ĐỀ CƯƠNG MÔN TÂM BỆNH HỌC Câu 1 Rối loạn ngôn ngữ là gì?Có các loại rối loạn ngôn ngữ nào ở trẻ mầm non? Nêu biểu hiện, nguyên nhân và cách chữa trị các rối loạn nói lắp và chậm ngôn ngữ nhẹ? Trả lời Rối loạn ngôn ngữ là tình trạng một người gặp vấn đề khó khăn trong việc trao đổi thông tin, giao tiếp với mọi người xung quanh bằng lời nói Người bệnh có thể nói khó, nói ngọng, khó trình bày mong muốn bản thân, không hiểu lời nói, Dạng rối loạn này thường xảy ra ở 2 nhóm đối tượng chính đó là đối.
Trang 1ĐỀ CƯƠNG MÔN TÂM BỆNH HỌC Câu 1: Rối loạn ngôn ngữ là gì?Có các loại rối loạn ngôn ngữ nào ở trẻ mầm non? Nêu biểu hiện, nguyên nhân và cách chữa trị các rối loạn nói lắp và chậm ngôn ngữ nhẹ? Trả lời:
- Rối loạn ngôn ngữ là tình trạng một người gặp vấn đề khó khăn trong việc trao đổi
thông tin, giao tiếp với mọi người xung quanh bằng lời nói Người bệnh có thể nói khó, nói ngọng, khó trình bày mong muốn bản thân, không hiểu lời nói,…
- Dạng rối loạn này thường xảy ra ở 2 nhóm đối tượng chính đó là đối tượng trẻ em dưới
5 tuổi và những bệnh nhân gặp phải bệnh lý hay tổn thương não bộ
- Các dạng rối loạn ngôn ngữ:
+ Rối loạn nói rành mạch
+ Nói ngọng
+ Nói lắp
+ Rối loạn ngôn ngữ nhẹ
+ Loạn ngôn ngữ nặng Câm không điếc
- Các biểu hiện, nguyên nhân và cách chữa trị các rối loạn nói lắp và chậm ngôn ngữ nhẹ
+ Nói lắp là một rối loạn về nhịp và lưu lượng nói cùng với không dự kiến trước được lời nói khi trẻ nói Thường xuất hiện từ 4 tuổi, ở trẻ trai (75%) nhiều hơn trẻ gái
Có các dạng nói lắp:
Nói lắp co cứng: việc phát ra âm thanh bị ngắt, có những biểu hiện cảm xúc và vận mạch đi kèm theo còn gọi nói lắp một âm của âm tiết
Nói lắp co giật: nhắc lại nhiều lần, nổ ra một tâm tiết, thường là vào đầu của một câu còn gọi là nói lắp một âm tiết hoặc lắp 1 đoạn của phát ngôn
Hai dạng này có thể kết hợp lại với nhau tạo thành nói lắp Thêm một âm tiết, một phát ngôn bất thường, hoặc dừng bất thường khi đang nói
Ví dụ: “sáng nay xong thế là con không đi học ạ”, “sáng nay con không đi học ạ”
Rối loạn có thể được hình thành dần dần không có căn nguyên rõ rệt hoặc là tiếp sau những sự kiện gây chấn thương trong cuộc sống của trẻ
Sự tiến triển tự nhiên của nói lắp rất khác nhau Tần số nói lắp thay đổi theo thời gian Căng thẳng làm nặng thêm nói lắp Nhìn chung, nói lắp giảm dần trước tuổi thiếu niên nhưng đôi khi kéo dài cho đến lớn và làm ảnh hưởng đến các quan hệ xã hội
Những trẻ nói lắp thường có nhân cách xung động, lo âu và lo hãi dù là cách phản ứng bằng nói lắp được đánh giá cao hơn những phản ứng khác
Biểu hiện:
Nói lắp có thể biểu hiện khác nhau ở mỗi người và tình trạng nói lắp của từng người có thể trông có vẻ và nghe có vẻ khác nhau
Các triệu chứng thường gặp khi bị nói lắp là:
Khi nói một từ, một câu hay một đoạn cảm thấy rất khó khăn
Trang 2 Kéo dài một từ hoặc phát âm từ đó quá lâu.
