1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận án tiến sĩ) nhân vật liệt nữ trong văn học việt nam trung đại

179 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 179
Dung lượng 2,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong lịch sử văn học Việt Nam trung đại, kiểu nhân vật liệt nữ có một tiến trình vận động song hành với vận mệnh của văn học nhà nho, thậm chí kéo dài thành vệt sang những năm đầu thế k

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

PHẠM VĂN HƯNG

NHÂN VẬT LIỆT NỮ TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM TRUNG ĐẠI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

Hà Nội - 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

PHẠM VĂN HƯNG

NHÂN VẬT LIỆT NỮ TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM TRUNG ĐẠI

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS TRẦN NHO THÌN

Hà Nội - 2016

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi muốn qua đây bày tỏ lòng tri ân đối với PGS TS Trần Nho Thìn (Khoa Văn học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội), người đã tận tình hướng dẫn tôi trong việc thực hiện luận

án này

Tôi cũng gửi lời cảm ơn tới các thành viên trong các Hội đồng đánh giá luận án bởi những góp ý của Hội đồng sẽ giúp tôi có những tiến bộ nhanh hơn trên con đường học tập và nghiên cứu

NGHIÊN CỨU SINH

Phạm Văn Hƣng

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan rằng:

- Luận án Tiến sĩ này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học, chưa từng được công bố trong các công trình nghiên cứu của ai khác

- Luận án đã được tiến hành nghiên cứu một cách nghiêm túc, cầu thị

- Kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu khác đã được tiếp thu một cách trung thực, cẩn trọng trong luận án

NGHIÊN CỨU SINH

Trang 6

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 8 1.1 Giới thuyết một số khái niệm sử dụng trong luận án 8 1.2 Một số vấn đề về phụ nữ dưới ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo trong

lịch sử Trung Quốc và Việt Nam

10

1.2.1 Một số vấn đề về phụ nữ dưới ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo

trong lịch sử Trung Quốc

10

1.2.2 Một số vấn đề về phụ nữ dưới ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo

trong lịch sử Việt Nam

15

1.3 Lịch sử nghiên cứu nhân vật liệt nữ trong văn học Việt Nam trung

đại

28

1.3.1 Những nghiên cứu tại nước ngoài về nhân vật liệt nữ trong văn học

Việt Nam trung đại

28

1.3.2 Những nghiên cứu tại Việt Nam về nhân vật liệt nữ trong văn học

Việt Nam trung đại

2.1 Liệt nữ “khai khoa” trong văn chương Đại Việt và sự gán ghép của

nhà nho: Trường hợp nhân vật Mị Ê (Việt điện u linh)

38

Trang 7

2

đầu tiên của văn chương Đại Việt

2.1.2 Sự gán ghép của nhà nho Đại Việt và sự di chuyển giữa Văn - Sử,

Trung - Trinh của liệt nữ Mị Ê

41

2.2 Liệt nữ bản địa đầu tiên và sự khẳng định kết quả quá trình Nho giáo

hóa xã hội Đại Việt cuối thế kỉ XIV - đầu thế kỉ XV: Trường hợp Lê thái

hậu và Nguyễn thị (Nam Ông mộng lục)

48

2.2.1 Sự lấn át của phương diện Trinh so với Trung trong việc thể hiện

nhân vật Lê thái hậu và Nguyễn thị

48

2.2.2 Sự khẳng định kết quả quá trình Nho giáo hóa xã hội Đại Việt cuối

thế kỉ XIV - đầu thế kỉ XV nhìn từ nhân vật Lê thái hậu và Nguyễn thị

53

Chương 3: NHÂN VẬT LIỆT NỮ TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM

TRUNG ĐẠI THẾ KỈ XVI - XVIII

62

3.1 Liệt nữ mang dáng dấp giai nhân và sự thắng thế nửa vời của đạo lí

Nho gia: Trường hợp nhân vật liệt nữ trong Truyền kì mạn lục

62

3.1.1 Nhân vật liệt nữ là sản phẩm của bất bình đẳng giới và bối cảnh

loạn lạc còn nặng gánh nhân sinh

62

3.1.2 Sự chiến thắng của Văn so với Sử trong việc thể hiện người liệt nữ

mang dáng dấp giai nhân của thể truyền kì

70

3.2 Nhân vật liệt nữ có đời sống nội tâm phong phú trong bối cảnh vãn

hồi đạo đức Nho giáo đầu thế kỉ XVIII: Trường hợp liệt nữ An Ấp

3.2.2 Sự chuyển đổi từ Tình sang Tính của nhân vật liệt nữ trong mắt nữ

sĩ, mở đường cho mẫu người tài tử - giai nhân

82

3.3 Liệt nữ tà dâm và vưu vật trinh liệt hay là sự phân hóa lí tưởng Nho

gia cuối thế kỉ XVIII: Trường hợp Thúy Kiều (Truyện Kiều) và Đặng Thị

90

Trang 8

3

Huệ (Hoàng Lê nhất thống chí)

3.3.1 Nhân vật liệt nữ giữa hai nẻo Trinh liệt và Tà dâm: Trường hợp

Thúy Kiều trong "Truyện Kiều"

90

3.3.2 Vưu vật khuynh quốc với kết cục tiết liệt ngoài dự kiến của nhà

nho: Trường hợp Đặng Thị Huệ trong "Hoàng Lê nhất thống chí"

102

Chương 4: NHÂN VẬT LIỆT NỮ TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM

TRUNG ĐẠI THẾ KỈ XIX

108

4.1 Sự lên ngôi của nhân vật liệt nữ chính thống trong nỗ lực phục hưng

Nho giáo thế kỉ XIX: Trường hợp nhân vật liệt nữ trong Đại Nam liệt

truyện và Truyện Nôm

108

4.1.1 Sự quy phạm hóa một mô hình nhân cách trong thời kì phục hưng

Nho giáo dưới triều Nguyễn qua “Đại Nam liệt truyện”

108

4.1.2 Sự mô hình hóa một kiểu tự sự về liệt nữ trong “Đại Nam liệt

truyện” và làn sóng kế tiếp của nó trong Truyện Nôm

116

4.2 Sự tái sinh những cốt truyện cũ và tính thời sự, tính duy lí của nhân

vật liệt nữ thế kỉ XIX: Trường hợp nhân vật liệt nữ trong Nam Xương liệt

nữ Vũ thị tân truyện và Vân nang tiểu sử

129

4.2.1 Sự tái sinh những cốt truyện cũ hay phục sinh những hóa thạch văn

chương: Trường hợp Vũ Thị Thiết (“Nam Xương liệt nữ Vũ thị tân

truyện”) và Trinh phụ hai chồng (“Vân nang tiểu sử”)

129

4.2.2 Tính thời sự và tính duy lí của nhân vật liệt nữ nửa sau thế kỉ XIX:

Trường hợp nhân vật mẹ Nguyễn Cao ("Vân nang tiểu sử")

Trang 9

b Trong lịch sử văn học Việt Nam trung đại, kiểu nhân vật liệt nữ có một tiến trình vận động song hành với vận mệnh của văn học nhà nho, thậm chí kéo dài thành vệt sang những năm đầu thế kỉ XX, ám ảnh cả trong văn học Việt Nam hiện đại những năm 1932 - 1945 khi công cuộc hiện đại hóa văn học đã diễn ra ồ ạt và mạnh mẽ Cùng với các thành tố nội tại của bản thân văn học như: lực lượng sáng tác, quan điểm thẩm mĩ, ngôn ngữ, thể loại, chủ đề - đề tài, việc nghiên cứu nhân vật liệt nữ giúp chúng ta nhìn ra sự vận động của bản thân văn học qua một trong những kiểu nhân vật quan trọng nhất của văn học nhà nho Do những “điển phạm” trong nghiên cứu và phê bình, có những định đề được đem ra áp dụng cho mỗi giai đoạn văn học như: Giai đoạn văn học khẳng định quốc gia, dân tộc; Giai đoạn văn học khẳng định nhà nước phong kiến; Giai đoạn văn học khẳng định con người Nói một cách khách quan, mỗi định đề đó không thể bao quát được hết mọi đặc điểm, hiện tượng của từng giai đoạn văn học Ngay trong “Giai đoạn văn học khẳng định con người” ở Việt Nam thế kỉ XVIII - nửa trước thế kỉ XIX thì nhân vật liệt nữ (một

mô hình nhân cách tuân thủ những tín điều khắt khe nhất của đạo đức Nho giáo) lại xuất hiện nhiều hơn bao giờ hết Qua nghiên cứu trường hợp nhân vật liệt nữ, ta có thể hiểu thêm về tiến trình văn học Việt Nam trung đại và sự vận động của văn học

1 Về mặt văn hóa, văn học, chúng tôi quan niệm Việt Nam thuộc về khối Đông Á dựa trên sự tương đồng về văn hóa và ngôn ngữ (tiếng Hán) trong quá khứ

Trang 10

2 Mục tiêu khoa học

- Mục tiêu thực tiễn: Thống kê, khảo sát trên cơ sở những tư liệu đã được

công bố, dịch thuật để tìm ra những tác phẩm tiêu biểu trong văn học Việt Nam trung đại có sự xuất hiện của nhân vật liệt nữ Trên cơ sở đó, xác định diện mạo, đặc điểm, sự vận động của loại hình nhân vật này qua các tác phẩm, các nhóm tác phẩm, các thể loại, các giai đoạn văn học

- Mục tiêu lí luận: Từ những kết quả nghiên cứu mang tính thực tiễn, luận

án muốn thông qua đó để nhìn ra những vấn đề mang tính lí luận trong sự vận động, việc phân kì của văn học Việt Nam trung đại Cũng qua đó, luận án hướng tới việc đưa ra hoặc khẳng định thêm một số kết luận về văn học nhà nho, góp phần khẳng định tính khả thi của một hướng nghiên cứu chuyên sâu mang tính liên ngành trong nghiên cứu văn học nói chung và văn học Việt Nam trung đại nói riêng

3 Đối tƣợng và phạm vi tƣ liệu

Luận án nghiên cứu nhân vật liệt nữ trong văn học Việt Nam trung đại qua các văn bản tự sự bao gồm: truyện kí, tiểu thuyết, truyện thơ Nôm, sử truyện Trong các văn bản tuồng, nhân vật nữ thường không được nhấn mạnh phương diện

Trinh như phương diện Trung: Điêu Thuyền trong Phụng Nghi đình (không rõ thời

Trang 11

6

điểm sáng tác) chấp nhận làm vật hi sinh cho mĩ nhân kế để diệt Đổng Trác Xuân

Hương trong Ngoại tổ dâng đầu (đầu thế kỉ XX) đã nghe lời cha dùng mĩ nhân kế

để giúp nghĩa quân diệt Võ Hùng Vương, tôn Bình Vương lên ngôi Do vậy, các nhân vật nữ trong tuồng không thuộc diện khảo sát của luận án này Những tác phẩm thơ đề vịnh nhân vật liệt nữ viết bằng chữ Hán, chữ Nôm chỉ được nhắc đến như một kênh thông tin để tham khảo chứ không phải là đối tượng khảo sát chính của Luận án Nhân vật liệt nữ trong các ghi chép chính sử và dã sử, nếu như có liên quan và tiêu biểu, cũng sẽ được khảo sát để mở rộng phạm vi nghiên cứu và giúp cho kết luận khoa học của luận án thêm phần tin cậy

Chúng tôi bắt đầu với mốc thế kỉ X vì đó là thời điểm khởi đầu của văn học Việt Nam trung đại Việc thiết kế các chương theo sự phân kì các giai đoạn văn học

sử giúp người đọc dễ theo dõi tiến trình vận động của đối tượng Việc chia các

chương thành các ba chặng: Thế kỉ X - XV, Thế kỉ XVI - XVIII, Thế kỉ XIX, là nhìn

theo sự vận động của bản thân đối tượng được khảo sát bên cạnh việc tham chiếu với sự vận động của lịch sử văn hóa, xã hội đương thời, sự thịnh suy đắp đổi của những triều đại lớn

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Luận án có ý nghĩa lí luận về tư duy nghệ thuật, tâm lí học sáng tạo văn học nghệ thuật, lí giải quá trình Nho giáo hoá và giải Nho giáo của văn học Việt Nam trung đại, đồng thời có giá trị thực tiễn nhất định trong việc đưa ra một bình diện tiếp cận di sản văn học trung đại Việt Nam Nghiên cứu vấn đề này, có ý nghĩa không chỉ với lịch sử văn học nói riêng mà còn góp phần điều chỉnh một số nhận thức trong quản lí văn hóa và xã hội

