1. Trang chủ
  2. » Tất cả

chuong9

16 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 507,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở nước ta đậu rau được trồng rất nhiều, các giống đậu đóng vai trò quan trọng trong việc sắp xếp hệ thống cây trồng như luân canh, xen canh, trồng gối nhờ tính chất cải tạo đất, ít bị sâ

Trang 1

CHƯƠNG IX CÂY RAU HỌ ĐẬU (LEGUMINOSEA, FABACEAE) Cây rau họ đậu là nhóm rau quan trọng trên thế giới, đặc biệt ở Châu Á như Trung Quốc, phía tây Ấn Độ có nguồn gốc ở Nam Mỹ và Châu Á (Herklots, 1972) Ở nước ta đậu rau được trồng rất nhiều, các giống đậu đóng vai trò quan trọng trong việc sắp xếp hệ thống cây trồng như luân canh, xen canh, trồng gối nhờ tính chất cải tạo đất, ít bị sâu Bệnh, do đó góp phần giải quyết giáp vụ rau hàng năm, nhất là vào mùa mưa khi lượng rau cung cấp ít đi và chủng loại trồng kém phong phú

Các loại rau ăn trong họ đậu:

1 Đậu đũa (yardlong bean, asparagus bean)

2 Đậu que, cove (Snapbean, french bean)

3 Đậu rồng (winged bean)

4 Đậu hòa lan (garden sugar pea)

5 Đậu ván, đậu móng chim (hyacinth bean)

6 Củ đậu (yam bean)

Vigna sesquipedalis Fruwirth Phaseolus vulgaris (L.) Savi

Psophocarpus tetragonoobus (A.P de Cand) Pisum sativum L

Lablab purpureus Sweat

Pachyrrhizus erosus Urban

Trong chủng loại rau đậu rau giữ vị trí quan trọng nhờ giá trị dinh dưỡng, đậu chứa nhiều đạm thực vật (5-6%) mà các loại rau khác không có được, các loại đậu non có cả chất béo (đậu hòa lan 2%, đậu đũa 1,6%), nhiều loại vitamin và các chất khoáng

Bảng : Bảng phân tích thành phần dinh dưỡng trong 100g đậu ăn

Thành phần Đậu cove Đậu đũa Đậu hòa lan Củ đậu Đậu rồng Nước (%) 80,0 83,0 81,0 92,0

Protein (g) 5,0 6,0 6,5 1,0 2,9 Glucid (g) 13,3 8,3 11,5 6,0 3,2 Cellulose (g) 1,0 2,0 1,0 0,7 - Năng lượng (cal) 75,0 59,0 72,0 29,0 -

Ca (mg) 26,0 47,0 57,0 8,0 40,0

P (mg) 122,0 16,0 43,0 16,0 -

Fe (mg) 0,7 0,6 0,8 - - Vitamin A (mg) 1,0 0,5 - - 416 I.U

B1 (mg) 0,34 0,29 0,4 - 0,15

B2 (mg) 0,19 0,18 - - 0,07

1mg= 3.330 I.U (International unit)

Trang 2

Đậu rất dễ chế biến thức ăn, thích hợp với khẩu vị của nhân dân ở nhiều

quốc gia, một số loại đậu làm nguyên liệu đóng hộp như đậu hòa lan, đậu cove

Tình hình nhập khẩu đậu rau của một số nước khu vực Châu Á (Market

A.G Company, 1999) như sau:

Bảng : Tình hình nhập khẩu đậu rau của Hồng Kông, 1997

Quốc gia xuất Số lượng (tấn) Thu nhập (đô la)

Bảng : Tình hình nhập khẩu đậu rau của Đài Loan năm 1997

Quốc gia xuất Số lượng (tấn) Thu nhập (đô la)