Ví dụ: “ s ss ssss sáng nay con không đi học ạ”
"Tôi tê-ê-ê-ê-ê-ê-ên là Nguyễn văn X"
Thường hay phát ra từ “um” nếu đang chuẩn bị nói một từ khó phát âm tiếp theo
Căng cứng cả mặt, cổ và người để phát âm được một từ nào đó
Đang nói có thể ngắt, nghỉ ở bất kỳ vị trí nào của phát ngôn: ở âm đầu từ, nhắc lại một từ, nhắc lại một đoạn hoặc nghỉ lấy hơi giữa chừng
Ví dụ: “sáng sáng sáng nay con không đi học ạ”
“sáng nay sáng nay sáng nay con không đi học ạ”
"Tôi tên là Nguyễn Văn X
Hay lo lắng khi đang nói chuyện
Hạn chế trong giao tiếp
Khi nói lắp có thể kèm theo các cử chỉ: Chớp mắt liên tục, rung hàm, rung môi, giật cơ mặt, co giật phần đầu, nắm chặt tay lại,
Tình trạng nói lắp trở nên tồi tệ hơn khi người bệnh cảm thấy mệt mỏi, lo lắng, áp lực, thiếu tự tin đối với bản thân, nói chuyện với người lạ; tuy nhiên khi nói chuyện với bản thân hoặc một người bạn thân thiết thì người bệnh lại nói chuyện bình thường trôi chảy
Nguyên nhân
Có yếu tố dễ tổn thương có tính di truyền
Trẻ chậm nói có rối loạn về tổ chức tư duy lời nói
Thói quen từ giai đoạn học nói: nói lắp từ nhỏ không được chỉnh sửa, biến thành thói quen nói lắp ở tuổi trưởng thành
Chấn thương sơ sinh: Đối với những ca sinh khó phải dùng forceps kẹp vào đầu thai nhi để lôi
ra khỏi bụng mẹ hoặc với trẻ nhỏ bị ngã va đầu vào vật cứng gây tổn thương vùng ngôn ngữ Broca Các yếu tố trên ảnh hưởng nhất định lên khả năng ngôn ngữ của trẻ
Bệnh nhân mắc phải một bệnh ở não bộ hoặc màng não như viêm não, viêm màng não, sau khi điều trị khỏi đã để lại di chứng ở vùng ngôn ngữ
Cho đến nay những nghiên cứu về lĩnh vực thần kinh học chưa làm rõ được nguyên nhân đủ sức thuyết phục
Nói lắp thường được gắn với những xung đột nhiễu tâm,
Nói lắp như là một biểu hiện bệnh lí về ngữ âm (nghe kém, cử động miệng khó, dị tật của cơ quan phát âm ) Nó chắc chắn có liên quan với một đặc trưng về tư duy lời nói nhưng tính chất tâm bệnh lí còn chưa rõ
Chữa trị
Thường là chữa trị phối hợp giữa chỉnh âm và tâm vận động Những chữa trị này phải được làm ngay sau khi nói lắp nặng lên và dùng nhiều kĩ thuật
Trị liệu tâm lí được chỉ định tùy theo các nét nhiễu tâm và không được chữa trị chuyên nhất về triệu chứng
Cha mẹ nên:
1 Tạo hoàn cảnh thư giãn trong gia đình để trẻ không có cảm tưởng bị hối thúc khi muốn nói điều gì
Trang 32 Nói chuyện với trẻ chậm rãi Trẻ sẽ học cách nói này và dễ tìm ra từ ngữ trước khi phát âm
3 Tránh nói giùm cho hết câu - kiên nhẫn chờ cho trẻ tìm ra chữ và khen ngợi sau đó
4 Tránh đòi hỏi trẻ "biểu diễn nói" với người khác
5 Tránh làm trẻ bị xấu hổ
6 Tránh la rầy hay chê cười
7 Chịu khó chăm chú nghe trẻ nói
8 Nếu trẻ bị lắp nên bàn thật lòng về vấn đề - đừng tránh né sự thật
Câu 2: các cách phòng ngừa rối loạn tâm lí của trẻ em lứa tuổi mầm non dùng cho cha mẹ và giáo viên?
