Nguyên tắc này nhằm đảm bảo các loại chứng khoán được giaodịch là chứng khoán thực, và thị trường chứng khoán hoạt động được lànhmạnh, hợp pháp và ngày càng phát triển, bảo vệ được lợi í
Trang 1KIỂM ĐỊNH TÍNH HIỆU QUẢ CỦATHỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Giới thiệu:
Mục tiêu của chương này là kiểm định thị trường chứng khoán Việt Nam dựa vào lý thuyết và mô hình thị trường hiệu quả đã được xem xét ở chương 1 Các mô hình được kiểm định sẽ đánh giá mức độ hiệu quả của TTCK Việt Nam ở thể yếu và thể trung bình (mục 2.2) Nhưng trước hết chuyên đề sẽ xem xét thị trường chứng khoán Việt Nam một cách tổng thể
về tình hình hoạt động, về diễn biến phát triển qua gần năm hoạt động (mục 2.1).
2.1 Khái quát thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam
2.1.1 Những vấn đề chung về thị trường chứng khoán
2.1.1.1 Khái niệm thị trường chứng khoán
Hiện nay tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về thị trường chứng khoán,tuy nhiên quan niệm đầy đủ và rõ ràng, phù hợp với sự phát triển chung củaTTCK hiện nay, đó là:
“Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các giao dịch mua bán, trao đổi các loại chứng khoán”
Chứng khoán được hiểu là các loại giấy tờ có giá hay bút toán ghi sổ, nócho phép chủ sở hữu có quyền yêu cầu về thu nhập và tài sản của tổ chức pháthành hoặc quyền sở hữu Các quyền yêu cầu này có sự khác nhau giữa các loạichứng khoán, tuỳ theo tính chất sở hữu của chúng Các giao dịch mua bán, traođổi chứng khoán có thể diễn ra ở thị trường sơ cấp (Primary Market) hay thịtrường thứ cấp (Secondary Market), tại Sở giao dịch (Stock Exchange) hay thịtrường chứng khoán phi tập trung (Over - The Counter Market), ở thị trườnggiao ngay (Spot Market) hay thị trường có kỳ hạn (Future Market) Các quan hệmua bán trao đổi này làm thay đổi chủ sở hữu của chứng khoán, và như vậy,thực chất đây chính là quá trình vận động của tư bản, chuyển từ tư bản sở hữusang tư bản kinh doanh
Trang 2Thị trường chứng khoán không giống với thị trường các hàng hoá thôngthường khác vì hàng hoá của thị trường chứng khoán là một loại hàng hoá đặcbiệt, là quyền sở hữu về tư bản Loại hàng hoá này cũng có giá trị và giá trị sửdụng Như vậy, có thể nói, bản chất của thị trường chứng khoán là thị trườngthể hiện mối quan hệ giữa cung và cầu của vốn đầu tư mà ở đó, giá cả củachứng khoán chứa đựng thông tin về chi phí vốn hay giá cả của vốn đầu tư Thịtrường chứng khoán là hình thức phát triển bậc cao của nền sản xuất và lưuthông hàng hoá.
Các loại hàng hoá trên thị trường chứng khoán cũng rất đa dạng: cổphiếu, trái phiếu (trái phiếu công ty và trái phiếu Chính Phủ), các loại chứngkhoán phái sinh
2.1.1.2 Các nguyên tắc hoạt động cơ bản của thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán được tổ chức và hoạt động tuân theo các nguyêntắc căn bản, nó có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc thành đạt của thịtrường nếu tuân thủ những nguyên tắc này
(1) Nguyên tắc trung gian
Thị trường chứng khoán không phải trực tiếp do những người mua haybán chứng khoán thực hiện, mà được thông qua các trung gian môi giới Đây lànguyên tắc trung gian căn bản cho việc tổ chức và hoạt động của thị trườngchứng khoán Nguyên tắc này nhằm đảm bảo các loại chứng khoán được giaodịch là chứng khoán thực, và thị trường chứng khoán hoạt động được lànhmạnh, hợp pháp và ngày càng phát triển, bảo vệ được lợi ích của các nhà đầu tư.Bởi lẽ, trong số các nhà đầu tư chứng khoán không phải ai cũng hiểu biết vànhận thức được hết tính chất phức tạp của chứng khoán cũng như xu hướng biếnđộng trong tương lai của các loại chứng khoán Chính vì vậy, nếu không cónhững người môi giới chứng khoán có kỹ năng phân tích chứng khoán dựa trênnhững căn cứ xác đáng một cách kỹ lưỡng, thì người đầu tư có thể bị lừa gạt
Trang 3Nguyên tắc trung gian trong giao dịch chứng khoán được thể hiện thôngqua các nhà môi giới và các thương gia chứng khoán.
