bản tin nghiên cứu khoa học BẢN TIN ĐIỆN TỬ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC RESEARCH BULLETIN SỐ 01 THÁNG 01/2020 VOLUME – JANUARY 2020 LƯU HÀNH NỘI BỘ ® Bản tin này được tổng hợp từ các báo cáo, đề tài nghiên[.]
Trang 1BẢN TIN ĐIỆN TỬ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
RESEARCH BULLETIN
SỐ 01 - THÁNG 01/2020 - VOLUME: – JANUARY 2020
LƯU HÀNH NỘI BỘ
® Bản tin này được tổng hợp từ các báo cáo, đề tài nghiên cứu
định kỳ hàng tháng liên quan đến lĩnh vực kinh tế tài chính – ngân
hàng của các tổ chức quốc tế WB, ADB, IMF, BIS và thông tin kết
quả nghiên cứu của các đề tài cấp nhà nước, cấp ngành của NHNN,
các Bộ, ngành TW của Việt Nam, các thông tin Hội thảo của các
Viện nghiên cứu, trường đại học, ấn phẩm khoa học của các NXB
có uy tín tại Việt Nam phù hợp với quy định pháp luật về báo chí
và bản quyển
® Mọi quan điểm, nội dung trong Bản tin đều được dịch hoặc
căn cứ vào thông tin khoa học chính thống, chỉ có hàm ý cung cấp
thông tin tham khảo mà không phản ánh ý kiến hay quan điểm của
Ban Biên tập cũng như của Viện CLNH Người đọc chỉ nên sử
dụng Bản tin nội bộ như là thông tin tham khảo
khoahocnganhang.org.vn
────
Liên hệ Email:
research.bsi@sbv.gov.vn
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
Địa chỉ:
Tầng 9, tòa nhà 504 Xã Đàn,
quận Đống Đa,
Tp Hà Nội
Trang 2Thực hiện Basel III và
tài trợ cho doanh
Vai trò của giám sát hội đồng quản trị trong quản trị ngân hàng trung ương: Các vấn đề thiết kế pháp
lý chính
Vốn ngân hàng và chi phí vốn cổ phần
Bài viết này xem xét
ảnh hưởng của việc
triển khai Basel III đối
với việc tiếp cận tài
chính của các doanh
nghiệp vừa và nhỏ tại
32 thị trường mới nổi và
các nền kinh tế đang
phát triển Chi tiết
Kể từ cuộc Đại khủng hoảng tài chính, các ngân hàng trung ương (NHTW) đã phải đối mặt với một thách thức nhân ba: kinh tế, trí tuệ và thể chế Chi tiết
Bài viết này thảo luận về các vấn đề pháp
lý quan trọng trong thiết
kế của Giám sát Hội đồng (Board Oversight) tại các ngân hàng trung ương Chi tiết
Sử dụng một mẫu các ngân hàng niêm yết công khai từ 62 quốc gia trong giai đoạn 1991-2017, bài viết điều tra tác động của vốn lên chi phí vốn của ngân hàng Chi tiết
Châu Á học hỏi được
gì từ bài học hội nhập ở
Châu Âu? Chi tiết
Nghiên cứu này gồm
3 lĩnh vực để giúp nâng cao chất lượng phát triển của Trung Quốc:
cải cách thể chế, triết lý phát triển và kế hoạch phát triển năm năm Chi tiết
Trang 3TIỀN VÀ TIỀN KỸ THUẬT SỐ NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG
Tiền là một công cụ tài chính có chức năng như một phương tiện trao đổi, là đơn vị tính toán, tích trữ giá trị, và là tiêu chuẩn thanh toán trả chậm Với chức năng là phương tiện trao đổi, nó cho phép các giao dịch hàng hóa và dịch vụ được hiệu quả hơn, tránh được sự bất tiện của hệ thống hàng đổi hàng Đơn vị tính toán cho phép giá trị của tất cả hàng hóa và dịch vụ được thể hiện trong cùng các tiêu chí chung, do đó làm cho việc so sánh các hàng hóa dịch vụ trở nên dễ dàng và thúc đẩy giao dịch Lưu trữ giá trị đề cập tới bất kỳ tái sản nào mà giá trị của nó có thể duy trì trong tương lai, nhờ đó mà tài trợ được cho việc chi tiêu trong tương lai Ngoài 3 chức năng cơ bản này, tiêu chuẩn thanh toán trả chậm là một chức năng quan trọng bổ sung của tiền do nó cho phép mua hàng hóa và dịch vụ trong hiện tại bằng việc trả nợ trong tương lai Để đáp ứng 4 chức năng này, tiền phải có sức lâu bền, dễ mang theo, phân chia được và khó để làm giả Chi tiết
NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC THÔNG TIN ĐỀ TÀI TRONG NƯỚC
ĐTNH-CS.001/18
Đề tài: Tổng kết kinh nghiệm về kiểm toán nghiệp vụ thanh tra, giám sát tại Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố (Chi tiết)