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp tiếp cận liên ngành: Trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, tiếp cận liên ngành là một phương pháp có nhiều ưu điểm so với các phương pháp nghiên cứu khác Đối với văn học Việt Nam trung đại, nghệ thuật ngôn từ nằm trong điểm giao thoa của tính nguyên hợp Văn - Sử - Triết bất phân, phương pháp tiếp cận liên ngành tỏ rõ được những ưu thế cũng như hiệu quả mà nó

Trang 12

7

mang lại Trong luận án này, khi vận dụng phương pháp tiếp cận liên ngành, chúng tôi đặc biệt nhấn mạnh mối liên hệ giữa Văn và Sử, do hầu hết các nhân vật liệt nữ đều là các nhân vật lịch sử và đi từ chính sử, dã sử vào sáng tác văn chương Qua đây, luận án khôi phục lại phần nào bối cảnh văn hóa - xã hội, các quan niệm về mặt văn hóa thời trung đại cũng như đặt tác phẩm và nhân vật trong dòng mạch của thời đại sản sinh ra nó nhằm giúp người nghiên cứu có một cái nhìn sâu sắc hơn về đối tượng của mình, tránh được phần nào sự phiến diện, chủ quan hoặc áp đặt cái nhìn của người thời hiện đại vào một sản phẩm văn hóa của thời trung đại

- Do đối tượng nghiên cứu có những đặc thù như đã trình bày nên chúng tôi

ưu tiên sử dụng phương pháp nghiên cứu trên Ngoài ra, chúng tôi vẫn sử dụng một

số phương pháp nghiên cứu thường gặp như phương pháp lịch sử - xã hội, phương pháp tiếp cận thi pháp học, phương pháp loại hình học,… cùng các thao tác khoa học như giải thích, phân tích, chứng minh, so sánh, hệ thống hóa, mô hình hóa,… bên cạnh việc tham khảo góc nhìn của một số luận thuyết như nữ quyền luận, phân tâm học, trong đó mệnh đề nổi tiếng của Simone de Beauvoir: “Người ta không phải sinh ra là phụ nữ: Người ta trở thành phụ nữ” [11, tr.245] là một điểm tựa khá vững chắc Do phạm vi tư liệu khá bề bộn và có những tư liệu nằm ngoài khả năng tiếp cận của chúng tôi nên Luận án chọn lối nghiên cứu trường hợp, thông qua các tác phẩm tiêu biểu đã được dịch thuật và công bố Chúng tôi cũng ý thức rằng giữa các phương pháp và thao tác luôn có sự phát triển và kế thừa, mọi sự ứng dụng đều chỉ

là tương đối và nhằm mục đích cao nhất là phục vụ việc nhận diện đối tượng trong giới hạn và điều kiện hiện có của người nghiên cứu

6 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận án có cấu trúc gồm 4 chương:

Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu

Chương 2: Nhân vật liệt nữ trong văn học Việt Nam trung đại thế kỉ X - XV

Chương 3: Nhân vật liệt nữ trong văn học Việt Nam trung đại thế kỉ XVI - XVIII Chương 4: Nhân vật liệt nữ trong văn học Việt Nam trung đại thế kỉ XIX

Trang 13

- Liệt nữ 烈女: Theo Hán Việt tự điển của Thiều Chửu, “liệt 烈” có nghĩa là

“cứng cỏi, chính đính”, “liệt nữ” là con gái cứng cỏi chết vì tiết nghĩa không chịu

nhục thân” [26, tr.332] Trong Hán Việt từ điển, Đào Duy Anh định nghĩa “liệt nữ”

là “người đàn bà kiên trinh không chịu khuất tiết” [3, tr.506] Theo Hán ngữ đại từ

điển: “Liệt nữ: Xưa chỉ người phụ nữ trọng nghĩa khinh sinh (…) Đặc chỉ người

phụ nữ tuẫn tiết” [237, tr.62] Từ hải thì định nghĩa: “Liệt nữ: Chỉ người phụ nữ

trọng nghĩa khinh sinh (…) Xét ra, “liệt 烈” còn viết là “liệt 列” (…)” [240,

tr.1825] Theo Từ nguyên, “Liệt nữ: Người phụ nữ cương chính, có tiết tháo Sử kí -

Thích khách truyện: Chị của Nhiếp Chính ở ấp đau buồn mà chết bên xác Chính

Người nước Tấn, Sở, Tề, Vệ nghe được đều nói: “Không chỉ một mình Nhiếp Chính

có thể [được gọi là anh hùng], mà chị của Chính cũng là liệt nữ” Xã hội phong kiến cũng gọi người phụ nữ không chịu cải giá, hoặc không chịu bị làm nhục mà tuẫn thân là liệt nữ” [238, tr.1920] Ở Trung Quốc, không phải không có lúc người dùng

bị nhầm lẫn hai chữ đồng âm này Trong Liệt nữ truyện kim chú kim dịch, Trương

Kính viết: “Trong sách vở thường co giãn hiểu “liệt nữ 列女” thành “liệt nữ 烈女”, cho nên trong dân gian khi răn dạy người phụ nữ không kiểm soát được hành vi của

Trang 14

9

mình thường nói: “Bất độc Liệt nữ truyện 列女傳, bất hiểu phụ đức”, tức là đã hiểu

“liệt 列” thành “liệt 烈” rồi” [243, tr.4] Nhà văn Lỗ Tấn từng giải thích: “Căn cứ vào ý kiến của các nhà đạo đức bấy giờ thì đại khái “tiết” là chồng chết thì không được tái giá, cũng không được chằng bậy với ai, chồng chết càng sớm, nhà nghèo thì “tiết” càng cao Nhưng “liệt” thì có hai loại: chết theo chồng hoặc chết khi có cường hào đến hiếp, chết càng thảm, càng đau khổ thì “liệt” càng cao” [169, tr.35]

Sang đến Việt Nam, hệ thống nhân vật văn hóa - văn học này cũng gần như chưa bao giờ được định nghĩa một cách hoàn chỉnh trong các văn bản hành chính chính thống thời trung đại Các nhân vật đó, đến thời Nguyễn thường được gọi chung là “tiết phụ” và dường như chỉ có danh hiệu “tiết phụ quyên sinh” và “trinh

nữ” là được quy định cụ thể trong Lệ nêu thưởng thọ dân, thọ quan, nghĩa phu, tiết

phụ, trinh nữ, hiếu tử, thuận tôn sửa đổi năm 1866: “Tiết phụ quyên sinh, từ sau

có người nào sau khi chồng chết, (không kể có con hay không) mà quyên sinh (như thắt cổ, tự vẫn, nhảy xuống sông, xuống giếng), cho vẹn tiết, có đủ người nhà chồng

và hương lí bảo chứng khai rõ, do quan địa phương xét hỏi kĩ càng sự trạng đích

xác, để tâu rõ, thưởng cấp cho một tấm biển, Nhà nước làm nhà riêng cho Trinh nữ,

từ sau phàm con gái vẫn chưa đi lấy chồng, mà biết kiên trinh giữ tiết, không chịu

để cho kẻ cường bạo làm nhơ nhuốc được, sự trạng đích xác, có thương tích làm bằng chứng, không kể có chết hay không, thưởng cấp cho một tấm biển như lệ tiết phụ, nhà nước làm nhà riêng cho, (2 khoản ấy trước đều đặc cách ban ơn, chưa có định lệ, đến nay mới vâng lệnh chước nghị)” [152, tr.1019] Tuy nhiên, một phần vì

sự lẫn lộn của hai chữ đồng âm, khái niệm “liệt nữ” được sử dụng không hẳn nhất quán tại Việt Nam Trong luận án này, chúng tôi quan niệm: “Liệt nữ 烈女 là người phụ nữ hi sinh tính mạng của mình để bảo toàn trinh tiết, chứng minh sự trinh tiết, hoặc để thể hiện lòng chung thủy đối với chồng” dù cho người đó có được triều đình phong kiến nêu khen hay không Những trường hợp được gọi là “trinh nữ”,

Trang 15

10

“tiết phụ”… cũng được luận án xem xét để hiểu rõ hơn tính hệ thống của kiểu nhân vật này trong văn học Việt Nam trung đại.2

- Văn học Việt Nam trung đại: “Văn học Việt Nam trung đại”, hay còn gọi

là “văn học cổ Việt Nam”, “văn học Việt Nam thời kì sử dụng chữ Hán và chữ Nôm”, “văn học viết Việt Nam thế kỉ X - XIX”,… có một số đặc trưng cơ bản như:

Là sản phẩm của thời kì nguyên hợp Văn - Sử - Triết bất phân thể hiện ở việc khái niệm “văn” được hiểu một cách khá rộng rãi, “Tư tưởng kinh điển và tôn giáo đã cung cấp cảm hứng, đề tài, chủ đề và gợi ý các thể loại cho văn học trung đại” [168, tr.66], tính chất ước lệ gắn với việc sùng cổ, sử dụng điển tích điển cố, đội ngũ sáng tác chủ yếu là tăng lữ, quý tộc và nhà nho, sáng tác bằng chữ Hán và chữ Nôm, kéo dài từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của văn học cổ Trung Quốc và có mối quan hệ qua lại với văn học dân gian Việt Nam

1.2 Một số vấn đề về phụ nữ dưới ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo trong lịch

sử Trung Quốc và Việt Nam

1.2.1 Một số vấn đề về phụ nữ dưới ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo trong lịch

sử Trung Quốc

Trong lịch sử Trung Quốc, vấn đề khắc phục bản năng tình dục, khẳng định

sự vượt trội và thống trị của nam giới với nữ giới, ý nghĩa của mối quan hệ giữa Trung, Hiếu, Trinh là một mối quan tâm kéo dài qua nhiều thời đại Hàn Phi Tử

(281 TCN - 233 TCN), đại diện tiêu biểu của Pháp gia từng viết trong Thiên Trung

hiếu: “Thần nghe nói: “Tôi thờ vua, con thờ cha, vợ thờ chồng, ba việc đó thuận thì

thiên hạ trị yên Đó là cái đạo bất biến của thiên hạ Vị vua sáng, bầy tôi hiền không thể thay đổi được nó” [133, tr.574] Trong thời Chiến quốc, Khổng Tử (551 TCN -

479 TCN) tuy chưa nói nhiều đến việc ngăn ngừa người phụ nữ tái giá hay cổ vũ họ

tự tận theo chồng nhưng ông có khá nhiều lần phát ngôn xem thường phụ nữ như:

“Duy nữ tử dữ tiểu nhân nan vi dưỡng dã, cận chi tắc bất tốn, viễn chi tắc oán (Chỉ

2 Trong Luận án của chúng tôi, “liệt nữ 烈女” không phải có chú chữ Hán đi kèm như “liệt nữ 列 女”

Trang 16

11

có đàn bà và tiểu nhân là khó nuôi thôi Gần thì chúng nhờn, xa thì chúng oán )”3

Kinh Lễ có ghi lại chuyện Tử Tư khóc vì không được tổ chức lễ tang cho người mẹ

của mình do bà đã tái giá Cũng trong Kinh Lễ, những ngăn ngừa, giới hạn trong

ứng xử, giao tiếp, quan hệ nam nữ đã được ghi lại, trở thành khuôn mẫu cho mấy nghìn năm sau: “Người nam và người nữ, không được phép ngồi chung hỗn độn, quần áo không được treo chung trên cùng một giá treo áo; từng mỗi người tự có khăn lược của riêng mình, không được phép dùng lẫn lộn; đưa đồ vật cũng không được phép chính tay chuyền cho (…) Giữa người con trai và con gái, nếu như chưa

có thông qua mai mối của người trung gian, không được phép tự ý riêng tư trao đổi

tên tuổi cho nhau” [127, tr.337 - 338] “Lễ kí - Giao đặc sinh nói: “Tín là đức hạnh

của phụ nữ Một khi đã sánh đôi với người thì trọn đời không thay đổi, nên chồng chết thì không lấy chồng khác” [138, tr.184 - 185] Thực ra, những quan niệm này

có nguồn gốc sâu xa từ tác phẩm triết học lâu đời bậc nhất của Trung Quốc - Kinh

Dịch Kinh Dịch quan niệm “Nhất âm nhất dương chi vị đạo (Một âm một dương

gọi là đạo)” [98, tr.451] và cũng trong Kinh Dịch, quan niệm “Phụ nhân trinh cát,

tùng nhất nhi chung dã” (Người đàn bà mà chính chuyên, ấy tốt: Theo một chồng

cho trọn đời)” [Dẫn theo: 229, tr.156 - 157] đã được nhấn mạnh Theo kinh điển

Nho gia, “Quân tử chi đạo, tạo đoan hồ phu phụ; cập kì chí dã, sát hồ thiên địa (…)