+ Đối với những nhà môi giới trung gian họ được hưởng hoa hồng trên cơ
sở môi giới giao dịch cho các khách hàng Các khách hàng có thể được sử dụnghoàn toàn các dịch vụ từ nhà môi giới (môi giới trọn gói), trên cơ sở các nhàmôi giới cung cấp đầy đủ các dịch vụ có liên quan đến chứng khoán cho kháchhàng, như đại diện cho khách hàng để thương lượng mua bán chứng khoán, thaymặt cho khách hàng giải quyết mọi vấn đề liên quan đến chứng khoán, nhận chitrả cổ tức cho khách hàng, và có thể đáp ứng vốn cho khách hàng trong cácnghiệp vụ mua trước bán sau (giao dịch bảo chứng), hoặc liên quan đến vấn đề
tư vấn, lựa chọn đầu tư vào các loại chứng khoán Ngoài ra, các trung gian môigiới cũng có thể chỉ nhận môi giới một phần dịch vụ mà các nhà đầu tư yêucầu, như việc chỉ định làm trung gian cho mua bán một loại chứng khoán nào đó
mà thôi
+ Đối với các thương gia chứng khoán, đó là những trung gian giao dịchtrên thị trường, nhưng không phải môi giới cho các khách hàng mà cho chínhbản thân họ, chính bằng nguồn vốn đầu tư của họ để hưởng mức chênh lệch giátrong quá trình kinh doanh Quá trình giao dịch cho bản thân các thương giachứng khoán với mục tiêu theo đuổi lợi nhuận nên thường gây ra các hiện tượngđầu cơ, thao túng, làm sai lệch giá cả, gây ra biến động giá chứng khoán, thậmchí làm sụp đổ cả thị trường chứng khoán Tuy nhiên các thương gia chứngkhoán vừa là các nhà giao dịch tự doanh vừa là các nhà tạo lập thị trường Khicung chứng khoán lớn hơn cầu, giá hạ, họ sẽ là người mua vào, ngược lại khicầu chứng khoán lớn hơn cung họ sẽ là người bán ra nhằm mục đích bảo đảmthị trường được vận hành liên tục và không bị gián đoạn Do vậy, trong cơ cấucủa thị trường chứng khoán không thể không có các thương gia chứng khoánđóng vai trò là nhà tạo lập thị trường
Trang 4Các trung gian thị trường, bao gồm các nhà môi giới và các thương giachứng khoán đều là những người có kiến thức sâu rộng về chứng khoán, đãđược kiểm tra, sát hạch trước khi được Uỷ ban chứng khoán cấp giấy phép hànhnghề kinh doanh chứng khoán Bản thân họ, là những người có khả năng phântích tình hình tài chính và nhận định xu hướng của nền kinh tế Dù là người môigiới trung gian hưởng hoa hồng nhưng bản thân họ cũng phải chủ động trongthương lượng mua bán các chứng khoán Người môi giới phải thay thế thân chủcủa mình cam kết mua bán với giá có lợi nhất cho khách hàng, chính vì vậy bảnthân họ cũng phải có mối quan hệ rộng rãi đối với các nhà môi giới khác trêntinh thần bình đẳng, trung thực, khách quan và có tư chất đạo đức nghề nghiệp.Mọi cam kết, cho dù là lời nói đều phải có nghĩa vụ thi hành, không được tháolui khi thấy hiệu quả mang lại cho mình bị thua thiệt Ngoài ra, bản thân nhàmôi giới cũng phải có khả năng tài chính nhất định, để đảm bảo sự tin tưởngcho khách hàng và tiền ký quỹ cho sở giao dịch khi họ bắt đầu tham gia thịtrường
(2) Nguyên tắc công khai, minh bạch
Tất cả các hoạt động trên thị trường chứng khoán đều phải tuân thủ theonguyên tắc công bằng, công khai và minh bạch Các thông tin về chứng khoánđược giao dịch, tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của công ty có chứngkhoán niêm yết, cũng như số lượng, giá cả chứng khoán đều được thông báomột cách công khai trên phương tiện thông tin đại chúng Bản thân các công ty
có chứng khoán niêm yết phải có nghĩa vụ công bố thông tin định kỳ, tức thời
và theo yêu cầu một cách trung thực và đầy đủ cho các nhà đầu tư Ngoài ra,các tổ chức phát hành có nghĩa vụ nộp các báo cáo tài chính, báo cáo hoạt độngkinh doanh và các báo cáo khác có xác nhận của kiểm toán cho Sở giao dịch và
Uỷ ban chứng khoán Trong trường hợp xảy ra sự cố, các tổ chức phát hànhphải báo đột xuất lên Sở giao dịch và Uỷ ban chứng khoán để tạm ngừng giaodịch loại chứng khoán đó Đối với các công ty cung ứng thông tin (dịch vụ
Trang 5thông tin), cũng phải chịu trách nhiệm về những thông tin đã công bố, nếu thôngtin sai sự thật mà làm thiệt hại đến nhà đầu tư, thì công ty đó phải chịu tráchnhiệm bồi hoàn những thiệt hại do mình gây ra, và phải chịu trách nhiệm trước
Uỷ ban giám sát thị trường
Các giao dịch trên thị trường đều sử dụng các thông tin được công bốchính thức tại sở giao dịch hoặc thông qua các phương tiện thông tin đại chúng.Việc sử dụng các thông tin nội bộ hoặc các thông tin chưa được phép công bốchính thức vào giao dịch chứng khoán là hành vi giao dịch nội gián Đây là mộthoạt động bị cấm hoàn toàn
(3) Nguyên tắc định giá mua bán chứng khoán
Trên cơ sở quan hệ cung cầu về mua bán chứng khoán và các thông tin
về chứng khoán cũng như kết quả phân tích các chứng khoán, nhà môi giới cótrách nhiệm xác định ra mức giá chứng khoán theo nguyên tắc định giá chứngkhoán Giá chứng khoán được hình thành thông qua hệ thống đấu giá hoặc đấulệnh giữa các nhà môi giới Khi giá cả chứng khoán được xác định thì các nhàđầu tư có nghĩa vụ thực hiện theo mức giá đó Chính vì vậy, mà người ta nóirằng thị trường chứng khoán là một thị trường tự do và cởi mở nhất trong cácloại hình thị trường
Việc đấu giá trên sàn giao dịch có thể được tiến hành dưới bahình thức:
Một là đấu giá trực tiếp, có nghĩa là các nhà môi giới trực tiếp gặp nhau
để thương lượng giá cả thông qua một chuyên viên kinh doanh chứng khoán của
Sở giao dịch chứng khoán Đây là cách đấu giá cổ điển có từ ngày đầu hìnhthành các Sở giao dịch chứng khoán của các nước tư bản phát triển
Hai là đấu giá gián tiếp, có nghĩa là các nhà môi giới không cần gặp nhau
mà chỉ cần phát lệnh với giá cao nhất có thể mua và giá thấp nhất có thể bán chomỗi loại chứng khoán trong ngày Các lệnh này được đưa vào máy vi tính đãđược nối mạng với các thành viên của sở giao dịch Mọi việc đàm phán thương
Trang 6lượng chỉ là sự khớp giá giữa các công ty môi giới với nhau Các hình thức đấugiá này đang được áp dụng ở hầu hết các sở giao dịch của các nước phát triển vàtại các thị trường chứng khoán mới nổi.