Trả lời:
- Phòng ngừa trong tâm bệnh học trẻ em được hiểu là những cách thức mà xã hội, người lớn dùng để ngăn ngừa, chống lại sự xuất hiện và phát triển của những bệnh, rối loạn về tâm lí ở trẻ em
- Có ba mức độ phòng ngừa
Mức thứ nhất: giáo dục, thông tin, thu xếp môi trường sống của trẻ em
Mức thứ hai: thông qua những chẩn đoán sớm và chữa trị các triệu chứng ban đầu, cố gắng tránh sự phát triển bệnh về tâm trí ở trẻ em
Mức thứ ba: khi tâm bệnh đã phát triển thì ngăn cản không cho bệnh nặng lên bằng các cách chữa trị hiệu quả nhất
- Để phòng ngừa các rối loạn tâm lý cho trẻ lứa tuổi mầm non một cách có hiệu quả, thiết thật nhất thì cần phải có sự kết hợp đồng bộ và thống nhất giữa nhà trường, giáo viên và gia đình trẻ
* Gia đình:
+ Gia đình giữ vai trò cơ bản đối với sự phát triển bình thường hay bệnh lí của trẻ em Vì vậy, phòng ngừa từ gia đình là rất quan trọng
+ Nâng cao hiểu biết về tâm bệnh trẻ em bằng cách tìm hiểu các vấn đề có liên quan đến rối nhiễu tâm lí ở trẻ em như sách, báo, đài truyền hình, internet
+ Khi biết mình có thai cần có chế độ dinh dưỡng phù hợp để thuận lợi cho sự phát triển bình thường về mặt thể chất của thai nhi, tránh sử dụng thuốc bừa bãi, tránh dùng các chất có thể ảnh hưởng đến thai nhi
+ Tránh những buồn khổ, lo âu, căng thẳng thái quá và kéo dài khi đang mang thai
Trang 4+ Có thái độ sẵn sàng đón nhận trẻ ngay từ khi trẻ chưa chào đời và nhất là khi trẻ ra đời, thậm chí cả khi bé không như gia đình mong đợi về tình trạng sức khỏe cũng như về hình dáng bên ngoài
+ Khi trẻ ra đời, cha mẹ và gia đình tạo điều kiện thuận lợi nhất có thể về mặt vật chất và môi trường sống cho trẻ
+ Thiết lập quan hệ tình cảm tốt giữa cha mẹ và bé
+ Tránh xung đột lâu dài giữa cha và mẹ Tạo cho trẻ môi trường tâm lí - tình cảm hài hòa
+ Tránh thái độ độc đoán, chuyên quyền một cách cực đoan Phải biết quan sát và lắng nghe các diễn biến, bộc lộ tâm lí của trẻ Cha mẹ cần nhận biết sớm những bất thường trong tính cách và hành vi của con mình và kịp thời đưa trẻ đến các cơ sở chuyên môn để có những tư vấn và chữa trị thích hợp
+ Khi nhà chuyên môn xác định trẻ có biểu hiện rối loạn tâm lí, cha mẹ cần có thái độ bình tĩnh, kiên trì và kết hợp tốt với nhà chuyên môn để hiệu quả can thiệp, chữa trị cho trẻ cao
* Giáo viên
+ Giáo viên mầm non là những nhà giáo dục tiếp xúc sớm nhất với trẻ sau gia đình của
bé Hiểu biết và ứng xử của giáo viên mầm non có ý nghĩa lớn đối với việc phát hiện và tư vấn cho cha mẹ cách ứng xử cần thiết khi giáo viên nhận thấy trẻ có biểu hiện bất thường về tâm lí
để có thể cùng với gia đình phòng ngừa rối loạn tâm lí ở trẻ phát triển
+ Quan sát trẻ trong các hoạt động hàngngày ở trường mầm non, chú ý đến đặc điểm hành vi và cảm xúc của trẻ
+ Người giáo viên quan tâm đến hành vi của trẻ sẽ nhận ra đặc điểm biểu hiện đời sống tâm lí bình thường hay không của trẻ
+ So sánh các hành vi, biểu hiện cảm xúc giữa trẻ này và trẻ khác cùng độ tuổi
+ Những trẻ em cùng độ tuổi có những đặc điểm chung của lứa tuổi Những trẻ có bất thường về tâm lí sẽ có những biểu hiện bất thường, đặc biệt về nhận thức, tình cảm, giao tiếp
so với những trẻ khác cùng độ tuổi Cần phân biệt những nét riêng của từng trẻ tạo nên bản sắc
cá nhân và những cái không bình thường Nếu có kiến thức về tâm lí học trẻ em và tâm bệnh học, người giáo viên sẽ phân biệt được những khác biệtnày
+ Phát hiện kịp thời, từ đó có ứng xử thích hợp
Câu 3: các biểu hiện, nguyên nhân và cách chữa trị các rối loạn tăng động giảm chú ý ở trẻ em lứa tuổi mầm non
Trả lời:
- Rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD) là một rối loạn đặc trưng bởi sự vội vàng,
hiếu động thái quá và giảm chú ý thường được chẩn đoán ở trẻ em nhưng các triệu chứng rối loạn tăng động giảm chú ý có thể tiếp tục đến tuổi thiếu niên và tuổi trưởng thành
Có ba dạng rối loạn tăng động giảm chú ý:
- Hiếu động-bốc đồng
- Không chú ý
Trang 5- Kết hợp hiếu động, bốc đồng và giảm chú ý.