Đạo người quân tử khởi đầu mối từ vợ chồng; đến chỗ cùng cực của đạo ấy thì thấu

triệt trời đất” (Tử Tư) [215, tr.1254 - 1255] Sự “tu thân” mà Nho giáo quy định “từ

thiên tử cho tới thứ dân” là nhằm phục vụ cho mục đích chính trị (Đức trị - Nhân trị)

và nhuốm màu sắc tôn giáo (Thiên nhân cảm ứng) Việc tu thân được nhà nho đề

cao bởi nó có ý nghĩa to lớn về mặt chính trị Trong Luận ngữ, Hữu tử nói: “Kì vi

nhân dã hiếu đễ nhi hiếu phạm thượng giả tiển hĩ Bất hiếu phạm thượng nhi hiếu tác loạn giả vị chi hữu dã (…)” (Là người hiếu đễ mà thích phạm thượng thì thật ít

thấy Đã là người không thích phạm thượng mà thích làm loạn thực chưa từng có (…)”4 Nhân vật liệt nữ ra đời trong bối cảnh văn hóa Nho giáo đó và có một ý

3 Phạm Văn Khoái (2004), Khổng phu tử và "Luận ngữ", NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.370

4 Phạm Văn Khoái (2004), Khổng phu tử và "Luận ngữ", TLĐD, tr.184

Trang 17

12

nghĩa nhất định trong việc khẳng định sự tồn tại của Hoàng quyền, Phụ quyền và Nam quyền Người phụ nữ giữ trinh tiết, thủy chung như nhất với chồng là nền tảng

cơ bản cho sự hiếu đễ của người con đối với cha và trên nữa là lòng trung thành của

bề tôi đối với vua trong mối quan hệ vua tôi, cha con, vợ chồng theo đạo Tam cương Nhà nho đề cao người liệt nữ là vì mục đích chính trị, đạo đức và tôn giáo

đó Theo Vi Chính Thông, việc coi con hiếu sẽ là tôi trung là biểu hiện của “phiếm hiếu chủ nghĩa”, coi hiếu và trung là một và bề tôi đối với vua cũng như con đối với cha, là sự phóng đại mô hình gia đình thành mô hình xã hội [Xem thêm: 191, tr 101

- 106]

Đến Mạnh Tử (372 TCN - 289 TCN), học trò của Tử Tư (Khổng Cấp), vấn

đề hôn nhân nam nữ trở thành câu chuyện thừa tự, nối tông, coi chuyện không có con trai nối dõi là tội lớn nhất trong ba tội bất hiếu Do đó, Phùng Hữu Lan cho rằng

“[Theo nhà nho] mục đích chân chính của việc nam nữ giao hợp tức là sinh con (…),

ái tình và khoái cảm không phải là hệ quả quan trọng, cho nên Nho gia cũng không xem trọng” [90, tr.488] Đến Đổng Trọng Thư (179 TCN - 104 TCN), kiến nghị

“bãi truất bách gia, độc tôn Nho học” cùng với sự phổ biến quan niệm “thiên nhân tương ứng”, “âm ti dương tôn”, thuyết tam cương ngũ kỉ, thuyết tam tòng… do ông

đề xướng đã một lần nữa hạ thấp vai trò của người phụ nữ Theo Phùng Hữu Lan,

“Trong luân lí xã hội Trung Quốc, tam cương có ảnh hưởng rất mạnh Theo kiến giải truyền thống, khi đánh giá một kẻ nào, người ta chú trọng ba mặt trung - hiếu - đại tiết của người đó (…) Một khi người đàn bà đã thất tiết (không trung thành với chồng), thế là xong, không còn gì để bàn luận nữa” [91, tr.41 - 43] Lưu Hướng (77

TCN - 6 TCN) đời Hán viết Liệt nữ truyện 列女傳 để làm khuôn thước cho phụ nữ

theo chuẩn mực của đạo đức Nho giáo gồm 7 mục (“Mẫu nghi”, “Hiền minh”,

“Nhân trí”, “Trinh thuận”, “Tiết nghĩa”, “Biện thông”, “Nghiệt bế”) với mục đích

ban đầu là “để răn thiên tử” [233, tr.36] Thạch Phương cho rằng chính Liệt nữ

truyện của Lưu Hướng và Nữ giới của Ban Chiêu đã hình thành một thứ cương

thường luân lí trói buộc phụ nữ Dù sao, theo Hoàng Anh, vấn đề “nam nữ có phân biệt” ở đời Hán mới là một tín điều, tục lệ nhiều nơi vẫn còn tương phản với tín

Trang 18

13

điều này; sang thời Ngụy - Tấn quan niệm “nam nữ cách biệt” mới thành phong tục nhưng “phụ nữ thời Ngụy - Tấn vẫn có sự tự do nhất định, li hôn hay cải giá còn khá phổ biến, sự đề cao của triều đình với chuyện “trinh”, “liệt” cũng chưa đến mức như sau này (…)” [234, tr.20] Theo Thạch Phương, “sau thời Ngụy Tấn, người đề xuất lí luận về trinh tiết của phụ nữ một cách khá hệ thống là Trương Hoa và Bùi Di,

cả hai người đều viết sách và đặt tên là Nữ sử châm (…) đại diện cho thái độ về việc

phụ nữ thủ tiết của sĩ đại phu suốt cả một thời đại phong kiến, có ảnh hưởng rất lớn

đến đời sau” [239, tr.189] Khảo sát Thể lệ của Nhị thập ngũ sử do sử quan chính thống Trung Quốc biên soạn, Thạch Phương nhận thấy Sử kí, Hán thư, Lương thư,

Nam sử, Ngũ đại sử không có đề mục Liệt nữ truyện Thạch Phương lí giải: Sử kí, Hán thư không có Liệt nữ truyện 列女傳 có thể là do tác giả “trong lúc biên soạn đã

không nghĩ đến điều này, mà đem truyện của mấy người phụ nữ xen cài vào các

truyện kí khác”, còn sự vắng mặt của Liệt nữ truyện trong Lương thư, Nam sử, Ngũ

đại sử có thể do đây “đều là những thời kì động loạn và không ổn định” [239, tr.258

- 259], còn lại không bộ sử nào thiếu vắng mảng ghi chép này Đến Sơ Đường, phong trào cải giá của phụ nữ vẫn khá thịnh hành Hai mươi hoàng đế nhà Đường

có 211 công chúa thì trong đó “22 công chúa cải giá, số công chúa lấy chồng đến 3 lần là 4 người” [239, tr.245]

Trong bài viết “Luận Tống đại liệt nữ đích đặc chất”, Lí Hiểu Yên cho biết

“Liệt nữ 列女 đời Tống cũng giống như những người phụ nữ từng được đưa vào chính sử, phải giữ đạo làm vợ, đầy đủ các nết tốt như hiếu thuận và trinh tiết” [236, tr.13], “đặc điểm quan trọng trước hết của liệt nữ 列女 là “tòng phu” một cách mù quáng” [236, tr.14] Chính vì thế mà trong đời Hán có những phụ nữ không cần

phải có trinh hiếu mới được ghi vào chính sử thì “Trong Tống sử không những

không có người phụ nữ nào lấy chồng nhiều lần được ghi lại mà ngay những người được ghi lại cũng “thủ tiết tuẫn phu” một cách mù quáng hơn so với phụ nữ các triều đại trước, do đó mà cũng trở thành mẫu mực của đạo đức chính thống” [236, tr.14] Đi tìm lí do cho hiện tượng này, không hẹn mà gặp, các nhà nghiên cứu đều

Trang 19

14

cho rằng nó chịu ảnh hưởng từ câu nói của Trình Di được thuật lại trong Hà Nam

Trình thị di thư: “Cải giá là thất tiết, nếu như cưới người thất tiết về làm vợ, thì

chính ta cũng thất tiết (…) Chỉ vì đời sau sợ chết đói chết rét, nên mới có thuyết ấy Nhưng chết đói là việc rất nhỏ mà thất tiết là việc rất lớn” [239, tr.274], đồng thời không quên lưu ý rằng đây là một “tiêu chuẩn kép” Lí giải ham muốn xử nữ của nam giới Trung Quốc thời cổ, Từ Quân - Dương Hải cho rằng đó là do ảnh hưởng của thuyết dưỡng sinh phòng trung thuật của Đạo giáo và do quan niệm về trinh tiết của Nho gia (Xem thêm: [138, tr.184 - 185]) Lí giải vấn đề này trong bối cảnh xã hội đời Tống, Thạch Phương cho rằng còn một nguyên nhân nữa là do tác động của các loại tiểu thuyết bút kí ngôn tình (Xem: [239, tr.278 - 281]) Sau những biến động chính trị lớn, triều Nguyên Mông thống trị toàn Trung Quốc, nhưng với nền tảng tinh thần là văn hóa du mục, lãnh đạo cấp cao của chính quyền khi ấy không quá coi trọng vấn đề này Về mặt văn hóa, họ vẫn tiếp nhận tư tưởng Nho gia, lí học Trình Chu nhưng “giữ lại một số tập tục vốn có của người Mông Cổ, như coi thường quan niệm trinh tiết của người phụ nữ” [163, tr.234] Sang đời Minh, hoàng

đế và hoàng hậu tự tay biên soạn sách Nữ giới để biểu dương sự trinh thuận của phụ

nữ Theo ghi chép của Minh sử, lúc đó số phụ nữ chết để giữ tiết được ghi trong

thực lục và địa phương chí “có hơn vạn người” [163, tr.502], thậm chí, cũng trong đời Minh, đã “dần xuất hiện các phương pháp chẩn đoán để kiểm tra xử nữ” [239,

tr.392] Sách Cổ kim liệt nữ truyện 古今列女傳 của Giải Tấn (1369 - 1415) ra đời

trong thời kì này Sự xuất hiện của phái tả Vương học giữa đời Minh với một số đại diện như Vương Cấn, Lí Chí chủ trương công kích lí học Trình Chu, phủ nhận uy quyền thánh hiền, cổ động nam nữ bình quyền, tự do hôn nhân đến mức bị hãm hại đến chết (Lí Chí) chỉ là những tiếng nói nhỏ nhoi và yếu ớt Đến đời Thanh,

trong Thanh sử cảo, số lượng trinh nữ liệt phụ kể ra có tới cả vạn người, trong đó số

được đưa vào sử cũng tới 616 người Cũng trong đời Thanh, việc sùng bái trinh tiết lại đạt đến đỉnh cao, quan lại vì muốn lập thành tích về lễ giáo nên “tại các địa phương nối nhau mọc lên các cơ sở từ thiện mang tên Toàn tiết đường, Thanh tiết đường, Trinh tiết đường, Lập trinh đường, Sùng tiết đường, Bảo tiết cục… chuyên

Trang 20

15

dùng vào việc thu nhận và an trí những trinh nữ tiết phụ lập chí thủ tiết” [239, tr.421]

và chỉ những phụ nữ trên 30 tuổi mới được thu nhận vào đó, trong khi đời sống cung đình của vua chúa lại cực kì hoang dâm, trụy lạc Chính vì thế, Vi Chính Thông cho rằng, đặc điểm của đạo đức Nho gia là “không coi trọng số phận con người trong cuộc sống đời thường (…), hiểu rất ít về cuộc sống con người” vì “một

trong những nguyên nhân chủ yếu là coi thường bản năng” [191, tr.153] Nhà

nghiên cứu Dịch Trung Thiên, qua công trình Trung Quốc đích nam nhân dữ nữ

nhân, đã thẳng thắn chỉ ra rằng: “Trong xã hội truyền thống Trung Quốc, có người

phụ nữ nào mang đầy đủ những đặc trưng của nữ giới, xuất hiện trước mắt đàn ông như một người phụ nữ thực thụ không? Xin thưa: Có Nhưng đáng tiếc họ thường bị gọi là “dâm phụ” (…) Đương nhiên, có một kiểu nữ nhân xinh đẹp mà không sợ bị chỉ trích, đó là “trinh liệt nữ” (…) Cho nên những quả phụ muốn lập chí thủ tiết chỉ

có hai con đường: Làm sao thật sớm tự sát là tốt nhất hoặc phải cố gắng làm cho mình trở nên xấu xí, tốt nhất hãy quên rằng mình là phụ nữ Bởi vì đối với một quả phụ, nhất là quả phụ còn trẻ, cám dỗ khó chế ngự nhất là cám dỗ về mặt tình dục, sự thử thách gian nan nhất là thử thách về mặt tình dục mà vấn đề tình yêu, tình dục lại

có liên quan đến nhan sắc, dung mạo, nghi biểu (…) Quả phụ không có đàn ông che chở, rất dễ bị lừa phỉnh; quả phụ đã từng có kinh nghiệm tình dục, rất dễ bị dụ dỗ” [241, tr.62 - 65] Đây là một phát hiện thú vị về “trinh liệt nữ”, những người lâu nay vẫn được coi là cứng cỏi, khí phách Luận điểm này có ý nghĩa gợi dẫn rất quan trọng khi đánh giá hành vi của các liệt nữ trong lịch sử cũng như trong sáng tác văn học

