Chức năng của thị trường chứng khoán - Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế: khi các nhà đầu tư mua chứngkhoán do các công ty phát hành, số tiền nhàn rỗi của họ được đưa vào hoạtđộng sản
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán là mục tiêu được Đảng
và Chính phủ Việt Nam định hướng từ những năm đầu thế kỷ XX Thông quathị trường chứng khoán, Chính phủ và chính quyền ở các địa phương huyđộng được nguồn vốn cho mục đích sử dụng và đầu tư phát triển hạ tầng kinh
tế, phục vụ các nhu cầu chung của xã hội Đồng thời, đầu tư chứng khoán cònmang lại cho ta tỷ lệ lợi suất rất cao Vì vậy, thị trường này rất hấp dẫn đốivới các nhà đầu tư Cho đến nay, thị trường chứng khoán đã, đang trên đàphát triển mạnh và đạt được những thành tựu đáng kể
Tuy nhiên, lợi nhuận từ việc đầu tư chứng khoán cũng gắn liền với yếu
tố rủi ro Chính vì vậy, để giảm thiểu rủi ro nhiều nhà đầu tư lựa chọn phươngthức đầu tư theo danh mục: nắm giữ một hoặc nhiều loại cổ phiếu, trái phiếu,hàng hóa, đầu tư bất động sản, tài sản tương đương tiền hoặc các loại tài sảnkhác nhằm đa dạng hóa danh mục đầu tư Để biết được đầu tư vào danh mục
đó có đem lại hiệu quả hay không thì cần phải có sự đánh giá chính xác củađội ngũ phân tích tư vấn cho các nhà đầu tư
Là sinh viên năm cuối chuyên ngành Toán tài chính, em đã được trang
bị những kiến thức cơ bản về phân tích tài sản tài chính Vì vậy, em chọn
chuyên đề thực tập tốt nghiệp với đề tài: “Phân tích, đánh giá hiệu quả thực thi danh mục và áp dụng trên thị trường chứng khoán Việt Nam”.
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo PGS TS Hoàng Đình Tuấn ,TS.Phạm Thị Tuyết Mai – Giám đốc Công ty Chứng khoán Ngân hàng Côngthương Việt Nam và các anh chị trong phòng Quản lý danh mục đầu tư củaCông ty Chứng khoán Ngân hàng Công thương Việt Nam đã tận tình hướngdẫn, chỉ bảo, giúp em hoàn thành chuyên đề này
Trang 2CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ
THỰC THI DANH MỤC ĐẦU TƯ
I TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1 Khái niệm về thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán được quan niệm là nơi diễn ra các hoạt độnggiao dịch mua bán Chứng khoán trung và dài hạn Việc mua bán này đượctiến hành ở thị trường sơ cấp khi người mua mua được Chứng khoán lần đầu
từ những người phát hành và ở những thị trường thứ cấp khi có sự mua đi bánlại các Chứng khoán đó được phát hành trên thị trường sơ cấp
Xét về mặt hình thức, thị trường chứng khoán chỉ là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán, chuyển nhượng chứng khoán, qua đó thay đổichủ thể nắm giữ chứng khoán
2 Chức năng của thị trường chứng khoán
- Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế: khi các nhà đầu tư mua chứngkhoán do các công ty phát hành, số tiền nhàn rỗi của họ được đưa vào hoạtđộng sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần mở rộng sản xuất xã hội.Thông qua TTCK, chính phủ và chính quyền ở các địa phương cũng huy độngđược nguồn vốn cho mục đích sử dụng và đầu tư phát triển hạ tầng kinh tếphục vụ của các nhu cầu chung của xã hội
- Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng: TTCK cung cấp chocông chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với các cơ hội lựa chọn phongphú Các loại chứng khoán trên thị trường rất khác nhau về tính chất, thời hạn
và độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tư có thể lựa chọn loại hàng hóa phù hợpvới khả năng, mục tiêu và sở thích của mình
Trang 3- Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán: nhờ có TTCK các nhà đầu
tư có thể chuyển đổi các chứng khoán họ sở hữu thành tiền mặt các loại chứngkhoán khác khi họ muốn Khả năng thanh toán là một trong những đặc tính hấpdẫn của chứng khoán đối với người đầu tư Đây là yếu tố cho thấy tính linhhoạt, an toàn của vốn đầu tư TTCK hoạt động càng năng động và có hiệu quảthì tính thanh khoản của các chứng khoán giao dịch trên thị trường càng cao
- Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp: Thông qua chứng khoán, hoạtđộng của các doanh nghiệp được phản ánh tổng hợp và chính xác, giúp cho việcđánh giá và so sánh hoạt động của doanh nghiệp được nhanh chóng và thuậntiện, từ đó cũng tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệuquả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm
- Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ
mô Các chỉ báo của TTCK phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạybén và chính xác Giá các chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư đang mởrộng, nền kinh tế tăng trưởng; ngược lại giá chứng khoán giảm sẽ cho thấycác dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế Vì thế, TTCK được gọi là phong vũbiểu của nền kinh tế và là một công cụ quan trọng giúp Chính phủ thực hiệncác chính sách kinh tế vĩ mô Thông qua TTCK, Chính phủ có thể mua và bántrái phiếu Chính phủ để tạo ra nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách và quản
lý lạm phát Ngoài ra, Chính phủ cũng có thể sử dụng một số chính sách, biệnpháp tác động vào TTCK nhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho sự phát triểncân đối của nền kinh tế
3 Nguyên tắc hoạt động của thị trường Chứng khoán
3.1 Nguyên tắc cạnh tranh
Theo nguyên tắc này giá cả trên thị trường chứng khoán phản ánh quan
hệ cung cầu về chứng khoán và thể hiện tương quan cạnh tranh giữa các công
Trang 4ty Trên thị trường thứ cấp, các nhà phát hành cạnh tranh với nhau để bánchứng khoán theo các mục tiêu của mình Trên thị trường thứ cấp, các nhàđầu tư cũng cạnh tranh tự do để tìm kiếm một lợi nhuận cao nhất, và giá cảđược hình thành theo phương thức đấu giá.