Rối loạn tăng động giảm chú ý là một trong những rối loạn thường gặp nhất ở trẻ em
- Các biểu hiện:
+ Tìm cách thỏa mãn ngay lập tức các ý muốn của bản thân. - Tay chân ngọ nguậy, ngồi không yên.
- Thường rời bỏ chỗ ngồi trong lớp học hoặc trong các tình huống đòi hỏi phải ngồi yên
- Thường chạy nhảy hoặc leo trèo quá mức trong những tình huống không thích hợp
- Thường khó tham gia những trò chơi hoặc hoạt động giải trí cần phải giữ yên lặng
- Thường luôn di chuyển hoặc hành động như thể “đang lái môtô”
- Thường nói quá nhiều
+ Không thể duy trì chú ý để thực hiện nhiệm vụ, kể cả nhiệm vụ rất được quan tâm, hứng thú + Không thể ức chế, trì hoãn những phản ứng có tính xung động đối với kích thích
+ Giảm khả năng điều khiển chú ý
Đặc trưng của trẻ là giảm chú ý, tăng động và xung động, thiếu kiềm chế Có trẻ giảm chú ý chiếm ưu thế, có trẻ tăng động, xung động chiếm ưu thế, có trẻ rối loạn hỗn hợp
1 Hiếu động thái quá
- Trẻ hoạt động không ngừng nghỉ và ngủ rất ít
- Luôn ngọ nguậy, không thể ngồi yên Hay chạy nhảy hoặc leo trèo quá mức
- Nói quá nhiều, thích quấy rầy hoặc phá đám trong các trò chơi, cuộc trò chuyện của bạn bè và thường trả lời xong trước khi người khác đang hỏi
2 Bốc đồng trong hành động, khó kiềm chế cảm xúc
- Trẻ có thể có những hành động vượt ra khỏi tầm kiểm soát, chẳng hạn như kéo tóc, la hét, đánh bạn hoặc cáu giận, tấn công bất ngờ ngay cả khi cha mẹ ôm ấp chúng
3 Thiếu tập trung, giảm chú ý
- Trẻ rất dễ bị phân tâm và không chú ý khi đang chơi hoặc khi ngồi trong lớp học
- Thường không chú ý đến chi tiết, hay mắc lỗi do bất cẩn, dễ bị thất lạc đồ chơi, dụng cụ học tập
- Không lắng nghe khi đang nói chuyện với người khác, không tuân theo những gì mà cha mẹ hay thầy cô hướng dẫn, do vậy mà việc học hành luôn bị chểnh mảng
4 Giảm khả năng tư duy bộ nhớ trong thời gian ngắn
- Đôi khi trẻ không thể nhớ nổi một hình ảnh, một nhóm từ ngữ hay một lời giải cho bài tập về nhà hoặc không thể hoàn thành quy trình đòi hỏi phải ghi nhớ theo trình tự Ngược lại, chúng vẫn có thể tập trung chú ý vào những hoạt động không cần phải dùng đến bộ nhớ như xem truyền hình, trò chơi trên máy tính hoặc chơi thể thao
5 Không có khả năng quản lý thời gian
- Trẻ mắc chứng tăng động giảm chú ý sẽ khó khăn trong quản lý thời gian do đó không thể hoàn thành nhiệm vụ đúng hạn
6 Thiếu khả năng thích nghi
- Trẻ sẽ rất khó khăn để thích ứng với mọi thay đổi dù chỉ là một thói quen nhỏ như thức dậy vào buổi sáng, ăn món mới hoặc ngay cả việc mang giày, đi ngủ đúng giờ
- Bất kỳ một sự thay đổi nào đó cũng có thể gây một phản ứng tiêu cực dù tâm trong của trẻ đang rất tốt Đặc biệt trẻ có thể lên cơn giận dữ khi sự thay đổi đó đến bất ngờ và không theo ý muốn
7 Thường xuyên khó ngủ