1.2.2 Một số vấn đề về phụ nữ dưới ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo trong lịch

sử Việt Nam

Du nhập từ Trung Quốc vào nước ta từ thời Bắc thuộc, Nho giáo có một quá trình hòa nhập khá gian truân để trở thành một bộ phận quan trọng của văn hóa truyền thống Việt Nam Sự thâm nhập của Nho giáo vào cuộc sống thường ngày, trở thành phong tục, tập quán có lẽ chưa trở nên phổ biến trong những năm tháng Bắc thuộc Chính vì thế, khi viết về giai đoạn lịch sử này, các nhà nho Đại Việt đã cất

Trang 21

16

công lục tìm cho ra câu chuyện năm 767 “vua nhà Đường hạ chiếu nêu khen người

đàn bà tiết nghĩa ở Giao Châu là Kim thị” [155, tr.180] trong Liệt nữ truyện [列 女 傳] của Đường thư Cho tới khi Nho giáo đã thâm nhập đến một mức độ nhất định,

đời sống văn hóa Đại Việt vẫn lưu hành những câu chuyện mang màu sắc “phi Nho” như việc “Long Quân cướp người vợ yêu của Đế Lai là Âu Cơ” được ghi

trong Đại Việt sử kí Tiền biên (Xem: [160, tr.46]) Mãi tới năm 1040 trong sử sách

mới xuất hiện Mị Ê như là liệt nữ đầu tiên, trong hình dung của nhà nho, nhưng Mị

Ê lại có nguồn gốc Chiêm Thành Do vậy, trong đời sống thường ngày, thời Lí - Trần vẫn bị các sử thần đời sau coi là còn tồn tại một cách vững chãi “những thói quê kệch” [155, tr.825] Sau sự kiện Mị Ê gần một thế kỉ, đến năm 1113, phu nhân của Thành Khánh hầu là Hà thị uống thuốc độc chết theo chồng mới là trường hợp hiếm hoi tiếp theo Những chuyện thể hiện sự lệch chuẩn so với các quy định về trinh tiết theo quan điểm Nho giáo vẫn xuất hiện khá nhiều dưới thời Trần: Trần Thị Dung lấy Trần Thủ Độ, Trần Thái Tông đem Lí Chiêu hoàng “thưởng” cho Lê Phụ Trần, Trần Quốc Tuấn “cướp” Thiên Thành công chúa của Trung Thành vương,…

Sự lên ngôi của nhà Hồ (1400) đánh dấu một bước sự xác lập vị thế vững chắc của Nho giáo tại Đại Việt nhưng triều đại này quá đoản mệnh

Đến triều Hậu Lê, theo những ghi chép của chính sử, việc nêu khen những người tiết nghĩa, trinh liệt đã trở thành một việc làm khá phổ biến và thường xuyên Tháng 3 năm 1437, “nêu biển biểu dương liệt nữ Lê thị ( ) tên là Liễn, người làng Phúc Lâm, lộ Quốc Oai trung, là vợ của Túc vệ Lương Thiên Tích đời Hồ, có nhan sắc, goá chồng sớm, không có con, thờ phụng nhà chồng, cúng lễ chồng đến khi chết” [101, tr.337]5 Đến năm 1441, triều đình làm theo kế của Nguyễn Thị Lộ (thiếp của Nguyễn Trãi) “bắt giam hạng đàn bà ngỗ nghịch” [101, tr.350] Cùng năm đó, triều đình bức Thái phi Phạm Thị Nghiêu phải tự tử vì tội mưu dụ dỗ bọn gian ác để tính việc phế lập (sau đó được tha nhưng lại đem lòng oán giận) và sử sách không quên ghi thêm một tội rất quan trọng của người đàn bà này là “trước kia

5 Dưới triều Lê, đơn giản thế này đã được coi là “liệt nữ”

Trang 22

17

bị viên nội quan nhà Minh là Mã Kì bắt đi Đến khi trở về, không chịu giữ tiết” [101, tr.351] Bên cạnh đó là các sự kiện thể hiện sự Nho giáo hóa mạnh mẽ trên phương diện chính lệnh, như việc cấm hát rí ren (lí liên) trước xa giá năm 1447; biểu dương nghĩa phu, tiết phụ năm 1453; biểu dương tiết phụ vợ của Nguyễn Văn Điều năm

1456; ban phát Huấn dân đại cáo cho cả nước, từ phủ đến châu, huyện, mỗi nơi một

bản vào năm 1461; ban biển ngạch cho tiết phụ Nguyễn Thị Bồ ở xã Đại Hữu Lệ, huyện Thanh Trì vào năm 1463; đôn đốc sửa đổi phong tục ở dân gian vào năm 1465; bắt đầu quy định nghi lễ hôn nhân giá thú vào ngày 23 tháng 12 năm 1478;

“sai sứ thần chia nhau đi đến các quận huyện trong nước biểu dương người tiết

nghĩa” [155, tr.1152] vào năm 1498; ban hành Huấn điều gồm 24 điều vào năm

14996… Thậm chí, đến tháng 8 năm 1499 vua Lê Hiến Tông còn xuống chiếu yêu cầu từ thân vương đến dân chúng “không được lấy đàn bà con gái Chiêm Thành làm

vợ, để cho phong tục được thuần hậu” [102, tr.17] Trên con đường Nho giáo hóa, nhà Hậu Lê đã tiến những bước khá dài so với các triều đại Ngô - Đinh - Tiền Lê -

Lí - Trần - Hồ trước đó dù trên thực tế, những người đứng đầu chính quyền thời Lê

sơ cũng hiếm khi “gương mẫu” trong việc thực hành các chuẩn mực đạo lí do mình

đề ra và yêu cầu thần dân tuân thủ Cổ tâm bách vịnh của Lê Thánh Tông không nói

nhiều đến các tiết phụ, liệt nữ mà chê Thạch Sùng “buông thả phóng túng tham dục

đến cùng cực” (cùng lạc dục) trong bài Tử Trạch; chê Tùy Dạng Đế “buông thả lòng tham dục” (túng dục) trong bài Giang Đô; gọi Dương Quý Phi là “yêu khí” (yêu khí tẩy nan tiêu) trong bài Hoa Thanh trì…7 Trong Hồng Đức quốc âm thi tập, ông làm thơ đề vịnh Mị Ê (Vịnh Mị Ê), Vũ Thị Thiết (Hoàng giang điếu Vũ nương,

Lại bài viếng Vũ thị) với cảm hứng ngợi ca, cảm thông rất rõ, thậm chí bài Vịnh nàng Điêu Thuyền của ông cũng rất trung hậu Đến Đặng Minh Khiêm (1456 -

6 Trong 24 điều đó: "16 Khi chèo hát, lúc hội hè, trai gái đến chơi xem, không được đứng ngồi lẫn lộn để ngăn ngừa thói dâm ô 17 Nhà cửa, hàng quán ở dọc đường, nếu có phụ nữ đi xa vào ngủ trọ, thì cửa ngõ phải đề phòng cẩn mật; nếu người nào dám lấy sức khỏe làm việc ô nhục, khi việc phát giác, thì người can phạm và chủ nhà đều phải trị tội 18 Các viên phủ, huyện đều chiểu theo địa phận sở tại, cắm thẻ bài răn chặn trai gái không được tắm cùng một bến, để tỏ rõ sự phận biệt về lễ phép” [155, tr.1161 - 1164]

7 Xem thêm: Lê Thánh Tông (2000), Cổ tâm bách vịnh, Mai Xuân Hải biên khảo, dịch thuật, chú

giải, NXB Văn học - Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội

Trang 23

18

1522), tác giả Thoát Hiên vịnh sử thi tập, ông chê bai việc Lí Chiêu hoàng “không

giữ gìn khí tiết ở Trường Môn, Lại vì Văn hoàng mà thưởng cho Phụ Trần” (bất thủ Trường Môn tiết, Cánh vị Văn hoàng thưởng Phụ Trần) [207, tr.562], khuyến cáo Huyền Trân trên đường từ Chiêm Thành trở về Đại Việt “Xin đừng có đi qua dưới đền Mị Ê” (Mị Ê từ hạ mạc kinh qua) [207, tr.565] Trong thực tế, những cố gắng

đó tuy không phải là đơn độc nhưng cũng rất nhỏ nhoi của người đứng đầu chính quyền và đám văn thần trong một xã hội mà cho đến năm 1501, khi vua Lê Hiến Tông ngự về Tây Kinh đã phải ban lệnh “cấm các quan theo hầu không được sai quân cơ chở đem vợ con hoặc kĩ nữ đi theo, bừa bãi tình dục” [102, tr.25]

Trong lịch sử nhà Hậu Lê, một trong những đợt “thử lửa” khốc liệt nhất đối với nho phong, sĩ khí chính là việc Mạc Đăng Dung từ chỗ bức hiếp vua Lê Chiêu Tông đem về kinh đô (1525) để giết (1526) rồi đến bắt vua Lê Cung Hoàng nhường ngôi cho mình vào năm 1527 Quanh sự kiện này, sử sách ghi lại “có đến hơn mười người tử tiết” [156, tr.94 - 95] như Nguyễn Thái Bạt, Lê Tuấn Mậu, Đàm Thận Huy… Tuy sự tử tiết của họ cùng sự khẳng khái của những người như Lại bộ Thượng thư Trương Phu Duyệt không thấm vào đâu so với số đông tùy thời còn lại

và không cứu vãn nổi một nhà Lê đã dần tàn lụi cũng như không cản được bước tiến mạnh mẽ của Mạc Đăng Dung nhưng đã thể hiện phần nào phong khí của một vương triều Không phải không có căn do khi Mạc Đăng Dung mới lên ngôi làm việc gì cũng noi theo chế độ của triều Lê, “vỗ về một cách giả tạo để trấn áp lòng người; nào sửa chữa đền miếu nhà Lê cũ, cúng tế theo tuần tiết bốn mùa, nào truy phong thêm cho các bầy tôi tiết nghĩa nhà Lê như bọn Vũ Duệ và Đàm Thận Huy ” [156, tr.99] Cùng giai đoạn này, bắt đầu với mạch quan niệm địa linh nhân

kiệt, Dương Văn An (1514 - 1591) đã viết Ô châu cận lục (1553 - 1555) để nói về

phong tục của đất Ô châu (phía nam Quảng Trị và toàn bộ tỉnh Thừa Thiên - Huế ngày nay) Trong tác phẩm mang tính tự hào vùng miền như để “khoe” với đất kinh

kì, Dương Văn An quan niệm “chép truyện một người con gái trinh khiết mà cũng chép cả chuyện bạc tục dâm phong là để treo tấm gương tốt xấu” [1, tr.22] và dành riêng một mục “Tiết phụ” để viết về Thị Lễ, Đỗ Thị Tổng, Trần Thị Hồng, Phạm thị

Trang 24

19

Bên cạnh đó ông cũng ghi lại không ít chuyện thể hiện sự li tâm so với ảnh hưởng của văn hóa Nho giáo như “Đi gặt thuê thì lây thói trong dâu Đi kiếm cá thì bày trò trên Bộc Dân An Lai huyện Khang Lộc vẫn còn giữ tục dâm phong (…) Dân Hoài Tài, Tân Nộn và Đan Lương thì quá nửa có thói mây mưa” [1, tr.42] hay những chuyện “cưỡng dâm”, “loạn luân”, “dâm loạn”, “gian dâm”, “phố hoa ngang dọc”,

“lầu Tần quán Sở”… Dương Văn An ghi lại cả chuyện về Tứ vị thánh nương và xác nhận đây là thần bảo hộ cho người đi biển, phàn nàn rằng “thổ dân vì không biết nên đem những lễ vật không được tinh khiết đến cúng thần” [1, tr.97] Đến khi nhà Mạc bị dồn lên Cao Bằng (1592) và họ Trịnh tham gia vào chính quyền để hình thành nên mô hình vua Lê - chúa Trịnh sau sự kiện Trịnh Tùng được phong Đô nguyên súy Tổng quốc chính Thượng phụ Bình An vương (1599) dưới triều Lê Thế Tông, lịch sử Đại Việt đã bước sang một giai đoạn mới mà ở đó vấn đề phong hóa lại một lần nữa trở thành “điểm nóng”