Bảng : Tình hình nhập khẩu đậu Hòa Lan của Nhật Bản năm 1997

1 ĐẶC TÍNH SINH HỌC

1.1 Rễ: Rễ chính phát triển mạnh, rễ phụ phát triển yếu, do đó đậu thường được

Trang 3

gieo thẳng không qua giai đoạn vườn ương Bộ rễ có rất nhiều nốt sần chứa

vi khuẩn cố định đạm khí trời để nuôi cây nên không yêu cầu bón nhiều phân đạm Cây đậu có thể trồng được trên đất thiếu đạm, khi cây chết đạm

do vi khuẩn cố định được hoàn trả cho đất

1.2 Thân: có 2 loại:

- Thân sinh trưởng hữu hạn (đậu lùn) cao 30-60cm, giới hạn bởi chùm hoa ở

ngọn, cây có ít nhánh, thời gian sinh trưởng ngắn, cho thu hoạch ít lứa

- Thân sinh trưởng vô hạn (đậu leo) : Đa số các loài đậu rau đều có thân sinh

trưởng vô hạn tiếp tục mọc dài sau khi trổ hoa, thân dài 2-7m, không có chùm hoa ở ngọn, nhánh phát triển mạnh ở nách lá, thời gian sinh trưởng dài, thu hoạch nhiều lứa

1.3 LaÏ: lá kép có nhiều lá phụ, lá phụ rìa nguyên, hình dạng, kích thước, màu sắc và độ dầy của lá thay đổi tùy theo giống

1.4 Hoa: Hoa mọc thành chùm ở nách lá, hoa tạo nhiều nhưng tỉ lệ đậu trái thấp, chỉ khoảng 20%, hoa lưởng tính tự thụ phấn nên rất dễ dàng trong việc để và nhân giống Hoa có 5 cánh rời gồm 1 cánh cờ to ở phía sau, 2 cánh bướm ở 2 bên, 2 cánh lườn nhỏ ở phía trước, nhị đực gồm 9 dính và 1 rời, nhụy cái với vòi nhụy ngắn Chùm hoa xuất hiện khi cây có khoảng 4-8 đốt Đậu ra hoa từng đợt, trong kỹ thuật canh tác cần chú ý chăm sóc tưới thúc sau mỗi đợt thu trái để rút ngắn khoảng cách giữa các lần hái trái, tăng số lần thu hoạch trên một vụ mùa

1.5 Trái: Số trái và hình dạng trái thay đổi tùy theo giống, trái non đều có màu xanh, khi chín có màu vàng nâu, có một tâm bì Trái khô mở theo 2 đường, tách vỏ ra làm 2 mảnh như đậu rồng, củ đậu Một số loài trái khi khô không tự mở như đậu đũa, đậu cove mà gãy thành khúc, mỗi khúc chứa một hột 1.6 Hột: Hột của các giống đậu rau có kích thước rất lớn, chứa nhiều chất dinh dưỡng, hình dáng, màu sắc, kích thước thay đổi tùy theo giống, dạng tròn (đậu rồng), bầu dục (đậu đũa, đậu cove), hình vuông hơi dẹp (củ sắn), có tể đính vào phôi, phôi gồm 2 tử diệp to chiếm hầu hết thể tích hột Hột gieo rất dễ nẩy mầm, hệ số nhân tương đối thấp (1 ha ruộng đậu giống chỉ trồng sản xuất được 5-8 ha)

2 ĐIỀU KIỆN NGOẠI CẢNH

2.1 Nhiệt độ: Đậu thích khí hậu ấm áp nắng nhiều, nhiệt độ từ 18-24oC thích hợp cho sự sinh trưởng

Trang 4

· Đậu hòa lan đòi hỏi nhiệt độ sinh trưởng thấp hơn các giống đậu rau khác, vì vậy đậu chỉ trồng được trong vụ đông xuân nên diện tích canh tác ở ĐBSCL bị hạn chế

· Đậu đũa chịu nhiệt độ cao hơn các giống đậu khác, do đó đậu phát triển tốt trong vụ xuân hè, hè thu Đậu chịu lạnh kém, nhiệt độ dưới 15oC giới hạn việc canh tác các giống đậu này

2.2 Ánh sáng: Hầu hết các loại đậu là cây ngày ngắn, thời gian chiếu sáng dưới 12 giờ giúp đậu ra hoa sớm, cho năng suất cao, nhất là vụ đông xuân Nhiều giống đậu ở nước ta không chịu ảnh hưởng mạnh đối với ánh sáng nhờ vậy có thể trồng được quanh năm

