1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

217 đề và bài văn lớp 10, 11, 12 - Phần 1

337 10 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 337
Dung lượng 16,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cuốn sách 217 đề và bài văn lớp 10, 11, 12 - Phần 1, cung cấp một số lượng đề văn phong phú, đa dạng, bám sát chương trình học từ lớp 10, lớp 11, lớp 12, từ Văn học Việt Nam đến văn học nước ngoài và lý luận văn học, từ bài khái quát văn học sử đến những bài phân tích bình giảng các tác phẩm văn học. Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

GS NGUYEN DANG MANH (chii bién)

DO NGOC THỐNG - HÀ BÌNH TRỊ - CHU VAN SON

BAI VAN DANE So HỌC SINH LỚP 10 - 11 - 12

TỐT NGHIỆP PTTH VÀ ĐẠI HỌC

Trang 2

GS NGUYEN DANG MANH (Chủ biên)

PTS ĐỖ NGỌC THỐNG - PTS HÀ BÌNH TRỊ - CHU VĂN SƠN -

DE va BAI VAN

e Danh cho hoc sinh lớp 10 - 11 - 12

s Ôn thí tốt nghiệp phổ thông trung học và đại học

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 3

LOI NOL DAU

Các em học sinh PTTH thân mến !

Hiện nay, trong:phạm: vi- nhà trường, để: đánh giá trình độ học: văn của các em,: Nhà: nước :hẩu: như chỉ: có một: phương thức duy: nhất là yêu cẩu viết: một bài: văn theo một -đề::bài nhất định (tất nhiên trong giới hạn của chương trình môn học) Như vậy, viết được một bài, văn có chất lượng, ấy là năng lực

có ý nghĩa quyết định nhất đối với các em trên con đường tiến lên từ lớp, này qua lớp, khác, đặc biệt là, qua: các kẻ thị hết cấp và tuyển sinh dai học - nơi, riêng về môn van,

Cho nên đối với các em đang muốn: hướng: sự học của mình vào ngành văn hóa, chuyên môn đòi hỏi phải học và thị về môn văn, câu hỏi: làm thế nào dé viét mét bai van cho kha, cho hay? Câu trả đời duy nhất là : phải thục hành uiết, phải chịu khó lập viét, _ khong có cách nào khác Cố nhiên dé van não ~ trong phạm vi nhà trường - cũng đòi hỏi phải huy động một vốn kiến thức chấc chấn về nhiều mặt như văn học sử,

giảng văn, lÍ luận văn học, tiếng Việt, lý thuyết tập làm văn Nhưng tất cả chỉ có nghĩa khi được tổ chức thành bài, khi

được diễn đạt thành những đoạn văn, thành những câu văn

khúc chiết, trong sáng, sinh động, hấp dẫn

Cuốn sách này được biên soạn chính là nhằm giúp các em tập dượt viết văn để đạt được yêu cau do

Trang 4

Cuốn sách đặc biệt chú trọng cung cấp cho các em một số lượng đề uăn phong phú, da dạng, bám sát chương trình học

từ lớp 10 đến lớp 12, từ văn học Việt Nam đến văn học nước

ngoài và lý luận văn học, từ bài khái quát văn học sử đến những bài phân tích bình giảng các tác phẩm văn học Cố nhiên nó có ý thức đồn trọng tâm ào những phần chương trình có liên quơn nhiều nhất dến các kỳ thi hết cấp 0uờ tuyển

Cơ thể nơi cuốn sách là một kho đề văn và bài văn được

biên soạn công phu và có chất lượng bởi một nhớm tác giả có kinh nghiệm về dạy văn và viết văn trong nhiều năm Nó chắc chấn sẽ là người bạn tốt giúp các em luyện tập có kết quả thiết thực nhất để chuẩn bị trong các kỳ thi:

Chúc các em'thành công tốt đẹp

` Thay mặt nhóm biên soạn

Chú biên

GS NGUYÊN ĐĂNG MẠNH

Trang 5

LOP X.

Trang 6

anh tựa vào đá chết hoá thành ;Cây cau, còn người vợ tựa vào

cây cau chết hoá thành cây trấu

`” Anh (chị) suy nghĩ như thế nào về những chỉ tiết nêu trên

và giải thích vÌ sao truyện Trồu cơu có thể sống mãi trong tâm hồn bao thế hệ người Việt Nam chúng ta?