Trong thực tế lịch sử Việt Nam thời quân chủ chuyên chế, luôn có một độ vênh nhất định giữa phát ngôn và hành xử của giới cầm quyền về vấn đề phong hóa, nhất là những giai đoạn mà xã hội vừa trải qua loạn lạc Sau sự kiện Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê (1527) một thế kỉ và sau thời điểm Trịnh Tùng được phong Bình An vương (1599) khoảng 30 năm, vào năm 1629, Trịnh Tráng gả Trịnh Thị Ngọc Hành cho vua Lê Thần Tông8 Nhìn vào lịch sử Việt Nam giai đoạn này, dễ thấy một khoảng trống mênh mông của các sự kiện liên quan đến xiển dương phong hóa, tinh biểu tiết nghĩa từ phía triều đình Đến tháng 10 năm 1663, dưới thời Lê Huyền Tông, triều đình ra lệnh cấm đạo Hoa Lang một phần vì “trường giảng đạo người ở hỗn tạp, trai gái không phân biệt” [102, tr.265] và trước đó 3 tháng, vào tháng 7 năm 1663, đã chính thức nhắc lại 47 điều giáo hóa dạy đạo làm tôi, làm con, đạo anh em, vợ chồng, thầy trò… trong đó “đàn bà chồng chết không con được chuyển riêng của cải đi, (…) trai gái không được bừa bãi thói dâm” để ban ra khắp chốn, “cứ đến ngày có việc làng thì hội họp đàn ông, đàn bà, người già, người trẻ

8 Lê Trụ (bác họ của Lê Thần Tông) mưu toan làm việc bạn nghịch nên bị bắt giam trong ngục Ngọc Hành (là vợ của Lê Trụ, con gái của Trịnh Tráng) khi đó đã có với Lê Trụ bốn mặt con nhưng Trịnh Tráng vẫn bắt Thần Tông phải lập làm hoàng hậu

Trang 25

20

đến giảng giải hiểu thị, để được tai mắt thấm nhuần, biết sự khuyên răn” [102, tr.264 - 265] Việc sử gia bình luận “Từ đây lòng người dần dần theo về tục thiện” [102, tr 265] không cho biết hiệu quả thực sự của chiếu lệnh kia nhưng lại thể hiện một sự thực: Trước thời điểm dân chúng được “ôn tập” lại những điều răn này thì phong hóa của xã hội, theo quan sát của nhà nho, thực sự có vấn đề Sau đó vài năm, đến năm 1666, triều Lê Trung Hưng tuyên dương 13 người bầy tôi tử tiết trong chính biến Mạc Đăng Dung, một sự truy phong khá muộn màng nếu như so với công lao của họ cũng như so với việc truy phong của nhà Mạc đối với các nhân vật này ngay trong năm 1527 Đến năm 1674 triều đình ban lệnh chỉ răn dạy các chức ti trong đó có việc “những người vợ tiết nghĩa, con hiếu thảo cũng nên chuyển đạt lên

để nêu khen cho phong tục thuần hậu” [102, tr.292 - 293] Kể từ khi nhà Lê ban biển biểu dương liệt nữ Lê Thị Liễn (1437), thì đến sự kiện nhà Lê trung hưng “biểu dương tiết phụ đã mất là Lê thị ( ) là thiếp của Triệu Nghĩa công” [221, tr.27] vào năm 1684, lịch sử đã phải chờ đợi tới hơn 250 năm Sau đó là sự kiện triều đình nêu khen Phan thị vợ bé Đinh Nho Hoàn vào năm 1717 Nối tiếp các sự kiện trên là việc triều đình ban bố giáo điều gồm 10 điều cho khắp trong kinh ngoài trấn vào năm

1720, phong Trinh tiết lệnh nhân và ban bảng vàng “Tiết phụ” cho Nguyễn thị vợ Nguyễn Mậu Khôi vào năm 1772 Cho đến nửa trước thế kỉ XVIII, việc triều đình biểu dương những người tiết nghĩa chống giặc đến cùng như Hoàng Sĩ Châu, Nguyễn Hưng Vượng,… (1740) có một ý nghĩa khá quan trọng Khi ghi lại sự kiện

này, Cương mục không bình luận gì thêm nhưng dưới triều Lê, tác giả của Đại Việt

sử kí Tục biên đã nhận xét: “Do đó người ta đều biết coi tiết nghĩa là trọng” [221,

tr.164] Cũng như sự kiện năm 1663, không rõ có phải do triều đình biểu dương những người tiết nghĩa mà “người ta đều biết coi tiết nghĩa là trọng” hay không nhưng bình luận này của sử quan đã ngầm ẩn một thông điệp: Sau chỉ lệnh tháng 7 năm 1633 đến cả thế kỉ, phong hóa vẫn không phải là vấn đề được quan tâm và

“ứng dụng sâu rộng” vào đời sống như mong muốn của giới cầm quyền Trong phong khí đó, tới tháng 9 năm 1754, triều đình lại ra lệnh cấm đạo Thiên Chúa Sự kiện Nguyễn Huệ triệu tập cựu thần văn võ nhà Lê ép bảo họ khuyên mời ông lên

Trang 26

21

ngôi (1788) mà chỉ có Tham tri chính sự Nguyễn Huy Trạc tử tiết không chịu theo cùng 7 người sau đó đi ở ẩn, bất hợp tác với “tân triều” của Giám quốc Lê Duy Cận chứng tỏ nho phong sĩ khí đã xuống thấp hơn khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà

Lê rất nhiều Tuy nhiên, không phải không có những người kiền thành với đạo đức Nho giáo Câu chuyện Lí Trần Quán tự chôn sống mình để chứng minh sự trong sạch, lòng trung với chúa Trịnh hay Phan Thị Thuấn chết theo chồng trên sông Thúy Ái cùng trong năm 1786 là những ví dụ hiếm hoi bên cạnh những đồn đoán về

“Sát tứ phụ nhi Thị lang”, lừa thầy phản bạn… đầy rẫy trong xã hội đương thời Quan Huấn đạo An Nhân là Hà Sách Hiển đề vịnh Phan Thị Thuấn:

Khả liên tam bách dư niên quốc,

Thiên lí, dân di nhất phụ nhân!

(Đáng thương thay một nước hơn ba trăm năm ấy,

Chỉ còn có một người đàn bà nêu được lẽ trời và đạo người) [92, tr.569] Lời thơ khiến nhà nho giật mình nhìn lại tình trạng phong hóa đi xuống của xã hội mà mình đang sống, nhìn từ quan điểm đạo đức Nho giáo Việc Hà Sách Hiển nhắc đến “thiên lí” khiến người đọc dễ liên tưởng đến mệnh đề “Tồn thiên lí, diệt nhân dục”, chứng tỏ nhân vật đang được nhìn nhận, đánh giá theo tiêu chuẩn đạo đức của Tống Nho và sự xuất hiện mang tính đột xuất, cũng là đột biến của kiểu nhân vật sát thân thành nhân này báo hiệu phần nào sự khủng hoảng của xã hội Việt

Nam cuối Lê đầu Nguyễn Cảm hứng của Nguyễn Du khi viết “Độc giao nhi nữ

thiện di luân!” (Luân thường chỉ dành riêng cho bạn gái chăng?) [49, tr.725 - 726]

trong Vọng phu thạch chính là nằm trong mạch cảm hứng tự vấn, tự tỉnh chung của

thời đại

Trong những năm tháng đầu của nhà Nguyễn dưới triều Gia Long, vấn đề trinh nữ, tiết phụ, liệt nữ chưa phải là câu chuyện được quan tâm hàng đầu Xã hội Việt Nam thời hậu chiến lúc đó có nhiều chuyện cần giải quyết hơn và một vị vua khai cơ bằng võ công như Gia Long cũng có nhiều mối quan tâm đặc thù Từ Minh Mạng trở đi, nhà Nguyễn mới bắt đầu nhắc đến những người phụ nữ tiết liệt trong

ân chiếu nhân dịp lên ngôi, năm mới hoặc vừa dẹp xong giặc… vào các năm 1820,

Trang 27

22

1827, 1830, 1835, 1837, 1840 Chính sách này được nối tiếp dưới thời Thiệu Trị vào các năm 1841, 1845, 1846 và còn được duy trì trong các đời vua sau như trong các năm 1883, 1887… Đi liền với việc tìm xét để nêu khen, triều đình còn đưa ra các quy định, thậm chí luật hóa vấn đề nam nữ, giá thú, gian dâm, thủ tiết, tuẫn tiết một cách quy củ Ngay từ năm 1804, triều đình đã định điều lệ hương đảng cho xã dân ở Bắc Hà, quy định về “ruộng khuyến tiết” đối với quả phụ Dưới triều Minh Mạng, đến năm 1827, hình phạt dành cho tội phạm gian, hòa gian, gian dâm, vu khống gian dâm được quy định khá rõ ràng và được định lại vào năm 1841 Song

song với việc đó, triều đình cũng chuẩn hóa quy định về nêu khen trong Hội điển

toát yếu (1833), giao cho Bộ Lễ việc “thưởng cho người sống lâu, người tiết nghĩa”

[148, tr.915], rút bỏ tất cả đền thờ dâm thần vào năm 1836 Nếu như trong Phàm lệ của Đại Nam thực lục phần chép về Thiệu Trị năm 1841 còn lưỡng lự “tuỳ việc mới chép” [151, tr.12] thì đến Phàm lệ của phần viết về Tự Đức đã ghi rõ “những người

xử sĩ […], nghĩa sĩ, con hiếu, cháu hiền, chồng nghĩa, vợ trinh, có quan hệ đến phong giáo thì chép” [152, tr.14 - 15] Cũng dưới thời Tự Đức, năm 1848, triều đình bắt đầu định niên hạn cho những đàn bà thủ tiết9 Trong khi định rõ lại lệ nêu thưởng cho đàn bà có tiết nghĩa, triều đình đã bắt đầu quy định rõ để được xét hạng

ưu thì ngoài việc ở góa từ 20 tuổi trở xuống hoặc ở góa từ 25 đến 21 tuổi nhưng thủ tiết đến ngoài 50 thì họ phải “có sự trạng xuất sắc: như nhảy xuống sông, thắt cổ, khoét mắt, gọt đầu, không bị kẻ cường hào dâm ô v.v…” [152, tr.129] Sau đó, đến năm 1850, nhân dịp nêu khen trinh nữ10 Đỗ Thị Xuyên ở Thái Nguyên, triều đình đã chuẩn hóa hình thức và nội dung của biển ngạch ban khen Đến năm 1856, triều đình lại quy định ngặt nghèo hơn, nói rõ “từ đây về sau những người ở goá mà tuổi đến 55 trở lên, mới được tâu xin” [152, tr.421] Trong tình hình đất nước bộn bề khi

đó, triều đình vẫn dành một sự quan tâm cần và đủ cho vấn đề này, quy định về việc

9 “Tiết phụ người nào từ 25 tuổi trở xuống, goá chồng sớm mà giữ tiết, thì mới được ghi vào danh sách tâu lên; từ 26 tuổi trở lên, thì không chuẩn cho làm danh sách tâu lên nữa, để có định lệ” [152, tr.77 - 78]

10 Theo quy định của nhà Nguyễn “trinh nữ” là “con gái vẫn chưa đi lấy chồng, mà biết kiên trinh giữ tiết, không chịu để cho kẻ cường bạo làm nhơ nhuốc được, sự trạng đích xác, có thương tích làm bằng chứng, không kể có chết hay không” [152, tr.1019] Như vậy, “trinh nữ” không chỉ có

ý nghĩa sinh học mà còn có ý nghĩa đạo đức

Trang 28

23

sửa sang mồ mả của tiên hiền, trung thần, nghĩa sĩ, tiết phụ vào năm 1860; đổi lại lệ nêu thưởng thọ quan, thọ dân, nghĩa phu, tiết phụ, trinh nữ… vào năm 1866 và việc này còn được định lại vào các năm 1876, 1893, trong đó đến năm 1893 mức thưởng

bị giảm đi một nửa và đến tận năm 1900, việc xếp hạng “ưu, bình, thứ” của tiết phụ

mới chính thức được ghi trên biển nêu khen Sau khi Đại Nam đồng văn nhật báo ra

đời tại Hà Nội (1891), Thành Thái đã chuẩn theo đề nghị của Thống sứ Bắc Kì Chavassieux cho các tỉnh chuyển giao truyện về con hiếu, cháu hiền, nghĩa phu, tiết phụ, danh nho, nghĩa sĩ về để in lên báo Chính quan điểm và hành xử đó là “hậu phương lớn” cho những sáng tác văn học về người liệt nữ Dòng thơ vịnh liệt nữ triều Nguyễn do đó mà thêm phần phồn thịnh Việc những liệt nữ được các văn nhân đua nhau làm thơ đề vịnh như trường hợp tiết phụ ở tỉnh Hà Nội là “Nguyễn Thị Hai, chồng chết, liều bỏ đời sống, hoàn toàn tiết nghĩa” [153, tr.383] có lẽ không phải là hiếm khi đó Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng, cùng với sự phát triển của thương mại từ nửa sau thế kỉ XVIII, sự phát triển của đô thị về phía hiện đại, sự xâm lược của thực dân Pháp, Nho giáo đã dần trở nên thất thế, mất giá trong một thế kỉ mà triều đại cầm quyền chủ động trong việc chấn hưng học thuyết này hơn bao giờ hết