Thường những giống chín sớm không có phản ứng rỏ rệt với thời gian chiếu sáng như đậu đũa, đậu cove trồng được quanh năm ở điều kiện khí hậu miền Nam Nhưng đậu đũa thích ánh sáng mạnh nên cho năng suất cao trong vụ xuân hè trong khi đậu cove chịu mát hơn đậu đũa nên vụ đông xuân tỏ ra thích hợp hơn Riêng đậu rồng (cây đa niên) là giống dài ngày chịu ảnh hưởng rỏ rệt với thời gian chiếu sáng Nếu trồng từ hột năm đầu cây chịu ảnh hưởng quang kỳ ngắn và nghiêm khắc hơn năm sau cây mọc từ gốc (củ), nên năm sau cây ra hoa sớm hơn năm đầu

2.3 Nước: Cây đậu yêu cầu nhiều nước, đặc biệt là giai đoạn nẩy mầm cần từ

100-150 % so với trọng lượng hột, nước cần nhiều trong giai đoạn ra hoa đậu trái Rễ đậu phát triển khá sâu trong đất nên khả năng chịu hạn khá, thiếu nước cây còi cọc thu hoạch ít lứa, trái nhỏ nhiều xơ năng suất và phẩm chất đều kém, thừa nước hoa và trái non rụng nhiều, cây dễ mắc bệnh

2.4 Đất và chất dinh dưỡng: Các loại đậu rau yêu cầu đất đai không nghiêm khắc lắm, chỉ cần đất thoáng, tơi xốp, đất trung tính hoặc acid nhẹ, pH từ 5-7 Để đạt năng suất cao cần đất màu mở giàu lân, kali và calci

Cây đậu tiêu hao lượng dinh dưỡng trong đất rất cao trong mỗi đợt thu trái, khoảng 100-150kg đạm/ha/vụ, tương đương với bắp, khoai tây và một số loài cây khác Tuy nhiên cây đậu không đòi hỏi phải cung cấp lại đủ số lượng thiếu đó, vì lúc nầy chất đạm được cung cấp chủ yếu do vi khuẩn cố định đạm trong rễ cây đậu, cây chỉ cần lượng đạm nhỏ trong thời kỳ tăng trưởng đầu, nếu trong giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng cây thiếu đạm sẽ biểu hiện trên thân, lá chỉ cần cung cấp 10-20 kg/ha đã thỏa mãn nhu cầu đạm của cây đậu Trong thời kỳ tạo hạt cây cần nhiều chất lân và kali hơn các loài cây khác thiếu lân làm giảm lượng chất béo trong hột đậu, hột cứng hơn Kali cần nhiều nhất là các loại đậu thân leo từ 130 150kg/ha Lượng dinh dưỡng cần cho cây đậu nhiều nhất vào giai đoạn ra hoa và bắt đầu mang trái

Trang 5

Nói chung cây đậu cần nhiều đạm nhất kế đến là kali và sau cùng là lân

· Chất đạm: cần nhiều ở thời kỳ đầu nhất là khi cây có từ 3-5 lá thật

· Chất lân: cần trong suốt quá trình sinh trưởng của cây để hình thành nốt

sần và cải thiện phẩm chất hạt

· Chất kali: Cần suốt quá trình sinh trưởng giúp tăng sức chống chịu và

tăng hàm lượng vitamin C, chất béo trong trái và hột

CÂY ĐẬU COVE Tên tiếng Anh: Snapbean, french bean

Tên khoa học: Phaseolis vulgaris L

Họ bầu bí: Leguminosae, Fabaceae

1 GIỚI THIỆU

Đậu cove được trồng rộng rãi tên khắp thế giới, có nguồn gôcú từ Trung Mỹ

và được trồng cách nay hơn 600 năm Ở Châu Á, đậu cove được sử dụng nhiều bởi

vì có giá trị dinh dưỡng cao như N, K, thiamin và vitamin Trái tươi giàu vitanin A

và C, trái có thể dùng ăn tươi, đóng hộp và đông lạnh Ở một vài quốc gia Châu Á

như Âøn Độ, Miến Điện, Nepal, Sri-Lanca, Bangladesh sử dụng hột khô của đậu

cove trong những bữa ăn kiêng Đậu cove là một trong những loại hoa màu thích

nghi trong hệ thống luân canh với lúa (Bounnhong, 1993) Trong các loại đậu rau

thì đậu cove là quan trọng bậc nhất bởi vì phân bố rộng khắp và sản lượng tương

đối lớn có tiềm năng như là nguồn thu nhập đối với nông hộ nhỏ và là nguồn

cung cấp vitamin và chất khoáng (Yonzchong, 1994)

