ngược lại, quốc phòng – an ninh cũng có tác động trởlại đối với kinh tế theo hai chiều hướng: tích cực và tiêu cực Như vậy, theo lý luận đó,quốc phòng – an ninh vững chắc sẽ tạo môi trường hòa bình, ổn định để thu hút cácnhà đầu tư, khách du lịch đến đầu tư du lịch, nghỉ dưỡng, thúc đẩy kinh tế du lịch biển,
Trang 30đảo phát triển; ngược lại, tiềm lực, khả năng quốc phòng – an ninh yếu kém, trật tự antoàn xã hội không được bảo đảm sẽ tất yếu tạo ra những bất ổn về kinh tế, chính trị, xãhội, làm giảm khả năng thu hút khách du lịch đến tham quan nghỉ dưỡng, ảnh hưởngtiêu cực đến sự phát triển kinh tế du lịch biển, đảo Thực tiễn đã chứng minh, nơi nào
có sự ổn định về chính trị, quốc phòng – an ninh được bảo đảm thì nơi đó thu hút đượcrất nhiều du khách đến tham quan, nghỉ dưỡng; điển hình như: các nước Bắc Âu,Maldives, Singapore Ngược lại, nơi nào bất ổn về an ninh chính trị, xung đột sắc tộc,tranh chấp chủ quyền thì nơi đó khó thu hút khách du lịch, như: một số nước Bắc Phi,Trung Đông thời gian qua
Trong bối cảnh hiện nay, phát triển du lịch biển, đảo còn có tác dụng quan trọngtrong việc đảm bảo an ninh quốc phòng và chủ quyền biên giới trên biển cho quốc gia
Từ sau Đại hội XI của Đảng, chủ trương phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệchủ quyền biển, đảo đã được điều chỉnh cụ thể, chi tiết hơn Cương lĩnh xây dựng đấtnước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) chỉ rõ:Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng - an ninh; quốc phòng - an ninh với kinh tếtrong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế - xã hội vàtrên từng địa bàn Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 nhấn mạnh “gắnphát triển kinh tế biển với bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền vùng biển”
Biển Đông cũng là hướng phòng thủ chiến lược của đất nước ta Biển được xemnhư mặt tiền, cửa ngõ, sân trước của nước ta Có thềm lục địa, chiến lũy nhiều tầngnhiều lớp, bố trí thành tuyến phòng thủ liên hoàn bảo vệ Tổ quốc Lịch sử nước ta đãcho thấy, có rất nhiều cuộc chiến tranh xâm lược của quân địch đối với nước ta đượcbắt đầu từ hướng biển Và cũng có rất nhiều trận chiến thắng vẻ vang như: Ba lần đạithắng quân thù trên sông Bạch Đằng (năm 938, 981 và 1288); chiến thắng trên phòngtuyến sông Như Nguyệt 1077; chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút năm 1785 và nhữngchiến công vang dội của quân và dân ta trên chiến trường sông biển trong hai cuộckháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ là những minh chứng ghi đậm dấu ấnkhông bao giờ phai nhạt trong lịch sử dân tộc ta Ngày nay, du lịch biển, đảo ngày càng
Trang 31trở nên có vai trò đặc biệt quan trọng, xung yếu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổquốc Vì vậy, phát triển kinh tế biển gắn với quốc phòng – an ninh bảo vệ vững chắcchủ quyền biển đảo là điều Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, chú trọng.
