1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Chương9

13 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 287,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để có thể có được quyết định nên loại bỏ sản phẩm C hay không thì nhà quản lý phải vận dụng kiến thức về chi phí chênh lệch để tính toán như sau: Nếu sản phẩm C bị loại bỏ thì doanh nghi

Trang 1

CHƯƠNG 9 THÔNG TIN KẾ TOÁN CHO VIỆC RA QUYẾT ĐỊNH

NGẮN HẠN TRONG DOANH NGHIỆP

Quyết định kinh doanh của doanh nghiệp là việc lựa chọn phương án kinh doanh có hiệu quả từ nhiều phương án kinh doanh khác nhau, trong đó mỗi phương án được xem xét bao gồm rất nhiều thông tin của kế toán Các thông tin của phương án này được so sánh với các thông tin của phương án khác trong quá trình ra quyết định Quyết định ngắn hạn là những quyết định mà thời gian thực hiện hoặc ảnh hưởng của

nó đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong thời hạn một năm

Sau khi nghiên cứu chương này, học viên có thể:

- Nhận diện được những thông tin thích hợp cho việc đưa ra quyết định quản trị

- Hiểu mô hình phân tích thông tin thích hợp cho việc ra quyết định quản trị

- Nhận diện được những trường hợp thuộc quyết định kinh doanh ngắn hạn

- Ứng dụng thông tin thích hợp cho việc ra quyết định kinh doanh ngắn hạn trong một số trường hợp cụ thể

9.1- KHÁI NIỆM VỀ QUYẾT ĐỊNH VÀ THÔNG TIN THÍCH HỢP 9.1.1- Khái niệm về quyết định

Ra quyết định là một trong những chức năng cơ bản của người quản lý (các chức năng đó là: (1) Ra quyết định (Decision Making), (2) Hoạch định (Planning), (3) Điều hành (Directing Operations), (4) Kiểm soát (Controlling))

Các nhà quản lý thường xuyên phải đương đầu với những quyết định như: bán những sản phẩm nào? Sử dụng Phương pháp sản xuất nào? Nên tự làm hay mua ngoài các linh kiện (chi tiết) trong sản phẩm? Bán với giá nào? Sử dụng các kênh phân phối nào? Có nên chấp nhận các đơn đặt hàng đặc biệt với giá thấp hay không? Tóm lại,

ra quyết định là một việc làm khó khăn và phứt tạp Sự khó khăn của việc làm này thường được tăng lên bỡi sự tồn tại của không chỉ một hoặc hai mà rất nhiều các quá trình hoạt động có thể xảy ra trong mọi tình huống mà xí nghiệp phải giải quyết

Trong bước ra quyết định, chi phí luôn luôn là nhân tố chính Các chi phí của phương án này được đem so sánh với các chi phí của phương án khác như là một bước trong quá trình ra quyết định Tuy nhiên, có một số chi phí thì thích hợp cho việc so sánh để ra quyết định nhưng một số khác thì lại không thích hợp, không cần phải quan tâm khi lựa chọn phương án Do đó, một vấn đề được đặt ra là trong quá trình ra quyết định phải lựa chọn những loại chi phí thích hợp

Để thành công trong quá trình ra quyết định , các nhà quản lý phải có các công

cụ sử dụng để giúp họ phân biệt được các chi phí thích hợp và không thích hợp để có thể tách các chi phí không thích hợp ra khỏi cơ cấu ra quyết định

Căn cứ vào thời gian thực hiện của quyết định người ta các quyết định thành hai loại là các quyết định ngắn hạn và các quyết định dài hạn

Quyết định ngắn hạn là những quyết định liên quan đến việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong khoảng thời gian ngắn, từ một năm trở xuống Ngược

Trang 2

lại, quyết định dài hạn là những quyết định liên quan đến sản xuất kinh doanh trong khoảng thời gian từ một năm trở lên

9.1.2- Thông tin thích hợp

Như trên đã đề cập, quá trình ra quyết định luôn luôn khó khăn và phứt tạp

Do vậy phải lựa chọn những thông tin thích hợp để phục vụ cho quá trình ra quyết định mà chủ yếu của thông tin thích hợp ở đây là các chi phí thích hợp