Ba là đấu giá tự động, là hình thức đấu giá qua hệ thống nối mạng giữa
máy chủ của sở giao dịch và máy của các công ty thành viên Máy chủ của sởgiao dịch là nơi đấu giá trung tâm, nó tự điều chỉnh các lệnh mua bán sao chocung cầu phù hợp nhau Giá mua bán được quyết định tại máy chủ này Hầu hếtcác sở giao dịch của các thị trường chứng khoán mới nổi đều áp dụng phươngthức đấu giá tự động này
2.1.1.3 Thông tin trong phân tích chứng khoán
Hệ thống thông tin trong thị trường chứng khoán nói chung trong phântích chứng khoán nói riêng là những chỉ tiêu, tư liệu phản ánh bức tranh của thịtrường chứng khoán và tình hình kinh tế chính trị, xã hội liên quan tại nhữngthời điểm hoặc thời kỳ khác nhau
Hệ thống thông tin thị trường chứng khoán rất đa dạng và phong phú,được phân tổ theo nhiều nhóm tiêu chí khác nhau:
- Phân tổ theo loại chứng khoán: Thông tin về cổ phiếu, trái phiếu, chứngchỉ quỹ đầu tư, công cụ phái sinh…
- Phân tổ theo phạm vi bao quát: Thông tin đơn lẻ từng chứng khoán,nhóm chứng khoán, thông tin ngành, nhóm ngành, thông tin của từngquốc gia hay nhiều quốc gia
- Phân tổ theo thời gian: Thông tin quá khứ, hiện tại, tương lai; thông tintheo thời gian cập nhật từng phút, giây; thông tin tổng hợp theo ngày,tháng, quý, năm
- Phân tổ theo nguồn thông tin: Thông tin trong nước và quốc tế; thôngtin của các tổ chức tham gia thị trường; thông tin từ nhà cung cấp dịch
vụ tư vấn; thông tin từ báo chí
Thông tin thường có được từ các nguồn thông tin cơ bản sau:
Trang 7(1) Thông tin về tổ chức niêm yết
Tổ chức niêm yết phải thực hiện công bố thông tin theo quy chế giao dịch
và công bố thông tin theo pháp luật hiện hành Các thông tin cần công bố côngkhai bao gồm:
- Bản cáo bạch: Là tài liệu công ty niêm yết chuẩn bị xin phép phát hànhchứng khoán trong dịp phát hành; đối với công ty đã phát hành và đãxin đăng ký niêm yết sau đó thì cũng phải chuẩn bị tài liệu giới thiệutóm tắt về công ty, như báo cáo kết quả kinh doanh trong 2 năm gầnnhất (đối với Việt Nam), báo cáo tổng kết tài sản, báo cáo thu nhập vàthu chi tiền mặt; ban giám đốc, hội đồng quản trị và có chi tiết từngngười, các cổ đông của công ty…
- Thông tin định kỳ: Công ty niêm yết buộc phải công bố công khai cácthông tin định kỳ theo quý, nửa năm và năm bao gồm:
+ Bảng cân đối kế toán
+ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
+ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
+ Thuyết minh báo cáo tài chính
- Thông tin bất thường: Mỗi khi xuất hiện thông tin đột xuất và nếu công
bố ra sẽ ảnh hưởng đến giá chứng khoán của công ty đó thì công tyniêm yết phải công bố ngay lập tức trong vòng 24 giờ Hình thức công
bố thông tin này yêu cầu công ty niêm yết ngay khi điều kiện cho phép,nhưng không muộn quá giờ kể từ khi sự kiện xảy ra, ví dụ: Ký đượchợp đồng lớn, tài sản của công ty bị phong tỏa…
- Thông tin theo yêu cầu: Đây là các thông tin mà các đơn vị quản lýchức năng có thẩm quyền như: Uỷ ban chứng khoán nhà nước, sở giaodịch chứng khoán, cơ quan thống kê, cơ quan công an, pháp luật… yêucầu cung cấp Thông thường các thông tin này không công bố côngkhai
Trang 8(2) Thông tin về tổ chức kinh doanh
Ngoài các loại thông tin trong bảng quyết toán quý, nửa năm, năm, đơn vịkinh doanh chứng khoán như công ty chứng khoán, quỹ đầu tư chứng khoán cần
có báo cáo về: Số tài khoản được mở; các giao dịch lô lớn (block trader), tình
hình mua bán ký quỹ chứng khoán… Nếu do nhu cầu quản lý thì cơ quan quản
lý như trung tâm giao dịch chứng khoán, ủy ban chứng khoán nhà nước có thểyêu cầu các đơn vị này báo cáo chi tiết hơn ở một số ngày giao dịch, hoặc tìnhhình giao dịch, số dư tài khoản chứng khoán của một số khách hàng
(3) Thông tin về quản lý
Thông tin này thường được các cơ quan quản lý thị trường cung cấp, nộidung bao gồm các thông tin về cơ quan quản lý, cấu trúc tổ chức, chức năngnhiệm vụ và phối hợp công tác, các văn bản pháp quy
(4) Thông tin thị trường
Thông tin thị trường do sở giao dịch chứng khoán cung cấp bao gồmthông tin về các loại chứng khoán, thông tin về giao dịch chứng khoán, thôngtin về quản lý giao dịch và quy chế, nguyên tắc giao dịch chứng khoán Thôngtin này thường xuyên được cập nhật và công bố trên tờ thông tin chứng khoán,các phương tiện thông tin đại chúng Dưới đây là một số thông tin thị trườngquan trọng
- Thông tin thị trường trái phiếu
Trang 9Thị trường trái phiếu được phân tổ theo đơn vị phát hành và theo thờigian đáo hạn ví dụ đáo hạn: ít hơn 6 tháng, từ 6 tháng đến 1 năm, từ 1 năm đến
3 năm, từ 3 năm đến 5 năm, hơn 5 năm Thông tin cũng được tính cho từng loạitrái phiếu
Chỉ số giá trái phiếu là chỉ số so sánh mức giá trái phiếu tại thời điểm sosánh với mức giá thời điểm gốc đã chọn Thực chất chỉ số này phản ánh sự biếnđộng của mức lãi suất (nếu là một loại trái phiếu)
Chỉ số giá trái phiếu bao gồm trong nó cả lãi suất, tăng giá trái phiếu vàlãi suất do tái đầu tư sản xuất
- Thông tin về tỷ lệ cổ phiếu được giao dịch: Là tỷ lệ giữa khối lượng cổ
phiếu được giao dịch trong kỳ và số lượng cổ phiếu niêm yết bìnhquân trong kỳ, trong đó số lượng cổ phiếu niêm yết bình quân trong kỳbằng tổng số lượng cổ phiếu niêm yết bình quân ((số đầu kỳ +số cuốikỳ)/2)
- Thông tin về tỷ lệ giá trị giao dịch so với giá trị vốn hóa thị trường: Là
tỷ lệ giữa giá trị giao dịch với mức vốn hóa thị trường Trong đó mứcvốn hóa thị trường được tính bằng tổng cổ phiếu niêm yết nhân với thịgiá hiện hành
- Thông tin về độ sâu của thị trường: Là chỉ tiêu phản ánh khối lượng
giao dịch lẽ ra có thể xảy ra thêm nếu giá thay đổi 1 bậc so với giá đãthực hiện, thì số phiếu giao dịch sẽ tăng thêm 45% Thị trường càng sâuthì chi phí giao dịch càng giảm
- Thông tin về độ rộng của thị trường: Là chỉ tiêu phản ánh tỷ lệ phần
trăm số lượng giao dịch lẽ ra có thêm nếu giá cả thay đổi trong vòng 1bậc Thị trường càng rộng thì tính ổn định càng cao
- Thông tin về tỷ lệ lệnh được khớp: Là chỉ tiêu phản ánh quan hệ giữa số
lệnh được khớp và số lệnh đăng ký bình quân, trong đó số lệnh đăng ký
Trang 10bình quân là số trung bình cộng của số lệnh đặt bán và số lệnh đặt muatrong kỳ.