3.2 Nguyên tắc công bằng
Nguyên tắc này nhằm đảm bảo lợi ích cho tất cả những người tham giathị trường Công bằng có nghĩa là mọi người tham gia thị trường đều phảituân thủ những quy định của chung, được bình đẳng trong việc chia sẻ thôngtin và trong việc gánh chịu các hình thức xử phạt nếu vi phạm những quy địnhđó
3.3 Nguyên tắc công khai
Chứng khoán là các hàng hóa trừu tượng, người đầu tư không thể kiểmtra trực tiếp được các thông tin có liên quan Vì vậy thị trường chứng khoánphải được xây dựng trên cơ sở hệ thống công công bố thông tin tốt Theo luậtđịnh, các bên phát hành chứng khoán có nghĩa vụ cung cấp thông tin đầy đủ,trung thực và kịp thời những thông tin có liên quan tới tổ chức phát hành, tớiđợt phát hành Công bố thông tin được tiến hành khi phát hành lần đầu cũngnhư theo các chế độ thường xuyên và đột xuất, thông qua các thông tin có liênquan Vì vậy, thị trường chứng khoán phải được xây dựng trên cơ sở hệ thốngcông bố thông tin tốt Theo luật định, các bên phát hành chứng khoán cónghĩa vụ cung cấp đầy đủ, trung thực và kịp thời những thông tin có liên quantới tổ chức phát hành, tới đợt phát hành Công bố thông tin được tiến hành khiphát hành lần đầu cũng như theo chế độ thường xuyên và đột xuất, thông quacác phương tiện thông tin đại chúng, Sở giao dịch, các công ty chứng khoán
và các tổ chức có liên quan khác
Trang 5Nguyên tắc này nhằm bảo vệ người đầu tư, song đồng thời nó cũnghàm nghĩa rằng một khi đã được cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời và chínhxác thì người đầu tư phải chịu trách nhiệm về các quyết định đầu tư của mình.
3.4 Nguyên tắc trung gian
Trên thị trường chứng khoán, các giao dịch được thực hiện thông qua
tổ chức trung gian là các công ty chứng khoán Trên thị trường chứng khoán
sơ cấp các nhà đầu tư thường không mua trực tiếp của nhà phát hành mà mua
từ các nhà bảo lãnh phát hành Trên thị trường thứ cấp, các nhà môi giới mua,bán chứng khoán giúp các khách hàng
Chính phủ và chính quyền địa phương là nhà phát hành các trái phiếuChính phủ và trái phiếu địa phương
Công ty là nhà phát hành các cổ phiếu và trái phiếu công ty
Các tổ chức tài chính là nhà phát hành các công cụ tài chính như cáctrái phiếu …
4.2 Nhà đầu tư
Các nhà đầu tư là người thực sự mua và bán chứng khoán
Trang 6Các nhà đầu tư cá nhân là những người có vốn nhàn rỗi tạm thời, thamgia mua bán trên thị trường chứng khoán với mục đích kiếm lợi nhuận Tuynhiên, trong đầu tư thì lợi nhuận luôn gắn với rủi ro, lợi nhuận càng cao thì rủi
ro càng lớn và ngược lại
Các nhà đầu tư có tổ chức thường xuyên mua và bán chứng khoán với
số lượng lớn trên thị trường Các tổ chức này thường có các bộ phận gồmnhiều chuyên gia có kinh nghiệm để nghiên cứu thị trường và đưa ra cácquyết định đầu tư
4.3 Các tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán
Công ty chứng khoán là những công ty hoạt động trong lĩnh vực chứngkhoán, có thể đảm nhận một hoặc nhiều trong số các nghiệp vụ chính là bảolãnh phát hành, môi giới, quản lý quỹ đầu tư, tư vấn chứng khoán
Các ngân hàng thương mại có thể sử dụng vốn tự có để tăng và đa dạnghóa lợi nhuận thông qua đầu tư vào các chứng khoán
4.4 Các tổ chức có liên quan đến thị trường chứng khoán
- Cơ quan quản lý Nhà nước
- Sở giao dịch chứng khoán
- Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khóan…
5 Hàng hóa tham gia thị trường Chứng khoán
5.1 Cổ phiếu
Cổ phiếu là một loại chứng khoán xác nhận quyền sở hữu và lợi íchhợp pháp đối với thu nhập và tài sản của một công ty cổ phần
- Cổ phiếu thường: Nếu một công ty chỉ được phép phát hành một loại
cổ phiếu, nó sẽ phát hành cổ phiếu thường Cổ phiếu thường mang lại cho cổđông các quyền sau:
Trang 7 Quyền hưởng cổ tức: Cổ phiếu thường không quy định cổ tức tốithiểu hay tối đa mà cổ đông được nhận Tỷ lệ cũng như hình thức chi trả cổtức cho cổ đông tùy thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh và vào chínhsách của công ty.
Khi công ty phải thanh lý tài sản, cổ đông thường chỉ được nhận những
gì còn lại sau khi công ty trang trải xong tất cả các nghĩa vụ như thuế, nợ, và
cổ phiếu ưu đãi
Quyền mua cổ phiếu mới
Quyền bỏ phiếu
- Cổ phiếu ưu đãi
Cổ phiếu ưu đãi thường không cho cổ đông quyền bỏ phiếu, song lạiđịnh một tỷ lệ cổ tức tối đa so với mệnh giá
Trong điều kiện bình thường, cổ đông ưu đãi sẽ nhận được lượng cổtức cố định theo tỷ lệ đã định Trong trường hợp công ty không có đủ lợinhuận để trả theo tỷ lệ đó, nó sẽ trả theo khả năng có thể, nhưng một khi cổđông ưu đãi chưa được trả cổ tức thì cổ đông thường cũng chưa được trả
5.2 Trái phiếu
Trái phiếu là một loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của người pháthành (người vay tiền) phải trả cho người nắm giữ chứng khoán (người chovay) một khoản tiền xác định, thường là trong những khoảng thời gian cụ thể,
và phải hòan trả khoản cho vay ban đầu khi nó đáo hạn
- Trái phiếu công ty là những trái phiếu do công ty phát hành để vayvốn dài hạn
- Trái phiếu chính phủ là những trái phiếu do Chính phủ phát hànhnhằm bù đắp thâm hụt ngân sách, tài trợ cho các công trình công ích hoặc làmcông cụ điều tiết tiền tệ
Trang 8- Trái phiếu công trình là những trái phiếu do Chính phủ trung ươnghoặc chính quyền địa phương phát hành nhằm huy động vốn cho những mụcđích cụ thể, thường là để xây dựng những công trình cơ sở hạ tầng hay côngtrình phúc lợi công cộng.