Chi phí thích hợp có thể được hiểu là những chi phí có thể áp dụng để ra một quyết định và chúng có đặc điểm là phải liên quan đến tương lai và phải có sự khác biệt giữa chúng tronh những tình huống đang xem xét

Những chi phí nào thích hợp cho việc ra các quyết định? Câu trả lời là: Mọi chi phí có thể tránh được là những chi phí thích hợp cho việc ra quyết định Chi phí tránh được là những chi phí có thể hạn chế (toàn bộ hay một phần) như là kết quả của

sự lựa chọn giữa hai phương án trong một tình huống ra quyết định

Tất cả các chi phí đều có thể xem là tránh được ngoại trừ (1) các chi phí lặn và (2) các chi phí tương lai không chênh lệch nhau giữa các phương án

Chi phí lặn là những chi phí đã xảy ra và không thể tránh được cho dù nhà quản lý quyết định theo tiến trình hành động nào Như vậy các chi phí lặn không có gì thích hợp với các sự kiện tương lai và phải được bỏ qua trong cơ cấu ra quyết định Tương tự như vậy, một chi phí sẽ phát sinh mà không cần biết đếïn tiến trình hành động mà người quản lý có thể thực hiện thì khi đó chi phí không thể giúp gì trong việc quyết định xem tiến trình hành động nào là tốt nhất Chi phí như vậy là không thể tránh được và do vậy nó không thích đáng cho người quản lý ra quyết định

Để nhận diện được các chi phí của các phương án có thể tránh được hay không, người quản lý phải tiến hành các bước sau:

+ Thu thập tất cả các chi phí gắn liền với từng phương án

+ Hạn chế những chi phí lặn

+ Hạn chế những chi phí không khác nhau giữa các phương án

+ Ra quyết định dựa trên những chi phí còn giữ lại Đây chính là những chi phí thích hợp để ra quyết định

9.2- THÔNG TIN CHO VIỆC RA CÁC QUYẾT ĐỊNH NGẮN HẠN 9.2.1- Loại bỏ hay tiếp tục kinh doanh một loại sản phẩm, một bộ phận hay một dây chuyền công nghệ

Đây là một trong những quyết định khó khăn nhất mà người quản lý phải thực hiện Trong những quyết định này, rất nhiều yếu tố phải được quan tâm xem xét gồm

cả những yếu tố số lượng và chất lượng Dù vậy, bất kỳ quyết định cuối cùng nào cũng trước hết phải xoay quanh ảnh hưởng của quyết định đó đến lợi nhuận

Hãy nghiên cứu trường hợp sau đây:

Một doanh nghiệp D sản xuất và tiêu thụ 3 sản phẩm A, B, C Doanh thu và chi phí kỳ trước của từng sản phẩm và của toàn doanh nghiệp được trình bày trong bảng sau (ĐVT 100.000 đ):

Trang 3

Chỉ tiêu SP A SP B SP C Tổng cộng

Theo bảng này thì trong kỳ sản phẩm C đã bị lỗ Vậy có nên loại bỏ sản phẩm này để lợi nhuận của toàn công ty tăng lên hay không? Cần phải làm gì để nâng cao lợi nhuận của toàn doanh nghiệp? Để có thể có được quyết định nên loại bỏ sản phẩm C hay không thì nhà quản lý phải vận dụng kiến thức về chi phí chênh lệch để tính toán như sau:

Nếu sản phẩm C bị loại bỏ thì doanh nghiệp sẽ mất đi lượng số dư đảm phí là 20.000 mà sản phẩm C hiện đang góp vào sự bù đắp các định phí Tuy nhiên khi loại

bỏ sản phẩm C cũng có thể giảm bớt một số định phí nhất định như: có thể giảm bớt tiền lương của một số công nhân phục vụ sẽ bị sa thải, hoặc có thể giảm bớt một số chi phí quảng cáo Từ đó ta rút ra một điều kiện đêí loại bỏ một sản phẩm là: Nếu loại bỏ sản phẩm C mà doanh nghiệp có khả năng tránh được lượng định phí lớn hơn số dư đảm phí bị thiệt hại thì khi đó tốt nhất là nên loại bỏ sản phẩm này vì lợi nhuận chung toàn doanh nghiệp sẽ tăng thêm Ngược lại, nếu những định phí có thể tránh được do loại bỏ sản phẩm C mà nhỏ hơn số dư đảm phí bị thiệt hại thì lúc đó sản phẩm C phải được giữ lại, nếu không lợi nhuận của toàn doanh nghiệp sẽ giảm