Việc phát triển du lịch biển đảo gắn với bảo đảm quốc phòng – an ninh cònđược thể hiện trong xây dựng kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch và xâydựng, khai thác các sản phẩm du lịch biển - đảo Đã có sự phối hợp chặt chẽ, thamkhảo ý kiến của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch với Bộ Quốc phòng, Bộ Công antrong các hoạt động điều tra, nghiên cứu, thiết lập các dự án phát triển du lịch kết hợpbảo đảm quốc phòng – an ninh trên các đảo, như: Cát Bà, Bạch Long Vĩ, Trường Sa,Phú Quốc, Cam Ranh Ở nhiều trọng điểm du lịch biển - đảo như: Hạ Long, Vân Đồn,Cát Bà, Sầm Sơn, Cửa Lò, Cửa Tùng - Cửa Việt, Lăng Cô, Mỹ Khê, Non Nước, CamRanh, Vũng Tàu, Phú Quốc, Côn Đảo… hệ thống giao thông, đường du lịch ven biển
và trên các đảo, sân bay, bến cảng đã được tính toán xây dựng theo hướng “lưỡngdụng”, có thể phục vụ cho các nhiệm vụ quốc phòng – an ninh
Trước những diễn biến phức tạp của tình hình biển Đông hiện nay Nhà nước tađang đặt ra việc phải kết hợp phát triển kinh tế du lịch biển, đảo gắn với đảm bảo quốcphòng – an ninh nước nhà là điều hết sức cần thiết và cấp bách Trong thực tế, khi gắnkết hai lĩnh vực này với nhau đã thu được những kết quả nhất định Tuy nhiên, ở một
số nơi, một số thời điểm hiệu quả của sự gắn kết này còn rất hạn chế Vì vậy, cần cómột số giải pháp gắn kết chặt chẽ hơn nữa giữa phát triển du lịch biển đảo với bảo đảm
an ninh – quốc phòng trong bối cảnh hội nhập ở Việt Nam hiện nay
Việt Nam ta có đặc điểm lãnh thổ hình chữ S, trải dài ven biển từ Bắc vào Nam,chiều ngang hẹp Nên hầu như các đơn vị trung tâm kinh tế xã hội và trung tâm chínhtrị, an ninh – quốc phòng của nước ta có phạm vi cách bờ biển không xa Vì vậy, rất dễ
bị địch tấn công từ hướng biển vào các khu vực quan trọng này Do đó, các quần đảo
xa bờ, gần bờ cần phải được củng cố xây dựng vị trí, căn cứ trú đậu, triển khai của lựclượng Hải quân Việt Nam và sự tham gia của các lực lượng khác thì biển đảo có vai tròquan trọng làm tăng chiều sâu phòng thủ hiệu quả cho đất nước
Trang 32Trên Biển Đông vùng biển nước ta tiếp giáp với vùng biển 7 nước trong khu vựclà: Trung Quốc (phía Bắc), Campuchia và Thái Lan (Tây Nam), Philippin, Malaixia,Indonêxia, Brunây (phía Đông, Đông Nam và Nam) Nơi đây đang diễn ra những tranhchấp rất phức tạp và quyết liệt về chủ quyền biển đảo giữa các quốc gia với nhau, dẫntới xu hướng tăng cường lực lượng quân sự, đặc biệt là hải quân của các nước trongkhu vực, nhất là những nước có tiềm lực lớn về kinh tế, quân sự Vùng kinh tế độnglực Việt Nam đang hướng ra biển, điều kiện tài nguyên du lịch biển - đảo nổi trội cùngvới quá trình hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới mang đến nhiều cơ hội pháttriển kinh tế du lịch biển, đảo nước ta Tuy nhiên, đây là khu vực rất nhạy cảm về anninh – quốc phòng Do vậy, tăng cường gắn kết giữa phát triển kinh tế du lịch biển, đảovới bảo đảm an ninh – quốc phòng là điều hết sức cần thiết, nhằm “đưa nước ta trởthành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyềnchủ quyền quốc gia trên biển, đảo, góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệphóa, hiện đại hóa, làm cho đất nước giàu mạnh” như “Chiến lược Biển Việt Nam đếnnăm 2020” đã xác định, nhất là trong bối cảnh tình hình trên Biển Đông đang có nhữngdiễn biến ngày càng phức tạp hiện nay.