5.3 Chứng khoán có thể chuyển đổi
Chứng khoán có thể chuyển đổi là chứng khoán cho phép người nắmgiữ chứng nó, tùy theo lựa chọn và trong những điều kiện nhất định, có thểđổi nó lấy một chứng khoán khác
Thông thường cổ phiếu ưu đãi được chuyển đổi thành cổ phiếu thường
và trái phiếu cũng được chuyển đổi thành cổ phiếu thường
5.4 Các công cụ phái sinh
Các công cụ phái sinh là những công cụ được phát hành trên cơ sởnhững công cụ đã có như cổ phiếu, trái phiếu… nhằm nhiều mục tiêu khácnhau như phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo lợi nhuận
1 Khái niệm về quản lý danh mục đầu tư
Danh mục đầu tư chứng khoán : Là các khoản đầu tư của một cá nhân hoặc
tổ chức vào việc nắm giữ một hoặc nhiều loại cổ phiếu, trái phiếu, hàng hóa, đầu
Trang 9tư bất động sản, tài sản tương đương tiền hoặc các loại tài sản khác Mục đích củadanh mục đầu tư là giảm rủi ro bằng việc đa dạng hóa danh mục đầu tư.
Quản lý danh mục đầu tư chứng khoán là xây dựng một danh mục cácloại chứng khoán, tài sản đầu tư đáp ứng tốt nhất nhu cầu của chủ đầu tư vàsau đó thực hiện theo dõi điều chỉnh các danh mục này nhằm đạt được nhữngmục tiêu đầu tư đề ra Yếu tố quan trọng đầu tiên mà chủ đầu tư quan tâm làmức độ rủi ro mà họ chấp nhận, và đây là cơ sở để công ty thực hiện quản lýdanh mục đầu tư, quản lý quỹ xác định danh mục đầu tư sao cho lợi tức thuđược là tối ưu với rủi ro không vượt quá mức chấp nhận đã định trước
Công ty quản lý danh mục đầu tư : là công ty chuyên nghiệp chịu tráchnhiệm đối với danh mục đầu tư chứng khoán của cá nhân hoặc tổ chức đầu tư.Công ty được hưởng phí quản lý danh mục đầu tư và có quyền tự quyết địnhviệc lập danh mục đầu tư cho khách hàng trong khuôn khổ và hạn chế thỏathuận với khách hàng Rủi ro, lợi nhuận cũng như thua lỗ của danh mục đầu
tư đều do khách hàng được hưởng hoặc gánh chịu trong phạm vi đã thỏathuận với công ty quản lý danh mục đầu tư
Bản chất của quản lý danh mục đầu tư chứng khoán là định lượng mốiquan hệ giữa rủi ro và lợi tức kỳ vọng thu được từ danh mục đó
Tóm lại, nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư chứng khoán là quá trìnhquản lý tài sản của một định chế hoặc của một cá nhân đầu tư bao gồm từ việcđịnh giá, phân tích chứng khoán, lựa chọn đầu tư, theo dõi các kết quả đầu tư
và phân bổ vốn đầu tư, và đánh giá kết quả đầu tư
Việc phân bổ tài sản là việc lựa chọn một tỷ lệ đầu tư trong danh mụcphân bổ cho các loại tài sản chính nhằm đạt được mức lợi nhuận dài hạn caonhất với một mức rủi ro thấp nhất có thể Tuy nhiên trong quá trình đầu tư,người quản lý có thể thay đổi các tỷ lệ đã định này nhằm tận dụng cơ hội xuất
Trang 10hiện tại thời điểm đó nhằm đạt được mức lợi tức cao hơn nữa Ví dụ, nếungười quản lý nhận định rằng triển vọng đối với cổ phiếu là khả quan hơn đốivới trái phiếu trong thời gian tới, người quản lý có thể tăng đầu tư cổ phiếu vàgiảm đầu tư trái phiếu trong danh mục của mình Đồng thời, trong cùng mộtloại tài sản, người quản lý có thể lựa chọn các chứng khoán có lợi tức mongđợi lớn hơn mức trung bình của loại tài sản đó.
2 Vai trò của nghiệp vụ quản lý danh mụcđầu tư đối với nhà đầu tư
Nếu thị trường là hiệu quả thì câu hỏi đặt ra là tại sao các nhà đầu tưtrong thực tế phải tốn công sức trong việc lựa chọn cổ phiếu cho danh mụcđầu tư cho họ? Tại sao họ không thiết kế một danh mục đầu tư theo đúng cácchỉ số có trên thị trường?
Một số các lý do sau đây giải thích vai trò cần thiết của quản lý danhmục đầu tư:
Sự cần thiết trong việc tạo lập một danh mục đầu tư được đa dạnghóa theo đúng yêu cầu của nhà đầu tư Thậm chí trường hợp giá cả của mọichứng khóan được định giá đúng với giá trị của nó nhưng mỗi chứng khoánnày vẫn chứa đựng rủi ro mang tính chất cá biệt của công ty Những rủi ronày chỉ có thể loại bỏ thông qua việc đa dạng hóa danh mục đầu tư Vai tròquản lý sẽ phát huy tác dụng để tạo ra một danh mục đầu tư phù hợp với mứcrủi ro hệ thống mà nhà đầu tư mong muốn
Quản lý danh mục đầu tư còn chịu tác động của tâm lý nhà đầu tưđối với rủi ro
Việc lựa chọn các chứng khoán để đầu tư phải tính đến ảnh hưởngcủa thuế Những nhà đầu tư phải chịu mức thuế cao thường không muốn cótrong danh mục của mình những chứng khoán giống như các nhà đầu tư chịuthuế suất thấp
Trang 11 Các nhà đầu tư ở các lứa tuổi khác nhau sẽ có những nhu cầu riêng trongchính sách lựa chọn danh mục đầu tư liên quan đến mức rủi ro phải gánh chịu.