Trang 6- Theo một nghiên cứu cho thấy, có tới 63% trẻ em mắc chứng tăng động bị khó ngủ bởi chúng rất nhạy cảm với âm thanh, tiếng động xung quanh, chính điều này đã khiến chúng thường xuyên bị mất ngủ, gây ảnh hưởng rất nhiều đến những sinh hoạt ban ngày
- Nguyên nhân:
+ Hiện nay y văn thế giới vẫn chưa có đủ thông tin về nguyên nhân gây ra bệnh rối loạn tăng động giảm chú ý Tuy nhiên, các nhà khoa học tin rằng rối loạn này có thể liên quan tới các hóa chất trong não Khi các hóa chất trong não mất cân bằng có thể ảnh hưởng đến hành vi của người bệnh
+ Một số các yếu tố sau có thể làm tăng nguy cơ mắc ADHD bao gồm:
+ Di truyền học: ADHD có tính chất di truyền trong nhiều gia đình và các nghiên cứu đã chỉ ra gen có thể là một yếu tố gây bệnh
+ Môi trường sống: Một số yếu tố môi trường cũng có thể làm tăng nguy cơ, chẳng hạn như tiếp xúc với chì khi còn nhỏ
Tiếp xúc với một số độc chất trong thời kỳ mang thai: như thuốc lá, rượu, ma túy, vì những chất này làm giảm sản xuất dopamine ở trẻ em hoặc các độc chất trong môi trường như dioxine, hydrocarbure benzen…cũng làm tăng nguy cơ trẻ sinh ra bị tăng động, kém tập trung, chậm nói + Vấn đề trong quá trình phát triển: Xảy ra các vấn đề với hệ thống thần kinh trung ương tại các thời điểm quan trọng cũng là yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh
Tai biến lúc sanh: như sanh non tháng, thiếu oxi lúc sanh( bị ngạt) làm ảnh hưởng đến sự
phát triển trí não của trẻ
* Trẻ bị ngã (té), đánh gây chấn thương đầu, nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương, có rối loạn giấc ngủ (ngủ nhiều quá hoặc khó ngủ)…
- Cách chữa trị:
Việc chữa trị chủ yếu thuộc về giáo dục ở gia đình, nhà trường và xã hội (bác sĩ, chuyên gia tâm lý)
+ Làm việc với cha mẹ
trẻ tiến bộ tích cực nhất khi cha mẹ tích cực tham gia vào trị liệu
Cha mẹ dành nhiều thời gian bên cạnh trẻ hơn là trị liệu: có thể đưa ra các can thiệp ngay lập tức khi hành vi không thích nghi xảy ra
Cha mẹ là người quan trọng nhất trong cuộc đời của trẻ
Cha mẹ có khả năng hỗ trợ lâu dài
- Dành thời gian chơi với trẻ:
Tất cà mọi người đều mong muốn được khen ngợi và chú ý
Mọi người cảm thấy vui hơn và làm việc chăm chỉ hơn khi được khen ngợi
Hằng ngày cha mẹ dành khoạng 15-20 phút cố định thời gian chơi với con không ngắt quãng và sao nhãng
Các hoạt động do trẻ tự chơi nhưng tránh các hoạt động như xem tivi, xem điện thoại, đọc sách,
…
Mục đích: tăng cường sự chú ý của cha mẹ đến con cái; tăng mối quan hệ giữa cha mẹ và con qua hoạt động chơi; dạy cho cha mẹ chú ý đến các hạnh vi tích cực của trẻ, phớt lờ các hành vi tiêu cực của trẻ ờ mức độ nhẹ
Trang 7Khi trẻ chơi cha mẹ cần mô tả lại liên tục các hành vi của trẻ đang thực hiện như: con đang ăn, D9ia62u này cho thấy cha mẹ đang chú ý và thích thú với những gì trẻ làm; trẻ rất thích các hoạt động này cùa cha mẹ
Điều không nên làm: không nên chỉ dẫn; không nên hỏi trẻ; không chỉ trích; không nên nói trẻ “ không nên làm, “không được làm, “ nên dừng lại”,…