Tóm lại: để quyết định có nên loại bỏ sản phẩm hay không thì câu hỏi đặt ra là: những chi phí có thể tránh được có đủ bù đắp những thiệt hại về lợi nhuận (hoặc số

dư đảm phí) do loại bỏ sản phẩm đó hay không?

Để trả lời dứt khoát cho câu hỏi có nên loại bỏ sản phẩm C hay không thì nhà quản lý phải tiếp tục phân tích dựa trên các giả định về các định phí sau:

+ Tiền lương phản ánh số tiền trả cho công nhân làm việc trong phạm vi từng sản phẩm cho nên nếu sản phẩm C bị loại bỏ thì tất cả công nhân làm việc trong phạm

vi sản phẩm C sẽ nghỉ việc, nghĩa là không phải trả lương cho những công nhân này nữa Hay nói cách khác: tiền lương trong trường hợp này là chi phí có thể tránh được

Trang 4

+ Quảng cáo phản ánh chi phí quảng cáo trực tiếp của mỗi sản phẩm cho nên

nĩ là chi phí tránh được nếu sản phẩm C bị loại bỏ

+ Phục vụ phản ánh các chi phí phục vụ cho tồn doanh nghiệp Lượng chi phí phục vụ tính cho mỗi sản phẩm phản ánh một sự phân bổ căn cứ vào khoảng khơng gian (diện tích) dùng để sản xuất sản phẩm Do vậy khi loại bỏ sản phẩm C thì tổng chi phí phục vụ vẫn khơng giảm, hay nĩi cách khác chi phí phục vụ là chi phí khơng thể tránh được

+ Khấu hao phàn ánh phần chi phí khấu hao TSCĐ sử dụng để trưng bày nhiều loại sản phẩm khác nhau và nếu loại bỏ sản phẩm C thì khơng làm giảm chi phí khấu hao, tức là nĩ là sản phẩm khơng thể tránh được

+ Thuê nhà phản ánh chi phí thuê tồn bộ nhà của doanh nghiệp, nĩ được phân

bổ cho từng loại sản phẩm căn cứ vào doanh thu của từng sản phẩm Do vậy nĩ là chi phí khơng thể tránh được

Với những phân tích trên nhà quản lý cĩ thể nhận diện được những chi phí cĩ thể tránh được và những chi phí khơng thể tránh được khi sản phẩm C bị loại bỏ, chúng được trình bày như sau:

Định phí Tổng cộng Khơng tránh

được (1)

Tránh được

Tổng 28.000 13.000 15.000

Ghi chú: (1) Những chi phí khơng tránh được này phản ánh hoặc là các chi

phí lặn hoặc là các chi phí khơng đổi cho dù sản phẩm C cĩ bị loại hay khơng

Khi loại bỏ sản phẩm C thì lợi nhuận tồn doanh nghiệp sẽ bị ảnh hưởng như thế nào? Chúng ta hãy so sánh phần số dư đảm phí bị thiệt hại với các chi phí cĩ thể tránh được khi loại bỏ sản phẩm C như sau:

3- LN tồn doanh nghiệp bị ảnh hưởng ((2) - (1)): (5.000)

Rõ ràng là khi loại bỏ sản phẩm C thì các định phí cĩ thể tránh được khơng đủ

bù đắp phần số dư đảm phí bị thiệt hại nên làm cho lợi nhuận tồn doanh nghiệp giảm

