Hơn thế, từ đó giúp bản thân người viết góp phần vào việc giáo dục học sinh là con em người Tày ở đây nói riêng và người dân Văn Chấn, Yên Bái nói chung niềm tự hào về truyền thống văn h
Trang 1NGUYỄN THỊ BÍCH NGỌC
NH¢N VËT TR÷ T×NH TRONG C¾M N¤M – D¢N CA D¢N GIAN TµY HUYÖN V¡N CHÊN, TØNH Y£N B¸I
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Thái Nguyên – 2016
Trang 2NGUYỄN THỊ BÍCH NGỌC
NH¢N VËT TR÷ T×NH TRONG C¾M N¤M – D¢N CA D¢N GIAN TµY HUYÖN V¡N CHÊN, TØNH Y£N B¸I
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các nội dung trích dẫn có nguồn gốc rõ rang, các kết quả trong luận văn là trung thực
và chưa được công bố trên bất kì công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Bích Ngọc
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Thị Huế -
người thầy đã tận tâm giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin cảm ơn quý thầy cô khoa Văn – Xã hội, bộ phận quản lý Khoa học – Sau đại học trường Đại học Khoa học Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu
Tôi xin trân trọng cảm ơn tới ông Hà Đình Tỵ thôn Thiên Tuế, xã Thượng Bằng La, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái, người đã giúp tôi trong quá trình sưu tầm tư liệu để hoàn thành luận văn
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Sở Giáo dục và Đào tạo Yên Bái, trường THPT Sơn Thịnh, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã luôn động viên, khích lệ, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong quá trình học tập
và hoàn thành luận văn
Thái Nguyên, ngày 25 tháng 5 năm 2016
Tác giả
Nguyễn Thị Bích Ngọc
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu 5
4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu 6
5 Phạm vi nghiên cứu 7
6 Cấu trúc của luận văn 8
7 Đóng góp của luận văn 8
PHẦN NỘI DUNG 9
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI TÀY Ở VĂN CHẤN – YÊN BÁI VÀ MỘT SÔ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 9
1.1 Khái quát về huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái 9
1.1.1 Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên 9
1.1.2 Khái quát đặc điểm lịch sử của huyện Văn Chấn – Yên Bái 11
1.1.3 Khái quát tình hình văn hóa xã hội 13
1.2 Người Tày ở Văn Chấn tỉnh Yên Bái 14
1.2.1 Nơi cư trú và nguồn gốc tộc người 14
1.2.2 Đặc điểm văn hóa người Tày Văn Chấn 15
1.3 Khái quát về Cắm Nôm – dân ca Tày – Văn Chấn, Yên Bái 20
1.3.1 Lịch sử Cắm Nôm Tày – Văn Chấn 20
1.3.2 Thực tế lưu truyền diễn xướng, sinh hoạt của Cắm Nôm người Tày huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái 21
Tiểu kết chương 1 22
Chương 2: NHÂN VẬT TRỮ TÌNH TRONG CẮM NÔM – DÂN CA TÀY HUYỆN VĂN CHẤN – YÊN BÁI 23
Trang 62.1.Nhân vật nữ trong Cắm Nôm 24
2.1.1 Nhân vật nữ trên phương diện người yêu trong Cắm Nôm 24
2.1.2 Nhân vật nữ trên phương diện người vợ, người mẹ trong Cắm Nôm 29
2.1.3 Nhân vật nữ trên phương diện người con trong Cắm Nôm 36
2.2 Nhân vật nam trong Cắm Nôm 39
2.1.1 Nhân vật nam trên phương diện người yêu trong Cắm Nôm 39
2.1.2 Nhân vật nam trên phương diện người chồng, người cha trong Cắm Nôm 48
2.3 Nhân vật biểu tượng trong Cắm Nôm 55
Tiểu kết chương 2 60
Chương 3: NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRỮ TÌNH TRONG CẮM NÔM – DÂN CA TÀY HUYỆN VĂN CHẤN 62
3.1 Ngôn ngữ Cắm Nôm mộc mạc, giản dị, giàu hình ảnh, giàu chất thơ 62
3.2 Một số biện pháp tu từ nghệ thuật 69
3.2.1 Biện pháp so sánh 69
3.2.2 Biện pháp điệp 71
3.3 Thời gian và không gian nghệ thuật 77
3.3.1 Thời gian nghệ thuật 78
3.3.1 Không gian nghệ thuật 82
3.4 Diễn xướng những khúc Cắm Nôm của người Tày ở Văn Chấn 89
3.4.1 Môi trường diễn xướng 89
3.4.2 Hình thức diễn xướng 92
3.4.3 Nhân vật diễn xướng 92
Tiểu kết chương 3 94
KẾT LUẬN 95 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Đất nước Việt Nam là nơi sinh sống của 54 dân tộc anh em Mỗi
miền quê, mỗi vùng đất đều mang trong mình dấu ấn văn hoá riêng biệt, vừa
có những nét đặc thù, lại vừa thống nhất trong tính chỉnh thể của nền văn hoá dân tộc Việt Nam Văn hóa chính là nền tảng, là nhân tố quan trọng phản ảnh trình độ phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc
Văn học dân gian là một thành tố quan trọng của văn hóa dân gian, là tài sản vô cùng quý báu của dân tộc Mỗi bài ca, lời ru, câu hò, truyện kể…đều là những hạt ngọc ẩn chứa vẻ đẹp của bản sắc văn hóa truyền thống Trong đó dân ca là một loại hình ca hát dân gian phản ánh vẻ đẹp trong tâm hồn, tính cách con người Việt Nam, một bộ phận quan trọng của văn học dân gian đã được người dân lưu giữ qua quá trình lịch sử và đã trở thành những viên ngọc quý giá Có thể nói, mỗi người dân Việt Nam không ai là không thuộc trong mình đôi câu ca dao hay một vài làn điệu dân ca, điều đó khẳng định rằng dân ca dân gian đã ăn sâu, bén rễ trong lòng mọi người dân ta
1.2 Cùng với kho tàng phong phú dân ca dân gian người Việt, dân ca
dân gian các dân tộc thiểu số ở mọi vùng miền của tổ quốc đã góp phần quan trọng trong việc làm giàu, làm đẹp hơn cho kho tàng văn học dân gian dân tộc Nó góp phần tạo nên vườn hoa muôn sắc muôn hương của cả nền văn học cộng đồng dân tộc Việt Nam Lời ca tiếng hát dân gian trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống đồng bào các dân tộc Việt Trong bức tranh thổ cẩm đa màu sắc của các dân tộc thiểu số phía Bắc, người Tày được nhắc đến như một tộc người điển hình về việc tạo dựng được cho mình một gương mặt văn hóa thực sự phong phú và rực rỡ Văn học dân gian Tày nói chung và dân ca Tày nói riêng đã góp phần thể hiện sinh động gương mặt đó với đầy đủ các khía cạnh về đời sống con người
Trang 8Dân ca dân gian Tày, Văn Chấn, Yên Bái phản chiếu bức tranh đời sống, sinh hoạt, phong tục tập quán, tín ngưỡng trong các sinh hoạt vật chất
và tinh thần của con người nơi đây Đó là tiếng hát trữ tình của nhân dân lao động, của nhân vật trữ tình trong từng lời ca Từ trước đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về người Tày được tiến hành như tìm hiểu đời sống tôn giáo, cội nguồn lịch sử, sự biến đổi văn hóa dân tộc Tày ở các địa phương Các công trình đó đã cung cấp khá toàn diện về văn hóa, văn học nhưng trên thực tế chưa có công trình nào tìm hiểu, giới thiệu, nghiên cứu, một cách hệ thống về Cắm Nôm – dân ca Tày ở Văn Chấn – Yên Bái Cắm Nôm – những làn điệu dân ca theo cách gọi địa phương của người Tày ở Văn Chấn – là những làn điệu dân ca được nảy sinh từ đời sống tinh thần và mang giá trị văn hóa, văn học vô cùng đặc sắc của chính cộng đồng người Tày sinh sống ở nơi đây
1.3 Bản thân học viên là một giáo viên đang trực tiếp giảng dạy môn
Ngữ văn tại Văn Chấn - nơi có nhiều người Tày sinh sống Việc giới thiệu, tìm hiểu dân ca dân gian của người Tày ở Văn Chấn một mặt giúp chúng tôi nâng cao trình độ chuyên môn, mặt khác giúp chúng tôi hiểu rõ hơn về đời sống văn hoá, về những nét đẹp tâm hồn của người dân nơi mảnh đất cửa ngõ miền Tây Bắc Hơn thế, từ đó giúp bản thân người viết góp phần vào việc giáo dục học sinh là con em người Tày ở đây nói riêng và người dân Văn Chấn, Yên Bái nói chung niềm tự hào về truyền thống văn hóa của cha ông mình và cùng các em hòa nhập vào hành trình về với bản sắc cội nguồn dân tộc để ngày càng thêm yêu mảnh đất Văn Chấn quê hương Đồng thời thể hiện tiếng nói tri ân của chúng tôi với mảnh đất, con người Văn Chấn