- Khen ngợi:
Chú ý đến những lúc trẻ ngoan: chú ý đei62u tích cực hơn là điều tiêu cực đồng thời nhìn nhận khi không có các hành vi tiêu cực là việc làm xuất sắc
Đôi khi cha mẹ nghix trẻ cư xử sai vì lẽ đó dây là cách các bat65c cha mẹ áp dụng kỹ năng chú
ý đến con hiệu quả nhất
Cách khen ngợi trẻ: gần gũi trẻ và đê ý đến những hành vi tốt; khi chỉ dẫn, cần phại dừng lại xem các nhiệm vụ trẻ đả hoàn thành chưa và khen ngợi trẻ kịp thời; khen ngay khi trẻ thực hiện xong hành vi tốt; khen một cách cụ thể
- Chủ động phớt lờ
Không chú ý đến các hành vi sai, mà chỉ chú ý đến hành vi đúng của trẻ
Chúng ta không phớt lờ trẻ mà chỉ phớt lờ các hành vi không (chưa) đúng của trẻ
- Chỉ dẫn hiệu quả
Cần chỉ dẫn một cách “hạn chế”: khi cần thiết, quan trọng mới thực sự chỉ dẫn trẻ; khi cha mẹ mong muốn thấy công việc cần được hoàn thiện ngay lúc đó
Khi chỉ dẫn cần chú ý đến cách trình bày lời nói và từ cho trẻ dễ hiễu, đễ tiếp thu
Cách thức làm chĩ dẫn trẻ nên hiệu quả: chỉ nói khi bạn thực sự muốn điều đó; cja81c chắn con bạn chú ý-đến, chạm vào, nhìn; rõ ràng trẻ có thể nhắc lại
Khi đưa ra các chỉ dẫn cần lưu ý: có thời gian 3-5s thực hành việc đưa ra chỉ dẫn khoãng 2-3l/ ngày; cha mẽ đưa ra các yêu cầu đơn giản: đua mẹ cuốn sách,…; đua ra các chỉ dẫn hợp lý: cha
mẹ thực hành chỉ dẫn hiệu quả, cham mẹ thực hành để ý lúc con nghe lời và khen ngợi; trẻ trài nghiệm được củng cố khi vâng lời
- Thưởng:
Sử dụng những củng cố tích cực đề thay đồi hành vi của trẻ
Là động lực quyền năng; thuận tiện và tức thời; duy trì hiệu quà và giá trị; hệ thống, có tổ chức
và công bằng; tăng sự chú ý của cha mẹ với các hành vi phù hợp
Lỗi khi đặt phần thưởng: đặt giới hạn quá cao: các hành vi được thưởng đều quá khó, phài làm nhiều hành vi mới nhận được thưởng; phần thưởng bị trì hoãn; không bền: quá đắt, tốn nhiều thời gian mới có; điểm thương bị lấy đi: trẻ không có gì thì không có gì đề mất
Cách đặt thưởng: chọn 1-3 hành vi đề thường, rõ ràng, cụ thề; điềm được quy đổi, hình dán, mặt cười hoặc các phần thưởng nhò ngay lập tức khi thực hiện hành vi này; điềm quy đồi thành phần thưởng cụ thể; luôn tạo hứng thú và cảm xúc tích cực; sự tham gia của trẻ; tạo danh mục các hành vi được thưởng; xác định thời điềm cho các hành vi, việc nhà và các phần thưởng;các loại tính thường khác nhau: điềm, hình dán, mặt cười, ; lập danh sách phần thưởng: thương đồ vật, hoạt động; ưu tiên cái không mất tiền; nên cho trẻ đưa ra các ý tưởng trước sau đó là cha mẹ
- Khoảng lặng: cách lý khỏi mọi củng cố tích cực
Từ củng cố đến hình phạt: xem xét lý do các hình thức phạt lại có tác dụng củng cố tiêu cực Khoảng lặng là một quá trình thống nhất và được dự báo đề quản lý những hành vi không vâng lời
Trang 8Khi trẻ biết chính xác những gì đang chờ đợi sau khi chỉ dẫn đưa ra, xu hướng tuân thủ sẽ tăng lên cũng như cảm giác an toàn