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch biển đảo
Du lịch biển đảo là một loại hình du lịch đang phát triển ở những nơi có tàinguyên về biển đảo, đã và đang mang lại hiệu quả kinh tế cao cho ngành du lịch, gópphần tạo ra sự đa dạng trong loại hình du lịch Không chỉ vậy, du lịch biển đảo còn gópphần giúp tăng thu nhập và nâng cao đời sống cho người dân ven biển, bảo vệ pháttriển môi trường bền vững
Du lịch biển đảo hiện đang chiếm tỉ trọng lớn hoạt động của ngành du lịch Để
du lịch phát triển nhanh và bền vững, cần phải xác định du lịch biển đảo là bước độtphá để phát triển kinh tế biển và là một trong những định hướng quan trọng góp phầnthúc đẩy phát triển kinh tế cũng như bảo vệ chủ quyền quốc gia Để phát triển du lịchbiển đảo cần có các nhân tố sau:
1.1.4.1 Vị trí địa lí
Trang 33Vị trí địa lý là nhân tố quyết định đến điều kiện khí hậu, hệ sinh thái cảnh quancủa các điểm du lịch ví dụ miền biển nhiệt đới sẽ có hệ sinh thái cảnh quan khác vớimiền biển ôn đới.
Vị trí địa lý còn là nhân tố quyết định đến tình hình chính trị, xã hội của từngkhu vực du lịch Có những khu vực địa lý có chế độ chính trị ổn định và ngược lại
Khoảng cách từ nơi du lịch đến các nguồn khách du lịch có ý nghĩa quan trọngđối với việc nhận khách du lịch Nếu nơi nhận khách du lịch ở xa điểm gửi khách sẽtạo bất lợi trên ba khía cạnh chính Thứ nhất, du khách sẽ trả thêm tiền di chuyển Thứhai, du khách phải rút ngắn thời gian lưu trú vì mất nhiều thời gian đi lại Thứ ba, dukhách sẽ bị hao tổn nhiều sức khỏe cho việc đi lại nhất là ôtô và tàu thủy Tuy nhiêntrong một số trường hợp bất lợi này lại là có sức hấp dẫn đối với những khách hiếu kỳthích sự tương phản cảnh quan, có nhiều thời gian và khả năng chi trả cao
1.1.4.2 Tài nguyên du lịch biển đảo
Tài nguyên du lịch biển đảo bao gồm cả tài nguyên du lịch biển đảo tự nhiên vàtài nguyên văn hóa biển đảo, các tài nguyên này đều là các nhân tố rất quan trọng vàquyết định, ảnh hưởng đến việc phát triển du lịch tại các địa phương có biển, đảo
Về tài nguyên du lịch biển đảo tự nhiên, những nơi có điều kiện thuận lợi với bờbiển dài và sạch, nhiều đảo và quần đảo, vũng, vịnh biển và đầm phá đẹp, có các hangđộng tuyệt đẹp trên đảo là những khu vực có tiềm năng và lợi thế phát triển du lịchbiển, đảo
Trong các vùng biển đảo, bên cạnh tiềm năng lớn về hải sản, rong biển, khoángsản, dầu mỏ, còn có nhiều vũng, vịnh, hang động trên đảo, bãi tắm…tạo ra những nétđặc trưng riêng, thu hút khách du lịch thích khám phá đại dương, tham quan, học tập vàtìm hiểu hiểu… đó là điều kiện thuận lợi để phát triển đa dạng các sản phẩm du lịchbiển, đảo
Về tài nguyên du lịch văn hóa biển đảo, những nơi có nhiều công trình kiến trúc
cổ, nhiều nét văn hóa đặc trưng, nhiều làng nghề, lễ hội miền biển đặc sắc… là nhữngđiều kiện thuận lợi để phát triển du lịch biển đảo
1.1.4.3 Lao động
Trang 34Nguồn nhân lực để phát triển du lịch biển đảo là lao động trong du lịch bao gồmlao động trực tiếp và lao động gián tiếp