Xuất phát từ những lí do trên, và trên cơ sở kế thừa những thành tựu
của các nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi lựa chọn đề tài “ Nhân vật trữ tình
trong Cắm Nôm – dân ca Tày, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái” Chúng tôi
hi vọng rằng sau khi đề tài hoàn thành sẽ là tài liệu tham khảo bổ ích cho
Trang 9những ai yêu thích và tìm đến với văn học dân gian của đồng bào các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc nói riêng và Việt Nam nói chung
Trước Cách mạng tháng Tám, từ thời kì phong kiến, đã có một số công
trình sưu tầm, giới thiệu về ca dao dân ca Việt Nam Tiêu biểu như cuốn Nam phong giải trào của Trần Danh Án (1754 – 1794) và Ngô Đình Thái (? - ?), là
tuyển tập các bài ca dao dân ca Việt Nam viết bằng chữ Hán được soạn theo
lối Kinh thi Hoặc như cuốn Tục ngữ phong dao của Nguyễn Văn Ngọc (1890 – 1942), đây là một công trình sưu tập lớn tập hợp tới 6.500 câu tục ngữ và
hơn 850 bài ca dao dân ca được sưu tâm trong dân gian, cuốn sách mang tính chất tiên phong trong việc bảo tồn văn học dân gian Việt Nam Thời kì sau
Cách mạng tháng tám – 1945 có thể kể đến công trình Tục ngữ ca dao dân ca của Vũ Ngọc Phan (1907 – 1987), xuất bản lần đầu năm 1956 và cho đến nay
đã tái bản trên dưới 10 lần, là công trình sưu tầm tập hợp được khá nhiều câu
tục ngữ ca dao của cộng đồng các dân tộc Việt Nam… Tiếp sau đó là rất nhiều tập ca dao dân ca của các vùng miền đã được công bố, xuất bản như Dân ca quan họ Bắc Ninh, Hát Xoan Phú Thọ, Hát Dậm Nam Hà, Hát ví Nghệ Tĩnh, Dân ca Nam Trung Bộ, Dân ca Bình trị Thiên…
Song so với các công trình sưu tầm, nghiên cứu ca dao dân ca của người Việt thì số lượng các công trình sưu tầm, nghiên cứu dân ca của các dân
Trang 10tộc thiểu số trong đó có dân ca của người Tày còn khá khiêm tốn Cũng đã có một số các công trình nghiên cứu, tìm hiểu về dân ca các dân tộc thiểu số được chú ý giới thiệu như Dân ca Mường, Dân ca Mèo, Dân ca Thái, …
Nhưng những thập kỉ trở lại đây công tác sưu tầm và nghiên cứu văn học dân gian các dân tộc thiểu số đã được quan tâm hơn và ngày càng có nhiều công trình sưu tập, nhiều chuyên luận, bài viết được công bố Riêng về văn học dân gian Tày đã xuất hiện nhiều công trình sưu tập, nghiên cứu
…trong đó nổi bật là các công trình nghiên cứu, các bài báo, chuyên luận của nhà nghiên cứu Vi Hồng giới thiệu về ca dao – dân ca Tày Nùng Cụ thể như
công trình Sli lượn dân ca trữ tình Tày, Nùng, (Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1979),
với 5 chương viết, tác giả Vi Hồng đã giới thiệu về đời sống văn hóa, tinh thần của hai dân tộc Tày - Nùng qua những làn điệu Sli, Lượn, qua hệ đề tài, qua nội dung tư tưởng và nghệ thuật xây dựng hình tượng Công trình cũng chỉ rõ vai trò, sức sống của Sli, Lượn trong đời sống tinh thần của người Tày
– Nùng “ Ca hát để dịu khổ đau, bớt nhọc nhằn…Họ yêu, họ càng cất cao tiếng Sli, lượn để cùng cảm thông trong mối tình yêu thương của bạn bè, bản mường, đồng bào, đồng loại Tiếng Sli, tiếng lượn do đó ngày càng nhiều như nước, đông như rừng” [14, tr.5,6] Ngoài ra có thể kể đến các công trình như: Dân ca đám cưới Tày – Nùng của Nông Minh Châu, tác giả đã tập hợp hơn
100 bài hát đám cưới Tày –Nùng Đặc điểm dân ca Tày – Nùng xứ Lạng của Lộc Bích Kiệm Rọi, dân ca Tày do Trương Lạc Dương, Nông Đình Tuấn, Võ
Quang Nhơn sưu tầm biên soạn (Nxb văn hóa dân tộc, 1970), v.v…
Trong những năm gần đây, có rất nhiều các đề tài, luận văn, luận án khoa học tìm hiểu, giới thiệu, nghiên cứu vể dân ca Tày Trong đó phải kể đến luận
văn Yếu tố tự sự trong dân ca Tày của Vũ Ánh Tuyết, Đại học Thái nguyên,
2008 Luận văn đã trình bày một cách có hệ thống các dạng thức biểu hiện và vai trò của yếu tố tự sự trong dân ca Tày (Yếu tố tự sự là một phương tiện đắc dụng để phản ánh hiện thực Yếu tố tự sự với mục đích kể sự tả tình Yếu tố tự
sự góp phần cá thể hóa nhân vật trữ tình …) Cùng với đó là luận văn Khảo sát
Trang 11ý nghĩa hình ảnh trong ca dao – dân ca Tày, Nùng của Đỗ Vân Nga, Đại học
Thái Nguyên, 2013 Luận văn đã tiến hành khảo sát và phân loại hình ảnh trong
ca dao- dân ca Tày, Nùng bao gồm ba nhóm hình ảnh: Hình ảnh thiên nhiên, vũ trụ; hình ảnh là vật dụng của con người trong sinh hoạt; hình ảnh liên quan đến con người Qua phân loại tác giả cũng đã làm rõ ý nghĩa xã hội và thẩm mĩ của
một số hình ảnh tiêu biểu trong ca dao – dân ca Tày - Nùng, v.v…
Điều này cho thấy việc nghiên cứu, tìm hiểu về dân ca các dân tộc thiểu
số trong đó có dân ca dân tộc Tày đã và đang thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, nhiều nhà khoa học thuộc nhiều thế hệ Tuy nhiên theo
sự khảo sát, tìm hiểu của chúng tôi ở tỉnh Yên Bái cách nay nhiều chục năm, nhà thơ Hoàng Hạc đã phát hiện và giới thiệu với công chúng cả nước về khúc
then Khảm Hải (Vượt biển) của người Tày được lưu truyền tại Yên Bái, đến nay then Khảm Hải đã trở nên nổi tiếng trong và ngoài nước Tiếp đó là công trình của Hoàng Tương Lai Hát Quan làng trong đám cưới của người Tày ở Yên Bái , công trình đã sưu tầm hơn 100 bài hát Quan làng ở địa phương và
chưa có công trình nào nghiên cứu, giới thiệu về Cắm Nôm - dân ca Tày ở huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái, đặc biệt là việc tìm hiểu cụ thể về nhân vật trữ tình được biểu hiện trong Cắm Nôm Điều đó chính là lý do thúc đẩy chúng
tôi mong muốn được thực hiện đề tài “Nhân vật trữ tình trong Cắm Nôm – dân ca Tày, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái.”
Với việc giới thiệu về Cắm Nôm, chúng tôi cũng hi vọng sẽ góp được một tiếng nói vào việc quảng bá cho kho tàng văn học dân gian của người dân
Tày nơi đây
3 Đối tƣợng và mục tiêu nghiên cứu
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những bài Cắm Nôm - dân ca của người Tày, Văn Chấn, Yên Bái được tập hợp, sưu tập tại địa phương
Trang 12- Đồng thời đề tài xem xét, nghiên cứu hệ thống nhân vật trữ tình nam, nhân vật trữ tình nữ và nhân vật trữ tình biểu tượng trong Cắm Nôm
- Đề tài xem xét thêm một số yếu tố khác có vai trò quan trọng trong sinh hoạt Cắm Nôm như: Diễn xướng Cắm Nôm, người trình diễn, hát Cắm Nôm, môi trường diễn xướng Cắm Nôm…
3.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đi sâu tìm hiểu về nguồn tư liệu dân ca Cắm Nôm ở địa phương Văn Chấn - Yên Bái qua khảo sát, điền dã
- Nghiên cứu nhân vật trữ tình trong dân ca Cắm Nôm của người Tày
ở Văn Chấn để thấy được thế giới tâm hồn, ước mơ, tình cảm, nguyện vọng, đời sống văn hóa tinh thần vô cùng phong phú của người dân nơi đây
- Qua tìm hiểu, nghiên cứu, nhằm giới thiệu những giá trị của dân ca Cắm Nôm người Tày ở Văn Chấn – Yên Bái
4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
-Tìm hiểu những vấn đề lý luận và thực tế liên quan đến đề tài: (Tộc người Tày, Cắm Nôm Tày, văn hoá, xã hội Tày )
- Khảo sát, thống kê, phân tích, lý giải Cắm Nôm Tày để chỉ ra được
những đặc điểm của nhân vật trữ tình trong Cắm Nôm – dân ca Tày huyện Văn Chấn, tỉnh Yên
-Trong điều kiện có thể, sưu tầm, bổ sung thêm lời ca Cắm Nôm Tày
và tìm hiểu thêm một số loại hình văn học dân gian gần gũi với Cắm Nôm lưu
truyền ở địa phương để đề tài được cập nhật và được nhìn nhận nhiều góc độ
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp sưu tầm, khảo sát: Để có được tư liệu trong quá trình khảo
sát chúng tôi sử dụng phương pháp sưu tầm, điền dã và khảo sát thực địa