đi 5.000 Do vậy sản phẩm C phải được giữ lại để tiếp tục sản xuất kinh doanh

Trang 5

9.2.2- Quyết định nên mua hay nên tự sản xuất

Để sản xuất một sản phẩm hoàn chỉnh doanh nghiệp có thể sử dụng nhiều phân xưởng, nhiều công đoạn để sản xuất nhiều linh kiện, nhiều bộ phận cấu thành của sản phẩm đó Tuy nhiên trong nền sản xuất xã hội mà sự chuyên môn hóa lao động rất cao như hiện nay thì không nhất thiết doanh nghiệp phải tiến hành sản xuất tất cả các

bộ phận cấu thành của sản phẩm Nhiều khi doanh nghiệp mua hoặc đặt hàng các doanh nghiệp khác sản xuất một số bộ phận lại đạt hiệu quả cao hơn Do vậy, một vấn

đề đặt ra là doanh nghiệp phải tính toán, cân nhắc xem nên mua ngoài những linh kiện cấu thành sản phẩm hay doanh nghiệp tự sản xuất thì có lợi hơn Những quyết định như thế gọi là quyết định nên mua hay nên tự sản xuất

Đêí quyết định nên làm hay nên mua thì doanh nghiệp dựa trên cơ sở nào? Về

cơ bản phải xem xét vấn đề trên cả hai góc độ là chất lượng và số lượng Chất lượng ở đây là xem xét việc tự sản xuất (hay mua ngoài) giải quyết được vấn đề gì, ví như chủ động được nguồn cung cấp, kiểm tra, làm chủ được chất lượng sản phẩm của linh kiện, tạo lợi nhuận cho bộ phận sản xuất linh kiện ấy Tuy nhiên nó có thể phá vỡ quan hệ bạn hàng với các nhà cung cấp, nếu khi doanh nghiệp cần họ thì sẽ gặp khó khăn Khía cạnh số lượng lại liên quan đến chi phí, nghĩa là phải so sánh giữa những chi phí sản xuất phải bỏ ra với giá mua của linh kiện, từ đó có những quyết định thích hợp

Quá trình ra quyết định nói trên có thể khái quát qua các bước sau:

+ Để ra quyết định, người quản lý phải xem xét các chi phí có thể tránh được (chi phí chênh lệch) khi mua ngoài Những chi phí có thể tránh được (chi phí chênh lệch) này có thể thu được bằng cách hạn chế những chi phí không thể tránh được, đó là các chi phí lặn và các chi phí tương lai không chênh lệch

+ Những chi phí có thể tránh được (chi phí chênh lệch) còn giữ lại nếu thấp hơn giá mua ngoài, nghĩa là những chi phí tránh được nếu không sản xuất mà mua ngoài lại thấp hơn chi phí mua ngoài, thì doanh nghiệp nên tiếp tục sản xuất nội bộ, không nên mua ngoài Còn nếu các chi phí chênh lệch còn giữ lại cao hơn chi phí mua ngoài thì khi đó doanh nghiệp nên mua ngoài, không nên tự sản xuất

Từ đó ta suy ra điều kiện để mua ngoài: giá mua ngoài phải thấp hơn các chi phí có thể tránh được khi ngừng sản xuất nội bộ các linh kiện

Chúng ta hãy nghiên cứu tình huống sau (đvt: 100.000 đồng): Doanh nghiệp B sản xuất sản phẩm X, để sản phẩm này hoàn chỉnh doanh nghiệp cần sản xuất rất nhiều linh kiện khác nhau Trong số đó có linh kiện Y là loại linh kiện hiện đang có bán ngoài thị trường với giá 19/linh kiện Doanh nghiệp dự kiến kỳ tới cần số linh kiện Y

là 8.000 chiếc, số liệu chi phí lien quan đến linh kiện Y được phòng kế toán cung cấp như sau:

Trang 6

Doanh nghiệp có nên ngừng sản xuất linh kiện Y để mua chúng từ bên ngoài không? Biết rằng chất lượng linh kiện bán ngoài thị trường và của doanh nghiệp tự sản xuất là tương đương nhau

Mới nghe qua, ngài giám đốc doanh nghiệp dự định sẽ chấp nhận phương án mua 8.000 linh kiện từ bên ngoài thị trường vì ông cho rằng khi mua ngoài doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được chi phí sản xuất cho mỗi linh kiện là 2 (21 - 19) nên với 8.000 linh kiện sẽ tiết kiệm được chi phí sản xuất là 16.000 Sự tính toán của ngài giám đốc đã đúng chưa?