Lao động trực tiếp là số lao động làm trong các công ty lữ hành, khách sạn, nhàhàng, khu vui chơi giải trí và các cơ sở dịch vụ khác
Lao động gián tiếp là lao động có liên quan đến ngành du lịch Với mục đích tạo
ra nguồn nhân lực có trình độ và tay nghề cao trong hoạt động du lịch, cần khuyếnkhích đào tạo và chuyển giao kỹ năng tại chỗ; thu hút chuyên gia, nhân tài, nghệ nhântrong và ngoài nước phục vụ cho đào tạo du lịch biển đảo; tăng cường chuẩn hóa kỹnăng, chương trình đào tạo; đẩy mạnh thẩm định, công nhận kỹ năng; tạo điều kiện dichuyển, chuyển đổi nghề nghiệp; hình thành mã ngành đào tạo du lịch ở các cấp đàotạo; sử dụng phí dịch vụ vào việc đào tạo và phát triển nhân lực
1.1.4.4 Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật của du lịch biển đảo
Bên cạnh vị trí địa lý, tài nguyên du lịch biển đảo và lao động thì cơ sở hạ tầng
và cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch biển đảo đã góp phần vào việc hoàn thiện nhữngsản phẩm du lịch biển đảo phong phú, tạo nên sự an toàn và hoàn thiện và nâng caochất lượng sản phẩm để phục vụ khách du lịch về nhu cầu du lịch biển đảo
Hiện nay, sự phát triển mạnh mẽ và ngày càng hoàn thiện của hệ thống mạnglưới giao thông như: đường bộ (quốc lộ chính, đường đẹp ven biển, cửa khẩu), đườngsắt, đường hàng không (các sân bay quốc tế lớn), đặc biệt là đường thủy (những cảngbiển lớn)… và quá trình đầu tư và sự phát triển của các đô thị ven biển, đó là nhữngđiều kiện thuận lợi cho việc phát triển du lịch biển đảo
Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch hiện nay như hệ thống cơ sở lưu trú ven biển(khách sạn, khu nghỉ dưỡng) cũng được đầu tư phát triển, các cơ sở lưu trú vùng biềnđảo không ngừng tăng lên về số lượng và chất lượng, vùng ven biển chủ yếu tập trungcác khu nghỉ dưỡng quốc tế tiêu chuẩn cao cấp, các nhà hàng phục vụ ăn uống đa dạngvới nhiều loại hình ẩm thực đặc trưng vùng biển đảo phong phú và chất lượng (chủ yếu
là nhà hàng hải sản), các khu vui chơi giải trí đẳng cấp quốc tế với nhiều hình thức vuichơi giải trí trên cạn, trên mặt nước, dưới nước, trong lòng biển ngày càng đa dạnghơn… đó là những động lực để thúc đẩy phát triển đa dạng các sản phẩm du lịch biển
Trang 35đảo Hệ thống thông tin liên lạc, điện, nước, cơ sở y tế và các cơ sở vật chất khác cũngđược đầu tư và nâng cấp nhằm giúp cho du lịch biển đảo có những điều kiện thuận lợitrong quá trình phát triển…
1.1.4.5 Thị trường du lịch
Khách du lịch nội địa là thị trường có tiềm năng khai thác rất lớn, là thị trườngtrọng điểm do xu hướng đi du lịch trong nước tăng nhờ kinh tế phát triển, mức sốngcao hơn, thời gian rỗi nhiều hơn, nhận thức về du lịch được nâng cao, thông tin du lịchđược phổ biến thường xuyên hơn
Khách du lịch quốc tế trong thời gian gần đây là các thị trường Châu Âu và Bắc
Mỹ vẫn là thị trường gửi khách nhiều nhất Bên cạnh đó thị trường khách Châu Á Thái Bình Dương cũng là một thị trường đầy tiềm năng của du lịch biển đảo, và đặcbiệt lượng du khách đến từ các nước đang phát triển tăng mạnh hơn, đặc biệt các vùngĐông Bắc và Đông Nam Á, Đông và Trung Âu, Trung Đông, Nam Phi và Nam Mỹ…