- Thông tin về các đơn vị niêm yết: Theo quy chế công bố thông tin thì
các đơn vị niêm yết phải công bố thông tin dưới các dạng như sau:
+ Báo cáo định kỳ: Kết quả sản xuất kinh doanh của từng quý; báo cáoquyết toán nửa năm, cả năm
+ Báo cáo bất thường: Mỗi khi có những sự kiện mà nếu công bố ra thì sẽảnh hưởng đến giá chứng khoán: Ví dụ tài khoản của công ty bị phongtoả, tách, gộp cổ phiếu; công ty tuyên bố trả cổ tức; công ty thắng thầucác dự án lớn; công ty bỏ vốn liên doanh với công ty khác; mất kháchhàng lớn…
+ Báo cáo theo yêu cầu: Do yêu cầu quản lý của cơ quan có thẩm quyềnnhư Uỷ ban chứng khoán nhà nước, Sở và Trung tâm giao dịch chứngkhoán, cơ quan pháp luật hoặc do có tin đồn cần xác minh thì các cơquan có thẩm quyền trên có thể yêu cầu các đơn vị niêm yết cung cấpthông tin liên quan
2.1.2 Khái quát thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam
2.1.2.1 Khung pháp lý cho thị trường chứng khoán Việt Nam
Thực hiện Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 8 về việc phát triểnkinh tế hàng hoá nhiều thành phần, theo cơ chế thị trường có sự quản lý củanhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, ngay từ năm 1996 Chính phủ đãchỉ đạo các bộ, ngành liên quan nghiên cứu, xây dựng và phát triển thị trườngvốn, thị trường chứng khoán, nhằm huy động các nguồn lực tài chính cho đầu tưphát triển, phục vụ chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Từ khi thành lập (năm 2000), Uỷ ban chứng khoán Nhà nước đã phối hợpvới các bộ, ngành xây dựng bộ khung pháp lý, chuẩn bị hàng hoá, thành lập cáccông ty chứng khoán và các điều kiện về cơ sở vật chất, cán bộ cho thị trường
Trang 11chứng khoán Thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức đi vào hoạt động từtháng 7/2000.
Khung pháp lý về chứng khoán và hoạt động kinh doanh chứng khoán đãđược dần hoàn thiện Hiện nay chúng ta đã có được một số văn bản pháp lýquan trọng để dẫn dắt thị trường mà cao nhất là Luật Chứng khoán (số 70/2006/
QH 11 Quốc hội thông qua ngày 29/6/2006), kèm theo là các nghị định, thông
tư hướng dẫn: Nghị định số 14/2007/NĐ-CP ngày 19/01/2007 quy định chi tiếtthi hành một số điều của Luật Chứng khoán, Nghị định 36/2007/NĐ-CP ngày08/3/2007 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thịtrường chứng khoán v.v
2.1.2.2 Hoạt động của các chủ thể trên thị trường
Thị trường chứng khoán là một hệ thống phức tạp các chủ thể cùng thamgia, đó chính là những người làm nên thị trường, bao gồm các tổ chức liên quanđến chứng khoán, các tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán, các công
ty niêm yết và những người đầu tư Việc phân tích các hoạt động của thị trường
sẽ được làm rõ bằng việc xem xét hoạt động của từng chủ thể
(1) Các tổ chức có liên quan đến chứng khoán
- Cơ quan quản lý nhà nước (Ủy ban Chứng khoán Nhà nước)
Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) được thành lập ngày28/11/1996 theo Nghị định số 75/CP của Chính phủ, là cơ quan thuộc Chínhphủ thực hiện chức năng tổ chức và quản lý Nhà nước về chứng khoán và thịtrường chứng khoán Việc thành lập cơ quan quản lý thị trường chứng khoántrước khi thị trường ra đời là bước đi phù hợp với chủ trương xây dựng và pháttriển TTCK ở Việt Nam, có ý nghĩa quyết định cho sự ra đời của TTCK sau đóhơn 3 năm (20/7/2000)
Khi mới được thành lập, UBCKNN là cơ quan thuộc Chính phủ, là cơquan cao nhất thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về thị trường chứng khoánnhưng theo Nghị định số 66/2004/NĐ-CP ngày 19/02/2004, UBCKNN là tổ
Trang 12chức thuộc Bộ Tài chính, chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng Bộ Tài chính, thựchiện chức năng quản lý nhà nước về chứng khoán và TTCK; trực tiếp quản lý,
tổ chức, giám sát hoạt động chứng khoán và TTCK
Để thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình, UBCKNN đã phối hợp vàchỉ đạo các đơn vị trực thuộc trong toàn ủy ban: Về quản lý hành chính, ra vănbản thì có các ban (Ban Phát triển thị trường chứng khoán, Ban Quản lý pháthành chứng khoán, Ban Quản lý kinh doanh chứng khoán,…); về đào tạo, phổbiến kiến thức cho công chúng đầu tư thì có TT Nghiên cứu khoa học và Đàotạo chứng khoán; về quản lý giao dịch và tổ chức thực hiện giao dịch cho toànthị trường thì có Sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh và TT giao dịchchứng khoán Hà Nội
- Sở giao dịch chứng khoán Tp Hồ Chí Minh (HOSE):
Sở giao dịch chứng khoán Tp Hồ Chí Minh được chuyển từ Trung tâmGiao dịch Chứng khoán TP.Hồ Chí Minh (TTGDCK TP.HCM) ngày 8/8/07theo quyết định số: 599/QĐ-TTg ngày 11/05/2007của Thủ tướng Chính phủ.Trung tâm GDCK TP HCM được thành lập theo Quyết định số 127/1998/QĐ-TTg ngày 11/07/1998 và chính thức đi vào hoạt động thực hiện phiên giao dịchđầu tiên vào ngày 28/7/2000 đã đánh dấu một sự kiện quan trọng trong đờisống kinh tế- xã hội của đất nước
Lúc mới thành lập, TTGDCK TP.HCM là đơn vị sự nghiệp có thu, có tưcách pháp nhân, có trụ sở, con dấu và tài khoản riêng, kinh phí hoạt động dongân sách nhà nước cấp, Trung tâm được Chính phủ giao một số chức năng,nhiệm vụ và quyền hạn quản lý điều hành hệ thống giao dịch chứng khoán tậptrung tại Việt Nam Đó là: tổ chức, quản lý, điều hành việc mua bán chứngkhoán; quản lý điều hành hệ thống giao dịch; thực hiện hoạt động quản lý niêmyết, công bố thông tin, giám sát giao dịch, hoạt động đăng ký, lưu ký và thanhtoán bù trừ chứng khoán và một số hoạt động khác
Trang 13Thực tiễn hoạt động của Trung tâm qua những năm đầu là rất hiệu quả,phù hợp với mô hình thị trường khi mới thành lập Tuy nhiên, do yêu cầu tấtyếu của việc phát triển thị trường chứng khoán trong bối cảnh đất nước có nhiềuthay đổi tích cực, mô hình thị trường chứng khoán với trung tâm giao dịchkhông phù hợp nữa và TTGDCK TP HCM chính thức được đổi tên thành Sởgiao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh Sự kiện trên lại đánh dấu một bướcchuyển mình của thị trường chứng khoán Việt Nam, bởi không đơn thuần chỉ làviệc đổi tên, Sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh đã có những bướcchuẩn bị cần thiết để xứng tầm là một sở giao dịch, sở được tự chủ hơn trongcác quyết định của mình Sở không còn là đơn vị sự nghiệp có thu thuộc Ủyban chứng khoán nhà nước nữa mà là công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nướcmột thành viên Chúng ta hy vọng rằng với sứ mệnh mới, với những sự đầu tưhợp lý về phần cứng cũng như phần mềm tại Sở, Sở sẽ trở thành một cái “chợ”chứng khoán thật sự hiệu quả, có quy mô, hàng hóa có giá trị, buôn bán trungthực và là nơi đến hấp dẫn của các nhà cung và cầu vốn.