Ngài kế toán trưởng của doanh nghiệp thì không đồng ý với quan điểm của giám đốc Ông tiến hành phân tích vấn đề qua các bước sau:

+ Đầu tiên ông ta đi tìm các chi phí chênh lệch Ông nhận thấy rằng vì các máy móc thiết bị (TSCĐ) đã được mua trong quá khứ cho nên chi phí khấu hao của chúng là chi phí lặn, cần phải loại bỏ khỏi cơ cấu ra quyết định Ngoài ra ông cũng phát hiện rằng các chi phí quản lý chung phát sinh vì lợi ích chung toàn doanh nghiệp

và được phân bổ cho linh kiện Y theo tiêu thức số giờ lao động trực tiếp vì vậy nếu linh kiện Y có bị ngừng sản xuất thì chi phí này cũng không thể tránh được nên cũng

bị loại ra khỏi cơ cấu ra quyết định Tất cả những chi phí còn lại đều là những chi phí

có thể tránh được khi mua linh kiện Y từ bên ngoài Trên cơ sở đó ngài kế toán trưởng lập bảng phân tích sau:

đơn vị

Chênh lệch từng đơn vị Tổng chênh lệch

Tự sản xuất

Mua ngoài

Tự sản xuất

Mua ngoài

Chi phí QL chung phân bổ 5

Qua bảng phân tích trên đã chỉ ra rằng nếu quyết định mua ngoài thì doanh nghiệp tiết kiệm được lượng chi phí là 14 cho một linh kiện trong việc sản xuất nhưng doanh nghiệp phải bỏ ra đến 19 để mua linh kiện từ bên ngoài Điều đó chỉ ra rằng việc mua ngoài là không kinh tế bằng tự sản xuất linh kiện trong nội bộ doanh nghiệp Khi tự sản xuất doanh nghiệp sẽ giảm được chi phí là 5 so với mua ngoài tính trên một linh kiện, và nếu tính trên 8.000 linh kiện thì sẽ giảm được 40.000 Vậy doanh nghiệp nên tiếp tục sản xuất linh kiện Y và từ chối phương án mua ngoài số linh kiện trên

Trang 7

Tuy nhiên, trong những phần phân tích trên chúng ta chưa đề cập đến chi phí

cơ hội Nếu những nhà xưởng, máy móc thiết bị dùng để sản xuất linh kiện Y sẽ bỏ không nếu như doanh nghiệp ngừng sản xuất linh kiện này thì rõ ràng chi phí cơ hội của việc tiếp tục sản xuất linh kiện Y là bằng 0 nên quyết định sẽ là tiếp tục sản xuất linh kiện Y Nhưng nếu máy móc thiết bị trên không nhàn rỗi, nghĩa là chúng có thể được sử dụng để sản xuất một sản phẩm khác thì khi đó lợi nhuận của sản phẩm này là chi phí cơ hội của việc tiếp tục sản xuất linh kiện Y và chi phí cơ hội này phải được đưa vào xem xét để có thể quyết định là nên mua ngoài hay tự sản xuất linh kiện Y

Ví dụ là tại doanh nghiệp B, nếu các thiết bị trên không dùng để sản xuất linh kiện Y thì chúng được dùng để sản xuất một sản phẩm mới mà sản phẩm này hứa hẹn

sẽ tạo ra lợi nhuận 60.000 hàng kỳ Vậy trong trường hợp này doanh nghiệp B lựa chọn phương án nào? Chúng ta sẽ phân tích dưới đây:

Nhận thấy rằng, nếu mua ngoài 8.000 linh kiện thì chi phí mua ngoài là: 8.000

SP x 19 = 152.000 còn nếu tự sản xuất thì chi phí sẽ là: (8.000 SP x 14) + 60.000 = 172.000 Nghĩa là chi phí của phương án tự sản xuất nhiều hơn chi phí của phương án mua ngoài với số tiền: 172.000 - 152.000 = 20.000 (Nguyên nhân là do chi phí cơ hội)