Il BAI VAN THAM KHAO (để số 1)

Ngay từ xa xưa, trầu và cau đã rất gắn bó với cuộc sống của người dân Việt Nam Ông bà ta coi “miếng trầu là đầu câu chuyện" Trầu cau không thể thiếu trong những cuộc lễ hội, cưới xin hay thờ cúng tổ tiên Chúng vừa thật gần gũi, nhưng cũng thật thiêng liêng Và vì thế trầu cau xuất hiện khá nhiều trong cả văn chương dân gian lẫn văn chương bác học Song có lẽ, tác phẩm ra đời sớm nhất và có nhiều ý nghĩa là truyện cổ tich Trau cau

That khó xác định được chính xác thời điểm ra đời của một tác phẩm văn chương dân gian nói chung và truyện Trồu cơu

6

§ é

Trang 7

nơi riêng Tuy vậy, dựa vào một số chỉ tiết của truyện nây, ta

có thể ước đoán, đây là truyện dân gian xuất hiện từ khá sớm,

khi gia đỉnh theo chế độ quấn hôn thời nguyên thuỷ đang

chuyển sang một giai đoạn mới là gia đình một vợ, một chồng

Ở truyện 7rồu cau, nguyén nhân xảy ra bi kích dẫn đến cái

chết của cả ba người, trước đây họ vốn thương yếu nhau, rổ

tàng là do tính ghen tuông, Nếu nhìn ở một phương điện nào ;

đó, thì quả là "người anh đã xô đẩy người em đến chỗ chết",

đứng như Vũ Ngọc Phan đã nhận xét: "(Sau việc nhầm lẫn của

vợ, người anh nghỉ ngờ em cớ tỉnh ý với vợ mình, càng hờ hững với em hơn trước Người em buổn tủi, cô quạnh liền bổ

nhà ra đi rồi chăng chết và biến thành tảng đá)" Ở bước

quá độ từ chế do quan hôn sang chế độ một vợ một chồng, con người gặp không Ít khổ đau, bất hạnh Sự khổ đau, bất

hạnh đó đã được hình tượng hoá thành truyện và được lưu

truyền từ đời này sang đời khác Cho đù tính chất “nguyên

thuỷ" của truyện này có bị mai một đi theo thời gian, những

nhìn chung truyện Trồu cau van bảo lưu được những chỉ tiết

để chúng ta'có thể khẳng định rằng: đây là tác phẩm trước

hết có ý nghĩa ghi nhận bi kịch hôn nhân gia đình ở một giai đoạn lịch sử quá độ như đã trình: bày ở trên :

Nhưng càng về sau, khi chuyển sang xã hội phong kiến với

những kỉ cửơng mới, người ta không thể chấp nhận tình trạng

quần hôn và coi đấy như là sự vì phạm luần thường đạo lí:

Và chắc rằng truyện Tfồw cũu đã được cập nhật hod, cáo tác giả dân gian, bằng con đường truyền miệng, đã thêm và bot một số chỉ tiết khiến cho truyện này mang đậm màu sắc giáo huấn: ngợi ca tỉnh nghĩa bền vững, thắm tươi của vợ chồng,

anh em trong gia đình, Câu chuyện cho người đọc thấy rằng:

Trang 8

vi ed sự hiểu lầm, người em ra đi rồi biến thành tâng đá Anh

đi tìm em và chết bền tâng đá và biến thành cây không cành moc thẳng Vợ đi tìm chồng tựa vào gốc cây than khóc, mình :

gẩy xc ve, bién thanh một cây leo mọc bên tảng đá, Sau nay,

nhân dân gọi cây mọc thẳng là cây cau, cay đây leo là trầu, lấy tang đá đem về nung cho xốp ăn với trẩu cau, cho thơm miệng, môi đỏ Hỉnh ảnh tang dé, cây cau, cây trẩu luôn gần gũi, quấn quít, hoà hợp với nhau, đấy chính là biểu tượng sinh

động của tình anh em tươi thấm, tỉnh vợ chồng thuỷ chung,

bền chặt Đây là ý nghĩa mang giá trị nhân văn sâu sắc của truyện Trầu cơu và dường như càng ngày, trong cách hiểu của dân gian nó càng lấn át ý nghĩa bi kich gia đình đã nói ở trên Ngoài TR,, truyện Trầu cœu còn có một ý nghĩa nữa, không kém phần quan trọng: bằng một hư cấu đậm đà chất trữ tình, truyện này đã thể hiện "nội dung văn hoá lành mạnh của tục