ThS Lê Quốc Nghị, Vụ trưởng, Vụ Kiểm toán nội bộ, NHNN
ĐTNH.015/18
Đề tài: Sử dụng dữ liệu thay thế (alternative data) trong việc chấm điểm tín dụng đối với khách hàng cá nhân tại các tổ chức tín dụng (Chi tiết)
TS Nguyễn Thị Hiền, Phó Viện trưởng, Viện Chiến lược ngân hàng, NHNN
Trang 4HỘI THẢO KHOA HỌC ẤN PHẨM KHOA HỌC
HỘI NGHỊ CHÍNH PHỦ VỚI CÁC ĐỊA
PHƯƠNG: TẠO ĐỘNG LỰC VÀ KHÍ THẾ MỚI
PHẤN ĐẤU HOÀN THÀNH THẮNG LỢI
NHIỆM VỤ NĂM 2020 (Chi tiết)
TRƯỜNG PHÁI KINH TẾ HỌC ÁO - LƯỢC KHẢO (Chi tiết)
Trang 5VIỆN CHIẾN LƯỢC NGÂN HÀNG – NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 1
BẢN TIN NGHIÊN CỨU QUỐC TẾ
1 Thực hiện Basel III và tài trợ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ: Bằng chứng cho các thị trường mới nổi và các nền kinh tế đang phát triển (Basel III Implementation and SME Financing: Evidence for Emerging Markets and Developing Economies)
Nguồn: WB
Tác giả: Fisera, Boris; Horvath, Roman; Melecky, Martin
Chủ đề nghiên cứu: Nghiên cứu hoạt động của các định chế tài chính
Ngày xuất bản: 02/12/2019
Bài viết này xem xét ảnh hưởng của việc triển khai Basel III đối với việc tiếp cận tài chính của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại 32 thị trường mới nổi và các nền kinh tế đang phát triển Phân tích dữ liệu theo khu vực phong phú, lặp đi lặp lại và dữ liệu bảng giữa ngân hàng - doanh nghiệp theo biện pháp so sánh giữa các điểm khác biệt difference-in-differences setting ) với việc điều chỉnh lựa chọn mẫu, các tác giả tìm thấy tác động tiêu cực ngắn hạn, vừa phải của Basel III lên khả năng tiếp cận tài chính của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Kết quả cho thấy các công ty tiếp cận được tín dụng ngân hàng trước khi triển khai Basel III có thể bị ảnh hưởng ít hơn so với các công ty ngay
từ đầu đã ở ranh giới tài chính toàn diện – các doanh nghiệp chỉ có duy nhất 1 tài khoản ngân hàng Nghiên cứu không tìm thấy các tác động không đồng nhất nào về quy mô hoặc độ tuổi của công ty, vốn hóa ngân hàng hoặc thanh khoản hoặc trên các quốc gia chuyển sang Basel III từ Basel II so với Basel 2.5 Nhìn chung, các điều kiện ban đầu của hệ thống ngân hàng cũng như các quy định tài chính và kinh doanh bổ sung có thể đồng quyết định quy mô chi phí ngắn hạn từ quy định tài chính toàn cầu mới được thực hiện ở các thị trường mới nổi và các nền kinh tế đang phát triển
Tải về toàn văn tại đây
Trở lại trang đầu
2 Ngân hàng trung ương trong thời kỳ thử thách (Central banking in challenging times)
Nguồn: BIS
Tác giả: Claudio Borio
Chủ đề nghiên cứu: Nghiên cứu chính sách tài chính ngân hàng
ra rằng tổ chức này gắn chặt với toàn cầu hóa, vì cả hai đều xuất phát từ cùng một nền tảng: một môi trường trí tuệ và chính trị hỗ trợ một hệ thống mở trong đó các quốc gia tuân thủ các nguyên tắc chung và các chính phủ vẫn duy trì khoảng cách với sự vận
Trang 6VIỆN CHIẾN LƯỢC NGÂN HÀNG – NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 2
hành của nền kinh tế thị trường Điều này cho thấy rằng tương lai độc lập của NHTW cũng gắn liền với tương lai của toàn cầu hóa Bài viết tìm hiểu những cách có thể giúp bảo vệ sự độc lập của NHTW Điểm mấu chốt là thu hẹp khoảng cách kỳ vọng ngày càng tăng giữa những gì NHTW dự kiến sẽ cung cấp và những gì họ thực sự có thể cung cấp Trong bối cảnh đó, nó cũng xem xét và loại bỏ tính hữu ích của các đề án gần đây được đề xuất liên quan đến việc tiền tệ hóa thâm hụt ngân sách có kiểm soát
Tải về toàn văn tại đây
Trở lại trang đầu
3 Vai trò của giám sát hội đồng quản trị trong quản trị ngân hàng trung ương: Các vấn đề thiết kế pháp lý chính (The Role of Board Oversight in Central Bank Governance: Key Legal Design Issues)