9.2.3- Quyết định nên bán hay nên tiếp tục sản xuất

Tại những doanh nghiệp sản xuất theo quy trình công nghệ, có nhiều loại sản phẩm khác nhau được sản xuất từ cùng một loại nguyên liệu và cùng trải qua một số công đoạn của quy trình sản xuất Đến một công đoạn nào đó, các bán thành phẩm này được tách ra để tiếp tục chế biến riêng Từ đó, người ta sử dụng phổ biến các thuật ngữ sản phẩm chung, chi phí sản phẩm chung, và điểm tách rời trong quy trình sản xuất

Sản phẩm chung là hai hay nhiều loại sản phẩm được sản xuất ra từ một nguyên liệu chung Ví dụ: bàn, ghế, giường, tủ là những sản phẩm chung trong quy tình sản xuất đồ gỗ của doanh nghiệp chế biến lâm sản

Chi phí sản phẩm chung là thuật ngữ dùng để mô tả những chi phí sản xuất phát sinh trong sản xuất các sản phẩm chung cho đến điểm tách rời Ví dụ gỗ, lương công nhân xẻ gỗ, khấu hao máy mưa là chi phí sản phẩm chung trong quy trình sản xuất đồ gỗ của doanh nghiệp chế biến lâm sản

Điểm tách rời (còn gọi là điểm rẽ) là điểm trong quá trình sản xuất mà ở đó các sản phẩm chung có thể được công nhận là những đơn vị thành phẩm riêng biệt Tại điểm này, một số các sản phẩm chung sẽ có dạng cuối cùng và sẵn sàng đem bán, số còn lại cần tiếp tục chế biến để đáp ứng yêu cầu của thị trường Những khái niệm trên được mô tả như sau:

Trong thực tế kinh doanh có nhiều trường hợp một số sản phẩm sau khi ra khỏi điểm tách rời được tiếp tục chế biến, gia công nhưng đến khi tiêu thụ thì hiệu quả lại không cao bằng nếu như chúng được bán ngay tại điểm tách rời Do vậy, vấn đề đặt

ra cho nhà quản lý là phải tính toán, xem xét, cân nhắc nên bán những loại sản phẩm như thế ngay tại điểm tách rời hay nên tiếp tục chế biến rồi mới bán để tốïi đa hóa lợi nhuận cho doanh nghiệp Khi ra những quyết định như vậy gọi là những quyết định nên bán hay nên tiếp tục sản xuất

Trang 8

Nguyên tắc cơ bản để người quản lý có thể dựa vào đó mà ra quyết định là nên bán hay nên tiếp tục sản xuất là: nếu tiếp tục chế biến một sản phẩm chung sau điểm tách rời thì thu nhập tăng thêm từ sự chế biến này phải cao hơn chi phí chế biến tăng thêm

Một điều cần lưu ý khi ra những quyết định loại này là: nhà quản lý chỉ được phân bổ những chi phí sản phẩm chung cho các sản phẩm khác nhau từ điểm tách rời trở về trước, không nên phân bổ những chi phí sản phẩm chung cho các sản phẩm được hình thành từ sau điểm tách rời Lý do là vì: những chi phí sản phẩm chung là những chi phí đã chi ra, dẫu doanh nghiệp có tiếp tục chế biến sản phẩm mới hay không cũng không ảnh hưởng đến chúng hay nói cách khác là kể từ điểm tách rời thì chi phí sản phẩm chung là những chi phí lặn cho nên chúng là những chi phí không thể tránh được khi doanh nghiệp quyết định có nên tiếp tục chế biến sản phẩm hay không

Chúng ta hãy nghiên cứu trường hợp điển hình sau:

Một doanh nghiệp sản xuất các loại sản phẩm là hóa mỹ phẩm có ba sản phẩm chính Những sản phẩm này cùng được sản xuất từ một loại nguyên liệu và cùng trải qua một số công đoạn sản xuất của quy trình công nghệ Những chi phí sản phẩm chung phát sinh được phân bổ cho ba loại sản phẩm theo doanh thu của chúng tại điểm tách rời Trong quá trình sản xuất ba sản phẩm trên có một số phế liệu bị thải loại và từ trước đến giờ doanh nghiệp đem đổ chúng ra ngoài bãi rát của thành phố Gần đây, Phòng Kỹ thuật, Phòng Marketing và Phòng Kế toán của doanh nghiệp đã phối hợp nhau cùng nghiên cứu và nhận thấy rằng: nếu doanh nghiệp chịu bỏ ra một lượng chi phí 175 triệu đồng một kỳ để tiếp tục chế biến số phế liệu trên thành một dạng sản phẩm mà có thể bán được trên thị trường thì hàng kỳ doanh nghiệp sẽ thu thêm 300 triệu đồng doanh thu từ việc tiêu thụ số sản phẩm trên Ban quản lý doanh nghiệp cần phải ra quyết định như thế nào? Ban quản lý doanh nghiệp liền hỏi ý kiến của Phòng

Kế toán Ngay trong phòng này lập tức có hai ý kiến trái ngược nhau

Ý kiến thứ nhất cho rằng không nên tiếp tục chế biến số phế liệu trên vì họ dựa trên sự tính toán sau: trước hết họ phân bổ số chi phí sản phẩm chung cho cả ba loại sản phẩm chính và cả sản phẩm phụ theo doanh thu của từng loại Kết quả là sản phẩm phụ này sẽ chịu một lượng chi phí sản phẩm chung là 150 triệu đồng Sau đó họ lấy 150 triệu đồng này cộng với 175 triệu đồng chi phí phát sinh để chế biến thêm cho sản phẩm làm cho tổng chi phí của sản phẩm này lên đến 325 triệu đồng, trong khi

Nguyên

liệu chung

Quá trình

SX chung

SP A

SP B

SP C

Bán

Chế biến

Chế biến

Bán

Bán

CPSP

chung

Điểm tách rời Sản phẩm chung

Trang 9

doanh thu của sản phẩm chỉ là 300 triệu đồng nên doanh nghiệp sẽ bị lỗ 25 triệu đồng

do tiếp tục chế biến số phế liệu trên

Ý kiến thứ hai tiến bộ hơn, theo họ chi phí sản phẩm chung tính tới điểm tách rời là những chi phí lặn, dù doanh nghiệp có chế biến số phế liệu trên hay không thì chúng cũng đã phát sinh rồi Do vậy, không được tính số chi phí sản phẩm chung cho sản phẩm phụ mà chỉ phân bổ hết cho ba sản phẩm chính mà thôi Như vậy, doanh nghiệp chỉ tốn thêm 175 triệu đồng để chế biến mà doanh thu từ việc chế biến thêm này là 300 triệu đồng, điều này sẽ góp phần giúp lợi nhuận của doanh nghiệp tăng thêm 125 triệu đồng nữa trong mỗi kỳ Vì vậy doanh nghiệp nên tiếp tục chế biến số phế liệu trên

Cuối cùng thì ban quản lý cũng nghiên về ý kiến thứ hai và chấp nhận phương

án tiếp tục chế biến số phế liệu của doanh nghiệp

Chúng ta cũng có thể lấy ví dụ khác chi tiết như sau:

Giả sử một doanh nghiệp sản xuất ba sản phẩm, những sản phẩm này được sản xuất từ cùng một loại nguyên liệu và trên cùng một số công đoạn của quy trình sản xuất Đến một công đoạn nhất định chúng sẽ được tách ra để chế biến riêng rẽ Các số liệu về chi phí và doanh thu được cho như sau: (ĐVT 100.000đ)

Doanh thu ở điểm tách rời 120.000 150.000 60.000 Doanh thu sau khi chế biến thêm 160.000 240.000 90.000 Các chi phí SP chung được phân bổ 80.000 100.000 40.000

Vậy sản phẩm nào cần bán tại điểm tách rời, sản phẩm nào cần tiếp tục chế biến rồi mới bán? Câu trả lời thể hiện qua bảng phân tích sau:

Doanh thu sau khi chế biến thêm 160.000 240.000 90.000 Doanh thu ở điểm tách rời 120.000 150.000 60.000 Doanh thu tăng thêm do chế biến thêm 40.000 90.000 30.000 Chi phí tăng thêm do chế biến thêm 50.000 60.000 10.000