-1.1.4.6 Chính sách phát triển du lịch biển đảo
Chính sách phát triển du lịch biển đảo cần phải đầu tư tập trung cho các khu dulịch biển đảo trọng điểm quốc gia có sức cạnh tranh cao trong khu vực và quốc tế, đặcbiệt ưu tiên những vùng có thế mạnh về tài nguyên biển đảo, với những ưu đãi bằngcác công cụ tài chính, thu hút nguồn vốn đầu tư, hỗ trợ trực tiếp của nhà nước về cơ sở
hạ tầng, phát triển sản phẩm…
Chính sách đầu tư phát triển sản phẩm du lịch biển đảo đặc trưng vùng, quốc gia
có sức cạnh tranh khu vực và quốc tế: tăng cường nghiên cứu thị trường, xây dựngchiến lược sản phẩm; khuyến khích sản phẩm mới có tính chiến lược; hỗ trợ xây dựng
và quảng bá thương hiệu du lịch vùng, thương hiệu quốc gia, sản phẩm đặc trưng; liênkết khai thác giá trị văn hóa, sinh thái và những tài nguyên du lịch nổi bật của vùng,quốc gia
Chính sách bảo vệ môi trường tại các khu, tuyến điểm, cơ sở dịch vụ du lịchbiển đảo: áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn về môi trường; kiểm tra xử lý vi phạm về môitrường du lịch; kiểm định, đánh giá, tôn vinh những thương hiệu, nhãn hiệu du lịch
“xanh”; xây dựng nếp sống văn minh du lịch…
Trang 36Chính sách về xúc tiến quảng bá tại các thị trường trọng điểm: tăng cườngnghiên cứu thị trường, phân đoạn các thị trường mục tiêu; hỗ trợ về tài chính đối vớithị trường trọng điểm; liên kết, tập trung nguồn lực trong và ngoài nước cho xúc tiếnquảng bá tại thị trường trọng điểm; quảng bá những thương hiệu mạnh theo phân đoạnthị trường trọng điểm; hình thành các kênh quảng bá toàn cầu đối với những thị trườngtrọng điểm (văn phòng đại điện du lịch, thông tin đại chúng toàn cầu); chiến dịchquảng bá tại các thị trường trọng điểm.
Chính sách phát triển du lịch biển đảo cộng đồng: Khuyến khích, hỗ trợ pháttriển các loại hình du lịch dựa vào cộng đồng, du lịch sinh thái biển đảo, du lịch làngquê biển đảo, làng nghề truyền thống; tăng cường năng lực tham gia của động đồng;tuyên truyền nâng cao nhận thức, hướng dẫn kỹ thuật; hỗ trợ trang thiết bị cơ bản chocộng đồng, phát triển mô hình nghỉ tại nhà dân (homestay); tăng cường trách nhiệmkinh tế, chia sẻ lợi ích với cộng đồng; hỗ trợ xúc tiến quảng bá du lịch cộng đồng; hỗtrợ chuyển đổi nghề sang làm du lịch ở các vùng biển đảo
1.2 Thực tiễn phát triển du lịch biển đảo
1.2.1 Tình hình phát triển du lịch biển, đảo trên thế giới
Trong những năm gần đây, nhiều nghiên cứu về du lịch biển đảo trên thế giới đãđược coi là cơ sở để phát triển ngành du lịch ngày càng lớn mạnh Ngày nay, trên thếgiới ngoài việc khai thác những lợi ích về tài nguyên tự nhiên của biển đảo mà còn rấtchú trọng đến việc phát triển du lịch biển đảo nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cho mỗiquốc gia Qua đó, các quốc gia này đã tận dụng các nguồn tài nguyên tự nhiên đó vàkhai thác một cách tối đa để nhằm phục vụ cho mục đích phát triển du lịch biển, đảo tạinhững nơi đó, đồng thời cũng đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch khi đếntham quan, nghỉ dưỡng tại các quốc gia này