Nguồn: IMF
Tác giả: Wouter Bossu; Arthur D P Rossi
Chủ đề nghiên cứu: Nghiên cứu chính sách tài chính ngân hàng
- Ban giám sát giám sát - đảm bảo rằng ngân hàng trung ương được quản lý tốt Đầu tiên, bài viết sẽ bối cảnh hóa vai trò của Hội đồng quản trị đối với cấu trúc pháp lý rộng hơn đối với quản trị ngân hàng trung ương bằng cách coi hình thức giám sát này là một trong những trách nhiệm quyết định cốt lõi của các ngân hàng trung ương Thứ hai, bài viết sẽ tập trung vào một số vấn đề thiết kế pháp lý quan trọng đối với giám sát hội đồng quản trị, bằng cách đối chiếu với các thông lệ hiện tại của 174 ngân hàng trung ương là thành viên của IMF với thực tiễn tư vấn được phát triển trong 50 năm qua
Tải về toàn văn tại đây
Trở lại trang đầu
4 Vốn ngân hàng và chi phí vốn cổ phần (Bank Capital and the Cost of Equity)
Nguồn: IMF
Tác giả: Mohamed Belkhir; Sami Ben Naceur; Ralph Chami; Anis Semet
Chủ đề nghiên cứu: Nghiên cứu chính sách tài chính ngân hàng
Ngày xuất bản: 04/12/2019
Sử dụng một mẫu các ngân hàng niêm yết công khai từ 62 quốc gia trong giai đoạn 1991-2017, bài viết điều tra tác động của vốn lên chi phí vốn của ngân hàng Phù hợp với dự đoán trên lý thuyết rằng nhiều vốn chủ sở hữu trong hỗn hợp vốn dẫn đến sự sụt giảm trong chi phí vốn cổ phần của các công ty, các tác giả thấy rằng các ngân hàng
Trang 7VIỆN CHIẾN LƯỢC NGÂN HÀNG – NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 3
vốn hóa tốt hơn được hưởng chi phí vốn cổ phần thấp hơn Các ước tính cơ bản của nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tài sản của ngân hàng tăng 1 điểm phần trăm làm giảm chi phí vốn chủ sở hữu của nó khoảng 18 điểm cơ bản Kết quả cũng cho thấy hình thức vốn mà các nhà đầu tư đánh giá cao nhất là vốn chủ sở hữu tuyệt đối sheer equity capital); các hình thức vốn khác, chẳng hạn như vốn pháp định cấp 2, ít hơn (hoặc hoàn toàn không) được các nhà đầu tư đánh giá cao Ngoài ra, phát hiện chính
là vốn có tác động ngược chiều đến chi phí nắm giữ cổ phần của các ngân hàng ở cả các nước phát triển và đang phát triển Kết quả của bài viết này cung cấp bằng chứng còn thiếu trong cuộc tranh luận về tác động của yêu cầu vốn cao hơn đối với chi phí tài trợ của ngân hàng
Tải về toàn văn tại đây
Trở lại trang đầu
5 Những con đường khác nhau để hội nhập kinh tế ở Châu Âu và Châu Á (Different Paths to Economic Integration in Europe and Asia)
Nguồn: ADB
Tác giả: Pomfret, Richard
Chủ đề nghiên cứu: Nghiên cứu kinh tế
Ngày xuất bản: 24/12/2019
Châu Âu và Châu Á đã đi theo những con đường rất khác nhau trong hội nhập kinh
tế sau năm 1945 Năm 2000 đã hình thành một liên minh kinh tế với sự di chuyển tự do
về hàng hóa và các yếu tố sản xuất cũng như một đồng tiền chung đối với phần lớn Châu Âu Trong khi đó, các thỏa thuận hội nhập kinh tế hiệu quả đã vắng bóng ở Châu
Á mặc dù các nước ở Đông và Đông Nam Á đã liên kết với nhau hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu (GVCs) Từ năm 2000, các chính phủ các nước Châu Á đã tích cực hơn trong việc đàm phán sâu hơn các hiệp định thương mại trong đó nổi bật là chủ nghĩa khu vực mở Mặc dù có sự khác biệt về chính trị giữa Liên minh Châu Âu và hệ thống các quốc gia Châu Á vẫn còn, chính sách thương mại đối ngoại của Châu Âu và chính sách của nhiều nước Châu Á đang theo hướng mô hình thương mại tự do cùng với việc hợp tác trong thiết lập các quy tắc chung trong các khu vực quan trọng cho hoạt động của GVC (được gọi là các vấn đề WTO+) Kết quả là hội nhập kinh tế sâu rộng hơn ở Châu Âu và Châu Á đối với các quốc gia đang tìm cách hưởng lợi từ toàn cầu hóa Trong khi Châu Á và Châu Âu đang dẫn đầu quá trình này thì vẫn còn nhiều cơ hội cho bất kỳ đối tác nào