3 Một số mô hình quản lý danh mục đầu tư
Như đã phân tích ở trên, khái niệm danh mục đầu tư (portfolio) là kháiniệm chỉ một tập hợp các tài sản tài chính của nhà đầu tư Mối quan hệ củaportfolio và các chứng khoán đơn lẻ là hiệu quả của từng chứng khoán sẽphản ánh vào hiệu quả hoạt động nói chung của portfolio đang xét Tuy nhiên,đối với các nhà đầu tư chứng khoán, lợi suất tổng thể của cả portfolio mới làquan trọng bậc nhất
3.1 Lý thuyết lựa chọn danh mục đầu tư theo mô hình Markowitz
Mô hình là bước đi đầu tiên của quản lý danh mục đầu tư: xác định một
hệ thống các danh mục đầu tư hiệu quả, tập hợp các danh mục này sẽ có mộtđường cong biên hiệu quả các danh mục chứng khoán rủi ro, thường được gọi
là đường cong biên hiệu quả
Danh mục P có N tài sản với tỷ trọng : w ( ,w w1 2 , ,w N)
Véc tơ lợi suất các tài sản: R ( , , , )r r1 2 r N
Lợi suất danh mục :
1 ( , )
(quy ước : R,V,W,…là vectơ cột; R’,V’,W’,…là vectơ hàng )
Phương sai của danh mục: 2
Trang 12Bước đầu tiên là phải xác định các cơ hội rủi ro – lợi tức của nhà đầu
tư, thông qua việc tổng hợp và tóm tắt bằng việc xác định đường cong biênrủi ro tối thiểu (minimum variance frontier) của các chứng khoán rủi ro.Đường cong biên này là kết quả sơ đồ hóa các danh mục có độ rủi ro tối thiểuđối với mỗi mức lợi suất dự tính Nếu có được số liệu về lợi tức dự tính,phương sai, hệ số đồng phương sai, chúng ta có thể tính toán được một sốdanh mục đầu tư có rủi ro tối thiểu cho mỗi mức lợi tức dự tính Phép tính này
có thể được thực hiện dễ dàng sử dụng các hàm Solver của chương trìnhExcel
Để định lượng mức độ biến thiên của chứng khoán trong danh mục đầu
tư được đa dạng hóa, ta dùng công thức tính hệ số tương quan (correlationcoefficient, ký hiệu là ):
Công thức cho hai cặp chứng khoán:
1 2
1 2
1 2
cov( , ) ( , )
: mối tương quan dương tuyệt đối
Công thức cho cả danh mục đầu tư :
2
1 2
p p
1
p
nghĩa là các chứng khoán trong danh mục hoàn toàn có dao độnggiống nhau
Trang 13Hệ số tương quan p âm chỉ sự dao động ngược chiều của các chứngkhoán trong danh mục pcàng lớn nghĩa là các chứng khoán trong danh mục
có dao động ngược chiều nhau càng nhiều Khi nó đạt giá trị -1, các chứngkhoán trong danh mục quan hệ hoàn toàn ngược chiều nhau
Khi p 0thì các chứng khoán trong danh mục P là không có tươngquan với nhau
Nếu hệ số tương quan của các chứng khoán trong danh mục đầu tư (haytương quan của danh mục đầu tư) nhỏ hơn 1 thì danh mục đầu tư sẽ đạt hiệuquả đa dạng hóa Sự phân biệt giữa đường thẳng và đường cong trên đồ thịchính là hiệu quả của đa dạng hóa đầu tư trong danh mục Khi hai tài sản códao động hoàn toàn giống nhau, các danh mục gồm hai tài sản này không cóhiệu quả đa dạng hóa mà chỉ đơn thuần là sự phân bổ vốn giữa các tài sản córủi ro giống nhau
Người đầu tư không thể lựa chọn điểm nằm phía trên của đường cong,
vì người đó không thể làm cho lợi nhuận ước tính của tài sản đầu tư tăng lên,cũng không thể làm cho rủi ro của tài sản đầu tư giảm xuống Bên cạnh đó,người đầu tư cũng không muốn chọn danh mục đầu tư dưới đường cong – lựachọn lợi nhuận thấp hơn, rủi ro cao hơn Người đầu tư càng có mức ngại rủi
ro cao thì sẽ càng có xu hướng chọn các danh mục gần MVP- danh mục cóphương sai hay độ lệch chuẩn nhỏ nhất
Tìm danh mục MVP : giải hệ phương trình tuyến tính:
V.x = [1]
Với V là ma trận covar của danh mục
Ta được nghiệm của hệ là: x ( , , ,x x1 2 x N)
Trang 14x w
P w w w
Bảng 1: Danh mục MVP
Đoạn cong từ S đến MVP chỉ ra rằng nếu ta càng thêm tỷ trọng của tàisản rủi ro vào danh mục thì lợi suất ước tính của danh mục sẽ tăng thêm trongkhi độ lệch chuẩn giảm đi Điều này được giải thích bởi hiệu quả của đa dạnghóa đầu tư Lợi nhuận của hai tài sản có mối quan hệ ngược chiều nhau nênkhi thêm một tỷ lệ nhỏ tài sản rủi ro vào danh mục là tạo ra rào chắn rủi rocho danh mục Đoạn cong từ chứng khoán S đến MVP luôn luôn xuất hiệntrong trường hợp hệ số tương quan nhỏ hơn 0 Trong trường hợp hệ số tươngquan lớn hơn 0, đoạn cong này có thể xuất hiện hoặc không xuất hiện Dĩnhiên nhiên đoạn cong này không kéo dài mãi, vì khi ta thêm nhiều tài sản rủi
ro vào danh mục thì đến một tỷ lệ nào đó độ lệch chuẩn cao của chứng khoánrủi ro sẽ kéo độ lệch chuẩn của toàn danh mục lên
Trang 15Có thể thấy rằng không người đầu tư nào muốn đầu tư vào danh mụcnằm trong đoạn S đến MVP vì rõ ràng các danh mục từ MV trở lên chiếm ưuthế hơn Ta gọi đoạn cong từ MV trở lên là đường cong hiệu quả (efficientset) hay còn gọi là biên hiệu quả hay biên hiệu dụng của danh mục đầu tưgồm tài sản rủi ro.