Trong Đại Nam thực lục, từ sự kiện biểu dương Nguyễn Thị Kim (1804) đến kết thúc Đại Nam thực lục - Chính biên Đệ thất kỉ dừng lại ở năm 1925, trong vòng

120 năm, nhà Nguyễn đã nêu khen khoảng 310 tiết phụ liệt nữ, (không tính những người “sự trạng tầm thường” hay truy nêu thời trước - Phan Thị Thuấn, hoặc các công chúa hoàng tộc - Ngọc Toàn, Ngọc Tú, Long Thành) Các đợt nêu khen mang tính tập trung là các năm: 1830 (20 người), 1858 (18 người), 1859 (10 người), 1869 (14 người), 1870 (27 người), 1880 (21 người), 1897 (35 người), 1917 (39 người),

1922 (13 người) Song song với Đại Nam thực lục, cả Đại Nam nhất thống chí có

tới 108 người được nêu khen Nếu kể cả vợ Nguyễn Ái (con dâu của tiết phụ Phan Thị Xuyên người Ninh Bình) nữa là 109 người Trong đó những người của triều đại trước gồm triều Lí (1 người), Trần (2 người) và triều Lê (18 người), còn 2 người không ghi niên đại Số người được xếp vào danh sách liệt nữ đời Nguyễn là 87/109

Trang 29

24

(79.8%), trong đó trừ 6 người không có hành vi được nêu khen liên quan đến trinh

tiết thì tỉ lệ là 81/87 (93.1%) khá giống với tỉ lệ của Đại Nam liệt truyện Như vậy,

để được ghi vào sử sách (nơi tập trung những phụ nữ chuẩn mực của thời đại) thì

trinh tiết là tiêu chuẩn quan trọng nhất Liệt nữ truyện 列女傳 (Đại Nam liệt truyện)

kể lại chuyện của 57 người trong đó có 3 người vì hiếu nghĩa mà được chép, còn lại

là 9 người tự tử nhưng bất thành do có người phát hiện cứu sống Số tỉnh có liệt nữ (trinh tiết) trước đời Nguyễn là 9 (Thừa Thiên, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Nội, Ninh Bình, Hải Dương, Bắc Ninh, Sơn Tây) Số tỉnh có liệt nữ là 21 trong đó

Hà Tiên, Định Tường chỉ có 1, Lạng Sơn, Vĩnh Long, An Giang chỉ có 2 Các tỉnh không có liệt nữ chiếm 9 trong số 30 tỉnh (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên, Bình Thuận, Quảng Yên, Thái Nguyên, Hưng Hóa, Tuyên Quang, Cao Bằng) Ở trường hợp này, có thể các tỉnh đó không có liệt nữ thực hoặc có mà không được “phát hiện” ra hay đề đạt lên trên Số người tự tử thành công (do không có ai ngăn cản hoặc không ai ngăn cản nổi) hoặc vì chống cự kẻ hãm hiếp mà chết là 14 người11 Như vậy, số “liệt nữ chuẩn” là 23.7% nhưng số truyện liên quan đến vấn đề trinh

tiết chiếm 93.2% (55/59), nên dễ hiểu vì sao Liệt nữ truyện 列女傳 thường bị nhầm thành Liệt nữ truyện 烈女傳 bên cạnh sự xuất nhập của hai chữ Hán đồng âm

Trong việc thủ tiết của các tiết phụ, liệt nữ nói riêng, nhà Nguyễn cũng có một cái nhìn khá linh động, không phải là duy ý chí hoàn toàn Triều Nguyễn hiểu

rõ mối quan hệ giữa “hằng sản” và “hằng tâm”, hiểu câu chuyện kinh tế liên quan chặt chẽ với việc giữ gìn tiết hạnh nên đã ban “ruộng khuyến tiết” cho tiết phụ, giống như “tiền dưỡng liêm” đối với quan lại Trong ân chiếu các năm 1830, 1837, triều đình cũng nêu rõ nhiệm vụ của Sở Dưỡng tế, Nhà Dưỡng tế là chăm lo đời sống vật chất cho những người quan, quả, cô, độc “chớ để cho họ phải phiêu lưu”

11 Nguyễn Thị Kim, Thị Tính, Hoàng Thị Trúc, Nguyễn Thị Nương, Nguyễn Thị Liệu, Bùi Thị Tâm, Dương Thị Việt, Đoàn Thị Quang, Ngô Thị Khách, Phạm tiết phụ, Lê thị, Vũ thị, Nguyễn thị, Đào Thị Hiển

Trang 30

25

[148, tr.5 - 6] hay “không để cho đến nỗi mất nhờ” [150, tr.5 - 6]12 Cũng dưới triều Nguyễn, sự “linh động” trong ban phát danh hiệu đã không ít lần được chính các vua Nguyễn nói ra trong đó có nhìn nhận đến sự khác biệt mang tính lịch sử giữa các vùng miền Năm 1829, khi nêu khen liệt nữ Dương Thị Ư người Gia Định để

“khuyến khích người trinh tiết trong thiên hạ”, Minh Mạng không quên nhắc nhở rằng: “Phụ nữ Gia Định vốn phần nhiều dâm đãng, lấy việc này để khuyến khích phong tục cũng là nên, hạt khác thì chưa đáng đâu” [147, tr.915 - 916] Đến năm

1835, sau khi than thở về dân tục ở Nam Kì đi xuống do “di sản cai trị” của Hoàng Công Lí, Lê Văn Duyệt13, Minh Mạng đã nói rõ lí do khiến mình “tâm huyết” với vấn đề đó là “đối với dân Nam Kỳ, trẫm yêu tha thiết và mong sâu sắc, nên không ngại nói nhiều” [149, tr.745] Không chỉ “thiên vị” cho Nam Kì, triều đình còn “ưu ái” cho đất kinh kì Thừa Thiên Năm 1888, khi chép về việc nêu khen tiết phụ Nguyễn Thị Thừa ở Thừa Thiên được hạng bình, sử thần không nói rõ hành vi, sự trạng của tiết phụ này mà chỉ chép lại ý kiến của vua Đồng Khánh cho rằng “hạt Thừa Thiên, gần gũi nơi đức chính trong sáng, có người trọn vẹn tiết nghĩa như thế, gia ân thưởng cho 1 súc lụa dày để tỏ khuyến khích” [154, tr.437] Ở đây sử sách chỉ ghi về việc “gia ân” trong ban thưởng về mặt vật chất nhưng cũng dễ dẫn đến suy diễn rằng có việc “ưu ái” trong phong tặng danh hiệu Như vậy, việc nhà Nguyễn nới tay trong phong tặng cho một số liệt nữ, tiết phụ ở Nam Kì và Thừa Thiên cũng góp phần tạo ra một lượng “Trại liệt nữ” bất thành văn nhất định, thậm chí “Trại liệt nữ” ngay giữa kinh kì Điều này chứng tỏ, dưới triều Nguyễn, đất căn bản (Nam Kì) và kinh kì (Thừa Thiên) không “đua” được với các địa phương khác

về phong hóa và câu chuyện “màu cờ sắc áo” giữa các địa phương, vùng miền là có

thật Trong số 87 tiết phụ, liệt nữ đời Nguyễn được ghi trong Đại Nam nhất thống

chí, số tiết phụ, liệt nữ Thừa Thiên chỉ có 5 người Con số này là không nhỏ nếu so

với các tỉnh không có hoặc chỉ có 1 - 2 tiết phụ, liệt nữ được nêu tên nhưng lại

Trang 31

26

không quá ấn tượng so với các tỉnh thuộc tốp đầu như Quảng Bình, Nam Định, Bắc Ninh… Thêm nữa, trong số đó không có ai là người tử tiết Việc so sánh đất kinh kì với các địa phương khác khiến nhà Nguyễn phải huy động đến cả “một thời đã xa” trong lịch sử vùng Thuận Hóa, với những Mị Ê, Trương tiết phụ Đây không chỉ là câu chuyện về việc khẳng định chủ quyền lãnh thổ theo lối “mạc phi vương thổ, mạc phi vương thần” mà còn là câu chuyện của danh dự, phong hóa đất đế đô Nếu như triều Nguyễn có ý khai thác cho bằng hết các liệt nữ trong lịch sử thì đã phải kể đến Hà thị vợ Thành Khánh hầu và Nguyễn thị vợ Ngô Miễn cũng như Vũ nương (vốn rất nổi tiếng) ở các miền quê khác Không chỉ có thế, trong mạch khẳng định truyền thống văn hiến của triều đại và quốc gia, nhà Nguyễn vẫn muốn mượn nhân vật liệt nữ như một đối trọng để so sánh mình với các triều đại trước cũng như so sánh với nhà Thanh (Trung Quốc).14 Dẫu thừa nhận triều Lê có những gương tiết phụ như Phan Thị Thuấn và rất nhiều người được nêu khen dưới triều Nguyễn là di sản của tiền triều nhưng nhà Nguyễn vẫn tận dụng mọi cơ hội để hạ thấp nhà Lê và nhà Tây Sơn về mặt phong hóa dù rằng không phải vua tôi nhà Nguyễn là những người đầu tiên khẳng định xã hội Việt Nam “xuống cấp về mặt đạo đức” dưới thời

Lê mạt Trước đó, các nhà nho như Phạm Đình Hổ đã từng than thở về việc này rất nhiều15 nhưng nhà Nguyễn tiếp tục công việc đó là nhằm khẳng định tính chính thống của triều đại mình so với nhà Lê và Tây Sơn đồng thời có “căn cứ pháp lí” để

“nói chuyện” với nhà Thanh Khi làm thơ vịnh Nguyễn Thị Kim, liệt nữ đầu tiên dưới triều Nguyễn, Tự Đức viết:

Nhất triêu tuyệt lạp tuẫn quy thấn,

Phương tâm biểu bạch thiên thu thùy…

Đại tai sáng nghiệp thủ phong hóa,

Khỉ tự Thanh triều quyền thuật vi

(Một mai tuyệt thực mà tuẫn tiết,

14 Khi định điều lệ hương đảng cho các xã ở Bắc Kì (1804), nhà Nguyễn đã nửa thừa nhận nửa khẳng định: “Gần đây giáo dục trễ nải, chính trị suy đồi, làng không tục hay, noi theo đã lâu, đắm chìm quá đỗi (…)”[146, tr.583]

15 “Từ đời chúa Trịnh Thịnh vương (Trịnh Sâm) lên nối ngôi (…) tập tục càng ngày càng kiêu bạc” [62, tr.60 - 61]

Trang 32

27

Phương danh ngàn thuở sử còn ghi…

Lớn thay đế nghiệp chủ phong hóa,

Quyền thuật triều Thanh há sánh bì! [35, tr.724 - 725]

Có thể nói, cũng như các bài thơ vịnh sử khác, như cách nói của Bùi Duy

Tân, bài thơ này vừa là thơ sử luận vừa là thơ nhân cách luận Tự Đức không cần

quan tâm đến sự thực lịch sử16 mà quan trọng là hình tượng này giúp ông đạt được mục đích khẳng định sự “vượt trội” về mặt phong hóa của nhà Nguyễn so với nhà

Thanh Cũng phải nói thêm, trong Ngự chế Việt sử tổng vịnh, Tự Đức viết tới 5 bài

về liệt nữ, đề vịnh Mị Ê, Châu thị, Phan Thị Thuấn và riêng Nguyễn Thị Kim được vịnh đến 2 bài Như vậy việc đề vịnh tập trung vào các nhân vật xoay quanh đời Lê

- Nguyễn, chỉ “chiếu cố” đến một nhân vật xa xưa là Mị Ê Đến đầu thế kỉ XX, năm

1901, Thành Thái “sai trích các sách Đại Nam liệt truyện Tiền biên, Đại Nam Chính

biên liệt truyện Sơ tập, Minh Mạng chính yếu, Khâm định Việt sử thông giám cương mục mỗi loại một bộ giao cho Tòa Khâm sứ chuyển cho Giáo hội Thượng Hải nước

Thanh để tỏ ý là nước đồng văn” [157, tr.405] nhưng có thể thấy trong đó ý định

“khoe” mạnh hơn việc chia sẻ để tìm một sự đồng cảm Chính vì vậy nên Yoshiharu

Tsuboi đã nhận xét trong Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa 1847 -

1885 rằng: “Trong lúc nhà Thanh đang trị vì ở Trung Hoa sau khi lật đổ nhà Minh

năm 1644, thì nhà Nguyễn vẫn thích tự coi mình như là nhà Minh Điều này cho phép họ tỏ vẻ là những người thừa kế chính thống của nền văn minh Trung Hoa, thấm nhuần truyền thống và đạo lí Nho giáo” [214, tr.224]