Tải về toàn văn tại đây
Trở lại trang đầu
6 Hướng đến mục tiêu phát triển chất lượng cao ở Trung Quốc (Toward Quality Development in the People’s Republic of China)
High-Nguồn: ADB
Tác giả: Gang, Fan và Xiaojing, Zhang
Chủ đề nghiên cứu: Nghiên cứu kinh tế
Ngày xuất bản: 10/12/2019
Trang 8VIỆN CHIẾN LƯỢC NGÂN HÀNG – NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 4
Thúc đẩy cải cách thể chế, thực hành các triết lý phát triển mới và thay đổi cách tiếp cận đối với cách lập kế hoạch năm năm sẽ rất quan trọng đối với Trung Quốc Đối với các kế hoạch 5 năm, nghiên cứu đề xuất một cách tiếp cận từ trên xuống mà theo đó các
cơ quan chính phủ và cơ quan địa phương góp phần vào mục tiêu quốc gia thay vì thực hành đóng khung các kế hoạch tổng thể quốc gia theo mục tiêu riêng của từng đơn vị
Tải về toàn văn tại đây
Trở lại trang đầu
Trang 9VIỆN CHIẾN LƯỢC NGÂN HÀNG – NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 5
NGHIÊN CỨU CHUYÊN SÂU Tiền và tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương
Sayuri Shirai Nghiên cứu của Viện ADB, Ngân hàng phát triển châu Á
Tháng 10/2019
(Kỳ 1)
1 Giới thiệu
Tiền là một công cụ tài chính có chức năng như một phương tiện trao đổi, là đơn
vị tính toán, tích trữ giá trị, và là tiêu chuẩn thanh toán trả chậm Với chức năng
là phương tiện trao đổi, nó cho phép các giao dịch hàng hóa và dịch vụ được hiệu quả hơn, tránh được sự bất tiện của hệ thống hàng đổi hàng Đơn vị tính toán cho phép giá trị của tất cả hàng hóa và dịch vụ được thể hiện trong cùng các tiêu chí chung, do đó làm cho việc so sánh các hàng hóa dịch vụ trở nên dễ dang và thúc đẩy giao dịch Lưu trữ giá trị đề cập tới bất kỳ tái sản nào mà giá trị của nó có thể duy trì trong tương lai, nhờ đó mà tài trợ được cho việc chi tiêu trong tương lai Ngoài 3 chức năng cơ bản này, tiêu chuẩn thanh toán trả chậm là một chức năng quan trọng bổ sung của tiền do nó cho phép mua hàng hóa và dịch vụ trong hiện tại bằng việc trả nợ trong tương lai Để đáp ứng 4 chức năng này, tiền phải có sức lâu bền, dễ mang theo, phân chia được và khó để làm giả
Trong hệ thống tiền đương thời, công chúng, ở đây là các doanh nghiệp và cá nhân, có xu hướng liên hệ tiền mặt (giấy bạc và đồng xu ngân hàng trung ương) với tiền Một ngân hàng trung ương có độc quyền phát hành tiền giấy (tiền định danh – fiat money) và phân phối chúng qua các ngân hàng thương mại Trong khi các đồng xu được phát hành hầu hết bởi chính phủ để bổ sung thêm cho giấy bạc ngân hàng trung ương, trong nhiều trường hợp, chúng cũng được phân phối cho cho công chúng bởi một ngân hàng trung ương thông qua các ngân hàng thương mại Do đó, nghiên cứu này coi cả tiền giấy và tiền xu, hay tiền mặt, là tiền ngân hàng trung ương Ngoài tiền mặt, ngân hàng trung ương phát hành tiền cho các
tổ chức được chỉ định (designated financial institutions), chủ yếu là các ngân hàng thương mại, dưới hình thức là các số dư dự trữ hoặc số dư tài khoản vãng lai,
Trang 10VIỆN CHIẾN LƯỢC NGÂN HÀNG – NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 6
chính là tiền gửi dự trữ Thêm vào đó, NHTW Thụy Điển đã nghiên cứu việc phát hành các tài khoản tiền gửi (deposit accounts) cho công chúng (sáng kiến này sẽ được miêu tả sau trong phần các đề xuất tiền kỹ thuật số NHTW (CBDC))
Phạm vi của tiền hiện nay bao gồm cả tiền của khu vực tư nhân (Hình 1), tiền của khu vực này đang ngày càng quan trọng trong đời sống hàng ngày của chúng ta