Một số quốc gia ở trên thế giới có nền kinh tế phát triển mạnh mẽ nhờ đến sựđóng góp to lớn của ngành du lịch biển, đảo như: Quần đảo Hawaii của Mỹ, đảo Balicủa Indonesia, đảo núi lửa Ischia của Ý, đảo Phuket của Thái Lan, đảo Tenerife củaTây Ban Nha, đảo Maldives của Ấn Độ, đảo Santorini của Hy Lạp, Đảo Grand
Trang 37Cayman thuộc Vương quốc Anh đây là một trong những khu du lịch biển đảo nổitiếng trên thế giới và có sức thu hút khách rất mạnh nhờ có du lịch biển đảo
Tại Ấn Độ, Maldives được xem là một quốc đảo và được mệnh danh là “thiênđường nghỉ dưỡng” Với một địa lý độc đáo, Maldives đã xuất hiện trong rất nhiềunhững bộ phim, những hội nhóm du lịch thu hút sự quan tâm của đông đảo những tráitim yêu du lịch khắp thế giới Có diện tích bé nhỏ chỉ với 298km vuông, đứng thứ 214thế giới về diện tích đất liền Maldives nằm ở phía nam quần ssaor Lakshadweep của
Ấn Độ và cách Sri Lanka khoảng 700km về phía Tây Nam Maldives có 26 đảo san hô
tự nhiên được chia thành 21 khu vực hành chính Maldives có 1.192 đảo nhỏ nhưng chỉ
có khoảng hai trăm đảo trong số này có các cộng đồng địa phương sinh sống Maldives được biết đến là thiên đường du lịch của thế giới, du lịch cũng là nguồn thulớn nhất của đất nước này, đóng góp 20% GDP Maldives chỉ có 400.000 dân nhưngnơi đây đã đón vài tỉ khách du lịch đến với quốc đảo xinh đẹp này
Ở Mỹ, Hawaii là một quần đảo bao gồm rất nhiều đảo lớn nhỏ khác nhau cụ thể
là 132 đảo lớn nhỏ, quần đảo Hawaii thuộc trung tâm nhiệt đới của Thái Bình Dương.Hawaii nằm cách đất liền 3.700 km về phía Tây Cảnh tượng hùng vĩ nhất ở Hawaiichính là những ngọn núi lửa đang hoạt động Đa số các đảo được hình thành từ sự pháttriển của các núi lửa Diện tích lớn nhất của đảo Hawaii cũng do 5 ngọn núi lửa hợpthành Đây là quê hương của một trong những ngọn núi lửa hoạt động mạnh nhất, và làngọn núi biển cao nhất thế giới Thu hút rất nhiều khách du lịch đến đây tham quan vànghỉ dưỡng, khám phá tại quần đảo Hawaii Chính vì vậy, hoạt động du lịch biển đảo ởđây cũng đã đóng góp rất nhiều vào nền kinh tế của quốc gia này
Tại Tây Ban Nha, hiện nay quốc gia này đang phát triển mạnh về du lịch biển,đảo Có hòn đảo Tenerife nằm trên Đại Tây Dương nổi tiếng bật nhất tại khu vực này,cách bờ biển Châu Phi khoảng 200km Tại đây thu hút 5 triệu khách du lịch mỗi nămđến tham quan, nghỉ dưỡng tại hòn đảo, khiến nơi đây trở thành một trong những điểmnghỉ mát lớn nhất thế giới Đảo Tenerife còn nổi tiếng với cái tên “Đảo của mùa xuânvĩnh cửu” vì nơi đây có nhiệt độ mát mẻ quanh năm, khoảng từ 22 – 28 độ C Với diện
Trang 38tích là 2.034km vuông và có khoảng 1 triệu người dân sinh sống tại đây Trên hòn đảonày có 2 sân bay đón khách, 10 khu bảo tồn tự nhiên, 14 đài tưởng niệm, 9 khu thắngcảnh được bảo vệ Vì vậy, với tiềm năng lớn mạnh mà đảo sẵn có, đã khiến du lịchbiển, đảo tại đây phát triển rất mạnh mẽ