Sở phát huy thế mạnh của trung tâm trong những năm qua để tổ chức vàvận hành các hoạt động giao dịch chứng khoán trên thị trường tập trung thôngsuốt, an toàn và hiệu quả
Đối với hoạt động giao dịch, SGDCK TP.HCM đã thực hiện giao dịchkhớp lệnh liên tục từ ngày 30/07/2007 và từng bước triển khai giao dịch nhậplệnh từ xa để đáp ứng với tình hình thị trường đang phát triển
Trong hoạt động đối ngoại, SGDCK TP.HCM đã thực hiện ký kết nhiềuBiên bản hợp tác với các SGDCK các nước trên thế giới như SGDCK Luânđôn, Thái Lan, New York(Mỹ), Malaysia, Singapore, CH Czech, Warsaw(BaLan),Tokyo (Nhật bản), Hồng Kông trong các lĩnh vực về hỗ trợ kỹ thuật, đàotạo cán bộ cho SGDCK TP.HCM, trao đổi thông tin giữa các SGDCK, đồngthời tạo điều kiện thực hiện niêm yết chéo giữa các Sở trong tương lai
Dưới đây là tóm tắt một số dữ liệu tại HOSE:
Trang 14Cập nhật: ngày 9/6/2008
Số lượng mã chứng khoán
Tổng khối lượng niêm yết
Tổng giá trị niêm yết (VND)
315
68,157,453,900 ,000
Ngày mở cửa sàn: 28/07/2000 Số ngày giao dịch: 1799
- Trung tâm Giao dịch chứng khoán Hà Nội (HASTC)
Ngày 8.3.2005 TTGDCK Hà Nội chính thức khai trương hoạt động, đánhdấu một bước phát triển mới của thị trường chứng khoán Việt Nam Lúc bắt đầuthành lập, nhiệm vụ của TTGDCK Hà Nội là sàn giao dịch được gọi là đăng kýniêm yết dành cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tuân theo một số tiêu chí nhấtđịnh Tuy nhiên, cùng với sự phát triển chung của thị trường chứng khoán ViệtNam, HASTC cũng đã có bước phát triển rất nhanh, và đã có rất nhiều công tylớn tham gia niêm yết và giao dịch
Dưới đây là những dữ liệu tóm tắt về các giao dịch trên HASTC:
Cập nhật: ngày 9/6/2008
Số lượng
mã chứng khoán
Tổng khối lượng niêm yết
Tổng giá trị niêm yết (VND) Toàn thị
000
147,878,412,03 0,000
043
15,733,010,430, 000
Trang 15Nguồn: VCBS
(2) Các tổ chức kinh doanh chứng khoán trên TTCK Việt Nam
Thị trường chứng khoán phát triển như hiện nay có sự đóng góp đáng kểcủa các tổ chức trung gian, đó là các công ty chứng khoán và các ngân hàngthương mại
a Các công ty chứng khoán
Lúc mới đi vào mở cửa thị trường mới chỉ có hai công ty chứng khoán,sau gần tám năm trên thị trường chứng khoán Việt Nam số lượng công ty đượccấp giấy phép hoạt động đã tăng lên đáng kể, đó là chưa kể còn rất nhiều công
ty đã nộp hồ sơ đang chờ được phê duyệt Hiện nay tổng cộng vốn điều lệ củacác công ty chứng khoán chính thức đi vào hoạt động đã tới 10.425 tỷ đồng
Các nghiệp vụ của các công ty chứng khoán bao gồm: Môi giới chứngkhoán; Tự doanh chứng khoán; Bảo lãnh phát hành chứng khoán; d) Tư vấn đầu
tư chứng khoán
Các công ty chứng khoán trong thời gian gần đây đã đạt được kết quả rấttốt về lợi nhuận do họ đẩy mạnh việc tự doanh, chứ không đơn thuần môi giớinhư trước Chính các công ty chứng khoán cũng góp phần làm cho thị trườngphát triển qua việc họ đã nâng cấp, đầu tư công nghệ để đáp ứng việc đặt lệnh
và nhận thông tin của người đầu tư
Tuy vậy, sự tăng trưởng nóng của thị trường và những khoản lợi nhuậnkhá lớn của các công ty chứng khoán trong thời gian qua đã khiến hàng loạtcông ty khác lao vào muốn lập công ty chứng khoán
Trang 16Ở những thị trường lớn như Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan , sốlượng công ty chứng khoán không nhiều Trong khi đó, nước ta tính tới 6/2008
đã có 91 công ty chứng khoán và 35 công ty quản lý quỹ đầu tư đang hoạt động,
đó là còn chưa tính tới một lượng hồ sơ còn đang chờ được cấp phép
Nếu số hồ sơ này được chấp thuận thì số công ty chứng khoán của ViệtNam sẽ gần gấp đôi so với các công ty chứng khoán ở Hàn Quốc, gấp 3,5 lần sovới Thái Lan và vượt trên 30 công ty so với tổng số lượng các công ty chứngkhoán của Trung Quốc Tóm lại số lượng các công ty chứng khoán ở Việt Nam
là quá nhiều, vượt quá xa so với quy mô thị trường
Tuy vậy, nếu Chính phủ không can thiệp, có thể sẽ xảy ra khả năng đổ vỡ
ở các công ty chứng khoán, nhất là công ty mới thành lập Thực tế không ítcông ty chứng khoán mới thành lập trong năm 2007 đang gặp nhiều khó khăn,đặc biệt là khả năng tự doanh khi giá chứng khoán giảm mạnh liên tiếp kể từtháng 3-2007 Trong khi đó, thị phần vẫn chủ yếu nằm trong tay các công tychứng khoán đã thành lập từ trước
Ngoài ra, sự ra đời ồ ạt của các công ty chứng khoán mới cùng với xuhướng đi xuống của thị trường đã khiến các công ty chứng khoán có “bề dày”đều bị giảm cả lợi nhuận và doanh thu Sự ra đời của các công ty chứng khoánmới sẽ gây sức ép về hạ tầng công nghệ thông tin đối với Sở GDCK TPHCM vàTTGDCK Hà Nội Vì các lý do trên, nhìn chung các công ty chứng khoán cầnphải nâng các điều kiện, tiêu chí hoạt động như vốn, nghiệp vụ, công nghệ