Bảng : Tình hình nhập khẩu đậu cove của Nhật Bản năm 1977 (Market A.G

Company, 1999)

2 ĐẶC TÍNH SINH HỌC

Đậu cove là cây hằng niên, thân thảo, rễ chính mọc sâu nên cây có khả năng

chịu hạn tốt, rễ phụ có nhiều nốt sần chủ yếu tập trung ở độ sâu khoảng 20cm

Trang 6

Thân có 2 dạng: thân sinh trưởng hữu hạn và thân sinh trưởng vô hạn Lá kép có 3 lá phụ với cuốn dài, mặt lá rất ít lông tơ Chùm hoa mọc ở nách lá trung bình có từ 2-8 hoa Sau khi trồng 35-40 ngày đã có hoa nở, hoa lưỡng tính tự thụ phấn khoảng 95% nên việc để giống rất dễ dàng

Trái đậu cove ăn tươi thu hoạch từ 10-13 ngày sau khi hoa nở Hột to, trọng lượng 1.000 hột từ 250-450g Đậu cove có giá trị dinh dưỡng cao, là một trong những loại rau giàu protein chứa khoảng 2,5% đạm trong trái non, 0,2% chất béo, 7% chất đường bột và đặc biệt nhiều sinh tố A

3 GIỐNG

Phân biệt theo dạng hình của cây có 2 loại:

* Đậu cove lùn (sinh trưởng hữu hạn): cây cao trung bình 50cm, năng suất thấp nên nông dân không thích trồng Nhóm nầy không có giống địa phương, có một số giống nhập nội thích hợp với vùng ĐBSCL có thể canh tác để phục vụ cho công nghiệp đóng hộp trái tươi Giống đậu lùn rất thuận lợi cho việc canh tác bằng

cơ giới (vì có thể thu họach một lần) và dễ trồng xen với hoa màu khác để tăng thu hoạch trên diện tích hoặc trồng ở những nơi khó khăn về cây làm giàn

* Đậu cove leo (sinh trưởng vô hạn): thân dài 2,5-3m, trong canh tác phải làm giàn, thời gian sinh trưởng 90-110 ngày, năng suất từ 15-20 t/ha Đậu leo được trồng phổ biến ở ĐBSCL từ trước đến nay Các giống hiện đang được ưa chuộng:

- Giống đậu cove leo của công ty Miền Nam sản xuất từ giống gốc của Đài Loan, chịu nóng giỏi, kháng bệnh tốt, hột to, đen; hoa màu tím, phát hoa dài; hoa nở 40 ngày sau khi gieo, hoa ít rụng, đậu trái tốt Trái thẳng dài trung bình 14-16 cm, màu xanh nhạt, phẩm chất ngon, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng Bắt đầu cho thu trái 50-55 ngày sau khi trồng

- Giống Sư Tử (Lion Sead) của công ty Trang Nông đang được trồng phổ biến ở Cần Thơ, hoa màu tím, trái màu xanh trung bình, chiều dài trái 14-16

cm, đường kính trái 0,7-0, 8 cm, hạt già màu đen, trọng lượng trái 15-18 g, chất lượng trái ngon ngọt, cỏ thể trồng quanh năm

Phân biệt theo màu sắc hộût có 3 loại (Phạm Hồng Cúc, 1998):

* Giống hộût đen: Có giống địa phương, công ty giống Miền Nam, Hai Mũi Tên Đỏ, Trang Nông Hoa màu tím, thân và cọng lá có vệt tím, lá xanh đậm, tăng trưởng mạnh, đâm chồi tốt, ra hoa nhiều, dễ đậu trái, trái dài màu xanh nhạt và đậm, hạt chậm to nên năng suất cao và phẩm chất tốt, tính chịu nóng cao và kháng bệnh tốt hơn, dễ dàng trồng trong mùa mưa

Trang 7

* Giống hột trắng: Có giống địa phương, giống Đài Loan, hoa màu trắng, lá xanh trung bình, tăng trưởng yếu, ra hoa đậu trái kém va năng suất kém hơn giống hoa tím