Hiệu quả của đa dạng hóa danh mục thể hiện qua độ cong của đườnghiệu quả Độ cong càng tăng khi hệ số tương quan càng giảm Đường hiệuquả cong nhất khi hệ số tương quan bằng -1
Trên thực tế, hầu hết các cặp chứng khoán có hệ số tương quan dương,nghĩa là chúng dao động cùng chiều với nhau Các danh mục đầu tư đượcchọn do chủ quan của từng người đầu tư, mỗi người có cách suy nghĩ khácnhau, cách lựa chọn khác nhau và có độ e ngại rủi ro khác nhau
Chú ý rằng tất cả các chứng khoán đơn lẻ đều nằm ở phía bên phảiđường cong biên Điều này có nghĩa là các danh mục đầu tư chỉ có một chứngkhoán riêng lẻ đều không hiệu quả Việc đa dạng hóa đầu tư sẽ tạo đựơc cácdanh mục có lợi tức cao hơn và rủi ro thấp hơn
Tất cả các danh mục nằm ở phần trên của đường cong biên (kể từ đỉnhcủa đường cong) là các danh mục được kết hợp rủi ro – lợi tức tốt nhất và lànhững ứng cử viên của danh mục đầu tư tối ưu Phần đường cong biên nàyđược gọi là đường cong biên hiệu quả Với bất kỳ danh mục nằm trên phầndưới của đường cong biên, sẽ có danh mục khác có cùng mức rủi ro mà lại cólợi tức lớn hơn nhiều Do vậy phần dưới của đường cong biên không có hiệuquả, sẽ bị loại bỏ qua khi nghiên cứu
Lựa chọn giữa các danh mục đầu tư khả thi thì các danh mục đầu tư tốtnhất luôn nằm trên đường cong biên hiệu quả Phương pháp lựa chọn trên doMarkowitz khởi xướng, do vậy được gọi là mô hình lựa chọn Markowitz Các
Trang 16danh mục nằm trên đường cong biên hiệu quả này còn được gọi là danh mụctối ưu Markowitz.
Ý nghĩa của đường biên này là : với bất cứ mức độ rủi ro nào, chúng taluôn chọn những danh mục đầu tư trên đường biên mang đến lợi nhuận ướctính (hay lợi nhuận kỳ vọng) cao nhất có thể Nói cách khác, đường biên hiệuquả chứa các danh mục có các phương sai thấp nhất với bất kỳ mức lợi nhuậnước tính nào
Như vậy, một nhà đầu tư muốn lựa chọn một danh mục cổ phiếu để đầu
tư thì trước hết phải lựa chọn trong số các danh mục nằm trên đường biênhiệu quả Tiếp theo, tùy vào khả năng chấp nhận rủi ro (hay mức ngại rủi ro)của người đó để xác định danh mục cổ phiếu tối ưu nhất cho người đầu tư đó.Mỗi người đầu tư đều có một mức ngại rủi ro riêng và khả năng chấp nhận rủi
ro của người đó phải thể hiện trong mối tương quan với lợi suất ứơc tính đạtđược, diễn tả bằng đường bàng quan Điểm tiếp xúc giữa đường bàng quanvới đường biên hiệu quả chính là định vị của danh mục tối ưu của người đầu
tư đó
Trên thực tế, các nhà quản lý quỹ sau khi tính toán các đầu vào để xâydựng đường cong biên hiệu quả cũng cần thêm vào những yếu tố hạn chế cónhiều nguồn gốc khác nhau Các yếu tố đầu vào, như chúng ta đã nói ở trên là
số liệu lợi tức kỳ vọng của các chứng khoán và một ma trận các hệ số đồngtương quan giữa các chứng khoán Các hạn chế cần phải đưa vào rất đa dạng,
ví dụ như hạn chế việc bán khống do quy định của pháp luật Việt Nam hay dođiều lệ quỹ đầu tư Hạn chế việc bán khống ảnh hưởng nhiều đến đường congbiên hiệu quả, làm đường cong này dịch chuyển vào phía trong và trở nên “lồi hơn” đường cong biên ban đầu, có nghĩa là với mức rủi ro như trước thìnay chúng ta lại chỉ có được mức lợi tức thấp hơn Các cơ quan quản lýchứng khoán, đơn vị thực hiện nghiệp vụ tự doanh, quản lý danh mục đầu tư
Trang 17và các nhà đầu tư cần được biết rõ ảnh hưởng của những hạn chế này, trên cơ
sở đó cân nhắc để đưa ra quyết định
Một lưu ý quan trọng về mặt toán học khi nhà đầu tư lựa chọn danhmục đầu tư sử dụng phương pháp Markowitz, đó là giả thiết lợi suất của tàisản phân phối chuẩn Tuy nhiên, có thể thấy giả thiết này trên thực tế là giảthiết chặt Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy phần lớn các tài sản có lợisuất không phân phối chuẩn Ngoài ra, ta có thể mở rộng bằng cách kết hợphai hay nhiều danh mục đầu tư chứng khóan vào một danh mục lớn thay vìchỉ kết hợp những chứng khoán riêng lẻ với nhau Ví dụ, kết hợp danh mụcđầu tư các chứng khoán trong nước với danh mục đầu tư các chứng khoánnước ngoài Các quy luật của mô hình quản lý danh mục đầu tư đơn vẫn được
áp dụng trong trường hợp danh mục đầu tư kép
3.2 Mô hình định giá tài sản vốn ( CAPM)
Trong phần này, sẽ đề cập đến dạng đơn giản nhất của mô hình định giátài sản vốn
Những giả thuyết kinh tế cho thị trường vốn
Trong mô hình CAPM, các giả thuyết được chia thành 2 loại: các giảthuyết về tâm lý của nhà đầu tư và các giả thuyết của thị trường vốn
Những giả thuyết về tâm lý của các nhà đầu tư
Các nhà đầu tư khi đưa ra quyết định của mình đều lựa dựa trên việcphân tích hai yếu tố: lợi suất ước tính và rủi ro của chứng khoán
Giả thuyết này cho biết những nhân tố dẫn tới quyết định đầu tư Mộtnguyên tắc trong việc lựa chọn các phương án đầu tư là mức độ rủi ro càngcao thì lợi nhuận càng phải lớn để bù đắp cho các rủi ro phải gánh chịu
Nhà đầu tư sẽ tìm cách giảm thiểu rủi ro bằng cách kết hợp nhiềuchứng khoán khác nhau trong tập hợp danh mục đầu tư của mình
Trang 18 Các quyết định đầu tư được đưa ra và kết thúc trong khoảng thờigian nhất định.