Trang 13Phương pháp thống kê: Phương pháp này nhằm chúng tôi giúp đưa ra
được những số liệu cụ thể, chính xác về vấn đề cần khảo về thực tế lưu truyền Cắm Nôm của người Tày ở Văn Chấn
Phương pháp tổng hợp, hệ thống: Phương pháp này nhằm đặt dân ca Cắm
Nôm Tày ở Văn Chấn vào hệ thống chung của nền dân ca Tày Việt Nam
Phương pháp phân tích, so sánh: Phương pháp này giúp chỉ ra những
điểm giống và điểm khác trong Cắm Nôm Tày với dân ca Tày ở một số địa phương khác và với dân ca của một số dân tộc khác
Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Phương pháp này dùng để lý
giải cho những đặc điểm của Cắm – Nôm Tày huyện Văn Chấn Kiến thức và phương pháp luận của nhiều ngành khác nhau như : lịch sử, địa lý, dân tộc học, văn hóa học sẽ rất hữu ích trong việc nghiên cứu đề tài này
5 Phạm vi nghiên cứu
- Về địa bàn: Đề tài nghiên cứu trong phạm vi địa bàn huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái
- Về tác phẩm: Đề tài chủ yếu nghiên cứu trong phạm vi số lượng lời bài
ca Cắm Nôm của người Tày ở Văn Chấn – Yên Bái được ông Hà Đình Tỵ - nhà trí thức Tày địa phương, hội viên Chi hội văn nghệ dân gian tỉnh Yên Bái sưu tầm, tập hợp và đã dịch ra tiếng phổ thông
Ngoài ra, có thêm một số bài Cắm Nôm Tày còn lưu truyền trong dân gian Văn Chấn do chúng tôi sưu tầm gần đây trong quá trình điền dã
Trong phạm vi một luận văn thạc sĩ chúng tôi chỉ nghiên cứu Cắm Nôm
- dân ca của người Tày, Văn Chấn, Yên Bái (các tư liệu khác chỉ dùng để so sánh khi cần thiết)
Trang 146 Cấu trúc của luận văn
Luận văn ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục…
có kết cấu ba chương:
Chương 1 Khái quát về người Tày ở Văn Chấn – Yên Bái và một số vấn đề
lí luận có liên quan đến đề tài
Chương 2 Nhân vật trữ tình trong Cắm Nôm – dân ca Tày huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái
Chương 3 Nghệ thuật xây dựng nhân vật trữ tình trong Cắm Nôm – dân
ca Tày, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái
7 Đóng góp của luận văn
- Đóng góp thêm một tư liệu về dân ca Tày – những bài ca Cắm Nôm Tày ở Văn Chấn, Yên Bái
- Bước đầu tìm hiểu nhân vật trữ tình trong Cắm Nôm – dân ca của người Tày ở huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái Từ đó làm rõ giá trị nội dung và nghệ thuật của Cắm Nôm
- Góp phần giới thiệu văn hoá của người Tày qua Cắm Nôm
Trang 15PHẦN NỘI DUNG Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI TÀY Ở VĂN CHẤN – YÊN BÁI VÀ MỘT SÔ
VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Trong phạm vi cho phép của đề tài, chúng tôi không có tham vọng đi sâu vào mọi vấn đề thuộc điều kiện, tự nhiên, kinh tế, chính trị, xã hội của huyện Văn Chấn – Yên Bái mà chỉ đi vào tìm hiểu những yếu tố tác động đến sự hình thành và lưu truyền Cắm Nôm Tày Vì vậy, trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu chúng tôi tập trung vào hai phương diện cụ thể: Vùng đất, con người
và văn hoá, văn học dân gian huyện Văn Chấn và Điều kiện tự nhiên, lịch sử tộc người Tày và văn hoá văn học dân gian Tày huyện Văn Chấn Đây chính
là những yếu tố có tác động sâu sắc đến đối tượng nghiên cứu
1.1 Khái quát về huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái
1.1.1 Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên
Văn Chấn là một huyện miền núi thuộc tỉnh Yên Bái, nằm ở phía Tây Bắc của Tổ quốc Trên tọa độ địa lý: từ 20020‟ đến 21045‟vĩ độ Bắc; từ
104020‟ đến 1040 53‟ kinh độ Đông Diện tích của huyện hiện nay khoảng 1.205,2 km Phía Bắc giáp với huyện Văn Yên và Trấn Yên, phía Đông và phía Nam giáp với tỉnh Phú Thọ ( các huyện Thanh Sơn, Yên Lập, Hạ Hòa), phía Tây giáp tỉnh Sơn La (huyện Phù Yên) và huyện Trạm Tấu, phía Tây Bắc giáp huyện Mù Cang Chải So với các đơn vị hành chính cấp huyện trong tỉnh và cả nước thì Văn Chấn là một trong những huyện rộng về diện tích và đông về số dân Địa bàn huyện án ngữ một số tuyến đường chiến lược của Tây Bắc nói chung và của tỉnh Yên Bái nói riêng; có vùng đồng bằng rộng lớn thứ hai ở Tây Bắc
Trang 16Những cuộc vận động kiến tạo địa chất từ hàng chục triệu năm trước đây đã tạo cho Văn Chấn một địa hình có rừng, núi, hang động, suối khe chằng chịt, thung lũng bằng phẳng Địa hình đa dạng của Văn Chấn là cơ sở
để xây dựng các tiểu vùng kinh tế, mỗi vùng có đặc điểm sinh thái khác nhau nên đã tạo điều kiện cho Văn Chấn phát triển một nền nông nghiệp với chủng loại sản phẩm rất phong phú Đặc trưng khí hậu của Văn Chấn là nhiệt đới gió mùa nắng và mưa nhiều, độ ẩm cao Lượng bức xạ phong phú, nền nhiệt cao
là điều kiện thuận lợi cho việc tạo ra sinh khối lớn giúp cây trồng phát triển; cây lương thực và cây ăn quả ngắn ngày quay vòng nhanh, tạo nên tính đa dạng sinh học Văn Chấn có nhiều tiềm năng về rừng và khai thác lâm sản Vì vậy, trong qui hoạch phát triển kinh tế xã hội, Đảng bộ và chính quyền đã xác định lĩnh vực nông – lâm nghiệp là thế mạnh cơ bản phải tập trung đầu tư, khai thác, phát huy với ba sản phẩm chủ lực đó là lương thực, cây chè, và các loại cây ăn quả
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi trên Văn Chấn cũng phải chịu nhiều hậu quả do đặc điểm thời tiết gây ra Mùa đông có nhiều đợt gió buốt tràn về gây ra sương muối làm tổn hại đến sức khỏe của con người, súc vật và cây trồng Mùa hè tuy không bị ảnh hưởng do bão tố gây ra nhưng những đợt gió lốc, lũ quét, lũ ống thường xuất hiện, tàn phá mùa màng, nhất là từ thời xa xưa khi cuộc sống của cư dân Tày còn nhiều lạc hậu và thiếu thốn Có thể nói, địa hình miền núi đầy ưu ái, thiên nhiên hùng vĩ tươi đẹp…tất cả đã ảnh hưởng đến điều kiện sống, sinh hoạt, văn hóa, tính cách của người Tày Người Tày- Văn Chấn – Yên Bái không những đã tạo ra được một nền văn hóa với những giá trị vật chất bền vững mà còn sáng tạo nên một nền văn hóa tinh thần lâu đời và phong phú trong đó có những bài Cắm Nôm – dân ca dân gian Đó cũng chính
là nơi hội tụ bản chất bình dị, tâm hồn trong sáng, khí phách hào hùng, cùng tấm lòng yêu quê hương, đất nước, yêu con người thiết tha của người Tày Cũng như cả nước, Yên Bái là vùng đất nằm trong khu vực Đông Nam Á, vùng
Trang 17“ Châu Á gió mùa” nơi cây cỏ và sinh vật phong phú với những cảnh quan thiên nhiên đặc sắc, núi non trùng điệp, gần thì xanh thẫm, xa thì mờ ảo như tranh thủy mặc Đi qua những thung lũng, những đèo, bên thì núi dựng đứng, bên thì suối róc rách, trên cao chim hót líu lo Vào bất cứ ngả đường nào của Văn Chấn cũng vậy, cảnh sắc thiên nhiên tươi xanh bốn mùa, với hoa rừng nở rực rỡ ven đường, quanh làng bản và những cánh rừng hồi bạt ngàn xanh với hương hồi thơm ngào ngạt làm say lòng người Cùng với đó là những dải núi
đá vôi chạy dài từ đông sang tây đầy những hang động, mái đá thuận tiện cho con người cổ xưa chọn làm nơi cư trú, những cánh rừng bao la với nhiều loại thực phẩm ngon ngọt có thể nuôi sống các loài động vật cũng như làm môi trường rộng rãi cho con người nối tiếp nhau săn bắn, hái lượm Một vùng đất có đồi núi, có rừng rậm với nhiều loại thảo mộc, thú rừng thực sự là một không gian lý tưởng cho cuộc sống của con người thời cổ Vẻ đẹp hòa quyện của núi
và mây hùng vĩ, của hang và động với cảnh trí tuyệt vời kỳ ảo, những địa danh