ăn trầu ở Việt Nam hàng ngàn năm qua" (Cao Huy Đỉnh) Thật vậy, trong truyện, "tỉnh duyên của ba người tuy đã chết

ma van keo sơn thắm thiết, cho nên trong sự 8Øặp gỡ của người Việt Nam, miếng trdu bao giờ cũng là đầu câu chuyện, để bất mối lương duyên và những khi có lễ nhỏ, lễ lớn, cưới xin hội

hè, tục ăn trầu đã trở thành tục cố hữu của đân tộc Việt Nam" Như vậy, truyện Trồu cau có những ý nghĩa khác nhau Đường như càng ngày ý nghĩa phản ánh một bước tiến xã hội

và thể hiện tâm trạng đau khổ giằng xé giữa tình anh em và tỉnh cảm vợ chồng ở trong từng nhân vật của truyện, đưa đến cái chết sau muộn của cá ba người, càng ít được quan, tam Trái lại, ý nghĩa ngợi ca tình nghĩa anh em vợ chồng vững bền thuỷ chung và ý nghĩa giải thích tục ăn trầu càng được, khẳng định

Trang 9

Dau sao, truyện Trâu cau vẫn là một trong những cổ tích

hay nhất trong kho tang van học dân gian Viét Nam Két, thiic câu chuyện, cả ba nhân vật đều chết Tụy:vậy, điều đơ không làm người đọc bi quan chán nản, :ngược.lại.nó kích thích tình yêu cuộc sống, khơi đậy niềm tin vào sự gắn bớ hoà hợp :của con người đối với con người Điều này cũng góp phần làm cho truyện Trầu cơu luôn gần gũi và hấp dẫn chúng | ta

Đề số 2: Bai ca người thợ mộc và Tót nước đầu đình đều

là những bài ca dao tỏ tình, nhưng mỗi bài lại có vẻ đẹp riêng

Ảnh (chị hãy phân tích hai bài ca dao đơ trong sự đối sánh

để thấy được vẻ đẹp kháẻ nhau của mỗi bài

II BÀI VĂN THAM KHẢO (đề số.1)

Trong kho tầng ca dao - dân ca phong phú gữa' dân tộc ta tình yêu nam - nữ là một đề tài rất phổ biến Có thể' nói những câu ca đao hay nhất, những khúc hát đẹp "nhất phần lớn đều nơi về tỉnh yêu với những biểu biện khác nhau Tớ

Trang 10

ước đầu -đình 'lã bài `ca dao 'tô tỉnh, là ` khúe nhạc dạo đầu cho:một bản tình ca: Ở đây, chàng trai ˆ nhân vat tra tinh

đã:hiện lên Với về đẹp tuyệt vời, vừa thiết tha chân thành vừa thong minh tỉnh tế: Chính-dhân vật này đã góp phần tạo nên

vẻ đẹp độc đáo của-bài ca l `

Người xưa thường nơi "vạn sự khởi đầu nan", tức là moi

việc khó nhất là ở khâu mở đầu Mở đầu cho một câu chuyện

tỏ tình vốn là câu chuyện hết sức tế nhị, kín đáo thì lại càng khớ khăn gấp bội (Cơ lẽ, vÌ thế nên từ xa xưa, ông bà ta thường phải nhờ cậy vào người làm mối để tạo cẩu nối giữa đôi trai - gái, để giúp họ (nhất là bên người con trai) vượt qua được bước đầu khớ khăn này) Tuy vậy, tình yêu vốn huyền

diệu, nên ở mỗi thời, ở mỗi hoàn cảnh, ñgười con trai thường

có cách thức riêng để đạt mục đích ấy, đúng như nhà thơ Xuân Diệu đã nhận xét: "Rhi trong lòng đã có chút tình Ý, người ta bỗng nhiên có những sáng kiến, những ve văn, những thông minh, nhitng hát ca " Để làm quen, để bất chuyện với có gái

mà mình đã thẩm yêu vụng nhớ, cớ người ngô lời xin gáo nước:

H6i cô góớnh nước quang mây Cho anh góo nước tưới cây ngô đồng

° Người thi lai tinh nguyén xin duge cùng cắt cổ:

: ` Cô kia ct có một mình,

Cho anh cét vdi chung tình làm đôi,

Cô còn cất nữa: hay thoi,

; Cho anh cốt uới làm đôi vo chồng:

Con chang trai - nhân vật trữ “tình trong bài ca đảo này

đã khéo léo tìm được cái cớ là xin cái áo bỏ quên Anh ta mở

đầu: :

10

Trang 11

Hôm qua tát nước: đầu đình

Bo quén cai Go trên cành hồd: sên,”

_ Nẵữ vậy, việc bỏ quên cái áo được giới thiệu thật cụ thể:

°ó thời gian (hôm qua), cớ không gian (đầu đỉnh) và gắn với

một công việc lảo động quen thước của người nông đân là "tát

nước": VỊ trí dải áo'Bỏ quên cũng được xác định cụ thể "trên cành hoa sen" Câu chuyện tưởng như có lHÍ, thậm chí” được

trình bày khá chính xác, nhưng kÌ thực lại rất võ li, khiér ngudi doc bai ca phải băn khoăn: Sen làm' gÌ 'có cành? Co ai đại đột để áo lên hoa sen yếu ớt? Thì ra, đây chỉ cái cớ được chàng trai sáng tạo, để có cơ hội giãi bày lời tỏ tình mà mình

đã ấp ủ từ lâu Và điểu quan trọng là những câu mở đầu này

gợi ra được cả một khủng cảnh quen thuộc, có những hình ảnh

dường như đã trở thành ước lệ khi nói về Hồng thôn Viet Nam Đỉnh làng vốn là nơi thờ cúng, song đồng thời nớ cũng la noi diễn ra những hội hè đình đám, là nơi: gặp gỡ hẹn hò của bao thế hệ trai gái quê ta Chả thế, từ xa xưa đã có câu hát xao

Dink bao nhieu-ngoi thưởng minh boy khiêu” Bên cạnh hình:ảnh "đẩu đình" còn có hình ảnh của "họa

sen" trắng trong bình dị "gần bồi ‘na’ chang hoi tanh mui bun",

"Những hình ảnh nơi'trên í£ nhiều đã tao tiến ở Cô gái Và người

“đọc một trường liên tưởng thẩm mĩ và chứng tỏ nhắn vật chàng trai:ở đây là một nông dân vừa gắn bớ với nghề nông vừa không kém phần tỉnh: tế trong việc tạo nên cái cớ để tiếp ‘can

cô gái Hơn nữa, nếu đặt hai câu mở đầu trong hoàn cảnh điển

xướng, ngoài ngôn ngữ của bài:ca, còn: có "ngôn ngữ":của đôi mất tình tứ, của nụ cười đầm thám thi khong-ai nghi ‘rang,

Trang 12

cô gái sẽ chỉ ra cái vô lí của chàng trai, trái lại chấc Tằng cô

sẽ tiếp nhận câu chuyện một cách tự nhiên, hồn nhiên và xem đấy như là cách nói hoa mĩ làm đẹp lòng người nghe của một chàng trai tính tế, cổ văn hoá giao tiếp Và lại cô gái có lạ gì cách nói hoa mi ay No van thường thấy trong ca đao, giúp trai gái bộc bạch những tình câm của mmỉnh một cách kín đáo đáng yêu:

Bây giờ mận mới hỏi đào:

Vườn hồng đã có di uờo hay chua? `

Mén hỏi thì đào xin thua:

Vườn "hồng có lối, nhưng chưa di vao,

Nhu thé cũng có nghĩa là lời mở đầu đã được chấp nhận, bởi sự khéo léo, tỉnh tế của chàng trai Tiếp theo, anh ta đưa

ra lời ướm thử:

Em được thì cho anh xin

Hay là em đề làm tin trong nhà?

Câu đầu buông ra tự nhiên Người để quên hồi vu VƠ, may

ra nhận được vật cũ cũng là lẽ thường tỉnh Nhưng đến câu thứ hai rõ ràng có sự chuyển biến đột ngột, bất ngờ, tạo nên một sự ràng buộc thật khó chối từ Và nghiễm nhiên, cô gái bỗng trở thành đương sự, được đưa vào trong cuộc một cách

tự nhiên Ở cái tuổi trăng tròn, khoé mất và nụ cười đều biết nơi, cô hiểu được mục đích cuộc trò chuyện này, và biết rằng mình đang đối diện với một chang trai théng minh, tế nhị

nhưng cũng đẩy chất nam tính vừa hào hoa vừa chân thật,

vừa láu lỉnh vừa rất đối táo bạo và tự tin

Có lẽ cô gái khó tránh khói sự lúng túng trước sự đất dẫn

câu chuyện quá đột ngột của chàng trai chăng: Đường như đoán 12

Trang 13

được tâm, trạng ấy, chàng trai liên kể tiếp câu chuyện với những lời thật chân thành và ngọt ngào:

Ao anh sitt chi đường tờ

Ao anh sut chi dé lau;

Như trên đã nói chiếc áo bỏ quên chỉ là cái cớ để chàng

trai giải bày lời tỏ tình Đến đây, hình ảnh chiếc áo lại được nhắc đến một lần nữa Có phải từ xa xưa, tấm áo, chiếc khăn

là những vật dụng hàm chứa nhiều khả năng làm cho :con tim

người thiếu nữ đễ dàng rung động? Bởi cớ lẽ chúng đánh thức thiên chức vá may của họ trong cuộc sống gia đình Trong :ca dao không hiếm những câu, người phụ: nữ nói về tấm áo - thật cảm động, như:

Chồng ta áo rách ta thương Chồng người áo gấm xông hương mặc người

hay:

Áo xông hương của chồng uất mắc

Đêm em nằm, em đắp lấy hơi

Do đó, có thể nói, chàng trai hoàn: toàn có dụng ý khi nhắc đến chiếc áo Và điều đáng lưu ý nữa là sự nhác lại này được diễn ra hết sức tự nhiên Vi bất cứ ai muốn nhận lại của đã

mất thì việc đầu tiên là phải mô tả lại vật đớ Đặc điểm lớn

nhất của tấm áo mà anh con trai nơi đến là "sứt chỉ" ở "đường ta" anh không nơi màu gì, dài rộng ra Sao; áo anh ‘chi "sứt chỉ" và "sứt chỉ đã lâu", chứ không bị rách Như vậy, anh chỉ thiếu người khâu vá, mong có người khâu vá "từ lâu" chứ không

phải là kế túng bấn Ảnh gợi tỉnh yêu chứ chẳng cần lòng

thương hại Bởi lẽ từ thương hại đến coi thường chỉ là gang tấc, mà bị coi thường thì làm sao có tỉnh yêu Đến đây, một

Trang 14

lần: nữa,.cô gái:và người:đọc không thể không cảm nhận được tình cảm thiết tha và tư thế đàng hoàng:của nhân:vật trữ tình

trong khi bày tổ tỉnh yêu

Nhưng, tất cả những chỉ tiết nêu trên chẳng qua chủ yếu cũng chỉ là phần "dẫn dất' để chang trai đựa ra được thật đứng lúc thông tin quan trọng nhất sau đây:

: Vợ anh chưa có mẹ già chua khâu

Nhờ: chiếc: ao sứt chỉ anh giới thiệu được:trọn:vẹn nét chính:

yếu trong bản "Sơ yếu lý lịch":của mình, giải đáp được:nối băn khoăn: thường thấy của:những cô gái trước khi nhận.lời đính hôn Điểu quan trọng hàng đầu là anh chưa có vợ, anh vẫn hoàn toàn đơn chiếc Anh có mẹ già, tức là có một nương tựa tuyệt vời: "Mẹ già bằng ba lần cửa" Gia đình anh ổn định; quá khứ và hiện tại của anh không có điều gì bất bình thường

khiến cõ gái phải đắn đo, trái hại nó có thể hứa hẹn một cuộc

Đến đây, trái tím cô gái chắc đã cơ Ít nhiều rung động, song cũng khó tránh khỏi sự e thẹn Chàng trai liến chuyến cách xưng hô ,cụ thể, xác định "anh" "em", bằng cách sử dụng đại

từ ngôi thứ, ba "cô ấy", như một đại từ,phiếm :chỉ, nhưng vẫn

khá xác định trong văn cảnh cũng như trong mạch: trữ: tình của bài ca:

Mai mượn 'cô': ấy: uề: khôu cho cùng

"Mặc dù "cô ấy" có thể hiểu là cô Hong, cô ‘Hue nao dé, nhưng ở đây không thể cố cô nào khác tigoài người đang nối

chuyện véi anh Nhu thế, chính từ "cố ấy" làm cho câu chuyện

về việc tram 'đăm thành kín đáo, tế nhị, "giữ" người con gái, cho dù là người cả then, van cố thể nán lại nghe anh nơi tiếp

ở thời điểm này chỉ cần thô vụng một chút, suống sã một chút; 14

Trang 15

cô gái cũng có thể bỏ đi (vì e theẹn hoặc vì tự ai) vA viée té

tỉnh sẽ thất bại Ở đây, chàng trai đã "giữ" được cô gái lại

không những bằng sự chân thành thiết tha mà còn bằng sự khôn khéo trong việc sử dụng ngôn ngữ giao tiếp Vào những ` trường hợp như thế, lối nói vòng vo, lấp lửng nhiều khi lại te

ra tất hiệu quả

Đến đây, có thể hiểu chằng trai không những mang ơn cô gái (vì đã trả lại áo) mà anh con phái trả công (theo Íle thường _ tình) vì cô đã khâu hộ áo Chàng trai đã trả công cô thật ch đáo, thật hào phóng:

Khéu roi anh sẽ trả công Đến khi lấy chồng anh sẽ giúp cho

Giúp em một thúng xôi uò Một con lợn béo một Uò rượu tăm

Giúp em đôi chiếu em năm Đôi chăn em đắp đôi trim em deo

Giúp em quan tam tiền cheo Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau

Bằng biện pháp điệp từ, điệp ngữ và điệp cấu trúc câu, đoạn

ca này đột ngột chuyển sang một "gam" khác Nhạc điệu dường như mạnh và nhanh hơn thể hiện một niêm hào hứng, hân

hoan Tất:cả đồ sính lễ trình ra không thiếu thứ gì số lượng

đổi đào, chất lượng tuyệt điệu Chắc chắn cô gái:cũng như mọi

người `không ai ngây thơ đến nối tứởng lễ cưới nay cd that,

tưởng chàng trai kia là: giàu cớ Nhưng cô gái vẫn có quyền hãnh điện vì qua lời hứa hẹn chứng tô chàng kia tran trong

và yêu cô đến chừng nào Như vậy, ngôn ngữ giàu màu sắc

khoa trương chắc hẳn được cô gái hiểu ý và lĩnh hội một cách

Trang 16

trong: ven; va mot lần nữa chàng trai lại thành công - thành công bằng sự khôn khéo, chân thành với mong ước tình yêu

sẽ được kết thúc bằng hôn nhân, với khát vọng và niêm tín “ được sống trong phong lua, sung túc

Thế là từ việc sáng tạo ra tỉnh huống bỏ quên chiếc áo, chàng trai đã nói được một cách hợp lý và lưu loát cái điêu khó nói We dep của bài ca dao nay có phần quan trọng là về đẹp, sức hấp dẫn của nhân vật trữ tình - một chàng trai tỉnh ˆ

tế, thông mình và rất mực hồn nhiên, chân thật

II BÀI VĂN THAM KHAO (để số 1)

"Sách Đại Việt sử ký toàn thu ghi: Phạm Ngũ Lao la tuéng

“16

Trang 17

đời Trần, tham gia cả hai cuộc kháng chiến chống Nguyên

"đánh đâu thắng đấy": Ông lo việc binh, đồng thời "lại thích

đọc sách, ngâm thơ".: Cũng- như nhiều danh tướng đời Tran,” Pham Negi: Lao vita.cdm quan đánh giặc, vừa viết những ang

văn thơ để lại muôn đời: Trong đó nổi tiếng hơn cả là bài Thuật hoài Đọc bài thờ này, chúng ta cảm nhận được vẻ đẹp hùng dũng cao cả của người trai đời Trấn :

'Cũng như Cđju hòời, Ngôn hoài Thuột hoài là một loại thơ trữ tình "ngôn chí khả phổ biến trong thơ ca thời trung đại,

để bày tô những ý nghĩ, những tình cảm lớn của tác giả (Thuật höài có nghĩa là Tỏ lòng) Đến, nay, chúng ta chưa nắm được

đích xác hoàn cảnh sáng tác của bài thơ Tuy nhiên, dựa vào

nội dung của tác phẩm có thể khẳng định bài thơ này:ra đời trong không khí quyết chiến, quyết thắng của quân và đân đời Trấn, khi lực lượng của nước Đại Việt đá lớn mạnh nhưng trong chiến đấu chống giặc Nguyên - Mông chưa đi đến thắng

“Bài thơ viết theo thể tứ tuyệt luật Đường, 4 câu, mỗi ¿âu

1.âm tiết Hai câu đầu được dịch là: ,

Múa giáo hon sông trải mốy thâu

Ba quan hing khí út sao Ngưu

Trong nguyên bản, hai câu này là:

Hoành sóc giang san cáp :kỉ thu

‘Tam quên tì hồ khí thôn Ngưu

"Hoành: sóc" được dịch thành "múa giáo" đễ làm cho người

đọc-hiểu không hoài toàn đúng "Hoành sóc" tức là cầm ngang ngọn giáo, cả câu có nghĩa là "cấp ngang ngọn giáo (bảo vệ)

Trang 18

non sông da mấy mùa thu" .Chỉ cần 7 chữ nhưng câu thở trên

đây đã gợi được hình.ảnh của người 'trai:đời Trần và cũng

chính là của Phạm Ngũ Lão với: tư, thế hùng dũng, luôn:kiên

cường, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quéc, lap nên những chiến

công huy hoàng Dẫu họ đã ngoan cường chiến đấu bao năm

tháng ("trai mấy thâu" - mấy mùa thu rồi) nhưng vẫn bừng

bừng một khí thế, một sức mạnh hiên ngang bất khuất Hình :