Dưới triều Nguyễn, không chỉ được đem so sánh với Trung Quốc, việc tử tiết của các liệt nữ, ở một khía cạnh tích cực hiếm hoi, được mang ra làm chuẩn cho nam giới trong các hành xử xã hội tạo ra một đối trọng khác giới trong xã hội khi đó Năm 1882 triều đình phải một phen “hụt hẫng” khi chỉ có Hoàng Diệu sống thác với thành Hà Nội còn lại Lê Văn Trinh, Phan Văn Tuyển, Hoàng Hữu Xứng,… đều

ít nhiều trốn tránh trách nhiệm hoặc hèn nhát bỏ chạy Chính vì yêu cầu cao và các hình thức nêu khen (và ban thưởng) đi kèm mà dưới triều Nguyễn các hành vi tiết

16 Nguyễn Thị Kim uống thuốc độc chết nhưng Tự Đức viết thành “tuyệt lạp” (bỏ ăn)

Trang 33

28

liệt nhiều khi được thể hiện một cách cực đoan, quá đà Ngay khi triều Nguyễn chưa lập, việc Võ Tánh nối bước Ngô Tòng Chu chết với thành Bình Định năm 1801 đã mang tinh thần “cạnh tranh” rất cao17 Cũng trong thời Nguyễn, việc thủ tiết trở thành truyền thống của nhiều gia đình như “một nhà tiết phụ” ở Thừa Thiên (Phan Thị Toản và Nguyễn Thị Cận - 1856) hay “2 tiết phụ trong một nhà ở tỉnh Hưng Hoá” (Lê Thị Huyên và Trần Thị Ốc - 1858), thậm chí việc thủ tiết, tuẫn tiết của nhiều tiết phụ, liệt nữ còn “vượt chỉ tiêu” như trường hợp Ngô Thị Khách “gieo mình xuống giếng chết” (1858), Nguyễn Thị Điển “cắn lưỡi bóp cổ chết” (1860) khiến triều đình phải băn khoăn vì “việc này chưa có lệ nêu thưởng” [152, tr.559] hay “việc ấy chưa có định lệ” [152, tr.696] Việc đặt ra chuẩn trong nêu khen là tạo điều kiện cho những người quyết tâm vượt chuẩn, thậm chí làm khác chuẩn Quy định về sự trạng xuất sắc như nhảy xuống sông, thắt cổ, khoét mắt, gọt đầu,… có thể có xuất phát từ các mẫu hình Trung Quốc nhưng về cơ bản đã được đáp ứng ngay tại Việt Nam Trong thực tế, lịch sử nhà Nguyễn và các triều trước như triều

Lê vẫn coi trọng người đàn ông kiểm soát được bản thân trước vấn đề thân xác như

việc Minh Mạng làm bài thơ Vân Trường chúc khắc vào biển vàng, sai quan đem

treo ở đền thờ Quan công (1832) hay việc triều đình chiểu cho quan lại Nghệ An được giữ nguyên đền thờ Quan Công (1842) 18 Câu chuyện về Doãn Bạt trong Vũ

trung tùy bút (Phạm Đình Hổ) dùng cái chết để chứng minh sự trong sạch của mình

trong quan hệ nam nữ cũng nằm trong dòng mạch đó Tuy nhiên, nếu như trong Liệt

nữ truyện của Lưu Hướng có cả Nghiệt bế truyện đối trọng với Trinh thuận truyện

thì Liệt nữ truyện (Đại Nam liệt truyện) chỉ có những tấm gương “tốt toàn diện” theo mô hình của Liệt nữ truyện đời Tống (Trung Quốc) Ở đó không có chỗ cho kiểu nhân vật Bà Chúa ngựa (Vũ trung tùy bút) dù chỉ là để làm nền, khiến lịch sử

17 Ngô Tòng Chu uống thuốc độc chết trước khiến Võ Tánh “ngậm ngùi than rằng: “Ngô quân đã hơn ta một nước rồi!” [146, tr.447] Năm 1827, nhà Nguyễn nêu khen hiếu tử Nguyễn Doãn Phùng người huyện Đông Thành (Nghệ An) vì “mẹ [Phùng] ốm, nước biển dâng lên, [Phùng] ẵm mẹ lên nóc nhà, con gái bé [của Phùng] chết đuối [mà Phùng] không nhìn đến” [147, tr.674 - 676]

18 Theo Ngô Đức Kế, Tùy Viên thi thoại của Viên Mai chê việc đề vịnh “Vân Trường bỉnh chúc” là

“vô học” vì “đem sự tích tiểu thuyết mà làm vào thơ” [83, tr.462 - 463]

Trang 34

29

được nhìn theo hướng “tích cực” của nhà nho, trong khi - bên cạnh Truyện các quan

- Đại Nam liệt truyện còn Phụ chép các truyện nghịch thần, gian thần ở cuối

1.3 Lịch sử nghiên cứu nhân vật liệt nữ trong văn học Việt Nam trung đại

1.3.1 Những nghiên cứu tại nước ngoài về nhân vật liệt nữ trong văn học Việt Nam trung đại

Có thể nói, mô hình xã hội nam quyền là một hiện tượng có tính phổ biến nên việc phụ nữ chết để bảo vệ trinh tiết, thể hiện sự phục tùng quyền lực của đàn ông hoặc thể hiện lòng chung thủy không phải là không có ở phương Tây Tuy nhiên, tổng kết thành một loại hình nhân cách với một hệ thống lí luận đi kèm cùng

sự hỗ trợ của những luật tục cũng như dư luận xã hội như ở phương Đông mà cụ thể

là ở Đông Á, trong đó có Trung Quốc và Việt Nam, thì không phải là hiện tượng phổ biến Trong thực tế, từ khá sớm, các nhà nghiên cứu ở các nước phương Tây đã nhìn ra và coi sự bất bình đẳng giới là một đối tượng trong nghiên cứu của mình

Sau Mary Wollstonecraft (1759 - 1797), người viết Chứng minh các quyền của phụ

nữ, có lẽ Simone de Beauvoir (1908 - 1986) là người đã mạnh mẽ lên án sự bất bình

đẳng giới mà phụ nữ phải gánh chịu Với sự sắc sảo của một nhà hoạt động xã hội cộng với kiến thức phong phú tích lũy được, Simone de Beauvoir đã khẳng định, chính ngưỡng cửa của văn minh đã trở thành ngưỡng cửa ngục tù đối với phụ nữ Simone de Beauvoir đã lí giải một cách biện chứng khi cho rằng việc đề cao trinh tiết của người phụ nữ gắn liền với việc xã hội phát triển đến mức độ người đàn bà trở thành vật sở hữu của đàn ông và quan trọng hơn là sản xuất vật chất bắt đầu sản sinh của cải dư thừa làm của thừa kế: “Cho một đứa con hoang có quyền thừa kế là tội phạm tệ hại nhất: vì vậy, chồng có quyền giết người vợ phạm tội Chừng nào còn tồn tại quyền tư hữu tài sản, thì chừng ấy, sự không chung thuỷ của người vợ bị xem là một tội phản nghịch hết sức nghiêm trọng” [11, tr.114 - 116] Cũng theo bà, chính tình trạng này dẫn tới việc trong một số nền văn hóa người phụ nữ phải giữ trinh tiết với tập thể nhà chồng, đảm bảo cho của cải của gia đình nhà chồng không

bị chảy sang các gia đình khác, điều này khác hoàn toàn việc giữ trinh tiết với một người trong những nền văn hóa khác Với một giọng văn chua chát, Simone de

Trang 35

30

Beauvoir cho rằng nô dịch phụ nữ là một ước mơ lâu dài của đàn ông bởi “Rõ ràng

là trong lúc mơ ước làm người hiến tặng, người giải phóng, nhà cứu thế, người đàn ông vẫn mong muốn nô dịch phụ nữ” [11, tr.211] Mệnh đề nổi tiếng của Simone de Beauvoir: “Người ta không phải sinh ra là phụ nữ: Người ta trở thành phụ nữ” [11, tr.245] đã là một châm ngôn bất hủ cho các nhà hoạt động nữ quyền19 và có tính gợi

ý mang ý nghĩa lí thuyết với những nghiên cứu liên quan đến nữ quyền nói chung

và định hướng nghiên cứu của Luận án này nói riêng Trong tình hình chung của các nghiên cứu về Việt Nam tại phương Tây, những vấn đề liên quan đến nhân vật liệt nữ trong văn học Việt Nam trung đại không được các nhà nghiên cứu nước ngoài quan tâm nhiều Có lẽ, có ý nghĩa gợi dẫn và gần gũi hơn cả là một số nghiên cứu của một số Việt kiều và một số nhà nghiên cứu Việt Nam công tác tại nước ngoài về vấn đề này Nhân một dịp nghiên cứu về cổ sử Việt Nam, nghiên cứu trường hợp Mị Ê đi vào sử sách và đền miếu Đại Việt trong vai trò một liệt nữ, Tạ Chí Đại Trường cho rằng việc Lí Thái Tông “hưởng thụ” nữ tù binh Chiêm Thành

là một việc đương nhiên Với giọng văn hóm hỉnh, có chút mỉa mai, ông cho rằng việc Mị Ê tự tử khi bị Lí Thái Tông bức sang chầu thuyền ngự là sản phẩm của sự phẫn uất hơn là ý thức về vấn đề tiết liệt bởi Lí Thái Tông không hấp tấp thì Mị Ê sẽ theo về Thăng Long “an hưởng phúc mới, không cần phải tạo ra một cái chết bất đắc kì tử làm hoảng sợ ông vua của một thời lẫn lộn thần người, phải xây đền miếu

để cầu xin tha thứ Các nho thần về sau cũng chỉ là làm việc phụ họa, tán tụng người chết theo quan điểm của mình học được, vừa tỏ lộ được sự thông thái vừa để vớt vát uy tín của đấng quân vương vốn chưa từng sống như mình tưởng” [212, tr.109] Luận điểm của Tạ Chí Đại Trường có sự hợp lí dù rằng ông có một chút nhầm lẫn ở đây bởi Lí Thái Tông không hề “hoảng sợ” gì về sự việc do mình gây ra, trên thực tế (dù đó là thực tế dưới bàn tay tô vẽ của các sử gia) ông “vô tư” hơn thế nhiều Hoàng Ngọc Tuấn cũng bình luận: “Hành động vua Thái Tông đòi Mị Ê sang chầu là hành động đẩy Mị Ê vào chỗ nhục nhã hay chỗ chết: không sang chầu, thì

19 Chủ trương nữ quyền (Féminisme - Tiếng Pháp): “Học thuyết đòi sự bình đẳng nam nữ thực sự

và vai trò ngày càng tăng của phụ nữ trong xã hội” [27, tr.225]

Trang 36

31

phạm tội khi quân, cũng chết; sang chầu, thì phạm tội phản chồng, phải chịu sống nhục nhã; và nếu chọn sự tự tử, thì cũng chết Còn vua Thái Tông lại được đạo đức bảo vệ vẹn toàn: nếu Mị Ê không vâng lời, thì giết; nếu Mị Ê tuân lời, thì khinh; nếu

Mị Ê tự tử, thì vua lại được dịp để rao giảng đạo đức” [216, tr.282] Rõ ràng Hoàng Ngọc Tuấn đang nhìn sự việc theo lối cảm và cách nghĩ của thời hiện đại, không để

ý đến một điều là sự phục tùng vô điều kiện của các nữ tù binh Chiêm Thành Trong

(Harvard University, 2005) là một trường hợp như thế Trong luận án này, Nguyễn

Nam cho rằng: “Truyện Người con gái Nam Xương của nhà văn Việt Nam Nguyễn

Tự [Nguyễn Dữ] thế kỷ XVI cho một ví dụ hấp dẫn về việc một câu chuyện có thật

đã biến thành một truyện truyền kì và sau đó, thành truyện thánh (hagiography) như

thế nào Qua việc đọc hàng loạt các văn bản Hán - Nôm và việc nghiên cứu điền dã đền thờ Vũ nương, tôi sẽ xem xét mối quan hệ giữa các truyện truyền kì và truyện thánh, giữa tưởng tượng dân gian và các mong đợi được dành cho một vị nữ thần, mối quan hệ qua lại giữa quyền lực hoàng đế và các sức mạnh thần thánh, và cuối cùng là sự thiết lập một sự sùng bái” [232, tr.444 - 445] Tuy nhiên, trong công trình này, Nguyễn Nam chỉ tập trung nghiên cứu sự ảnh hưởng của truyền kì Trung Quốc tới sự ra đời và phát triển của truyền kì Đông Á, đặc biệt là truyền kì Việt Nam cũng như nghiên cứu quá trình “thánh hóa” hiện tượng Vũ nương Những kết luận của công trình này không có nhiều liên quan với hướng nghiên cứu mà luận án đặt ra