và hoạt động của khu vực doanh nghiệp Tiền khu vực tư nhân quan trọng nhất là tiền gửi ngân hàng (bank deposits), chúng có thể được sử dụng để thanh toán qua ATMs, internet banking và/hoặc thẻ ghi nợ Các tài khoản ngân hàng cũng có thể được sử dụng để thanh toán cho các công ty tín dụng thông qua cho phép chúng ghi nợ các khoản thanh toán Các phát triển về ví kỹ thuật số (digital wallets) và các thiết bị phi tiền mặt cho phép thực hiện thanh toán qua các ứng dụng điện thoại thông minh đã thúc đẩy hoạt động thanh toán bán lẻ trở nên nhanh và hiệu quả hơn
Hình 1 Phân loại tiền
Nguồn: Tác giả Thêm vào đó, các loại hình mới của tiền khu vực tư nhân dựa trên công nghệ sổ cái phân tán (DLT) đã xuất hiện trong thập kỷ qua Chúng được gọi là các đồng
xu kỹ thuật số (digital coins), các tài sản mã hóa (cryptoassets), tiền mã hóa
Tiền
Tiền ngân hàng trung ương
Tiền khu vực tư nhân
Tiền gửi ngân hàng (bán lẻ) Tiền mặt (bán lẻ)
Tiền gửi dự trữ (bán buôn)
Tài sản mã hóa (bán lẻ)
Trang 11VIỆN CHIẾN LƯỢC NGÂN HÀNG – NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 7
(cryptocurrencies, encrypted currencies), hay tiền ảo (virtual currencies) Ví dụ đầu tiên và nổi tiếng nhất là bitcoin, thu hút nhiều sự quan tâm trên toàn cầu bởi
nó có tiềm năng đóng vai trò là một công cụ thanh toán mới và, do đó, trở thành một phần của tiền khu vực tư nhân Các ngân hàng trung ương và chính phủ trên toàn cầu không coi các đồng tiền kỹ thuật số này là tiền và đã cảnh báo công chúng thận trọng khi sử dụng vì giá trị của các đồng tiền này biến động cao và,
do vậy có mức độ rủi ro cao; tuy nhiên, họ cũng quan tâm chặt chẽ tới chúng Một
số ngân hàng trung ương đã thử nghiệm phát hành các đồng xu kỹ thuật số của riêng mình, gọi là CBDC, cùng với sáng kiến của Thụy Điển là phát hành các tài khoản ngân hàng cho công chúng
Nghiên cứu này xem xét lại các khái niệm và định nghĩa về tiền thông qua việc phân biệt tiền ngân hàng trung ương và tiền khu vực tư nhân, cũng như làm rõ về
sự phát triển của chúng; đồng thời tóm lược những đề xuất về CBDC gần đây Nghiên cứu gồm 5 phần Phần 2 làm rõ khái niệm và đặc điểm liên quan đến tiền ngân hàng trung ương và tập trung vào hiệu quả hoạt động của tiền mặt và tiền gửi dự trữ tại 4 nền kinh tế chọn lọc (khu vực đồng euro, Nhật, Thụy Điển, và Mỹ) và 2 nền kinh tế mới nổi lớn (Ấn Độ và Trung Quốc) Phần 3 làm rõ khái niệm và đặc điểm liên quan đến tiền khu vực tư nhân Đặc điểm của các đồng tiền
kỹ thuật số cũng được thảo luận trong phần tiền khu vực tư nhân Phần 4 làm sáng
tỏ các chi tiết liên quan đến các đề xuất về CBDC Phần 5 đúc rút tổng kết
2 Hiệu quả hoạt động tiền ngân hàng trung ương
2.1 Khái niệm tiền ngân hàng trung ương
Tiền ngân hàng trung ương đề cập đến nghĩa vụ nợ trong bảng cân đối tài sản của ngân hàng trung ương – chính là, tiền được tạo ra để thực hiện 4 chức năng được
mô tả ở trên Tiền mặt từng là phương tiện thanh toán quan trọng nhất Số lượng tiền xu được phát hành nhỏ hơn rất nhiều so với số lượng giấy bạc ngân hàng trung ương trong lưu thông do đơn vị nhỏ hơn, do vậy các đồng xu chỉ được sử dụng cho các mua bán nhỏ Trong khi đó, sự phát triển của hệ thống ngân hàng
và sự tiến bộ của kỹ thuật đã dẫn tới sự ra đời của hệ thống thanh quyết toán liên ngân hàng khi các ngân hàng thương mại cho vay lẫn nhau Ngân hàng trung ương quản lý thanh quyết toán liên ngân hàng thông qua việc giám sát sự lưu
Trang 12VIỆN CHIẾN LƯỢC NGÂN HÀNG – NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 8
chuyển của các số dư tài khoản tiền gửi dự trữ Số lượng tiền mặt dựa vào khối lượng do công chúng cần, khối lượng này liên quan đến nhu cầu giao dịch (thường được biểu hiện qua tổng sản phẩm quốc nội GDP danh nghĩa), cũng như chi phí