b Các ngân hàng thương mại
Tại một số nước, các ngân hàng thương mại có thể sử dụng vốn tự có đểtăng và đa dạng hóa lợi nhuận thông qua đầu tư vào các chứng khoán Tuynhiên các ngân hàng chỉ được đầu tư vào chứng khoán trong những giới hạnnhất định để bảo vệ ngân hàng trước những biến động của giá chứng khoán Đốivới Việt Nam, các ngân hàng thương mại chủ yếu hoạt động trên thị trường tiền
tệ, một số ngân hàng thành lập các công ty con độc lập để kinh doanh chứng
Trang 17khoán và bảo lãnh phát hành, như Ngân hàng Đầu tư và phát triển, Ngân hàngNông nghiệp và phát triển nông thôn, Ngân hàng Ngoại thương,… đều có cáccông ty chứng khoán của riêng mình.
(3) Các công ty niêm yết
Trong các chủ thể trên thị trường chứng khoán, các công ty niêm yếtđứng về phía bên cung Trên thị trường chính thức, các công ty niêm yết củaViệt Nam đều là các công ty có tiềm lực, đa số làm ăn có lãi Lúc mới mở cửathị trường chỉ có một số rất ít công ty (mới có hai mã cổ phiếu REE và SAM),nhưng qua hàng năm số lượng các công ty đã tăng lên đáng kể, bắt đầu bằngnăm 2006, các công ty niêm yết nhằm tận dụng cơ hội ưu đãi về thuế thu nhậptheo thông tư số 100/2004/TT-BTC ngày 20/10/2004 và thông tư số72/2006/TT-BTC Còn năm 2007 làn sóng lên sàn của các công ty đã thay đổi
về chất với mục tiêu chính: lên sàn cho hoạt động kinh doanh Tuy vậy, sangnăm 2008 do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan mà số lượng các công
ty niêm yết mới ở con số không lớn Dưới đây là số liệu về tình hình niêm yếtcủa các công ty:
B ng 2 ảng 2 1. S l ố lượng các công ty niêm yết hàng năm ượng các công ty niêm yết hàng năm ng các công ty niêm y t h ng n m ết hàng năm àng năm ăm
Năm
Số lượng công ty niêm yết mới
Tổng số công ty niêm yết
Số lượng công
ty niêm yết mới
Tổng số công ty niêm yết
Trang 18Theo đánh giá chung thì hầu hết các doanh nghiệp đều đạt được các chỉtiêu tài chính rất tốt Tuy vậy, còn rất nhiều điều đáng phải lưu tâm về các công
ty này, đặc biệt về hoạt động phát hành thêm cổ phần và vấn đề công bố thôngtin trên thị trường (điều này ảnh hưởng rất nhiều đến tính hiệu quả của thịtrường trên phương diện thông tin) Cụ thể:
- Hiện tượng phát hành cổ phiếu còn tràn lan, tăng vốn vội vã trong thờiđiểm thị trường nóng nhằm thu về các khoản thặng dư vốn lớn cho doanhnghiệp
- Phát hành cổ phiếu chưa đi kèm với phương án sử dụng vốn hiệu quả
- Phần lớn hoạt động phát hành thêm đều có mục đích đầu tư tràn lansang lĩnh vực không truyền thống của doanh nghiệp
Còn việc công bố thông tin của công ty niêm yết, tuy đã có quy địnhnhưng vẫn ''được chăng hay chớ'', các thông tin chủ yếu là các thông tin định kỳ
và rất ít các thông tin tức thời được công bố ra thị trường, thông tin thường theohướng có lợi cho công ty niêm yết Xuất hiện rất nhiều vi phạm, thông tin sai sựthật, thông tin chậm trễ (Bản cáo bạch thường nộp muộn hơn quy định) Hơnnữa các thông tin khi đưa ra nhiều khi gây nhầm lẫn cho người đầu tư Thực tế
đã chỉ ra trong thời gian vừa qua đã có nhiều trường hợp vi phạm đã bị xử phạtbởi các cơ quan chức năng
Công bố thông tin là nghĩa vụ, song đồng thời cũng là quyền lợi của các
tổ chức niêm yết khi tham gia thị trường Rõ ràng rằng, nếu doanh nghiệp nàocung cấp thông tin chính xác, đầy đủ và kịp thời thì doanh nghiệp đó sẽ đónnhận phản ứng tích cực từ phía nhà đầu tư và khi đó hiệu quả của việc công bốthông tin sẽ ảnh hưởng tốt đến chất lượng cổ phiếu của doanh nghiệp trên thịtrường Ðiều này đòi hỏi trình độ quản lý và phương cách thể hiện của doanhnghiệp, hay nói khác hơn là sự chuyên nghiệp hoá trong công tác công bố thôngtin
Trang 19Tính chuyên nghiệp trong công bố thông tin, như đã phân tích, phải hội
đủ các yếu tố trung thực, chính xác, đầy đủ và kịp thời Ðiều đó cũng có nghĩadoanh nghiệp không chỉ công bố những thông tin tốt mà còn cả những thông tinbất lợi cho doanh nghiệp
Ðiều quan trọng mà các doanh nghiệp phải đặc biệt lưu ý là: bưng bít,giấu nhẹm, hay cố tình thông tin chậm để điều chỉnh, cân đối lại số liệu là conđường ngắn nhất đưa doanh nghiệp đến chỗ mất niềm tin đối với người đầu tư,trong xu hướng thị trường và trình độ của người đầu tư đang ngày càng đượcchuyên nghiệp hóa
Ngoài ra việc công bố thông tin của các công ty niêm yết cũng không hềđơn giản Giới báo chí và những người phụ trách bộ phận cung cấp thông tincủa các công ty niêm yết cũng có những phản ánh liên tục về các ràng buộc của
Uỷ ban chứng khoán nhà nước trong quy chế về thông tin Họ bị "quở trách" vìcông bố thông tin cho báo chí khi chưa được cơ quan quản lý thị trường "kiểmduyệt" Đại diện Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và các TTGDCK lại khuyếnnghị các doanh nghiệp về vấn đề công bố thông tin, trong đó có vấn đề cung cấpthông tin cho báo chí Giám đốc một doanh nghiệp thốt lên rằng: "Từ khi lênniêm yết đến nay, chúng tôi hầu như mất quan hệ với báo chí Ðưa tin gì cũng