ẩn trong đó là trầm tích của những huyền thoại thơ mộng Thiên nhiên đầy thơ mộng, kỳ thú cũng là không gian xuyên suốt trong những làn điệu dân ca Cắm Nôm Tày, những giai thoại đẫm chất thơ của vùng rừng núi Có lẽ vì địa hình như vậy mà trong hầu hết các làn điệu dân ca dân gian Tày không gian chủ yếu
là cảnh núi non với núi đá và rừng xanh Ẩn chứa trong các cảnh quan thiên nhiên là những sự tích riêng, những lời ca tiếng hát thể hiện vẻ đẹp tâm hồn, bản sắc dân tộc Đồng bào nơi đây sống hoà đồng với thiên nhiên, đất trời Đó chính là điều kiện để ươm mầm văn hoá trong quá khứ, trong hiện tại và chắc chắn cả trong tương lai nữa
1.1.2 Khái quát đặc điểm lịch sử của huyện Văn Chấn – Yên Bái
Thời Hùng Vương, Văn Chấn thuộc bộ Tân Hưng, đến thời Âu Lạc thuộc bộ Giao Chỉ Qua hàng nghìn năm Bắc thuộc và các triều đại Đinh,
Lê (Tiền Lê), Lý, Trần nhiều lần thay đổi phiên hiệu, và đến cuối thời Trần
Trang 18Văn Chấn nằm trong châu Quy Hoá, trấn Thiên Hưng, một trong 16 châu Thái của Tây Bắc
Năm Quang Thuận thứ 7 (1446), để tăng cường sự thống nhất về hành chính, Lê Thánh Tông chia cả nước thành 15 đạo thừa tuyên Đến năm thứ 10 (1469), thì định lại bản đồ cả nước để thống nhất cả phủ, huyện vào các thừa tuyên Lúc đó Văn Chấn thuộc phủ Quy Hoá, đạo thừa tuyên Hưng Hoá Đến triều Nguyễn thuộc vùng Thập Châu, tỉnh Hưng Hoá, sau đó là vùng Tam tổng Nghĩa Lộ, thuộc tỉnh Hưng Hoá Trước năm 1900, châu Văn Chấn thuộc hạt Nghĩa Lộ, tỉnh Lào Cai Ngày 11 tháng 4 năm 1900 thực dân Pháp đã lấy các hạt Bảo Hà, Nghĩa Lộ, Yên Bái và châu Lục Yên của tỉnh Tuyên Quang
để thành lập tỉnh Yên Bái, theo đó Văn Chấn là một châu thuộc tỉnh Yên Bái
Từ năm 1940 đến năm 1945 châu Văn Chấn được đổi thành phủ Văn Chấn Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà ra đời, Văn Chấn là một huyện thuộc tỉnh Yên Bái Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, vùng Tây Bắc được hoàn toàn giải phóng, tháng 5 năm 1955, Đảng, Nhà nước quyết định thành lập Khu tự trị Thái – Mèo, Văn Chấn là một trong 16 châu thuộc Khu tự trị Tháng 10 năm
1962, Quốc hội quyết định đổi tên Khu tự trị Thái – Mèo thành Khu tự trị Tây Bắc và lập các tỉnh Ngày 24 tháng 12 năm 1962, tỉnh Nghĩa Lộ thuộc Khu tự trị Thái – Mèo chính thức được thành lập, Văn Chấn thuộc tỉnh Nghĩa Lộ Sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng, tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khoá V (1976) quyết định bỏ cấp khu trong hệ thống các đơn vị hành chính trong cả nước Ngày 03 tháng 01 năm 1976, tỉnh Hoàng Liên Sơn được thành lập, huyện Văn Chấn trực thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn Ngày 01 tháng 10 năm
1991, thực hiện Nghị quyết kỳ họp thứ 9 Quốc hội (khoá VII), tỉnh Yên Bái được tái thành lập, huyện Văn Chấn trực thuộc tỉnh Yên Bái
Như vậy, Văn Chấn là một miền quê có lịch sử lâu đời, lưu giữ những dấu tích của nền văn hóa Hòa Bình, văn hóa Đông Sơn trong quá trình hình thành
Trang 19quốc gia dân tộc Việt Nam; liên tục được ghi danh trong suốt quá trình lịch sử dân tộc So với các huyện, thị khác trong vùng Tây Bắc, Văn Chấn cũng là nơi sớm được định hình với tư cách là một đơn vị hành chính Điều này không những có giá trị quan trọng về mặt lịch sử mà còn có ý nghĩa nhân văn, khẳng định bề dày truyền thống và các giá trị văn hóa đã hình thành lâu đời, được lưu giữ và bồi đắp liên tục
1.1.3 Khái quát tình hình văn hóa xã hội
Văn Chấn là vùng đất hội tụ nhiều dân tộc, với nhiều dân tộc sinh sống
từ lâu đời, với 23 dân tộc anh em cư trú trong đó chủ yếu là người Thái, người Tày, người Dao, người Mông, người Mường và một số các dân tộc sống đan xen như Khơ mú, Giáy, Gia Lai
Nghiên cứu của nhà dân tộc học cho thấy, người Thái và người Tày
là những người cư trú trên địa bàn Văn Chấn từ lâu đời Văn Chấn – Mường Lò còn là trung tâm đầu tiên của người Tày, Thái ở Việt Nam rồi từ đây toả đi các địa bàn khác Đáng chú ý là, mặc dù thời điểm quần tụ khác nhau, đặc điểm tộc người khác nhau, song các dân tộc trên vùng đất Văn Chấn đã sớm gắn bó với nhau thành một cộng đồng đoàn kết Xếp theo ngữ
hệ có thể chia thành 5 nhóm: Thái – Tày; Việt - Mường; Nam Á (Khơ Mú); Hmông – Dao; Hán
Là một huyện có nhiều dân tộc cùng sinh sống với nhiều phong tục, tập quán khác nhau, đã tạo ra cho Văn Chấn những sinh hoạt văn hóa, văn nghệ phong phú và đa dạng Trong văn học dân gian người Thái có các tác phẩm
Sống chụ xon xao, In khẩu khuống, Cầm Hánh tạp Sấc Klương (Cầm Hánh
đánh giặc cờ vàng) ca ngợi nghĩa quân Cầm Ngọc Hánh đánh giặc Cờ vàng,
Truyền thuyết rêu đá Ngoài ra các dân tộc khác cũng có nhiều truyền thuyết, truyện cổ tích như Truyện Nàng Han của người Khơ Mú, Bà chúa Nả, Tạo Cút, Tạo Đuổn của người Tày
Trang 20Dân ca, dân vũ đặc sắc, độc đáo chiếm một phần đáng kể trong đời sống của người dân các dân tộc Văn Chấn, tiêu biểu như múa xoè, múa xạp,
hát khắp, hát nôm của dân tộc Thái, Tày; múa chiêng, hát pi ca đô của người Khơ Mú; múa khèn của dân tộc Hmông; hát đang của dân tộc Mường; tục hát
“Tháng giêng” của người Giáy
Lễ hội, trò chơi dân gian nơi đây phong phú, hấp dẫn thường tổ chức vào các dịp ngày lễ tết cổ truyền Có lễ hội “Xên đông”, “Xên mường”, “Lồng tồng”, trò chơi tó mắc lẹ, ném còn của người Thái Lễ hội “Rước mẹ lúa”,
“Mùa măng mọc” của người Khơ Mú Hội „Gầu tào”, “Nào sồng”, cưỡi ngựa bắn súng, đánh yến, ném pao của dân tộc Hmông Lễ hội “Tăm khẩu mẩu” (giã cốm), “Hội cầu mùa”, đu quay, gõ đuống dân tộc Tày Lễ “Cấp sắc”, “Tết nhảy” của dân tộc Dao…
Những sinh hoạt văn hoá, văn nghệ dân gian truyền thống của các dân tộc Thái, tày, H mông, Khơ Mú, … đã tạo cho Văn Chấn một nền văn hoá giàu sắc thái, đa dạng nhưng thống nhất, làm nên “tiểu vùng” văn hoá dân gian độc đáo ở phía Tây của tỉnh và trở thành trung tâm của vùng văn hoá Mường Lò – một trong ba vùng văn hoá tỉnh Yên Bái
1.2 Người Tày ở Văn Chấn tỉnh Yên Bái
1.2.1 Nơi cư trú và nguồn gốc tộc người
Trong đại gia đình dân tộc Việt Nam, người Tày có mặt từ rất sớm và
có dân số đứng thứ hai sau người Kinh Người Tày chủ yếu cư trú tại các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc Ở Yên Bái người Tày chiếm khoảng 18,3% dân số toàn tỉnh và 16,4 % tổng số người Tày ở Việt Nam Đặc trưng sinh thái của tộc người này đã hình thành hàng nghìn năm đã tạo nên truyền thống ứng
xử môi trường và những tri thức bản địa rất phong phú và đa dạng
Theo tài liệu và các công trình nghiên cứu chỉ rõ Tày là tên gọi đã có từ lâu đời Người Tày còn có tên gọi khác là Thổ có nghĩa là người bản địa
Trang 21Trong công trình Văn hóa dân gian Tày [25] của nhóm tác giả Hoàng Ngọc
La, Hoàng Hoa Toàn, Vũ Anh Tuấn đã chỉ rõ: Người Tày có truyền thuyết
“Pú Lương Quân” nói về người thủy tố xa xưa là Báo Luông và Slao cải sinh sống tại Cao Bằng Hai người khổng lồ hái quả, săn bắn, ở hang, hốc, lấy nhau đẻ được trăm con Anh em lấy nhau, con cháu mỗi ngày sinh nở thêm đông Dần dần biết nuôi gia súc, xây dựng nên bản mường
Trong công trình Văn hóa dân gian Tày, Nùng [50] ở Việt Nam của tác giả Hà Đình Thành đã chỉ ra rằng: Người Tày có truyền thuyết Pú Lương Quân nói về người thủy tổ xa xưa là Pú Luông và Gìa Cải sinh sống lâu đời ở
vùng Ngườm Ngả (Cao Bằng) trên đất Việt Nam, hai khổng lồ đã sinh ra một trăm người con và dạy họ săn bắn, chăn nuôi, tìm ra lửa để nấu chín thức ăn
Ở người Tày có biểu tượng Cây đa thần với 30 rễ chống và 90 cành vươn khắp một vùng rộng lớn, phía Nam giáp với vùng Việt, Mường; phía Bắc giáp với Trung Quốc