* Giống hạt nâu vàng: Nhập từ Nhật của hảng Takii, hoa trắng, trái xanh nhạt, phẩm chất ngon, rất được ưa chuộng

4 KỸ THUẬT CANH TÁC

4.1 Thời vụ

Vùng ĐBSCL có thể trồng đậu cove quanh năm trên đất rẩy, nhưng thời vụ chính là đông xuân, gieo vào tháng 11-12 dl, thời tiết mát mẽ khô ráo nên hoa trái phát triển thuận lợi, cho năng suất cao nhất Vụ hè thu nên gieo sớm vào đầu mùa mưa khoảng tháng 5 dl, vì gieo càng trễ mưa nhiều bệnh càng phát triển nên năng suất thấp

4.2 Làm đất, gieo hột

Chọn đất cao, thoát nước tốt, cày bừa kỹ, làm sạch cỏ, những nơi đất thấp phải lên líp cao 15-20cm, nếu trồng mùa mưa nên lên líp cao 40-50 cm để dễ thoát nước, đất không bị úng Nên trồng hàng đơn trên líp, hàng cách hàng 1,2-1,4 m Trồng hàng đơn đậu cho thời gian thu hoạch trái kéo dài hơn so với trồng hàng đôi và dễ dàng chăm sóc Lượng hộût giống gieo 30-40kg/ha, gieo khoảng cách trên hàng 20-30cm, mỗi lổ gieo 2-3 hột Khi gieo dùng chày tỉa xôm lổ hoặc cuốc bổ hốc, gieo xong lấp hột bằng tro trấu

Nên sử dụng màng phủ plastic để trồng đậu cove nhất là trong mùa mưa vì

ít bị bệnh và cho năng suất cao, còn mùa nắng chỉ nên sử dụng ở những chân đất có điều kiện tưới thấm

4.3 Bón phân

Lượng phân cho 1 ha như sau: 200-250kg urea, 250-300kg super lân, 120-150kg KCl, 10-15t phân hữu cơ và 1-2 tấn tro trấu hay 600-800 kg NPK 16-16-8

* Bón lót: bón trước khi gieo hột Dùng cuốc rạch hàng để bón phân trên líp xong lấp đất trước khi gieo Bón toàn bộ lượng phân hữu cơ, tro trấu, 150-200kg super lân và 30-40kg KCl

* Bón thúc:

Tưới phân dậm: khi cây được 8-10 ngày tuổi, pha phân đạm nồng độ 2-4%o tưới thúc để cây mọc nhanh

Trang 8

Rãi phân lần 1: khi cây được 15-20 ngày tuổi, kết hợp với làm cỏ vun gốc Cuốc một bên mép của hàng đậu phía bên sẽ cắm cây làm giàn bón 50-60kg urea, phân lân còn lại, 30-40kg KCl và dùng cuốc lấp phân lại

Tưới phân dậm: Dùng urea nồng độ 3-5% tưới 2-3 lần giữa hai lần bón rãi Rãi phân lần 2: khi cây được 40-45 ngày, bón nuôi trái với lượng 40-50kg urea, 70-100kg super lân, 30-40kg KCl, rãi phân dọc theo bìa líp

Tưới phân dậm: phân urea và kali phối hợp pha tưới xen kẽ trong những lần thu trái để kéo dài thời gian thu hoạch trái, các lứa sau phát triển đều đặn, giảm số trái dị tật ở những đợt thu, có thể dùng NPK 16-16-8, không nên sử dụng đơn thuần phân urea

Có thể sử dụng phân bón lá Bayfolan, Supermes, phun định kỳ 7-10 ngày/lần (không sử dụng khi cây có bệnh trên lá hoặc ở gốc thân)

4.4 Chăm sóc

· Giậm hột: 5-7 NSKG giâm lại những chổ đậu không mọc

· Tỉa cây con: 10-15 NSKG tỉa chừa 2 cây/hốc

· Làm cỏ, vun xới: kết hợp với các lần bón phân thúc 2, 3

· Tưới nước: tưới bằng thùng vòi búp sen, mỗi ngày 2 lần vào buổi sáng và buổi chiều Tưới nhiều lúc ra hoa trái rộ Nếu có điều kiện dùng phương pháp tưới thấm vì lúc nầy cây phát triển tối đa, bộ lá lớn, phiến lá to, cây yêu cầu nhiều nước Thiếu nước cây phát triển kém, trái nhỏ, mau già nhiều xơ, giảm năng suất và phẩm chất trái tươi