Ở Indonesia, Bali được xem là hòn đảo ngọc của Indonesia Quốc gia này hiệnnay đang rất phát triển về du lịch biển, đảo Với vị trí tọa độ 8°25′23″N, 115°14′55″Đ,cực tây của Quần đảo Nusa Tenggara, nằm giữa Đảo Java về phía tây và Lombok vềphía đông Bali là 1 trong 33 tỉnh của Indonesia Dân số 3,15 triệu người, diện tích:
5632 km² Đảo Bali cũng là điểm đến du lịch lớn nhất Indonesia và nổi tiếng vì có nềnnghệ thuật phát triển cao, bao gồm vũ, điều khắc, hội họa, hàng da thuộc, luyện kim và
ca nhạc Bali Bali còn nổi tiếng với tên gọi “đảo Thần” luôn hấp dẫn du khách với trậptrùng đồi núi nguyên sơ, những bãi biển trải dài xanh biếc với cát trắng, những cánhrừng nhiệt đới nguyên sinh, thửa ruộng bậc thang Năm 2019 hòn đảo này đã đón 6,3triệu lượt khách du lịch nước ngoài, chủ yếu đến từ các nước châu Âu, thu về 116nghìn tỷ IDR (7,8 tỷ USD) cho hòn đảo này Bali không chỉ thu hút du khách bởi vẻđẹp do thiên nhiên ban tặng, mà nơi đây còn mang trong mình một nét đẹp tiềm ẩnkhác mà ít ai biết đến, đó chính là nét đẹp độc đáo của vùng đất giàu văn hóa với nhiều
lễ hội và những ngôi đền đẹp nằm trên biển
Ở Thái Lan, nơi đây cũng đang phát triển rất mạnh về du lịch biển đảo Do quốcgia này có những chính sách và biết cách quy hoạch phát triển du lịch biển, đảo nên dulịch tại đây rất phát triển mặc dù tiềm năng là rất ít Phuket là hòn đảo lớn nằm ở phíaNam Thái Lan được phát triển theo một lối nhất định, tiện nghi và thân thiện với môitrường Ngành du lịch biển, đảo tại Thái Lan vốn tự hào với danh xưng "đất nước nụcười" và nụ cười của người Thái Lan để lại ấn tượng khó phai mờ trong du khách Vìthế Thái Lan thu hút lượng khách đến du lịch rất lớn với doanh thu từ du lịch đứng thứhai trong khu vực Đông Nam Á sau Singapore
Trang 39Nhìn chung, ở hầu hết các quốc gia có tiềm năng và lợi thế về phát triển du lịchbiển, đảo hiện nay đã và đang được đầu tư phát triển du lịch nhằm đem lại hiệu quảkinh tế và xã hội cho các quốc gia đó.
1.2.2 Tình hình phát triển du lịch biển, đảo tại Việt Nam
Việt Nam là quốc gia có vị trí chiến lược trong chính trị và kinh tế rất quantrọng không phải bất kỳ quốc gia nào cũng có Có ba mặt Đông, Nam và Tây-Namtrông ra biển với bờ biển dài 3.260 km, từ Móng Cái ở phía Bắc đến Hà Tiên ở phíaTây Nam Phần Biển Đông thuộc chủ quyền Việt Nam mở rộng về phía đông và đôngnam, có thềm lục địa, các đảo và quần đảo lớn nhỏ bao bọc Với đường bờ biển dài trảidài từ Bắc xuống Nam, đứng thứ 27 trong số 157 quốc gia ven biển, các quốc đảo vàcác lãnh thổ trên thế giới Chỉ số chiều dài bờ biển trên diện tích đất liền của nước ta làxấp xỉ 0,01 (nghĩa là cứ 100 km2 đất liền có 1km bờ biển) Việt Nam có 28 tỉnh, thànhphố có biển và gần một nửa dân số sinh sống tại các tỉnh, thành ven biển
Từ xưa cho đến thế kỉ 20, các nước ven biển chỉ có vùng biển hẹp thuộc chủquyền rộng 3 hải lý Phía ngoài ranh giới lãnh hải 3 hải lý đều là biển đông, ở đó mọi
cá nhân, tổ chức, tàu thuyền của mỗi nước đều được hưởng quyền tự do biển cả Hầunhư không ai chia biển với ai cả, đường biên giới trong lãnh hải giữa các nước thườngđược hình thành và tôn trọng theo tập quán