1.2.2 Đặc điểm văn hóa người Tày Văn Chấn
Từ xưa, người Tày tập trung chủ yếu cư trú ở các xã vùng ngoài như Cát Thịnh, Thượng Bằng La, Minh An, Nghĩa Tâm, Đại Lịch, Bình Thuận, Tân Thịnh, Thị trấn nông trường Trần Phú và lâm trường Ngòi Lao Ở vùng ngoài, địa hình thấp, họ sống chủ yếu dựa vào trồng trọt và cày cấy mùa màng Với kinh nghiệm trồng trọt lâu đời, đồng bào Tày đã biết khai thác các thung lũng, đồi núi sinh sống thành những cánh đồng màu mỡ, những vườn cây ăn trái tươi tốt Từ xưa đến nay người Tày ở Văn Chấn về kinh tế hàng hóa cũng đã phát triển qua những phiên chợ nông thôn họp theo qui định Từ những điều kiện trên những hình thức văn hóa văn nghệ trong đó có Cắm Nôm ra đời nhằm đáp ứng những nhu cầu giải tỏa những khát vọng tinh thần của họ
Đời sống văn hóa: Cư dân Tày ở Văn Chấn cũng như nhiều người Tày
khác sinh sống trên cả nước đều có một nền văn hóa đa dạng và phong phú
Trang 22Người Tày giao tiếp chủ yếu bằng ngôn ngữ hệ Tày – Thái, nhóm ngôn ngữ rất gần với tiếng Việt Song chỉ có những từ ngữ về thiên nhiên, về sự vật hiện tượng trong sinh hoạt giao tiếp mới là của người Tày còn đa số vay mượn của tiếng Việt Tiếng Tày có từ lâu đời qua thời gian từ ngôn ngữ dân gian phát triển thành ngôn ngữ bác học, có chữ viết và có những tác phẩm văn học được ghi lại Đến nay tiếng Tày tương đối ổn định và phát triển, đáp ứng nhu cầu giao tiếp của đồng bào Tiếng nói ấy vừa trong sáng, giản dị, dễ hiểu vừa sinh động về âm thanh, giàu có về từ ngữ, phong phú về sắc thái Điều này thể hiện qua lời ăn tiếng nói, đặc biệt là kho tàng văn học dân gian của họ mà những lời ca dân gian như Cắm – Nôm là một minh chứng sống động nhất Chính tiếng nói ấy đã giúp cuộc sống của người Tày thêm phát triển và ngược lại, cuộc sống, xã hội phát triển làm cho ngôn ngữ của họ càng phát triển hơn
Về chữ viết: Người Tày không có chữ viết riêng nên lịch sử thành văn của dân tộc Tày rất ít ỏi và gần như không có Có thể chia lịch sử chữ viết của tộc Tày ra thành ba giai đoạn:
Giai đoạn cổ đại: Không có chữ viết, chủ yếu giao tiếp bằng phương thức truyền miệng
Giai đoạn trung đại: Có chữ Nôm Tày Chữ Nôm Tày là thứ chữ phỏng theo chữ Hán của người Trung Quốc mà đặt ra Theo nhiều nhà nghiên cứu, nhìn từ góc độ văn tự, thứ chữ này cũng có một vài nét khác với chữ Nôm
Việt Theo học giả Đào Duy Anh “chữ Nôm Tày do ảnh hưởng chữ Nôm Việt
mà ra và có cấu tạo tương tự chữ Nôm Việt” [33]
Chữ Nôm Việt xuất hiện khoảng thế kỷ XIII đến XV Đến cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII khi Mạc Kính Cung chuyển vương triều lên Cao Bằng
đã để lại dấu ấn trong chữ Nôm Tày Do đó, có thể khẳng đinh chữ Nôm Tày
ra đời không muộn hơn chữ Nôm Việt thế kỷ XVI
Giai đoạn hiện đại: Vừa dùng chữ Nôm vừa dùng chữ Latinh Do vốn
từ tiếng Tày còn nghèo nàn trong các hoạt động hành chính, cũng như các
Trang 23ngành khoa học, thêm nữa do phải sử dụng vốn từ Hán hoặc Nôm khiến cho việc sử dụng chữ viết cũng như ngôn ngữ Tày gặp những khó khăn nhất định
Về sau, lớp tri thức mới đã tự sáng tạo ra chữ Latinh Tày nhưng không được phố biến Năm 1960, nhà nước đã giúp dân tộc Tày xây dựng hệ thống chữ viết mới theo lối chữ Quốc ngữ bằng chữ cái Latinh, điều này thể hiện rõ sự quan tâm và chủ trương của Đảng, nhà nước trong việc gắn kết tính cộng
đồng 54 dân tộc Trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc đã chỉ rõ: “Sự phát triển mọi mặt của từng dân tộc đi liền với sự củng cố phát triển của cộng đồng các dân tộc trên đất nước ta”[12]
Văn hoá vật chất: Bản là đơn vị cư trú của người Tày, thường ở chân
núi, cạnh cánh đồng hay ven sông, suối lớn Tên bản thường đặt theo tên đồng ruộng, đồi núi Mỗi bản trung bình có từ 25 đến 30 nhà, bản lớn có tới 60, 70 nhà, thậm chí có tới 100 nhà, có bản chỉ có người Tày, có bản sống xen kẽ với các dân tộc khác Văn hóa sắc tộc bản làng là một nét đẹp trong văn hóa người Tày Người Tày sống hồn hậu, chân thành như đồi núi, dòng suối quê hương Bản làng là đơn vị hành chính đồng thời là nơi diễn ra những sinh hoạt văn hóa tinh thần từ ngàn đời xưa cho đến nay Nhà cửa của người Tày ở đây thường dựng theo thế đất, đằng sau dựa vào đồi núi, phía trước thường nhìn ra cánh đồng, sông suối Nhà ở của họ phổ biến nhất là nhà sàn, lợp lá cọ, nhà có điều kiện thì làm nhà gỗ tất cả xà, cửa…
Về trang phục: Người Tày có một gu thẩm mỹ rất riêng Bộ y phục
cổ truyền của người Tày làm từ vải bông tự dệt, nhuộm chàm hầu như không thêu thùa, trang trí Những nét riêng trong trang phục cũng là một cơ
sở đặc sắc để phân biệt dân tộc Tày với các dân tộc khác trong cùng một địa bàn sinh sống
Trang phục nam giới người Tày cũng như nhiều dân tộc miền núi khác
gồm áo cánh ngắn (slửa cỏm) là trang phục mặc thường ngày của nam giới, áo
Trang 24cúc bên ngực trái, loại áo dài này mang tính nghi lễ chỉ mặc trong dịp lế, tết, hội hè…loại áo này có nguồn gốc từ các tộc người vùng Đông Á, quần (khóa) khăn đội đầu (khân) được may bằng vải sợi bong hay tơ tằm và tất cả đều được nhuôm màu chàm
Bộ nữ Tày gồm: áo cánh ngắn, áo dài, váy quần, thắt lưng, khăn đội đầu, giày vải, và các đồ trang sức như nón, vòng cổ, vòng tay, dây xà tích, túi thổ cẩm…về phương diện loại hình, hai loại áo của nữ giới Tày là áo cánh ngắn và áo dài 5 thân không khác gì mấy so với hai loại áo của nam giới như
đã trình bày áo ngắn may từ vải bóng nhuộm chàm hay để trắng, xẻ tà…áo dài của phụ nữ may vừa vặn cơ thể hơn: hơi nhấn thêm eo, ống tay cũng nhỏ để sao cho tôn những đường nét của cơ thể phụ nữ, cài khuy bên nách phải như
áo dài của người Kinh
Màu sắc của áo dài Tày là màu vải chàm sậm đen ánh sắc hay màu tím, hồng Xưa kia cũng như hiện nay, một số phụ nữ Tày dùng vải lụa hay nhung đen để may áo dài, càng tô thêm vẻ đẹp duyên dáng của phụ nữ
Cùng màu sắc với xống áo là chiếc thắt lưng: thắt lưng không phải cắt khâu từ bất cứ mảnh vải nào, mà được phụ nữ Tày dệt nguyên bằng sợi bông hay bằng sợi tơ tằm nhuộm chàm Phụ nữ Tày thắt lưng ra ngoài áo dài để xõa mối ra phía sau
Ngoài ra, người Tày còn nổi tiếng với một sản phẩm thủ công truyền thống là thổ cẩm Nguyên liệu dệt là sợi bông, sợi tơ tằm được nhuộm các màu khác nhau Công cụ và kĩ thuật dệt thổ cẩm gần giống như dệt vải thông thường, có khác chăng là khung dệt thổ cẩm gồm nhiều go hơn Mẫu hoa văn càng phức tạp thì số go càng nhiều, có khi lên tới một trăm năm mươi chiếc và chỉ những người có tay nghề cao mới có thể làm được những sản phẩm như vậy Các go này được bố trí theo một trật tự nhất định tùy theo kiểu dáng hoa văn hay cách trang trí của người dệt Khi dêt, người ta
Trang 25bỏ dần từng go rồi đưa thoi luồn sợi ngang tạo thành từng mảng hoa văn Những mô tuýp hoa văn thường gặp hơn cả trong sản phẩm thổ cẩm của người Tày là hình ngôi sao tám cánh, hoa lê, hoa nhội, lá mía… Thổ cẩm được dùng làm màn gió, mặt chăn, mặt địu, túi, khăn… Những sản phẩm thổ cẩm độc đáo ấy của người Tày từ lâu đã được biết đến và ưa chuộng bởi du khách trong và ngoài nước
Văn hóa tinh thần: Lễ hội, văn học nghệ thuật và tri thức dân gian Tày
rất phong phú, đặc sắc Văn hóa dân gian người Tày bao gồm nhiều thể loại khác nhau như tự sự dân gian, trữ tình dân gian…
Tín ngưỡng, lễ hội cũng là một mảng quan trọng trong đời sống tinh thần đồng bào Tày Đó là nơi bộc lộ rõ nhất đời sống tâm linh của họ