· Làm giàn: khi cây bỏ vòi thì bắt đầu làm giàn (sau khi bón thúc lần II) có thể dùng sậy già để cắm giàn, thân đậu bò dài hơn 3m, một số nơi nông dân dùng sóng lá dừa dài 1,2m cắm theo hình chử X, phần chót lá cột dính nhau Giàn nầy có thể sữ dụng được 2 mùa Số lượng cây làm giàn từ 40.000-50.000 cây/ha

4.5 Phòng trừ sâu bệnh

4.5.1 Sâu hại

- Ruồi đục lòn (Liriomyza trifoli)

Âúu trùng của ruồi nằm ở phần trên của vách tế bào và dưới lớp cutin của lá, chúng gây hại bằng cách đục những đường hầm kín màu trắng và nhỏ, nhưng đường hầm này sẽ rộng ra khi ấu trùng lớn Chúng có thể gây cho lá bị khô, làm giảm khả năng quang hợp, kết quả là ảnh hưởng đến năng suất và phẩm chất của

Trang 9

trái Khi dịch hại nặng có thể gây chết dây,và mật số sâu thường phát triển mạnh theo sự tăng trưởng của dây và càng nghiêm trọng về cuối vụ Phun Basudin 50ND, Peran

- Dòi đục thân (Melanagromyza phaseoli) gây hại đáng kể lúc cây 3-4 lá và lúc ra hoa kết trái, thành trùng là ruồi đẻ trứng vào chổ tiếp giáp giữa cuốn lá và thân cây, dòi sẽ hóa nhộng bên trong phá hại phát hoa tại nách lá Phòng ngừa với Basudin 3G hoặc Regent số lượng 20kg/ha kết hợp lúc bón phân lót

- Sâu đục trái (Maruca testulalis) phá hại lúc trái non đang phát triển Phòng trừ chỉ nên phun sớm thuốc gốc Cúc như Peran, Cyperan ở giai đoạn trổ hoa Để bảo đảm an toàn sức khỏe cho người tiêu dùng nên ngưng xịt thuốc trong thời kỳ thu trái

- Rầy mềm, rầy nhớt (Aphis spp.)

Còn được gọi là rầy mật, cả ấu trùng lẫn thành trùng đều rất nhỏ, dài độ 1-2mm, có màu vàng, sống thành đám đông ở mặt dưới lá non từ khi cây có 2 lá mầm đến khi thu hoạch, chích hút nhựa làm cho ngọn dây dưa chùn đọt và lá bị vàng Rầy truyền các loại bệnh siêu vi khuẩn như khảm vàng Chúng có rất nhiều thiên địch như bọ rùa, dòi, kiến, nhện nấm nên chỉ phun thuốc khi nào mật số quá cao ảnh hưởng đến năng suất Phun các loại thuốc phổ biến như trừ bọ rầy dưa

4.5.2 Bệnh hại

- Bệnh héo cây con (Rhizoctonia solani) chủ yếu gây hại ở giai đoạn cây con Gốc thân cây bệnh có phủ sợi nấm màu trắng dễ nhận thấy vào buổi sáng, hạch nấm tròn đường kính 1-2mm màu nâu Để phòng ngừa nên xử lý đất trước khi gieo hột và rơm dùng để đậy phải lấy từ ruộng lúa không bị bệnh, xử lý đất trước khi trồng và xử lý rơm trước khi đậy bằng Kitazin 50 ND nồng độ 0,2-0,3%, nên dùng phân hữu cơ hoai và tránh để đất úng nước

- Bệnh héo Fusarium do nấm Fusarium solani f sp phaseoli gây ra, Bệnh thường xuất hiện sớm khi cây mới mọc mầm Rễ cái cây nhiểm Bệnh bị mất màu, dần dần chuyển sang nâu, nứt nẽ, rễ nhánh mọc trên phần rễ bị mất màu và ăn lan trên mât đất Nấm tồn tại trong đất 5 năm, do đó nếu trồng liên tục đậu sẽ làm gia tăng mật số nấm mỗi năm