Các nhà đầu tư có chung các kỳ vọng về các thông số đầu vào sửdụng để tạo lập danh mục đầu tư hữu hiệu Markowitz Đó là các thông số như: mức lợi suất, độ rủi ro hay các quan hệ tương hỗ
Những giả thuyết về thị trường vốn:
Thị trường vốn là thị trường cạnh tranh hoàn hảo Điều này có nghĩa
là trên thị trường có rất nhiều người bán và người mua Năng lực của một nhàđầu tư riêng lẻ thì rất nhỏ so với cả thị trường và vì vậy hoạt động của họkhông làm ảnh hưởng đến thị trường Giá cả trên thị trường chỉ chịu sự quyếtđịnh bởi mối quan hệ cung cầu
Không tồn tại các loại phí giao dịch trên thị trường hay bất kỳ một
sự cản trở nào trong cung và cầu của một loại chứng khoán
Trên thị trường có loại chứng khoán không rủi ro Đồng thời nhàđầu tư có thể vay với lãi suất đúng bằng lãi suất không rủi ro đó Nói mộtcách khác, lãi suất vay mà lãi suất cho vay bằng nhau và bằng lãi suất khôngrủi ro
Về cơ sở toán học
Giả thiết quan trọng là lợi suất của tài sản có phân phối chuẩn
r i N r ( ,i i2 ) (i 1,N)
Trước khi đi vào nghiên cứu mô hình CAPM, điều trước tiên cần phải
đề cập đến khái niệm danh mục đầu tư thị trường
3.2.1 Danh mục đầu tư thị trường ( Market Porfolio)
Một danh mục đầu tư có thể bao gồm tất cả các chứng khoán đangđược giao dịch trên thị trường, bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, hay bất độngsản…Danh mục đầu tư thị trường là một danh mục đầu tư bao gồm tất cả
Trang 19những tài sản có nguy cơ chiếm rủi ro trên thị trường và mỗi tài sản trongdanh mục này chiếm một tỷ lệ đúng bằng giá trị thị trường của tài sản đótrong tổng giá trị của toàn bộ thị trường.
Để đơn giản hóa: khi nói đến khái niệm tài sản có nguy cơ rủi rothường ngầm định là cổ phiếu Tỷ lệ của mỗi cổ phiếu trong danh mục đầu tưthị trường được xác định bằng cách lấy tổng giá trị thị trường của cổ phiếu đóchia cho tổng giá trị thị trường của tất cả các cổ phiếu đang được giao dịchtrên thị trường
Ký hiệu: V i (i 1,N) là giá trị thị trường ( hay thị giá ) của tổng số tàisản i
Ta có:
1
N i i
V w
Xác định danh mục dựa trên trạng thái cân bằng của thị trường:
Giả sử thị trường có K nhà đầu tư và nhà đầu tư k chọn danh mục tối
ưu P : là điểm thuộc biên hiệu quả và là tiếp điểm giữa đường mức và đườngthờ ơ (đường bàng quan)
Gọi V k là giá trị thị trường của tất cả tài sản của nhà đầu tư k
Trang 20V là giá trị thị trường của tài sản i do nhà đầu tư k nắm giữ
Nếu danh mục có tài sản phi rủi ro thì: 0
1
K ko k
3.2.2 Đường thị trường vốn ( The Capital Market Line- CML)
Mô hình Markowitz đã đưa ra nguyên tắc lựa chọn danh mục đầu tư tối
ưu cho mỗi nhà đầu tư căn cứ vào khả năng chấp nhận rủi ro của nhà đầu tư đó
Theo mô hình trên, nếu thị trường tồn tại loại chứng khoán phi rủi ro(với lãi suất r f) và giả thiết rằng cá nhân nhà đầu tư có thể vay và mượnkhông hạn chế trên cơ sở lãi suất này (giả thiết 3 của thị trường vốn) thì kếtquả về lý thuyết lựa chọn danh mục đầu tư sẽ được mô tả như hình vẽ sauđây:
P
P
Đường hiệu quả Markowitz
Trang 21Trên hình vẽ, đường thẳng xuất phát từ điểm R f tiếp tuyến với đườngcong hiệu quả Markowitz thể hiện mọi danh mục khả thi có thể tạo ra được từ sựkết hợp giữa chứng khoán phi rủi ro (tín phiếu kho bạc) với danh mục đầu tư córủi ro (danh mục tối ưu Markowitz) Tiếp điểm của chúng được ký hiệu M làdanh mục thị trường, được coi là tối ưu nhất trong số các danh mục tối ưu.
3.2.3 Đường thị trường chứng khoán
Trong mô hình CAPM, độ rủi ro của mỗi chứng khoán không được đobằng độ lệch chuẩn đã bị triệt tiêu do đa dạng hóa danh mục đầu tư Khi các
Trang 22chứng khoán tham gia vào danh mục đầu tư thì triệt tiêu bớt phần rủi ro phi hệthống, danh mục thị trường được coi là đa dạng hóa hoàn hảo Vì vậy, rủi rophi hệ thống của từng chứng khoán được triệt tiêu hết, chỉ còn lại phần rủi ro
hệ thống được đo bằng tích sai của chứng khoán đó với danh mục M
Đồ thị thể hiện mối quan hệ giữa rủi ro và lợi suất đối với mỗi chứngkhoán riêng lẻ như trên được gọi là đường thị trường chứng khóan (SecurityMarket Line- SML) được thể hiện dưới đây
Bảng 3: Đồ thị biểu diễn đường SML
Mô hình giá tài sản vốn ( CAPM) như sau:
E R( )i R f i E R( M) R f
R f : lợi suất của tài sản phi rủi ro
R M: lợi suất của danh mục thị trường
Đây chính là mối quan hệ giữa rủi ro và lợi suất ước tính của từngchứng khoán riêng lẻ được thể hiện dưới dạng phương trình
Trang 23Phương trình này cho thấy: với những giả thiết về thị trường vốn nêutrên, lợi suất kỳ vọng của mỗi chứng khoán có quan hệ tỷ lệ thuận với hệ sốrủi ro hệ thống () Chứng khoán có hệ số beta càng cao thì yêu cầu lợi suấtphải càng cao.
Trong phương trình trên, i E R( M) R f
chính là phần bù rủi ro (riskpremium)
Từ điều kiện cân bằng thị trường, nếu một danh mục P là danh mục khảthi thì danh mục đó phải được định giá sao cho P phải nằm trên đường CML
Tuy nhiên trong thực tế, nếu có danh mục Q, tài sản i nào đó phi hiệuquả, có giá trên thị trường Trong trường hợp này giá danh mục Q và tài sản iđược xác định :
3.2.4 ý nghĩa của CAPM
- SML được coi là một tiêu chí chuẩn mực để đánh giá một phương ánđầu tư Với việc chấp nhận một độ rủi ro nhất định đối với một phương ánđầu tư (được đo bằng hệ số bêta), SML cho chúng ta biết lợi nhuận thu đượccủa phương án đầu tư đó phải là bao nhiêu mới có thể bù đắp được rủi ro màcác nhà đầu tư phải gánh chịu
- Xuất phát từ ý nghĩa của đường SML, tất cả các chứng khoán nếuđược định giá chính xác nhất thiết phải nằm trên đường SML Với nhữngđiểm nằm phía trên hoặc dưới đường SML đều biểu hiện tình trạng giá khôngphản ánh đúng với giá trị cân bằng trên thị trường Nếu là điểm nằm phía trênđường SML, chứng khoán đó được định giá thấp hơn giá trị thực sự của
Trang 24chúng Trong trường hợp này, các nhà đầu tư nên mua loại chứng khoán đó.Ngược lại, nếu điểm đó nằm dưới đường SML, không nên mua loại chứngkhoán này vì giá của chúng cao hơn giá trị thực sự của chúng.