Thật khó mà xác định người Tày thuộc tôn giáo nào Phật giáo rất phổ biến ở Việt Nam Nhưng người Tày hầu như không có chùa thờ Phật mà chỉ
có đình thờ thần, không có các nhà tu hành mà c hỉ có những người làm nghề cúng bái như “tào”, “mo”, “then”, “pụt”
Thờ tổ tiên là tục lệ lâu đời của người Tày Bàn thờ thường đặt ở gian chính, hướng ra cửa Những ngày lễ tết trong năm, những việc đại sự gia đình như xây nhà mới, cưới xin, tang lễ bàn thờ tổ tiên bao giờ cũng là nơi họ thỉnh cầu, giao cảm tâm linh
Bên cạnh đó, người Tày cũng thờ một số vị Phật, Thần thường thấy trong Phật giáo như Phật bà Quan âm, trong đạo giáo như Hắc Hồ Huyền Đàn, Hoa Vương, Thánh Mẫu Trong khi làm ma chay cúng bái, đồng bào dùng một số nghi thức trong “thọ mai gia lễ” Tín ngưỡng của đồng bào Tày bắt nguồn từ thuyết vạn vật có linh hồn, chủ nghĩa đa thần trong nguyên thủy, tục thờ thần dòng họ, tục tin ở rất nhiều thứ ma, gọ i là “phi”, kết hợp với một
số yếu tố Đạo giáo, Phật giáo, Khổng giáo do những người làm nghề cúng bái đem truyền bá trong dân gian
Trang 26Những ngày hộ i, ngày Tết truyền thống trong đồng bào Tày cũng như trong người dân Việt Nam nói chung đều là những ngày Tết nông nghiệp Mỗi ngày Tết trong năm đều có ý nghĩa riêng, có những nghi lễ và đồ cúng riêng, thường là sản phẩm tiêu b iểu của từng mùa Tết đầu năm âm lịch
là Tết lớn nhất trong năm Đồng bào ăn mừng kết thúc một năm thu hoạch thắng lợi, đồng thời chuẩn bị cho một năm lao động sản xuất Mỗi Tết đến đều mang lại cho người ta những hy vọng mới Trong tháng Tết này người ta
mở những ngày hội Lồng Tồng để cầu mùa màng, để cho trai gái vui chơi,
ca hát với nhau, tổ chức những trò chơi dân gian để thưởng xuân Đây còn là
d ịp để bạn bè, bà con đến hỏi thăm nhau, con cái ở xa về thăm cha mẹ, nhất là con rể đến lễ tết bố mẹ vợ Ngoài ngày Tết đầu năm, trong năm, người Tày còn rất nhiều ngày Tết khác như: Tết mùng 3 tháng 3 âm lịch, Tết Đoan ngọ mùng 5 tháng 5, Tết rằm tháng bảy, Tết trung thu
Những ngày hội, ngày tết truyền thống nói chung có những ý nghĩa lành mạnh, nó nói lên ước mong của người dân lao động muốn làm sao cho mùa màng của mình thu hoạch tốt, của cải được dồi dào, ấm no, hạnh phúc Thực tế hơn, nó nhằm cải thiện phần nào đời sốngcủa người lao động sau những ngày làm ăn mệt mỏ i trên những nương rẫy
1.3 Khái quát về Cắm Nôm – dân ca Tày – Văn Chấn, Yên Bái
1.3.1 Lịch sử Cắm Nôm Tày – Văn Chấn
Người Tày Văn Chấn ai cũng rất thích nghe, nâng niu, quí trọng Nôm Bất cứ ở đâu người Tày khi nghe làn điệu Nôm trong lòng đều thấy vui và phấn chấn hẳn lên Người Tày Văn Chấn gọi dân ca là Nôm, những bài Nôm gọi là Cắm Nôm Cắm Nôm là tên gọi mang tính địa phương dùng để chỉ dân
ca Tày ở Văn Chấn, Yên Bái
Qua các giai đoạn lịch sử Cắm Nôm vẫn tồn tại và phát triển Trước Cách mạng tháng Tám 1945, Nôm rất phát triển, các cuộc vui Nôm thâu đêm
Trang 27suốt sáng, có trường hợp trai gái gặp nhau Nôm đối đáp mấy đêm liền rồi thành vợ, thành chồng Nôm trong lao động sản xuất, Nôm mừng nhà mới, Nôm mừng tết…Sau cách mạng tháng Tám đến nay, Nôm vẫn duy trì ở những
xã có đông người am hiểu Cắm Nôm Những làng bản còn phát huy phong tục tập quán này của dân tộc, bằng cách những cơ sở có người biết Nôm thường truyền dạy cho con cháu; Có những địa bàn người dân biết đặt lời mới cho Nôm Nôm đọng lại ở lớp người già, ngày nay lớp người già đã ra đi vãn, nên Nôm cũng thưa thớt Theo đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng, mấy năm gần đây Nôm Tày được đặt lời mới phù hợp với đường lối, chính sách
1.3.2 Thực tế lưu truyền diễn xướng, sinh hoạt của Cắm Nôm người Tày huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái
Sự tích của Nôm Tày, kể rằng: “Người Tày xa xưa không ai biết vào thời gian nào, sống thành từng bản, hàng ngày đi làm về ăn uống xong đi ngủ Mọi người thui thủi đi làm trong rừng xanh âm u bạt ngàn Vào mùa tháng 7, tháng 8
âm lịch, trong rừng hoang tiếng ve sầu ra rả khắp nơi Nghe tiếng ve sầu kêu vừa vui lại vừa buồn Nằm đêm người ta nghĩ ra Cắm Nôm rồi lấy tiếng ve kêu làm mẫu, giọng người bắt chước theo sau tiếng ve Giọng ve cất lên rồi ngân dài xuống giọng, nhả câu chữ theo, khi nào hòa âm người – ve là đạt Những mùa tiếng ve không kêu, người Tày ra suối nước chỗ có thác nước chảy phát ra ào ào
êm tai, cất giọng theo tiếng suối reo, bây giờ ta gọi là xướng âm, âm của người hòa với âm của suối reo, Nôm ra đời từ bấy giờ”
Bài Nôm phải là bài thơ hay một bài văn vần có chủ đề, nội dung rõ ràng Nôm được diễn xướng ở các cuộc vui Nôm mừng chúc thọ người già, Nôm mừng tết nguyên đán, Nôm mừng nhà mới, Nôm mừng mùa màng bội thu…Và hình như Nôm sinh ra còn để phục vụ hạnh phúc con người, đó là Nôm trong lễ cưới, Nôm đối đáp nam - nữ Câu mở đầu của Nôm bao giờ
cũng là: “Hới….Thương … lai (Ới …thương… nhiều) và câu chữ phải nhấn
từng tiếng sao cho người nghe rõ tiếng Hết câu đầu đến câu tiếp cũng phải
“Hới…thương….lai”, cứ lặp đi lặp lại như thế cho đến hết bài
Trang 28ở cửa ngõ Tây Bắc Tổ quốc, tác động trực tiếp đến quá trình hình thành, phát triển tâm hồn và nhân cách của cộng đồng các dân tộc cổ trên vùng đất biên thuỳ này Sự độc đáo của thiên nhiên nơi đây cũng là cái nôi để nảy sinh ra những ý tưởng kỳ vĩ và thơ mộng của các làn điệu dân ca Tày
Dân tộc Tày với nền văn hoá thung lũng còn in đậm dấu ấn trong các
lễ hội và phong tục tập quán, trong đó đã tồn tại và lưu truyền một kho tàng các làn điệu dân ca Cắm Nôm Vùng đất Văn Chấn là nơi ươm mầm, phát triển và lưu giữ những làn điệu đó Con người nơi đây hiền lành, chăm chỉ sống hoà hợp với thiên nhiên và với các cộng đồng dân tộc khác nhau Đây chính là những yếu tố để Cắm Nôm Tày được sống cùng thời gian
Như vậy, tìm hiểu về Cắm Nôm trên vùng đất sản sinh, phát triển, bảo tồn nó là một việc làm cần thiết Từ những nét khái quát chung nhất về vùng
đất, văn hoá tộc người, chúng tôi sẽ đi sâu khảo sát về nội dung nhân vật trữ tình của Cắm Nôm - tác phẩm văn hóa văn học dân gian vô cùng đặc sắc của
người Tày Văn Chấn - ở những chương tiếp theo
Trang 29Chương 2 NHÂN VẬT TRỮ TÌNH TRONG CẮM NÔM – DÂN CA TÀY
HUYỆN VĂN CHẤN – YÊN BÁI
Nhân vật trữ tình trong văn học dân gian bao gồm nhân vật trữ tình trực tiếp và biểu tượng Nhân vật trữ tình được biểu hiện trong các mối quan hệ của đời sống xã hội, nhưng phong phú và hấp dẫn nhất vẫn là trong quan hệ tình yêu đôi lứa Và Cắm Nôm của dân tộc Tày cũng không nằm ngoài quy luật ấy Nhân vật trữ tình trực tiếp là hình tượng con người trực tiếp thổ lộ tình cảm, tâm trạng, suy nghĩ, cảm xúc trong lời ca, cách xưng hô biểu hiện các trạng thái tình cảm khác nhau Nhân vật trữ tình biểu tượng là con người mượn các biểu tượng có trong các hiện tượng tự nhiên và các vật thể nhân tạo,
để bộc bạch những tâm sự, tình cảm, tình yêu Chung quy đó là tiếng hát trữ tình của con người, là tiếng hát của tình yêu trong mọi khó khăn vui buồn của cuộc sống Về khái niệm “nhân vật trữ tình” đã có nhiều quan niệm của các nhà nghiên cứu được đưa ra như của Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi Nhưng chúng tôi sử dụng khái niệm “nhân vật trữ tình” của nhà nghiên cứu
Phương Lựu trong cuốn Lí luận văn học : “Thông thường nội dung tác phẩm trữ tình được thể hiện gắn liền với hình tượng nhân vật trữ tình Đó là hình tượng người trực tiếp thổ lộ suy nghĩ, cảm xúc, tâm trạng trong tác phẩm Nhân vật trữ tình không có diện mạo, hành động, lời nói, quan hệ cụ thể như nhân vật tự sự và kịch Nhưng nhân vật trữ tình cụ thể trong giọng điệu, cảm xúc, trong cách cảm cách nghĩ Qua những trang thơ ta như gặp tâm hồn người, tấm lòng người Đó chính là nhân vật trữ tình”[41, tr.359]
Nhân vật trữ tình trong dân ca có hai vai giao tiếp chủ yếu là nam - nữ
Nó có tính điển hình và khái quát cao Tính cách nhân vật trữ tình chủ yếu bộc
lộ qua việc trình bày những tâm trạng, những tình cảm Hầu hết nó không có tính xác định về đặc điểm diện mạo và tính cách
Trang 302.1.Nhân vật nữ trong Cắm Nôm
Nhân vật trữ tình trong ca dao, dân ca nói chung đều là nhân vật trữ tình tâm trạng Đây là nhân vật giao tiếp nên có nhân vật là chủ thể trữ tình và nhân vật là đối tượng trữ tình Nhân vật Nam – Nữ song hành với nhau theo từng cặp giao tiếp đối đáp hay từng phe đối lập Hai vai Nam – Nữ là hai vai vừa tương hợp vừa đối kháng, vừa cân bằng vừa đối trọng Trong Cắm Nôm nhân vật trữ tình nữ cũng không nằm ngoài quy luật đó và các kiểu nhân vật trữ tình nữ có thể được biểu hiện ở các phương diện sau:
2.1.1 Nhân vật nữ trên phương diện người yêu trong Cắm Nôm
Xuyên suốt trong các lời ca Cắm Nôm, có thể nhận thấy những nhân vật trữ tình, cụ thể là nhân vật là nữ được biểu hiện nhiều nhất, họ có nhiều đức tính tốt, nhưng họ là người phải chịu nhiều khổ cực, cay đắng nhất, họ thường không có quyền như nam giới Được thể hiện qua các mối quan hệ, nhưng đặc sắc nhất vẫn là trong tình yêu đôi lứa, nhân vật nữ trong Cắm Nôm trên phương diện là người yêu - họ thường là các cô gái đang ở lứa tuổi trẻ nhất, đẹp nhất, họ xinh tươi như những bông hoa, tình yêu bắt đầu từ những buổi đầu gặp gỡ, tỏ tình:
“ Mới gặp anh, em như hoa Thân em là con gái
Bước chân xuống thuyền đi Chân trái đi giày hoa
Chân phải đi giày vải Chèo thuyền đi theo sóng bạc Chèo thuyền đi mường xa theo anh”
Trang 31Họ tế nhị, kín đáo, khao khát gặp gỡ, mãnh liệt, nồng nàn bất chấp mọi ngăn cấm của lễ giáo phong kiến, cùng nhau vượt qua những khó khăn để đến được với nhau:
“ Thân em là phận gái Ngâm gạo vào nhiều sanh Sắm bữa gói nhiều gói
Ôm áo theo sau anh Khăn gói theo sau mình
Ta cùng nhau vượt qua”
Những ước mơ khát vọng cao đẹp sẽ làm cho tâm hồn con người thêm đẹp cả về nhân cách và ý chí, làm cho họ đáng sống và trân trọng cuộc sống của mình hơn Trong quan niệm của nam nữ người Tày, tình yêu chân thành, mãnh liệt dường như chưa đủ, để đến với tình yêu đích thực của mình, họ luôn mang trong mình nỗi niềm về uớc mơ khát khao hạnh phúc cháy bỏng song cũng rất đời thường, mộc mạc:
“ Ước rứ dảy rứ dảy Ước rứ dảy mịt nọi mứa tióc đằm ngá Ước rứ dảy mứa phắn pia tảu nặm Cất pia pét lái mứ xi xăm”
Dịch :
“Ước muốn thật ước muốn
Ước muốn dao con được cắm chuôi ngà Ước sao được em đến dệt lụa gian giữa nhà Ước sao được em đến dệt lụa là nhà anh”
Trang 32Đó còn là nỗi nhớ mong khắc khoải trong tình yêu gắn bó khi xa cách
dù chỉ một giờ; Nhân vật trữ tình đã gửi nỗi niềm đó qua những tiếng ve rừng than vọng nghìn tiếng “Nghìn thiêng mèng loọng” để bày tỏ nỗi lòng bằng những lời ca của Cắm Nôm:
“ Mặt trời đã lặn sau núi cao Ngước mắt lên ngắm trăng sao Không biết con sao bạc lộn nhiều phương còn nhớ trời sắp tối không? Nơi chơi án thưở bé còn nhớ hay không?
Nắng dọi mặt ửng hồng Các lời thương cùng lứa đều còn nhớ Phong thư ngày ấy vẫn còn ghi
Tiếng đồn anh qua cầu hoa thay lòng Thân em và vía em lộn cầu đồng đổi thay
Ve sầu kêu rừng xanh vắng lặng Liếc mắt lên đừng liếc theo gió nhẹ”
Những lời ca Cắm Nôm thể hiện vẻ đẹp trong tình yêu đôi lứa qua nỗi nhớ mong, sự buồn đau khi tình yêu tan vỡ, ước vọng về tình yêu thủy chung,… Trong tình yêu, tình cảm của họ thường mộc mạc, “thật thà như cái bụng”, “thẳng như ruột ngựa” song cũng hết sức dứt khoát, táo bạo, … để rồi khi chuyện tình không thành, người con gái mang “cái buồn” ấy “miên man” suốt đời Dù xa xôi vạn dặm, dù núi cách núi, đèo cách đèo họ vẫn mong muốn được đến bên nhau:
“ Pú thung nứa cách lai chặn Vắn pi cọ au non khăm má thú nọong toan
Trang 33Pú tắm mứa cách lai pái Vấn pi au mon lính mon lá má thú nọong ngoi Vấn nọong ả lả khan va ngoi
Chắc hật rứ dảy cu mon khẳm pía quan Chắc hật rứ đảy mon lính mon lá
thử tham pía pi »
Dịch :
“ Núi cao ngăn cách nhiều tầng
Anh mang gối the đến với em nằm
Em cũng bảo là nằm thì nằm Núi thấp cách nhiều sườn Anh mang gối thổ cẩm đến với em ngủ
Em cũng bảo là ngủ thì ngủ Biết làm sao được gối the trả quan Biết làm sao được gối thổ cẩm thứ ba trả anh”
Đối với tình yêu ta vẫn thường gặp rất nhiều lời trách móc, nuối tiếc ngỡ ngàng với bạn tình như câu ca dao người Việt:
“Em tưởng giếng sâu em nối sợi dây dài,
Ai ngờ giếng cạn em tiếc hoài sợi dây”
Tình yêu nơi trần thế có lắm lỗi éo le, cay đắng Đâu cứ phải yêu nhau
là đến được với nhau, được sống bên nhau trọn đời Đó là vấn đề muôn thưở của tình yêu loài người Con người khi yêu, họ có thể vượt qua muôn vàn gian khó để đến với nhau nhưng chẳng may duyên bạc, phận rủi mà không kết duyên thành đôi lứa thì nỗi buồn đau, cay đắng ấy kể sao cho xiết Những câu
Trang 34Cắm Nôm là câu hát của những con người trong cảnh ngộ này thấm đẫm nước mắt khổ đau với tâm trạng oán trách, tủi cực Đây là nỗi lòng cay đắng của cô gái khi tình yêu lỡ dở, bởi họ nhận thấy rằng trong tình yêu đôi khi không chỉ
là những lời dịu ngọt đắm say mà còn có cả những lời trách móc, giận hờn Đây là lời hát, lời trách cứ mang tâm trạng buồn của cô gái :
“ Anh buồn, anh còn chốn anh đi
Thân em buồn Thân em vịn đầu thang khác ở”
Đến được với tình yêu gắn bó trọn đời bên nhau nên vợ thành chồng là điều các chàng trai cô gái luôn mong ước Song không phải đôi trai gái nào cũng đi hết con đường tình yêu trọn vẹn ấy Dù có yêu nhau tha thiết, mãnh liệt đến dường nào nhưng vì một trở ngại nào đó mà họ không đến được với nhau thì buồn đau nào kể xiết Do đó ta thấy trong lời ca Cắm Nôm lời của những người yêu nhau không đến được với nhau, đặc biệt là của những người phụ nữ khi không còn mang tâm trạng vui nhộn, đằm thắm như trước nữa; Thay vào đó là lời hát chia tay xót xa day dứt không nguôi với tâm trạng khổ đau, trách móc, tủi hờn khi lỗi duyên Đấy chính là nỗi lòng của nhân vật trữ tình khi chia tay nhau ngay trong buổi đầu yêu thương, nhưng vẫn đầy lưu luyến, nhớ nhung da diết
Lời ca Cắm Nôm nhiều khi như có tiếng nấc, nó nghèn nghẹn, nó
“liếc”, nó hòa “theo gió nhẹ”, nó như tiếng ve sầu kêu trong đại ngàn vắng lặng, cái vắng lặng của thiên nhiên hay cái vắng lặng của lòng người phụ nữ
Mà có thật là có “gió nhẹ” trong hoàn cảnh trớ trêu này không, hay là cách nói giảm của nghệ nhân dân gian trân quý cho nhân vật nữ, cảm thông, thương xót của số phận đàn bà, khi người con gái phải vững vàng đối diện sự thật, tình yêu say đắm chân thành đã như nước nổi bèo trôi :
Trang 35“Con sao bạc lộn nhiều phương
Còn có nhớ trời sắp tối”,
“Phong thư ngày ấy vẫn còn ghi”
Nhưng :
“Tiếng đồn anh qua cầu hoa thay lòng”
Trăng và sao là hình ảnh tượng trưng cho tình yêu nhưng cũng là hình ảnh chỉ sự không cố định trong vạn vật Con trăng có lúc tròn lúc khuyết; con sao có lúc chi chít trên vòm trời như lá trong rừng xanh, có lúc lác đác như
nóc nhà trong bản mình Vậy thì tình yêu “của cái bụng tao và cái bụng mày”
có đi chung một con núi, có lội chung một con suối được không ?