- Bệnh đốm vi khuẩn (cammon blight) do vi khuẩn Xanthomonas phaseoli Bệnh gây các đốm cháy rộng trên lá, trái đậu có những đốm nhỏ xanh nhạt, nhũn nước, sau đó trở nên nâu và khô, trái có hình dạng bất thường Trong điều kiện ẩm độ cao, đốm bệnh sản xuất nhiều bào tử

Trang 10

- Bệnh đốm lá do nấm Cercospora canescens và C cruenta Đốm bệnh trên lá gây bởi

C canescens thì tròn đến hơi có góc cạnh với tâm màu nâu, viền xung quanh màu nâu đỏ Bệnh gây hại nhiều trên đậu lima và đậu đũa hơn đậu cove Đốm Bệnh do

C cruenta gây trên thân trái chín, Đốm có màu nâu đến màu rỉ sét, hình dạng kích thước không đều, nấm phát triển ở mặt dưới lá và nơi vết Bệnh có thể rách

- Bệnh phấn trắng (downy mildew) do nấm Erysiphe poligoli Vết Bệnh đầu tiên là đốm mất màu, dần dần biến thành trắng xám, lá non cuốn lại, chuyển sang vàng và rụng, trái còi cọc Bệnh thường phát triển vào giai đoạn cuối thu hoạch

4.6 Thu hoạch

Sau khi trồng 50-55 ngày bắt đầu thu hoạch, lứa đầu trái nhỏ và ít chỉ khoảng 50-60 kg/ha, lứa 4-5 thu rộ, thường cách 1 ngày thu 1 lần Sau đó cách 2-3 ngày thu 1 lần có thể thu hơn 10 lứa tùy theo cách chăm sóc Năng suất trong mùa mưa là 12-15t/ha Vụ đông xuân năng suất có thể đến 20 t/ha Nên thu đúng lúc khi vỏ trái có màu xanh mượt và hột mới tượng, nếu để trái già sẽ cứng, có nhiều

xơ, phẩm chất kém

4.7 Để giống

Chọn cây sinh trưởng tốt, nhiều trái, trái tốt không sâu bệnh, trái có nhiều hột, nằm trên đoạn thân từ 0,5-1m cách mặt đất Thu hoach khi vỏ trái chuyển sang màu vàng, gập đôi không gãy, phơi khô đập lấy hạt, sàng sạch đem đựng vào thúng hay khạp bịt kín miệng và cất nơi khô ráo, thoáng mát

ĐẬU ĐŨA

Tên tiếng Anh: Yardlong bean, asparagus bean

Tên khoa học: Vigna sesquipedalis Fruwirth

Vigna sinensis spp

Dolichos sesquipedalis L

Họ bầu bí: Leguminosea, Fabaceae

1 GIỚI THIỆU

Đậu đũa bắt nguồn từ một trong ba loài phụ của đậu cowpea (Vigna unquiculata) được trồng nhiều ở Trung Quốc; vùng Đông Nam Châu Á như Thái Lan, Philippines; Nam Châu Á như Bangladesh, Ấn Độ, Pakistan, Indonesia và mở rộng sang Châu Phi Đậu đũa được trồng trong nhà kính ở Châu Âu, đặc biệt ở Hoà Lan (Bounnhong, 1997)

Ngày đăng: 06/04/2022, 15:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bản g: Bảng phân tích thành phần dinh dưỡng trong 100g đậu ăn - chuong9
n g: Bảng phân tích thành phần dinh dưỡng trong 100g đậu ăn (Trang 1)
Tình hình nhập khẩu đậu rau của một số nước khu vực Châ uÁ (Market A.G. Company, 1999) như sau:  - chuong9
nh hình nhập khẩu đậu rau của một số nước khu vực Châ uÁ (Market A.G. Company, 1999) như sau: (Trang 2)
Bản g: Tình hình nhập khẩu đậu rau của Hồng Kông, 1997 - chuong9
n g: Tình hình nhập khẩu đậu rau của Hồng Kông, 1997 (Trang 2)
· Chất lân: cần trong suốt quá trình sinh trưởng của cây để hình thành nốt sần và cải thiện phẩm chất hạt - chuong9
h ất lân: cần trong suốt quá trình sinh trưởng của cây để hình thành nốt sần và cải thiện phẩm chất hạt (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w