cơ hội (thường là lãi suất tiền gửi mà NHTM trả cho công chúng) Do vậy, NHTW cung cấp tiền mặt thụ động theo nhu cầu NHTW cung cấp cho các NHTM tiền mặt thông qua việc rút một lượng tương ứng từ tài khoản tiền gửi dự trữ của các NHTM; các NHTM sau đó phân phối lượng tiền mặt có được cho công chúng theo nhu cầu thông qua các chi nhánh ngân hàng và/hoặc ATMs
Tiền gửi dự trữ có thể được chia thành dự trữ bắt buộc (required reserves – khối lượng được thiết lập theo hệ thống dự trữ bắt buộc) và dự trữ vượt mức (excess reserves – khối lượng vượt so với dự trữ bắt buộc) Các ngân hàng sử dụng tiền gửi dự trữ để cho vay lẫn nhau trên thị trường liên ngân hàng Trong các thời kỳ bình thường, khi giới hạn dưới hiệu quả có tính ràng buộc, ngân hàng trung ương trả lãi suất (dương) đối với dự trữ vượt mức, mức lãi suất này tạo sàn cho hành lang lãi suất ngắn hạn do thị trường quyết định, trong khi mức trần được hình thành bởi lãi suất tái chiết khấu do NHTW áp dụng khi cho các NHTM vay có tài sản đảm bảo Mức sàn trong lãi suất thị trường có thể được thiết lập vì không có NHTM nào sẵn sàng cho vay ở mức lãi suất thấp hơn mức lãi suất có được từ dự trữ bắt buộc
Cả tiền mặt và tiền gửi dự trữ đều là các công cụ tài chính an toàn nhất và thanh khoản cao nhất do các NHTM nắm giữ, và cùng nhau cấu tạo thành tiền dự trữ (reserve money, còn gọi là tiền cơ sở - base money hay cơ sở tiền – monetary base M0) Tiền mặt được coi là tiền pháp định dùng để thanh toán (legal tender) bởi các chính phủ cho tất cả các loại nợ, phí, thuế và lệ phí công tại các quốc gia tương ứng Giá trị của tiền mặt là ổn định trong một nền kinh tế khi NHTW thực thi chính sách tiền tệ thành công phù hợp với nhiệm vụ ổn định giá cả (hầu hết là
ở mức quanh 2% tại các nền kinh tế tiên tiến) và, do đó, tránh được lạm phát cao hoặc giảm phát nghiêm trọng Giá trị của tiền gửi dự trữ cũng ổn định và tương ứng với tiền mặt theo mối quan hệ một đổi một
2.2 Sự khác biệt giữa Tiền mặt và Tiền gửi dự trữ
Trang 13VIỆN CHIẾN LƯỢC NGÂN HÀNG – NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 9
Mặc dù cả tiền mặt và tiền gửi dự trữ cấu thành nên tiền ngân hàng trung ương, nhưng chúng có các đặc điểm khác nhau (Bảng 1) Ví dụ, tiền gửi dự trữ là tiền
tệ kỹ thuật số (digital currency), chúng sẵn có ở dạng số (digital form), trái ngược
với tiền mặt vật chất, nhìn thấy được Hơn nữa, tiền mặt được sử dụng chủ yếu bởi công chúng (do vậy được gọi là “tiền ngân hàng trung ương bán lẻ”), luôn sẵn có tại mọi thời điểm và có thể sử dụng ở bất kỳ đâu trong nền kinh tế mà nó
có địa vị tiền pháp định chiếm ưu thế Ngược lại, tiền gửi dự trữ chỉ sẵn có với các tổ chức tài chính được chỉ định, chẳng hạn như NHTM (do đó được gọi là
“tiền ngân hàng trung ương bán buôn”) Tiền ngân hàng trung ương bán buôn không nhất thiết sẵn có 24 giờ/ngày hay 365 ngày/năm, phụ thuộc vào hệ thống mạng lưới máy tính do NHTW quản lý Với sự tiến bộ của công nghệ, các NHTW
đã và đang nỗ lực thúc đẩy các giao dịch nhanh hơn và hiệu quả hơn
Bảng 1 Đặc tính chính của Tiền NHTW và tiền khu vực tư nhân
Công chúng
Ẩn danh
Có thể truy vết
Ngang hàng (Peer to Peer)
24h /365 ngày
Lãi suất
Nguồn: Tác giả
Từ góc độ người sử dụng (công chúng), sự khác biệt quan trọng nhất giữa tiền mặt và tiền gửi dự trữ là tiền mặt thì ẩn danh và các giao dịch tiền mặt là không thể truy vết do chúng không thể được theo dõi bởi ngân hàng trung ương phát hành Ngược lại, tất cả các giao dịch dựa trên tiền gửi dự trữ là có thể truy vết theo trật tự chuỗi thời gian, do chúng là hiện diện số hóa của tiền ghi chép lại tất