sợ bị quở trách" Cứ như theo quy định của cơ quan quản lý và phản ảnh của cácdoanh nghiệp thì "tất cả các thông tin nhạy cảm có ảnh hưởng tới giá cổ phiếuđều phải được kiểm soát chặt chẽ trước khi các công ty niêm yết công bố ra đạichúng" Tuy nhiên, theo ý kiến của các doanh nghiệp thì "điều này là bất hợp lý
và không rõ ràng, vì hiện nay, vẫn chưa có một quy định cụ thể nào hướng dẫn
rõ là những thông tin nào không nhạy cảm được phép công bố và những thôngtin nào là nhạy cảm không được phép công bố" Trong khi đó, bản thân cácdoanh nghiệp hiện đều có người phụ trách công bố thông tin Họ có quyềnthông tin cho báo chí những thông tin theo đúng quy định của pháp luật vàchịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung và tính chính xác của thông tin
Trang 20Liên hệ lại với trường hợp một số công ty niêm yết bị TTGDCK khiểntrách trong thời gian qua vì "vi phạm" quy chế công bố thông tin, có thể khẳngđịnh rằng, những thông tin được các đơn vị niêm yết công bố cho báo chí về kếtquả hoạt động sản xuất kinh doanh, về kết quả trúng thầu, về kế hoạch tăngvốn "không thuộc phạm vi quy định trong Pháp lệnh bảo vệ bí mật" Cácthông tin trên lại càng không phải là "bí mật", bởi lẽ sau đó đều đã được công
bố rộng rãi ra thị trường qua TTGDCK hoặc bản tin thị trường của TTGDCK
Như vậy, rõ ràng rằng quan điểm "thông tin phải thông qua cơ quan quản
lý trước khi công bố cho báo chí" mà TTGDCK buộc các doanh nghiệp phảituân thủ vô hình trung "phong tỏa" việc thông tin trực tiếp giữa doanh nghiệp vàbáo chí Cũng cần phải khẳng định rằng, báo chí có quyền khai thác, điều tra lấytin tức để phản ảnh những vấn đề mà dư luận quan tâm theo đúng quy định củapháp luật và đó là yếu tố tích cực Trong khi đó, người cung cấp thông tin chobáo chí cũng được pháp luật công nhận vì họ có quyền "cung cấp cho báo chínhững tư liệu, tài liệu không thuộc phạm vi quy định trong Pháp lệnh bảo vệ bímật" và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung và tính chính xác củathông tin
Tóm lại, việc công bố thông tin của các công ty niêm yết là mảng vấn đềrất quan trọng ảnh hưởng nhiều đến hiệu quả của thị trường chứng khoán Nếulàm tốt được, chắc chắn chất lượng thông tin trên thị trường sẽ được cải thiện
1.2.2.4 Nhà đầu tư
Thành tố quan trọng nhất trên thị trường chứng khoán là người đầu tư Sựgia tăng nhanh chóng lượng cổ phiếu niêm yết trên thị trường cùng với sự ra đờicủa hàng loạt các công ty chứng khoán mang đến những dịch vụ tiện ích đã thuhút được một số lượng lớn các nhà đầu tư cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước
Hiện nay người đầu tư đã trở thành người đầu tư theo đúng nghĩa Đốivới người đầu tư cá nhân, toàn thị trường đã có gần 400.000 tài khoản giao dịch
mở tại các công ty chứng khoán, trong đó của các cá nhân nước ngoài là 7.400
Trang 21Bên cạnh đó thị trường cũng nhận được sự quan tâm đặc biệt của các nhà đầu tư
tổ chức của không những trong nước mà còn cả trong khu vực và trên thế giớinhư JP Morgan, Merrill Lynch, Citigroup Hiện số tài khoản của các tổ chứcnước ngoài là đã là 500 tài khoản
Nếu như khi thị trường mới mở cửa, người đầu tư cá nhân tham gia đầutiên hầu như chỉ mang tính hiếu kỳ, họ chưa kỳ vọng nhiều vào việc hưởng lợi
từ chứng khoán thì nay càng ngày người đầu tư càng tỏ ra chuyên nghiệp hơnnhiều Họ đã tiếp cận với các luồng thông tin khác nhau, chọn lọc, phân tích cơbản, phân tích kỹ thuật… Thực tế cũng đã chỉ ra người đầu tư nhiều lúc đã tỏ rõbản lĩnh của mình qua những biến động của thị trường Tuy vậy, chúng ta cũngthường nghe nhiều thấy cụm từ được miêu tả về người đầu tư là theo hiệu ứngđám đông, tâm lý bầy đàn Các ví dụ sinh động có thể kể ra trong trường hợpnày là chẳng hạn khi chúng ta có được thông tin không tốt từ bản báo cáo dựbáo về triển vọng của thị trường chứng khoán của tổ chức HSBC thì lập tứcngười đầu tư hoang mang, nghe ngóng và chạy đua nhau tìm những luồng thôngtin không chính thống khác và đồng loạt theo nhau bán cổ phiếu Sau này bảnbáo cáo của HSBC được kiểm chứng là không có cơ sở thì mọi chuyện lạingược lại Như vậy chứng tỏ người đầu tư đã không thể có những đánh giá riêngcủa mình để ra quyết định mà hoàn toàn mất tự chủ và không thể kiểm soátđược những giao dịch của mình Ngoài ra người đầu tư do không chuẩn bị kiếnthức một cách chắc chắn, chẳng hạn không biết được các nguyên tắc của thịtrường chứng khoán như nguyên tắc công khai thông tin Họ nhiều khi có thôngtin mà không biết đó là thông tin chính thống, thông tin được công khai, mà cứngỡ đó là thông tin bí mật, thông tin được ưu tiên Nhiều khi có thông tin lá cảithì người đầu tư lại tưởng là các thông tin chính thống, mà trên thị trường hiệnnay thì vô số thông tin lá cải Hơn nữa người đầu tư cũng không biết rõ về cácquyền của mình từ đó thường bị chèn ép bởi những cổ đông lớn (trường hợp cácthành viên hội đồng quản trị của các công ty mở các công ty con dựa vào cácthương hiệu của các công ty truyền thống mà không cần thông báo tới các cổđông) Tất cả các thiệt thòi của người đầu tư nhỏ lẻ có thể là do họ chưa có sựchuẩn bị một cách kỹ lưỡng khi tham gia thị trường bởi thị trường chứng khoán
Trang 22thực sự là một thị trường phát triển bậc cao, trên đó không chỉ bao gồm nhữngngười thích đánh bạc, thích lướt sóng,…
Người đầu tư đáng kể trên thị trường còn phải được tính tới đó chính làcác công ty quản lý quỹ Số lượng các công ty này được tăng lên nhanh chóngtrong thời gian gần đây (lên tới con số 20) với cơ cấu có cả trong nước và nướcngoài Sự tham gia và quyết định của các chủ thể này cũng sẽ gây nhiều ảnhhưởng đến giao dịch trên thị trường
Như vậy, chuyên đề đã phân tích một cách khái quát hoạt động của cácchủ thể trên thị trường chứng khoán (bao gồm các tổ chức liên quan đến chứngkhoán, các tổ chức kinh doanh chứng khoán, các công ty niêm yết và nhà đầutư) để thấy được phần nào thực trạng hoạt động của thị trường chứng khoán ViệNam trong những năm vừa qua, từ đó cũng đánh giá được yếu tố ảnh hưởng đếntính hiệu quả của thị trường chứng khoán Việt Nam trên phương diện thông tin
2.1.3 Các giai đoạn biến động của thị trường chứng khoán Việt Nam
Ta có thể dễ dàng nhận ra thị trường chứng khoán Việt Nam đã phát triểnrất nhanh trong thời gian gần đây, nhất là khoảng từ giữa năm 2006 Thị trường
có thể được đánh giá dựa vào việc quan sát trên Sở GDCK Tp Hồ Chí Minh và
TT Giao dịch chứng khoán Hà Nội Dưới đây là một số tổng hợp về VN Index
và HASTC Index tính đến ngày 09/06/2008
G
iá trị
P hiên
Ng ày
G
iá trị
P hiên
Ng ày
nhất
3 79.12
1 799
9/6 /2008
1 08.46
6
35
9/6 /2008 Mức cao nhất
trong 52 tuần
1 113.19
1 543
23/
5/2007
3 93.59
4 91
1/1 1/2007
Trang 23Mức thấp nhất
trong 52 tuần
3 79.12
1
799
9/6 /2008
1 08.46
6
35
9/6 /2008 Mức cao nhất
trong lịch sử
1 170.67
1 495
12/
3/2007
4 59.36
3 33
19/ 3/2007 Mức thấp nhất
6 35
9/6 /2008
Nguồn: VCBS
Tuy vậy, xét theo tỉ trọng vốn hóa toàn thị trường và khoảng thời gianphát triển thì chỉ số VN index trên sàn TP Hồ Chí Minh cũng có thể được coinhư thước đo đáng tin cậy để quan sát Chuyên đề này sẽ dùng chỉ số VN Index
để theo dõi biến động giá chứng khoán Dưới đây là các biểu đồ của VN Indexmiêu tả các giai đoạn hoạt động của thị trường
Ngày/tháng
S ơ đồ 2 đồ 2 2 1. Ch s VN Index t 28/7/00 ỉ số VNindex và HASTC index ố lượng các công ty niêm yết hàng năm ừ 28/7/00 đến 3/06/08 đết hàng năm n 3/06/08
Nhìn trên đồ thị ta dễ dàng nhận thấy chỉ số Vn Index đúng là diễn biếnkhó dự đoán, lúc lên thì lên rất cao và rất nhanh, lúc xuống thì cũng với tốc độ
Trang 24khó lường Ta có thể quan sát cụ thể hơn sự thay đổi giá qua các giai đoạn,tương ứng với những thất thường của thị trường.
Để giảm bớt sức nóng cho thị trường, UBCKNN đã có những thay đổi nhằmmục đích giảm cầu thị trường bằng một loạt các quy định: điều chỉnh biên độdao động giá cổ phiếu từ 2% lên 7%, hạn chế khối lượng đặt lệnh, đưa rathời hạn nắm giữ cổ phiếu, tăng hàng hoá trên thị trường
S ơ đồ 2 đồ 2 2.2 Ch s VN-Index t 28/7/00 ỉ số VN-Index từ 28/7/00 đến 25/6/01 ố VN-Index từ 28/7/00 đến 25/6/01 ừ 28/7/00 đến 25/6/01 đến 25/6/01 n 25/6/01
Trang 25Có thể nói giai đoạn này TTCK hoạt động thiếu ổn định, các nhà đầu tưchưa có kinh nghiệm mà chủ yếu đầu tư theo tâm lý số đông, trong khi đó, cácvăn bản pháp luật ban hành chưa đồng bộ để điều chỉnh những hoạt động trênTTCK.
2 Giai đoạn 2: Từ 27/6/2001 đến 15/10/2001
Sau một loạt những nỗ lực can thiệp của UNCKNN, giá chứng khoántrong những phiên giao dịch tiếp theo giảm mạnh Để tránh biến động cho thịtrường do cung cầu chênh lệch, UBCK đã thay đổi biên độ giá từ 7 xuống còn
3%, huỷ bỏ hạn chế lệnh mua bán chứng khoán Kết quả là lượng cầu chứngkhoán giảm mạnh, hầu hết là các lệnh đặt bán Sau 3 tháng, chỉ số VN Indexgiảm mạnh, chỉ còn hơn 200 điểm, 80% nhà đầu tư bị thua lỗ nặng
0 100
Trang 260 100
"ROOM" cho nhà đầu tư nước ngoài, tỷ lệ nắm giữ 20% đến 30%
0 100
Trang 27Đây là giai đoạn thị trường phát triển không có gì đột biến trong khoảngthời gian gần 2 năm Các chính sách vĩ mô đang được hoàn thiện, người đầu tưcũng chưa mặn mà nhiều với thị trường.
0 100