Việc tạo khoảng lặng sẽ: giàm hành vi tiêu cự; nhẹ nhàng và an toàn hơn bất cứ dạng kỷ luật nào mà cha mẹ thường dùng; thông báo các hậu quả có thể dự đoán trước với những hành vi xấu; cho phép cha mẹ có cơ hội nguôi giận; cha mẹ có thể nói họ đã thử cách thức này trước đây nhưng sự thành công của kỹ thuật này phụ thuộc vào cách thức tiến hành và sự kiên quyết khi sử dụng nó
- Luyện tập sự tuân thủ
Đua ra các chỉ dẫn: con hãy nhặt đồ chơi av2 xếp lên giá (im lặng 5s)
Cành báo: nếu con không nhặt đồ chơi và xếp lên giá, con sẽ bị phạt thời gian lặng đợi 3s
Thực hiện khoảng lặng: vì con không làm như mẹ con sẻ bị thời gian lặng
Các bước tiến hành:
Vì con không…
Cha mẹ dưa trẻ đến chỗ quy định cho khoảng lặng: cha mẹ tuyệt đối không nói với trẻ khi thực hiện khoảng gian lặng
Trẻ ngồi ờ ghế quy định cho thời gian lặng trong x giây
Cha mẹ phới lờ đi sợ tồn tại của trẻ:
Sau x giây, cha mẹ ra chỗ trẻ và đưa trẻ về hiện trạng cũ
Cha mẹ yêu cầu trẻ lại lần nữa
Các bước lặp lại cho đến khi trẻ nghe lời
Khi nào xử dụng khỏang lặng: những cư xử sai ở mức độ nhẹ; bắt đầu với 1- 2 hành vi
Những lõi thường gặp: quá lâu: địa điểm: không nên ờ phòng ngủ, xem tv hoặc chỗ mọi ng nói chuyện; cho phép trẻ tự quyết định lúc hết thời gian lặng; xử lý khi đã sử dụng mà không hiệu quả: trừng phạt kép
- Phạt:
Mất đi quyền lợi: thời gian xem tivi, chơi game, không được chơi với bạn sau giờ học
Những nhiệm vụ khó chịu: phài làm thêm việc nhà, nhưng để điểu này hiệu quà thì những hành
vi đưa ra phải thực sự được mong được; gia đình phải thật thống nhất các quy tắc
Hình phạt co1 hiệu quả khi:
Những sai lầm khi đua ra các hình phạt
Trang 9+ Giáo viên hỗ trợ con bạn
- Chiến lược tăng cường hành vi tích cực ở trường
- Sử dụng bảng báo cáo hàng ngày
+ Ngoài ra còn:
- Võ thuật
- Thiền
- Hoạt động thể thao…
Khi đã ở trong trạng thái rối loạn này, trẻ thuờng có những mặc cảm về bản thân mình, mình là đứa bé chẳng đựơc ai yêu tất cả những gì bé phải trải qua trong quá trình giao tiếp với người khác dễ đẩy bé đến trạng thái thu mình, dần dà những ý niệm về bản thân của bé sẽ bị chuyển
về chiều hướng tiêu cực Trong khi đó gia đình cha mẹ thì lại quá mệt mỏi và căng thẳng, dẫn đến việc có thể có những sự cáu giận ngoài mong muốn với trẻ, tất cả những điều này đẩy trẻ và
cả gia đình vào vòng luẩn quẩn Sự bình tĩnh chấp nhận để tìm ra lối hành xử đúng là thái độ lý tưởng cần có của cha mẹ và những nguời thân, bạn hãy làm cho trẻ cảm thấy tình yêu thương
Trẻ hiếu động đặc biệt cần một sự đều đặn trong sinh hoạt hàng ngày như người chăm sóc, giờ giấc ăn ngủ Nếu có điều kiện, cha mẹ nên chỉ để cho bé đến trường MG nửa ngày, nửa ngày còn lại nên để dành cho những giáo dục cá nhân tại gia đình
Tránh môi trường quá ồn ào, tránh nói quá to với bé, tránh quát tháo ầm ĩ làm cho bé sợ, tránh