cả các dấu vết Tiền gửi dự trữ là không ẩn danh, do thông tin về chủ sở hữu khoản tiền trong các tài khoản tương ứng và số lượng được chuyển từ tài khoản này đến tài khoản khác là có đầy đủ đối với NHTW thông qua một đơn vị đăng
ký Thêm vào đó, tiền mặt cung ứng hình thức quyết toán trực tiếp ngang hàng (peer to peer), trong khi tiền gửi dự trữ do NHTW làm trung gian là quyết toán
Trang 14VIỆN CHIẾN LƯỢC NGÂN HÀNG – NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 10
phi ngang hàng Vì tính ẩn danh và không thể truy vết của mình, tiền mặt thường được ưa thích bởi những người muốn đảm bảo sự riêng tư, nhưng thường được
sử dụng cho các hoạt động rửa tiền và bất hợp pháp và các mục đích trốn thuế Chi phí xử lý tiền mặt thường cao hơn khi xem xét không chỉ phí trực tiếp (chi phí về giấy và phí thiết kế để chống làm giả), mà cả các chi phí nhân lực và an ninh liên quan và các dịch vụ thanh toán bởi NHTW, cửa hàng, doanh nghiệp, và
cá nhân
Từ góc độ nhà phát hành (NHTW), sự khác biệt quan trọng nhất giữa tiền mặt và tiền gửi dự trữ là sự hiện diện hay vắng mặt của lãi suất Tiền mặt là một công cụ phi lãi suất, trong khi mức lãi suất dương hoặc âm có thể áp dụng cho tiền gửi dự trữ Lãi suất âm được biết là một công cụ chính sách tiền tệ theo cơ chế giới hạn dưới hiệu quả, ví dụ như đã được áp dụng bởi NHTW Châu Âu ECB, NHTW Nhật Bản, NHTW Thụy Điển NHTW có thể áp dụng lãi suất âm đối với với dự trữ vượt mức, điều này sẽ hiệu quả hơn nếu các NHTM chuyển chi phí gia tăng lên các khoản tiền gửi ngân hàng bán lẻ Điều này chắc chắn sẽ xảy ra khi công chúng không còn sử dụng tiền mặt, tức là chủ yếu sử dụng tiền khu vực tư nhân hay tiền gửi ngân hàng và, do đó, không chắc chắc thay thế chúng cho tiền gửi ngân hàng để tránh mức lãi suất âm
2.3 Hiệu quả hoạt động của Tiền Ngân hàng Trung ương tại các nền kinh
tế tiên tiến và mới nổi
Kết quả hoạt động của tiền NHTW được đánh giá tập trung riêng biệt vào tiền mặt và tiền gửi dự trữ Tiền mặt chắc chắn sẽ gia tăng khi các hoạt động kinh tế (được biểu thị bằng GDP danh nghĩa) gia tăng, phản ánh nhu cầu giao dịch Tiền gửi dự trữ cũng có xu hướng gia tăng khi các hoạt động kinh tế gia tăng Do vậy, nghiên cứu này đo lường tiền mặt và tiền gửi dự trữ bằng tỷ lệ so với GDP để đánh giá xu hướng loại trừ được tác động trực tiếp do các hoạt động kinh tế gia tăng
Hình 2 cho thấy tiền mặt lưu hành ở dạng tỷ lệ so với GDP trong giai đoạn 2000 – 2017 tại các nền kinh tế tiên tiến (khu vực đồng euro, Nhật Bản, Thụy Điển và Mỹ) Tỷ lệ tiền mặt/ GDP tại Thụy Điển đã giảm đều đặn kể từ 2008, cho thấy đây là quốc gia ít tiền mặt nhất trên thế giới
Trang 15VIỆN CHIẾN LƯỢC NGÂN HÀNG – NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 11
Hình 2 Tiền mặt trong lưu thông tại các nền kinh tế tiên tiến (%/GDP)
Thú vị là tỷ lệ tiền mặt/ GDP danh nghĩa của Thụy Điển đã tiếp tục giảm thậm chí cả sau khi chính sách lãi suất âm được áp dụng đối với lãi suất repo, chính là lãi suất ở đó NHTM có thể mượn hoặc gửi tiền tại NHTW trong vòng 7 ngày, từ tháng 2/2015 (-0,1% vào tháng 2/2015, giảm tiếp xuống – 0,25 vào tháng 3/2015, tiếp xuống -0,35% vào tháng 7/2015 và xuống – 0,5% vào tháng 2/2016 trước khi tăng lên -0,25% vào tháng 1/2019 theo lộ trình bình thường hóa) Điều này phả ánh việc thay thế tiền gửi ngân hàng bằng tiền mặt đã không diễn ra ở Thụy Điển
kể cả khi lãi suất âm
Ngược lại, tỷ lệ tiền mặt/ GDP danh nghĩa đã gia tăng theo thời gian tại khu vực đồng euro, Nhật Bản và Mỹ Xu hướng này được duy trì sau khi các chính sách nới lỏng tiền tệ phi truyền thồng được áp dụng nhiều, chính là chính sách nới lỏng định lượng tại 3 nền kinh tế này và chính sách lãi suất âm tại khu vực đồng euro