Lợi nhụân do chế biến thêm (10.000) 30.000 20.000

Vậy sản phẩm A nên bán ngay tại điểm tách rời, còn sản phẩm B và sản phẩm

C nên tiếp tục chế biến (sản phẩm A nếu bán ngay thì lãi 40.000 còn nếu tiếp tục chế biến thì chỉ lãi 30.000)

9.2.4- Cực đại hóa lợi nhuận trong điều kiện năng lực SX có giới hạn

Chúng ta biết rằng trong nền sản xuất xã hội nói chung và trong doanh nghiệp nói riêng quá trình sản xuất luôn bị hạn chế bỡi những giới hạn trong năng lực sản xuất Bản thân doanh nghiệp có thể rất nỗ lực để mong muốn sản xuất càng nhiều càng tốt nhưng sản lượng của doanh nghiệp luôn bị không chế bỡi quy mô sản xuất, trình độ

Trang 10

sản xuất có hạn của doanh nghiệp Ví dụ một xí nghiệp sản xuất có một số lượng giờ máy hoạt động bị giới hạn nên không thể ký kết quá nhiều đơn đặt hàng cùng một lúc Hoặc doanh nghiệp có một khoảng không gian bị giới hạn để trưng bày, giới thiệu sản phẩm nhưng số loại sản phẩm thì quá nhiều không đủ chỗ để trưng bày hết, doanh nghiệp muốn thuê thêm không gian thì lại bị hạn chế về mặt tài chính nói chung là doanh nghiệp luôn phải giải quyết vấn đề là phải sử dụng như thế nào các tiềm lực bị giới hạn để có thể tối đa hóa lợi nhuận

Khi doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nhiều loại sản phẩm thì chúng ta biết rằng mỗi loại sản phẩm sẽ có lợi nhuận riêng của nó, có sản phẩm có lợi nhuận cao, có sản phẩm có lợi nhuận thấp Như vậy, để tối đa hóa lợi nhuận liệu doanh nghiệp có phải đẩy mạnh sản xuất các sản phẩm có lợi nhuận cao hay không? Câu trả lời là: chưa chắc! Đểí cực đại hóa lợi nhuận đúng là doanh nghiệp phải đẩy mạnh tiêu thụ những sản phẩm có lợi nhuận cao nhưng phải đặt khả năng tiêu thụ này trong mối quan hệ với năng lực sản xuất có giới hạn của doanh nghiệp Chúng ta sẽ thấy rõ điều này qua các trường hợp sau:

9.2.4.1- Trường hợp chỉ có một điều kiện giới hạn

Trong trường hợp này người quản lý phải tính toán lợi nhuận (số dư đảm phí) của từng loại sản phẩm và đặt chúng vào mối quan hệ với điều kiện giới hạn của năng lực sản xuất , từ đó lựa chọn phương án tối ưu

Ví dụ: Một doanh nghiệp sản xuất hai loại sản phẩm A, B chi phí và doanh thu của hai loại sản phẩm được cho như sau: (ĐVT 100.000đ)

Doanh nghiệp chỉ có thể sử dụng được 18.000 giờ lao động để sản xuất trong một kỳ Vậy doanh nghiệp nên chọn sản phẩm nào để sản xuất?

Mới nhìn vào các số liệu trên có thể chúng ta sẽ vội vàng cho rằng doanh nghiệp nên chọn sản phẩm A để sản xuất bỡi vì có vẻ nó sinh lời nhiều hơn: số dư đảm phí đơn vị của sản phẩm A là 15, tỷ lệ số dư đảm phí là 60% trong khi sản phẩm

B có số dư đảm phí đơn vị là 12 và tỷ lệ số dư đảm phí là 40% Tuy vậy sau khi phân tích, lãnh đạo doanh nghiệp lại quyết định chọn sản phẩm B để sản xuất bỡi vì trong điều kiện giới hạn của năng lực sản xuất là số giờ lao động thì sản phẩm B đem lại số

dư đảm phí nhiều hơn sản phẩm A bảng phân tích điều này được trình bày dưới đây:

Ngày đăng: 23/04/2018, 10:19

w