Nhân vật liệt nữ có nguồn gốc từ Trung Quốc và có ảnh hưởng đến văn học Đông Á, trong đó có Hàn Quốc và Việt Nam Trong một số công trình của các nhà nghiên cứu Hàn Quốc đã được giới thiệu tại Việt Nam, có thể thấy một số nhận

Trang 37

32

định không chỉ liên quan đến nhân vật liệt nữ trong văn học Hàn Quốc mà còn là nhận định về nhân vật liệt nữ trong văn học Việt Nam trung đại như ý kiến của Jeon

Hye Kyung trong Nghiên cứu so sánh tiểu thuyết truyền kì Hàn Quốc - Trung Quốc

- Việt Nam thông qua “Kim Ngao tân thoại”, “Tiễn đăng tân thoại”, “Truyền kì mạn lục” (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004) Tiến hành so sánh khá kĩ lưỡng

các tác phẩm trong bộ ba truyền kì Đông Á, Jeon Hye Kyung đã đi tìm những nét tương đồng và khác biệt giữa nội dung và nghệ thuật của ba tác phẩm này Qua đó tác giả đã có nhận xét mang nhiều ý nghĩa về sự đồng dị giữa nhân vật liệt nữ trong

Truyện Lí sinh khuy tường, Chuyện Lệ nương và Đèn mẫu đơn: “Sự khác biệt giữa

Thúy Thúy với Lí sinh, Lệ nương ở phần 4, 5, 6 là sự thay đổi tình tiết ở đoạn cuối

ba truyện, tức là nữ nhân vật chính trong Thúy Thúy đã mất trinh tiết, thuận theo số mệnh, còn nữ nhân vật chính trong Lí sinh, Lệ nương thà bị chết hay tự tận để giữ gìn trinh tiết Qua đó có thể thấy quan niệm về trinh tiết của phụ nữ Hàn Quốc và Việt Nam đương thời cứng nhắc nặng nề hơn so với Trung Quốc (…)” [78, tr.137] Nhận xét này có thể chưa mang tính khái quát cao do “mẫu” nghiên cứu chưa đủ lớn nhưng cũng là một ý kiến đáng chú ý

1.3.2 Những nghiên cứu tại Việt Nam về nhân vật liệt nữ trong văn học Việt Nam trung đại

Sang đầu thế kỉ XX, khi sự tiếp xúc với phương Tây đã đi được một chặng đường dài, các trí thức Việt Nam bắt đầu tiếp cận với những vấn đề mới, trong đó

có việc đánh giá “hương hỏa tinh thần” mà cha ông để lại Năm 1915, Phan Kế Bính, một trong những trí thức có cả cựu học và tân học đã viết về phong tục của nước Việt Nam xưa, trong đó có việc phụ nữ thủ tiết thờ chồng Trong cái nhìn so sánh với phong tục Âu châu, Phan Kế Bính cho rằng đó là một tục lệ “nghiệt ngã”

[14, tr.69] không còn hợp thời nữa Đến năm 1938, trong Việt Nam văn hóa sử

cương, Đào Duy Anh cũng đồng cảm và chia sẻ với nỗi khổ của người phụ nữ trong

xã hội cũ Ông nhận ra một thực tế là người quả phụ có quyền “chủ phụ” khá cao và như thế là “cao hơn địa vị do luân lí chỉ định nhiều, song nếu người quả phụ bỏ con cái và gia đình chồng mà đi lấy chồng khác thì những quyền kể trên tự nhiên mất

Trang 38

có chuyện đàn bà thủ tiết Chịu ảnh hưởng của các nghiên cứu phương Tây, ông cho rằng: “Sự khinh miệt đàn bà, bắt đầu có từ hồi phụ quyền thời đại, do những người đời xưa, mà ta kêu bằng thánh hiền đó bày ra (…) Tôi phải lấy làm lạ, sao thánh hiền đã dạy người ta ở có hiếu với mẹ, ở có nghĩa với vợ, mà lại đi khinh đàn bà? Nhè những người mình vẫn khinh mà ở cho có nghĩa có hiếu thì ở làm sao được?” [86, tr.135] Cách lập luận đầy tinh thần hùng biện đó của ông dễ gây cuốn hút Nhấn thêm một bước, ông căn vặn về việc đàn ông cư tang vợ chỉ có một năm trong khi đàn bà để tang chồng phải tới ba năm mới được tục huyền Truy lại nguồn gốc nảy sinh ra quan niệm yêu cầu đàn bà thủ tiết thờ chồng, ông nói: “Từ ông Trình Hi nhà Tống muốn cấm đoán bà góa lấy chồng, bày ra nói rằng: “Chết đói là việc nhỏ, thất tiết là việc lớn” Rồi về sau người ta nương theo đó mà lập luận, khiến cho cái chế độ gia đình thêm nặng nề khó chịu, không biết bao nhiêu là người vợ hiền, mẹ lành, đàn bà có phước, mà phải chịu điều tủi nhục và đau xót!” [86, tr.234] Cách nghiên cứu và cách viết của Phan Khôi dễ gây xúc động mạnh cho người đọc, tuy nhiên trong lĩnh vực sáng tác thì dường như ông không hoàn toàn thống nhất với quan điểm của mình Biểu hiện cụ thể nhất là ông đã sáng tác truyện thơ song thất lục bát về thân mẫu Nguyễn Cao, dù rằng tác phẩm đó viết ra nhằm góp phần ca ngợi hành vi dũng cảm của vị Tán lí họ Nguyễn

Cùng với sự công kích Nho giáo và vấn đề đàn bà thủ tiết của Phan Khôi, nhà thơ Tản Đà, trong vai trò một nhà báo, đã lên tiếng công kích Phan Khôi một cách mạnh mẽ Trước tiên, ông tự hào về truyền thống của phụ nữ nước nhà: “Cứ dĩ vãng

mà xem thời đàn bà nước Nam ta từ xưa, anh hùng như bà Trưng bà Triệu, tiết liệt như bà Nguyễn Thị Kim, bà Phan Thị Thuấn, tài hoa văn học như bà huyện Thanh Quan, bà Thị Điểm, cô Xuân Hương Những người đó tuy không phải là hạng người

Trang 39

34

thường có trong quốc dân song cũng đủ chứng rằng đàn bà nước Nam ta tư tính không hẳn kém thua đàn bà nước khác” [229, tr.69] và ông xoay qua đòi “bài trừ cái nạn Phan Khôi ở Nam Kì” vì theo ông “Đối với sự cải giá của đàn bà, xưa nay, dù vua chúa, dù thánh hiền, chỉ có khuyên người ta giữ được đạo trinh tiết là đáng quý, đáng chuộng; chớ chưa từng có điều luật, kinh điển nào dám nói rõ: “Cấm bất đắc cải giá” bao giờ” [229, tr.153] rồi qua các ví dụ chứng tỏ lệ thủ tiết đã có từ xưa, rằng Trình Hi chỉ khuyên người ta “nên” chứ chưa bắt người ta “phải” thủ tiết, Tản

Đà đeo cho Phan Khôi tội “vu hãm tiên hiền”, rồi đề nghị đem Phan Khôi ra

“chém”!!! Như vậy, quan niệm của Tản Đà về vấn đề này khá bảo thủ Ông sáng tác

thơ ca ngợi Mị Ê, Phan Thị Thuấn, chê bai các cô gái lấy chồng Tây, viết Đài

gương kinh và Đàn bà Tàu, trong đó cũng vẫn một mực ca ngợi sự thủ tiết, tuẫn

thân của các tiết phụ và trinh liệt nữ

Trong giai đoạn 1945 - 1954, những nghiên cứu về văn học Việt Nam trung đại không để lại nhiều dấu ấn Từ 1954 trở lại đây, mảng nghiên cứu này đã có khá nhiều thành tựu, trong đó có một số liên quan đến “nhân vật liệt nữ trong văn học Việt Nam trung đại” Từ đầu những năm 1960, Văn Tân và Nguyễn Hồng Phong đã

đưa ra ý kiến của mình về tác phẩm Trinh thử và Phạm Tải - Ngọc Hoa Do chịu

ảnh hưởng mạnh của quan niệm về đấu tranh giai cấp, Văn Tân dễ đánh đồng Chuột Đực với “giai cấp phong kiến” nên đã coi Chuột Bạch là “những nho sĩ khảng khái

vẫn giữ được tiết tháo” [173, tr.76 - 77] Về truyện Nôm Phạm Tải - Ngọc Hoa,

Nguyễn Hồng Phong cũng đưa ra một số nhận xét nhưng điều đáng nói là Ngọc Hoa vẫn chưa được nhận diện là một “liệt nữ” Chỉ từ sau 1975 trở lại đây, các nghiên cứu liên quan đến nhân vật liệt nữ trong văn học Việt Nam trung đại mới đi

vào chiều sâu Năm 1979, trong chuyên luận Truyện Kiều và thể loại truyện Nôm,

Đặng Thanh Lê đã khẳng định Thúy Kiều không phải là người hi sinh bản thân vì những danh hão kiểu “tiết hạnh khả phong” nhưng vẫn thừa nhận “quan niệm của Thúy Kiều (và của Nguyễn Du) về chữ Trung, chữ Nhân, chữ Tiết… ít nhiều mang màu sắc phong kiến” [99, tr.108 - 109] để rồi sau đó khẳng định thêm rằng “Chữ Tiết, chữ Trinh đơn phương, bất công có tính chất cực đoan và tính chất tĩnh của

Trang 40

35

đạo đức phong kiến đã bị phá vỡ” [99, tr.122] Vào những năm 1970, để nhấn mạnh tính nhân dân trong nhân cách của các nhân vật như Nhị Khanh, Dương thị, Lệ

nương, Túy Tiêu (Truyền kì mạn lục), Bùi Duy Tân cho rằng họ “phần nào thể hiện

yêu cầu của nhân dân về đạo lí làm người” dù rằng không phải ông không thấy ngay kiểu “nghĩa phụ” như Nhị Khanh không khỏi “có phần bảo thủ” [172, tr.523] Nhận xét của Bùi Duy Tân thể hiện sự ngập ngừng của nhà nghiên cứu giữa một bên là việc khẳng định các giá trị truyền thống, bản địa thuộc về “nhân dân” và một bên là phủ định các giá trị tiêu cực gắn liền với lịch sử văn hóa do “nhân dân” tạo ra trong mắt nhà nghiên cứu Cũng với cảm hứng đó, khi nghiên cứu văn học Việt Nam từ nửa cuối thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX, Nguyễn Lộc lạc quan cho rằng

“Người phụ nữ trong văn học giai đoạn này (…) hoàn toàn không phải là người phụ

nữ theo cái mẫu “công dung ngôn hạnh”, “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu”… của lễ giáo phong kiến” [107, tr.72] dù không phải ông không biết đến những “hạn chế” trong sáng tác của Lí Văn Phức hay sự “cực đoan” trong cái chết của Ngọc

Khanh (Hoa tiên) và sự tồn tại của liệt nữ An Ấp trong Truyền kì tân phả Cho đến

những năm 1980 trở lại đây, các ý kiến về nhân vật liệt nữ trong văn học Việt Nam

trung đại còn khá phân tán Lâm Vinh khi nghiên cứu “Truyện Lục Vân Tiên và vấn

đề mối quan hệ giữa đạo đức và thẩm mĩ” đã nhận định hành vi của một số nhân vật

là “cực đoan” [223, tr.382] trong khi ông gần như đã có định hướng ngợi ca giá trị

của Lục Vân Tiên ngay từ đầu Nhận xét về Hoàng Lê nhất thống chí, Phạm Tú

Châu cho rằng: “Cũng ở những trang cuối sách, tác giả đã dành nhiều câu chữ trang trọng với tình cảm ngậm ngùi để miêu tả lại việc “tuẫn tiết” theo chồng mà theo ông

là rất đáng ngợi ca của hoàng phi Nguyễn Thị Kim (…) Người đọc ngày nay không đánh giá bà phi này cao như vậy Đây cũng là điều tác giả không ngờ tới” [20, tr.118] Nhận định như vậy dễ khiến tác giả chủ quan khi đánh giá tác phẩm trong khi lập luận của nhà nghiên cứu có điểm tựa thực tế khá vững chắc

Sang đầu thế kỉ XXI, các nghiên cứu về nhân vật liệt nữ trong văn học Việt Nam trung đại vẫn tiếp tục và thu được một số thành tựu nhất định Nguyễn Phạm Hùng đã chỉ ra một trong những nguyên nhân gây ra đau khổ cho người phụ nữ

Ngày đăng: 09/12/2020, 15:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w