Như vậy, nhân vật nữ trong tình yêu đôi lứa bộc lộ mọi sắc thái và cung bậc của tình cảm Những lời ca Cắm Nôm đã phản ánh tâm trạng, hoàn cảnh của người phụ nữ Tày trong tình yêu, đồng thời lời ca đã phần nào khẳng định
sự nam quyền trong xã hội phong kiến xã hội Tày ngày xưa Người phụ nữ trong Cắm Nôm cho dù có khát khao yêu thương, tình cảm bùng cháy như ngọn lửa âm ỉ được cời lên trong những đêm đông giá rét, thì vẫn phải cất giấu tình yêu tình thương đấy trong đáy lòng, thổn thức cùng mây ngàn gió núi vọng vào rừng xanh bao la:
“Một giáp nữa thiếp sẽ không lấy chồng Nhớ đoạn xưa, nhớ nhau khó ước
Chim lạc đàn làm sao vui được Thân em ruồng bỏ anh
Thân em lên ở rừng cây xanh lặng vắng”
2.1.2 Nhân vật nữ trên phương diện người vợ, người mẹ trong Cắm Nôm
Cuộc sống người Tày xưa kia đầy rẫy những bấp bênh, khó khăn, nhiều thân phận người phụ nữ phải chịu những bất công, ngang trái Nhưng
Trang 36những người vợ, người mẹ luôn dành tình yêu thương cho gia đình, cho chồng, cho con
Cuộc sống của họ thật đơn sơ, giản dị với những công việc quen thuộc hàng ngày
“ Tốn công trồng khoai cho con họ ăn bon Tốn công trồng dâu cho con họ tuốt lá Trồng cây Mản không được thành bụi Tốn công trồng cây Nâm không thành bãi”
Xã hội phong kiến phụ quyền tồn tại hàng nghìn năm với những quan
niệm bất công, khe khắt “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tong tử”,
với quan niệm trọng nam khinh nữ, …
Số phận của người phụ nữ Tày cũng không tránh khỏi qui luật nghiệt
ngã như “hạt mưa sa” đó, họ phải đối mặt với những khó khăn thử thách, muôn mặt của cuộc đời, số phận nổi trôi, sống mà như chết như lời ca:
“ Có chồng như trời đánh
Có chồng như trời trói
Có con như chuột đút Khác nào cha mẹ bỏ sọt đá dìm nước Dìm xuống nước không chết
Kéo lên bãi cát chơi nắng Tháng tám nước lũ cuốn trôi đi Thân em ở cầu may khốn quá”
Họ ví chồng như “củi mục” hay họ đang hẩm hiu ví mình như cây củi
mục, phó thác cho số phận, bị chồng chửi mắng, đánh đập Hành động đó thể
Trang 37hiện phần bộ mặt xã hội nam quyền lúc bầy giờ Với cách nói chân thực góp phần thể hiện tiếng nói tố cáo gay gắt :
“ Láp tai lả láp tai Nhá dăng phứn mạy mun Mác mun mín lắn thó hua Nhá au phua té mơ nhắng nọi Pay đông phưa cọ đá
Pay đông phua cọ ghen
Má rướn lo khen khoa cóc tặp Hua khăm tặp phứn mạy láp Rung chạu tặp cắn háp mạy mưới
Nả nọong bâu đảy phông thươi pân cáu dé đơ”
Dịch :
“ Chừa chết chừa đến chết Đừng đun củi cây mục Bụi mục bay vào đầu Đừng lấy chồng từ tuổi còn bé
Đi rừng chồng cũng mắng
Ra bến nước chồng cũng ghen
Về nhà xắn tay áo lên đánh Chập tối dùng củi cây chừa mà phang Sáng sớm dùng đòn gánh đánh”
Trang 38Nỗi buồn luôn ngập trong tâm hồn người phụ nữ Tày, nỗi buồn ấy như
ăn sâu vào tâm khảm, chất chứa tầng tầng lớp lớp mà như không thể giãi bày
Đó chính là những lời than thân, trách phận
Người phụ nữ Tày với tư cách người vợ luôn mong muốn người bạn đời thật chịu thương chịu khó, cùng nhau làm nương phát rẫy, cùng xây dựng
một mái nhà yên ấm, cả nhà được quây quần “ Nhìn đàn chim bay về tổ/ Cả đàn ríu rít quây quần, mừng vui” Lời ca ấy được cất lên khi người bạn đời của họ không chăm chỉ làm lụng, không quan tâm đến vợ con:
“ Chồng em đêm tối chưa thấy về Việc gia đình chồng em bỏ mặc Trong túi không có tiền, có bạc
Đã sắp thành người xấu Mong sao quay lại với vợ, con”
Cuộc sống người Tày nhiều khó khăn, vất vả, người chồng đi xa, người
vợ ở nhà chăm sóc con cái, mẹ già, thay chồng lo toan, gánh vác, ngóng
chồng trong “đêm dài” Qua những lời ca vẻ đẹp của những người vợ càng
hiện lên rõ nét :
“Chồng đi xa đêm dài dặc Chờ mãi không thấy bóng dáng Ngày ngày ở nhà ngóng trông Chăm con thơ bế bồng
Chăm mẹ già tóc bạc”
Lấy chồng, theo chồng niềm vui lớn nhất của người phụ nữ Tày cũng như người phụ nữ của bao dân tộc khác là được làm mẹ Họ vui mừng khi đón đứa trẻ chào đời, mong mọi điều tốt lành đến với con, mong con trở thành
Trang 39“người tốt, người ngoan”, được bản làng đón nhận và yêu mến Đó chính là
niềm vui lớn nhất của người mẹ trẻ:
“ Cả nhà mừng đón đứa trẻ
Mẹ sờ tay, sờ vai
Nó không khóc, không đòi bế Mong con lớn lên thật khỏe Làm người tốt ,người thật ngoan Đến già không được làm điều xấu”
Nhân vật trữ tình trong Cắm Nôm còn là những người vợ, người mẹ biết lao động để xây dựng cuộc sống cho bản thân và gia đình, yêu thương chồng con, chăm lo cho hạnh phúc gia đình, dạy bảo khuyên răn, chăm sóc yêu thương con cháu :
“Gà gáy trên núi cao
Em phải dậy sớm Trước giờ lên nương Phải thổi cơm đun nước Cho con ăn no bụng Không khóc, không đòi mẹ”
Cắm Nôm là một loại hình dân ca gắn liền với đời sống sinh hoạt Tính
chất này tạo cho những lời ca vừa mang tính hiện thực mà lại vừa chứa đựng màu sắc lãng mạn Trước hiện thực lao động còn nhiều khó khăn, người nông dân Tày vẫn chan chứa ước mơ, hi vọng Những lời cầu mong ấy của nhân dân được bộc lộ trong lời ca của Cắm Nôm
Trang 40Trong lời hát về mùa màng, các tác giả Cắm Nôm đặc biệt chú ý đến cây lúa, hình ảnh nhân vật trữ tình nữ cũng thể hiện tâm trạng qua lớp lời
ca này:
“Bờ ruộng có hoa lạ, lúa thơm ngát Giữa đồng có hoa lúa thơm ngon Đồng trên đồng lúa tẻ
Đồng dưới đồng lúa nếp Lúa nếp dẻo thơm chín sau”
Từ lâu, người Tày đã sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước Do có mặt sớm hơn các dân tộc khác nên người Tày đã khai phá và làm chủ được những thung lũng bằng phẳng Hạt lúa không chỉ có giá trị vật chất mà còn mang ý nghĩa tinh thần đặc biệt với nhân dân Người miền xuôi thường chẳng
hay nói “Một hạt thóc vàng, chín giọt mồ hôi” Đến miền ngược, câu nói ấy vẫn giữ nguyên ý nghĩa: “Muối khẩu, cẩu muối thứa” Hạt thóc được nhân
dân nâng niu, trân trọng, coi nó như hạt ngọc trời Hạt ngọc trời ấy chắt chiu bao giọt mồ hôi của người nông dân, thế nên sao họ không quí trọng Hơn nữa, trong thời đại mà con người chưa thể chế ngự được thiên nhiên, để có được hạt ngọc trời ấy, sự vất vả cực nhọc ấy càng nhân lên gấp bội, nên họ càng mong ước được đón nhận thành quả lao động của mình:
“ Cấy ba tháng khóm tốt Cấy sáu tháng làm đòng trổ bong Bông lúa trĩu hạt, xếp vây rồng Hạt thóc vỏ nhạm ráp mang về
Cả bản được ăn thóc vàng
Cả mường được ăn thóc khô nỏ”