Từ năm 1958 đến năm 1984, các nước ven biển có lãnh hải và vùng tiếp giáplãnh hải rộng không quá 12 hải lý, có vùng thềm lục địa trải dài từ dưới biển ra khôngquá độ sâu 220m (theo các Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1958) Cácnước láng giềng hoặc kế cận hay đối diện nhau, căn cứ vào luật tự mình quy định phạm
vi hoặc ranh giới vùng biển quốc gia dẫn đến hậu quả có sự chồng lấn và tranh chấp.Luật biển quốc tế lúc đó quy định có vùng chồng lấn phải cùng nhau giải quyết vạchđường biên giới biển (bao gồm biên giới biển trong lãnh hải, ranh giới biển trong vùngtiếp giáp và thềm lục địa) trong vùng chồng lấn Nguyên tắc hoạch định biên giới biểnlúc đó là qua thương lượng trên cơ sở và phương áp dụng nguyên tắc đường trungtuyến
Trang 40Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, biển đảo luôngắn với quá trình xây dựng và phát triển của đất nước và con người Việt Nam Vàonăm 1994, Việt Nam phê chuẩn công ước 1982 (Công ước của Liên Hợp quốc về Luậtbiển) Theo công ước này, một nước ven biển có năm (05) vùng biển: Nội thủy, lãnhhải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, vùng thềm lục địa Theo công ước
1982, phạm vi vùng biển của nước ta được mở rộng ra một cách đáng kể từ vài chụcnghìn km đến gần một triệu km với năm vùng biển có phạm vi và chế độ pháp lý khácnhau Nước Việt Nam không còn thuần túy có hình dạng hình chữ S nữa mà mở rộng rađến biển, không chỉ có biên giới biển chung với Trung Quốc, Campuchia mà cả vớihầu hết các nước trong khu vực Đông Nam Á như Thái lan, Philippin, Indonexia,Malayxia
1.2.2.1 Tiềm năng phát triển du lịch biển, đảo
Nói đến du lịch biển, đảo thì Việt Nam là một quốc gia có rất nhiều lợi thế vàtiềm năng mạnh mẽ để phát triển loại hình du lịch này Du lịch biển, đảo ngày càng trởthành một xu hướng và động lực mới, với nhiều tiềm năng ở Việt Nam Là một quốcgia giàu tiềm năng về du lịch biển đảo khi sở hữu đường bờ biển dài hơn 3.260 km vàhơn 3.000 hòn đảo Biển Việt Nam dài và đẹp, lại chứa đựng nhiều nguồn tài nguyênphong phú và đa dạng với trữ lượng, quy mô thuộc loại khá, cho phép phát triển nhiềulĩnh vực kinh tế biển quan trọng Trong vùng biển nước ta, bên cạnh tiềm năng lớn vềhải sản, khoáng sản, dầu mỏ, còn có nhiều vũng, vịnh, hang động trên đảo, bãi tắm… làđiều kiện thuận lợi để phát triển du lịch biển, đảo Thực tế cũng cho thấy, với lượngkhách đến tăng nhiều trong những năm qua và luôn chiếm khoảng 70% tổng khách dulịch cả nước, du lịch biển đảo hiện đang là loại hình du lịch chủ đạo, góp phần quantrọng đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam
Nước ta đứng thứ 27 trong số 156 quốc gia có biển trên thế giới và Việt Namcũng là quốc gia có diện tích ven biển lớn ở khu vực Đông Nam Á Với hơn 125 cácbãi biển, các bãi tắm đẹp, trong đó bãi biển Đà Nẵng đã được tạp chí Forbes bầu chọn
là 1 trong 6 bãi tắm quyến rũ nhất hành tinh Việt Nam ta cũng là 1 trong 12 quốc gia