sự kích động của những trò chơi, phim ảnh mang tính chất bạo lực hoặc có thể có tác động quá mạnh với bé, tránh để bé xem vô tuyến hoặc tiếp xúc nhiều với máy tính
Tránh việc giáo dục mang tính chất tập thể, mỗi người nói một câu, khi nào nói với bé cũng chỉ nên một người nói
Trang 10Chú trọng việc giao tiếp mắt - mắt, có nghĩa là khi bạn cần nói với bé điều gì, tốt nhất là đến trước mặt bé, bạn có thể cúi xuống hoặc đặt bé lên cao để bạn có thể nhìn thẳng được vào mắt
bé, nói nhẹ nhàng và rõ ràng, nên sử dụng câu ngắn và dễ nhớ, bạn có thể yêu cầu bé nhắc lại để xem bé đã thực sự hiểu điều bạn nói chưa
Khi bé trở nên quá hiếu động, không nghe lời bạn nói, bạn nên ôm bé vào lòng, vuốt nhẹ dọc sống lưng bé, chờ bé vượt qua cơn kích động rồi hãy nói chuyện với bé
Trước khi ngủ nên tập cho bé thư giãn nhẹ nhẹ, xoa người cho bé, đặc biệt là dọc hai bên lưng
để giúp bé ngủ say và sâu hơn
Đồ chơi và trò chơi, cần tránh những trò chơi mang tính chất kích động, cha mẹ nên sắp xếp để
bé có một góc chơi riêng yên tĩnh trong nhà, dù là rất nhỏ Còn nếu có điều kiện, bạn nên cho bé một phòng rộng rãi để ngoài chơi bé có thể chạy nhảy một chút mà không làm phiền đến các thành viên khác trong nhà
Câu 4: Nêu các cách xử lí của giáo viên mầm non với rối loạn tâm lí của trẻ?
Trả lời:
Chữa trị rối nhiễu tâm lí trẻ em là công việc phức tạp, đòi hỏi có chuyên môn, được đào tạo và phải phối hợp chữa trị trên nhiều lĩnh vực Nếu là giáo viên, mặc dù không phải là nhà tâm bệnh trẻ em, có thể dùng những cách sau đây để xử lí:
- Quan tâm tới trẻ nhiều hơn, chăm sóc, an ủi, động niên trẻ
- Nhu cầu tình cảm của trẻ em tuổi mầm non rất lớn
- Tìm những hoạt động phù hợp với trẻ, tạo điều kiện cho trẻ tham gia nào các hoạt động này nếu có thế (tùy theo từng loại và mức độ rối loạn) Đặc biệt chú ý đến vai trò của hoạt động vui chơi
- Tạo điều kiện cho trẻ được hoạt động và tham gia trò chơi nhìn chung có tác dụng tốt với mọi trẻ em
- Sử dụng những hình thức, tốc độ, mức độ phù hợp trong giao tiếp, truyền đạt
- Trao đổi với gia đình của trẻ về tình trạng của con em họ, qua đó giáo viên hiểu thêm vềtrẻ
- Việc hiểu biết hai chiều này rất quan trọng Do nhiều cha mẹ chưa có được những hiểu biết cần thiết về sự phát triển tâm lí của trẻ em nên nếu giáo viên có nghi ngờ về rối loạn tâm lí ở trẻ nên trao đổi với cha mẹ để giúp cha mẹ có cách nhìn nhận đúng đắn về con em họ, là cơ sở
để họ điều chỉnh thái độ và hàn hvi cho phù hợp hơn với trẻ
- Cần hết sức thận trọng khi đưa ra nhận định về rối nhiễu tâm lí ở trẻ Chỉ khi chắc chắn và phải dùng cách nói tế nhị để cha mẹ không có những phản ứng không mong muốn
- Thông qua trao đổi với gia đình, giáo viên cũng có thêm hiểu biết về trẻ và môi trường sống của các em Từ đó có thể điều chỉnh và bổ sung những tác động sư phạm dành cho trẻ