Bảng 4:
Hệ số của tài sản hay của danh mục biểu thị sự chênh lệch giữa lợisuất thực hiện và lợi suất kỳ vọng (lợi suất mong đợi) của tài sản hay củadanh mục
Trang 25Trong đó: R aci r f: chênh lệch lợi suất thực hiện
r M r f : chênh lệch lợi suất thị trường
Nếu tài sản i định giá đúng thì i 0
Nếu: i 0: tài sản i đang được định giá thấp
i 0: tài sản i đang được định giá cao
Nếu hệ số P càng lớn thì việc thực thi danh mục càng có hiệu quả
- Một ý nghĩa khác của CAPM là vai trò của nó trong việc ra quyếtđịnh đầu tư vốn Đối với các công ty đang chuẩn bị cho một dự án đầu tư mới,CAPM đưa ra một mức lợi suất yêu cầu phải đạt đựơc cho dự án đầu tư trên
cơ sở những thông số của hệ số bêta được các nhà đầu tư chấp thuận Nhưvậy, đối với các phương án đầu tư khác nhau, CAPM sẽ quyết định phương
án nào tối ưu nhất để lựa chọn
3.3 Mô hình đơn chỉ số ( mô hình chỉ số thị trường)
Như chúng ta đã biết, lý thuyết CAPM xây dựng trên cơ sở các giả thiết
và rất nhiều các giả thiết này không thực tế, đó là chưa nói đến khối lượngtính toán các yếu tố đầu vào rất phức tạp Đó chính là khuyết điểm của lýthuyết này, làm ảnh hưởng lớn đến tính áp dụng của CAPM
Để khắc phục những khuyết điểm này trong khi vẫn tận dụng được cácgiá trị cơ bản của lý thuyết CAPM trong đầu tư trên thị trường chứng khoán,
Trang 26các nhà nghiên cứu đã xây dựng thêm rất nhiều lý thuyết mới gắn với thựctiễn hơn Trong khuôn khổ nghiên cứu này, tôi xin được giới thiệu khái quát
về mô hình đơn chỉ số, mô hình đa chỉ số và mô hình định giá qua chênh lệch
Mô hình đơn chỉ số (Single Index Model) của một thị trường phân loạicác nguồn gốc rủi ro thành các nhân tố hệ thống (vĩ mô) và các nhân tố riêng(vi mô) Mô hình này giảm được công việc tính toán đầu vào trong quy trìnhlựa chọn chứng khoán vào danh mục đầu tư theo mô hình Markowitz, gópphần chuyên môn hóa lao động trong phân tích chứng khoán Mô hình đơnchỉ số được tính toán bằng cách áp dụng phân tích hồi quy đối với chênh lệchlợi tức của một chứng khoán với lợi tức của thị trường Hệ số hồi quy đối vớichênh lệch lợi tức của một chứng khoán với lợi tức của thị trường Hệ số hồiquy của phép hồi quy này chính là hệ số beta() của một tài sản trong khi sốhạng tự do là chỉ số của danh mục chứng khoán Đường hồi quy tính đượccòn được gọi là Đường đặc trưng chứng khoán (Security Characteristic Line)
Hệ số beta của hồi quy tương ứng với hệ số beta của mô hình CAPM sử dụnglợi tức kỳ vọng Mô hình CAPM cũng coi tổng thể hệ số alpha của các chứngkhoán tính được qua mô hình đơn chỉ số sẽ bằng không
Mô hình đa chỉ số (Multi factor model) là sự mở rộng mô hình đơn chỉ
số bằng cách mô hình hóa nhân tố vĩ mô với nhiều chi tiết hơn Các mô hìnhnày sử dụng các chỉ số nhằm cố gắng đại diện cho nhiều nhân tố kinh tế vĩ môhơn và đôi khi sử dụng cả các chỉ số phản ánh tương quan doanh nghiệp
Mô hình định giá qua chênh lệch dựa trên giả thiết một cơ hội kiếmchênh lệch giá mà không hề chịu rủi ro nào xuất hiện khi giá của từ hai chứngkhoán trở lên có thể tạo cơ hội cho nhà đầu tư xây dựng một danh mục đầu tư
có tổng đầu tư bằng không mà chắc chắn có lợi nhuận Các nhà đầu tư sẽmuốn có vị thế càng lớn càng tốt trên các danh mục này.Sự xuất hiện của các
cơ hội chênh lệch này và số lượng lớn các nhà đầu tư muốn tận dụng cơ hội
Trang 27này sẽ dẫn đến sức ép lên giá chứng khoán Sức ép này sẽ tiếp tục cho đến khigiá chứng khoán trở về mức không tạo ra cơ hội Khi chứng khoán khôngđược định giá sao cho không gây ra cơ hội đầu tư chênh lệch giá, chúng ta nóithị trường đã đạt đến điều kiện không chênh lệch Các danh mục đầu tư đượcgọi là tốt nếu chúng chứa một lượng lớn các chứng khoán và tỷ trọng của mỗichứng khoán là nhỏ đến mức bất kể thay đổi hợp lý trong lợi tức của mộtchứng khoán cũng chỉ có ảnh hưởng không đáng kể đến lợi tức của cả danhmục Trong một thị trường chứng khoán tất cả các danh mục đầu tư được đadạng hóa tốt nhất cần phải thỏa mãn điều kiện tương quan lợi tức – beta củađường thị trường chứng khoán mới có thể đáp ứng được điều kiện khôngchênh lệch Giả thiết thị trường chứng khoán chỉ có một yếu tố tác động cóthể tạo ra dạng thức đơn giản của lý thuyết định giá qua chênh lệch không đòihỏi các giả định nghiêm ngặt của mô hình CAPM và danh mục thị trường Lýthuyết định giá qua chênh lệch cũng có thể được mở rộng sang mô hình nhiềuyếu tố để phản ánh được các nguồn gốc rủi ro khác nhau.