và Nhật Bản Tỷ lệ tiền mặt/GDP danh nghĩa của Nhật Bản luôn cao hơn tại khu vực đồng euro và Mỹ, cho thấy tiền mặt được sử dụng thường xuyên hơn Nhật Bản làm phương tiện trao đổi và cất trữ giá trị Điều này có thể phản ánh rằng lạm phát tại Nhật vẫn còn khá ổn định ở quanh mức 0% hoặc rơi vào trạng thái
âm nhẹ kể từ cuối những năm 1990s Sự ưa thích tiền mặt của Nhật Bản cũng có thể phản ánh mức lãi suất thấp kéo dài từ khi NHTW Nhật Bản triển khai một loạt các nới lỏng tiền tệ kể từ sau sự đổ vỡ của bong bóng cổ phiếu và bất động
Trang 16VIỆN CHIẾN LƯỢC NGÂN HÀNG – NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 12
sản từ đầu những năm 1990s (xem Shirai 2018a, 2018b) Điều thú vị là tiền mặt đang gia tăng nhanh ở Mỹ, thậm chí sau khi việc bình thường hóa chính sách tiền
tệ được thực hiện từ tháng 12/2015 với sự gia tăng liên tục trong lãi suất dự trữ liên bang
Hình 3 Tiền gửi dự trữ tại các nền kinh tế tiên tiến (% GDP)
Về tiền gửi dự trữ, Hình 3 biểu thị tỷ lệ tiền gửi dự trữ so với GDP trong giai đoạn
2000 – 2017 ở 4 nền kinh tế nói trên Các tỷ lệ này ở cả 4 nền kinh tế gia tăng sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 – 2009, có thể phả ánh các công cụ nới lỏng định lượng được áp dụng khi mà các giới hạn dưới hiệu quả Mỹ hiện tại đối mặt với sự sụt giảm tỷ lệ này do Dự trữ Liên bang bắt đầu giảm lượng tái đầu
tư vào các trái phiếu được mua lại từ tháng 10/2017, sau khi đạt đỉnh vào tháng 10/2014 khi quá trình “thu gọn” hay giảm dần dần lượng mua tài sản tài chính hoàn tất, theo đó lượng tiền gửi dự trữ đạt mức tối đa khoảng 2,8 nghìn tỷ USD ECB bắt đầu mua ròng tài sản tài chính từ tháng 6/2014 và tung ra chương trình mua tài sản quy mô lớn vào tháng 3/2015, nhưng hoàn tất việc mua ròng vào tháng 12/2018 sau quá trình thu gọn Từ năm 2019, một chiến lược tái đầu tư toàn
bộ sẽ được duy trì để quy mô bảng cân đối tài sản của ECB vẫn duy trì như cũ Thụy Điển thực hiện nới lỏng định lượng trong giai đoạn 2015 – 2017 và kể từ
đó tiếp tục thực hiện một chiến lược tái đầu tư toàn bộ để duy trì mức nắm giữ
Trang 17VIỆN CHIẾN LƯỢC NGÂN HÀNG – NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 13
trái phiếu chính phủ của mình Do đó, hiện tại, NHTW Nhật Bản là NHTW duy nhất trong số các nền kinh tế tiên tiến tiếp tục mua lại tài sản và do đó mở rộng tiền gửi dự trữ và bảng cân đối tài sản, mặc dù tốc độ mua ròng đã sụt giảm đáng
kể sau khi chuyển từ kiểm soát cơ sở tiền tệ sang kiểm soát đường cong lợi suất vào tháng 9/2016
Hình 4 Tiền mặt trong lưu thông tại Trung Quốc và Ấn Độ (% GDP)
Trong trường hợp các nền kinh tế mới nổi (Ấn Độ và Trung Quốc), HÌnh 4 cho thấy tỷ lệ tiền mặt/GDP danh nghĩa cho giai đoạn 2000 – 2017 Các tỉ lệ này ở 2 nền kinh tế không tăng lên như quan sát thấy ở khu vực đồng euro, Nhật Bản và
Mỹ, mặc dù lượng tiền mặt trong lưu thông đã tăng nhanh cùng với mức GDP danh nghĩa, phản ánh nhu cầu giao dịch Đặc biệt, xu hướng sụt giảm trong tỷ lệ này ở Trung Quốc là đáng chú ý, điều này chắc chắn phản ánh sự dịch chuyển tiền của công chúng từ tiền mặt sang tiền gửi ngân hàng hoặc các công cụ thanh toán phi tiền mặt khác cùng với sự phát triển sâu hơn của hệ thống ngân hàng và
sự gia tăng trong số lượng người gửi tiền ở NHTM Sự sụt giảm mạnh trong tỷ lệ này ở Ấn Độ năm 2016, trong khi đó, lại phản ánh sự sụt giảm tiền mặt tạm thời sau khi chính phủ đột ngột triển khai cải cách tiền tệ Chính phủ Ấn Độ cấm tiền mệnh giá 100 rubi và 500 rubi, thay vào đó đưa ra đồng tiền 500 rubi mới và phát hành tiền mệnh giá 2000 rubi lần đầu tiên Cải cách tiền tệ này nhằm chống tham nhũng và các hoạt động rửa tiền/phi pháp, nhưng đã làm gián đoạn nghiêm trọng