3.3.1 Các giả thuyết của mô hình đơn chỉ số
Bằng quan sát thống kê và so sánh dữ liệu rất thông thường, ngườiquan sát thường nhận thấy một xu hướng khá rõ là các mức lợi tức của chứngkhoán trên thị trường bị một số nhân tố chung và phổ biến tác động, chẳnghạn như nhân tố portfolio thị trường Trên quan điểm thống kê – toán thì cácnhân tố phổ biến đó đại diện cho các đặc tính và giá trị của hiệp phương sai
và quan hệ lệ thuộc của từng các cặp chứng khoán nhất định trong quá trìnhquan sát hành vi
Quay lại với mô hình quan hệ đơn chỉ số (SIM) SIM là một mô hìnhđơn giản hóa và chỉ định nghĩa một nhân tố duy nhất là căn nguyên của giá trịhiệp phương sai giữa các mức lợi suất của một loại chứng khoán R it và giả
Trang 28thuyết các mức lợi suất của chứng khoán i là một phương trình tuyến tính củanhân tố đó, hoặc là chỉ số I t Hàm số mô tả SIM ở dạng tuyến tính :
R I
Các giả định cơ sở của mô hình:
Lợi suất của chứng khoán có dạng hàm tuyến tính như trên địnhnghĩa
Các tham số của SIM như i và i được tính toán thông qua cácbước hồi quy tuyến tính, sao cho mức rủi ro phụ trội chỉ là hàm số của chỉ sốthị trường, chứ không bao hàm rủi ro đặc thù của chứng khoán i đang xét Nóicách khác, E it 0
Phần rủi ro đặc thù (it) của chứng khoán i không có quan hệ hàm sốvới giá trị của chỉ số I t, tức là Eit.I t 0
Cov (it.I t) =0; cov ( i, j)=0 với mọi i khác j
Chỉ số đại diện cho một tác nhân duy nhất ảnh hưởng đến hiệpphương sai giữa các mức lợi suất, nghĩa là E it. it 0
Trang 29Và cuối cùng, it đại diện cho phần lợi suất đặc thù của chứng khoán iđang xét, không có tương quan với chỉ số I t cũng như mức lợi suất của cácloại chứng khoán khác đang tồn tại trên thị trường.
Các mô hình đơn chỉ số dạng tương tự xét về bản chất đơn thuần là các
mô hình hồi quy, với giả định rằng các mức lợi suất quan sát của chứng khoán
i nào đó chính là hàm tuyến tính của một chỉ số thị trường nhất định Coi các
mô hình quan hệ đơn chỉ số là đáng tin cậy trong công tác phương sai và hiệpphương sai cho chứng khoán và chỉ số đang xét được giản lược đi đáng kể
Với ý nghĩa thực tiễn trên, các SIM có những tác dụng tích cực: giảm bớtcác thông số và tính toán đầu vào cho việc phân tích portfolio Mô hình SIM rấthữu ích trong dự báo lợi suất và rủi ro portfolio hay chứng khoán đơn lẻ
SIM được dùng vào việc tạo nên và ứng dụng các mô hình trạng tháicân bằng, như CAPM hay APT
Điều chỉnh trong các nghiên cứu và chương trình kiểm định
Dựa trên mô hình SIM, có thể mô phỏng mức lợi suất kỳ vọng củachứng khoán i hay portfolio P như là:
n i
Trang 30quá khứ là dựa trên các hiệp phương sai và phương sai được suy luận dựa trênmột giai đoạn quá khứ khoảng 45-60 tháng Thực tế là việc ước lượng quá
Trang 31khứ đã tồn tại sai số do chọn mẫu và phương pháp đo Một phương pháp hiệuchỉnh đã được nhà nghiên cứu Blume đề xuất năm 1975 theo công thức :
III ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ THỰC THI DANH MỤC ĐẦU TƯ.
Để đánh giá được danh mục đó có hoạt động tốt hay không, ta sử dụngcác cách sau:
1 Tính một số chỉ số và so sánh với danh mục đối chứng( Bench mark portfolio )
Sau khi lập danh mục đối chứng, ta tính các chỉ số Các chỉ số liên quancần tính toán là các chỉ số dựa vào phần bù rủi ro có điều chỉnh ( RiskAdjusted Exess Return )
Trang 32S : Chỉ số Sharpe của danh mục P.
S B: Chỉ số Sharpe của danh mục đối chứng B
Nếu S P S B thì danh mục P được đánh giá là thực thi tốt
Trang 35CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ THỰC THI DANH MỤC ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM.
I ÁP DỤNG VÀO THỰC TẾ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM.
Thị trường chứng khoán Việt Nam tuy còn non trẻ nhưng cũng đã trảiqua nhiều sóng gió, thăng trầm Qua quá trình hình thành và phát triển, bắtđầu từ sàn giao dịch chỉ có bốn cổ phiếu niêm yết cho đến nay, với trên bachục mặt hàng trong các lĩnh vực khác nhau và lượng nhà đầu tư tham gia thịtrường tăng đến chóng mặt đã đẩy thị trường chứng khoán Việt Nam bướcsang giai đoạn mới Đó là giai đoạn “bùng nổ”, phát triển mạnh mẽ cả về quy
mô lẫn chất lượng, thể hiện qua chỉ số Vnindex đã vượt qua ngưỡng 1000điểm và khối lượng giao dịch lớn, đều đặn hàng trăm tỷ một ngày
Thị trường chứng khoán Việt Nam cuối năm 2006, đầu năm 2007 đặcbiệt khởi sắc với các kỳ giao dịch vô cùng sôi động, vượt ra ngoài cả kỳ vọngcủa giới đầu tư Những đợt tăng giá liên tục bùng phát ở nhiều cổ phiếu đãxoáy thị trường vào cơn lốc tăng giá mạnh mẽ Số lượng người đầu tư mớitìm đến thị trường chứng khoán ngày càng tăng mạnh Bối cảnh này là một cơhội rất lớn nhưng cũng là thử thách không nhỏ đối với các nhà đầu tư cũngnhư các doanh nghiệp niêm yết
II HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ DANH MỤC ĐẦU TƯ CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG.
Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Công thương (IBS) hoạt độngtheo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên vốn nhà nước, kinhdoanh trong lĩnh vực chứng khoán và cung cấp các dịch vụ tư vấn tài chính