ảnh người tráng sĩ càng trở nên chới lọi bởi hùng khí của ba

quân Ba quân chính là hình ảnh của cả thế thệ Phạm Ngũ

Lão, của cả đân tộc đang sống "trong hào khí Dong A Stic

mạnh của "ba quân" được ví như sức manh ghé gốm của hổ

báo làm át sao Ngưu (Còn một cách hiểu khác không kém

phần ý nghĩa: sức mạnh của bả quần như hổ báo có thể nuốt

trôi được:cá trâu): Như vậy, câu thứ nhất nối về cá nhân người

trai đời Trần; câu thứ hai nối về dần tộc về cộng đồng Cá

nhân có vé đẹp hiên ngang của đất trời, sông núi, vượt qua

mọi thử thách của thời gian, cộng đồng, đấn tộc có tầm vớc

và sức mạnh của vũ trụ Cá nhân với cộng đồng, với dân tộc

có quan hệ mật thiết, hài hoà Hình ảnh người tráng sĩ: oai

hùng tạo nên khí thế ngất trời của ba quân; đồng thời khí thế

của ba quân lại làm cho hình ảnh người tráng sĩ thêm lộng

lẫy Mỗi con người đều tìm thấy bóng đáng mỉnh trong hào

khí chung cia dan tộc Đây là một thời đại cao đẹp của những

con người cao đẹp!

Như vậy, chỉ bằng hai câu thơ, Phạrmn Ngũ lão đã phác hoa

thành công tư thế của nhân vật trữ tình - chàng trai đời Trần

va tu thé cla dan tộc ta trong một thời điểm lịch sử với một

tầm vóc lớn và quyết tâm lớn Nhân vật trữ tình ở đây mang

vé đẹp sử thị, tầm vóc sử thi, Phạm Ngũ Lão không chỉ phát

18

Trang 19

ngôn, nhân danh cá nhân mình mà ông còn nhân danh cả dân

tộc, cả thời đại,

Hình ảnh người tráng sĩ cắp -giáo tung hoành: nơi trận mac, hinh: anh ba quân: khí thế ngất trời ta đã gặp nhiều trong văn học trưng đại của Việt Nam cũng như của Trung: Quốc (Chàng chỉnh phu trong Chinh phụ hgôâm của: Đặng (Trần Côn: cũng từng "Múa gươm rượu tiễn chưa tần - chỉ ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo" Nói về tướng sĩ trong bài Thập giới cô hồn quốc ngữ uăn, Lê Thánh Tông cũng có câu "Miệng thòm thèm

giương dạ nuốt trâu - Chí hăm hở dang tay bất vượn") Song,

néu 6 những câu vừa dẫn là những hình ảnh ước lệ nặng tính chất ngao du khoa trương, thì trong Thuột hoài của Phạm Ngũ Lão là những hình ảnh tuy cũng thật ki vi nhưng là những hình ảnh chân thực, hiện thực, bởi người đọc biết rằng chúng

ra đời trong không khí quyết chiến, quyết thắng vĩ đại của quân dân ta đời Trần, Tại Hội nghị Bình Than, các bố lao Dai Việt đã nhất tê thể hiện tỉnh thần ấy Và mỗi binh sỉ thời ấy đều thích hai chữ "sát thát" (giết giặc Nguyên) vào cánh tay Tiếp nối một cách tự nhiên mạnh cảm xúc ở hai câu đầu, hai câu sau thể hiện khát vọng.lập được nhiều chiến công tơ lớn vì đất nước của vị-tướng - thi,sĩ:

Céng: danh nam tt’ con vuong nợ Luong then tai nghệ chuyện Vi Haw

Người trai đời Trần không chỉ cao đẹp ở tư thế sẵn sàng chiến đấu, mà còn cao đẹp bởi có một quan niệm nhân sinh tích cực Lap công chính là làm nên sự nghiệp lớn trong công cuộc bảo vệ và dựng xây đất nước “Có công thì mới được ghi danh (tên) Mỗi con người chân chính, đặc biệt đối với: những

Trang 20

người làm trai, niềm khao khát làm nên sự nghiệp, lưu lại tên

tuổi mình cho hậu thế là niềm khao khát chính đáng Đây

chính là:động lực to lớn: để không Ít:người có sức mạnh vượt

qua những thử thách cam :go lập nên những kì tích vang đội,

thúc đẩy sự tiến: bộ của toàn xã hội: Chính vì thế mà sau Phạm

Ngũ Lão:6 thế kỉ, Nguyễn Công Trứ cũng khẳng định:

làm trai sống ở trong trời đất

Phải có dành gì uối núi Sông:

Và khống hiểu tự thuở nào ông cha ta vấn thường khích lệ `

chấu con: “Lam trai cho đáng nên trai - Xuống đồng, đông

tĩnh; lên đoài, đoài tan", Đây chấc chắn không phải là thei ham

danh phầm tục, trái lại là một quan niệm nhân sinh tiến bộ

trong truyền thống dân tộc

6 day, cái hay không chỉ ở nội ‘dung toát ra từ cầu thơ của

Phạm Ngũ Lão mà còn ở chính con người tác giá Ta đều biết,

viên tướng làng Phù Ủng này là người "công danh" lừng lẫy

đánh đông đẹp bắc, tham giá cả hai cuộc kháng chiến chống

quân Nguyên, cho đến khi tuổi đã cao ông vẫn còn hãng hái -

cầm quân đánh tan bọn xâm-lược quấy rối biên giới phía Tây

Tổ :quốc, và được :phong chức Điện suý thượng tướng quân

(1802), được ban tước Quan nội hầu (1318), Thế nhưng, Phạm

Ngũ Lão vẫn cảm thấy mình còn "vương nợ" với đời, còn phải

“thẹn" khi nghe chuyện Khổng Minh Gia Cát Lượng - một nhân

vật siêu việt, có công lớn giúp Lưu Bị thời Tam quốc chia ba

thiên hạ Điều này đủ biết khát vọng và nhân cách của tác giả

cao cả biết nhường rào? Phải chăng, chính vì ý thức được mớn

nợ chưa trả xong đối với đân tộc, đối với đất nước, chính vì

biết "thẹn" trước những nhân vật lấy lừng trong sử sách đã

tạo nên tầm vớc tuyệt vời của nhà thơ - chàng trai đời Trần,

20

Trang 21

người anh hùng Phạm Ngũ Lão với những chiến tích vang đội

và với bài Thuật hoài bất hù nay

lạ đời cách chúng ta đã 7 thế ki, song bài Thuật hoài -Tuôn

luôn mới mé và hấp dẫn, lay động con tim của bao thé hệ

người đọc: Bởi vì, qua bài thơ, độc giả bất gặp hình ảnh vừa chân thực vừa hoành trắng của người trai thời Trần với về đẹp thật là "hùng vĩ cao cả

Ảnh (chị nghĩ như thế nào về ý kiến trên đây?

Đề số 2: Qua Bai phú sông Bạch Đằng: của Trương Hán Siêu, anh (chị) hãy làm sáng tổ vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật

"khách"

Dé số 3: Hay phan tích Bài phú sông Bạch Đăng của a Trương Hán Siêu

Trang 22

I BAT VAN THAM* KHAO (để số 3)

Trong lịch sử văn học nghệ thuật Việt Nam, nhiều địa danh của đất nước đã trở thành những để tài hấp dẫn, vỉ ghỉ dấu

những chiến công vi đại như Hàm Tủ, Chỉ Lãng, Đống Đa, song Lov.v Nhưng gợi nhiều cảm hứng nhất có lẽ phải kể

dén song Bach Dang lịch sử - nơi đã từng diễn ra những trận

đánh quyết liệt chống quân xâm lược phương Bắc Tai day, Ngõ Quyền tháng quân Nam Hán; Lê Hoàn quét sạch quân nhà Tống; Trần Hưng Đạo nhấn chìm đại quân Nguyên Mông Bởi

thế, chỉ nói riêng trong lịch sử văn học thời trung đại đã nhiều

cây bút tên tuổi như Trần Minh Tông, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trãi, Nguyễn Mộng Tuân đều viết về nó Nhưng thành công hơn cả là Trương Hán Siêu với Bời phú sông Bạch Đăng Tác

phẩm này từ lâu đã được đánh giá là bài phú nổi tiếng nhất

ở đời Trần và cũng là một trong số ít bài phú xuất sắc nhất

của văn học trung đại,

Đây là một bài phú cổ thể (hoặc còn gọi là phú lưu thuỷ), không tuân theo niêm luật chặt chẽ của Đường phú (hay còn

gọi là phú Đường luật) Vấn luật của bài phú loại này tương

đối phóng khoáng, giàu nhạc điệu va dé truyén tung

Bài phú sông Bạch Đồng có thể chia làm ba đoạn: 1 Niễm, vui thích du ngoạn nhất là du ngoạn trên sông Bạch Đằng; 2 Thuật lại chiến công trên song Bach Dang của cha ông xưa; 3 Bai học rút ra từ chiến công trên con sông này `

Trong một bài phú, thông thường tác giả hay hư cấu thêm một số nhân vật để đối đáp, tranh luận với mình Điêu đó góp phần làm cho bài phú sinh động hấp dẫn hơn, nhờ cổ sự đan

xen của những câu đối thoại, những câu bàn bạc: Khi thì bổ

22

Trang 23

sung, khi thì bác bỏ ý kiến ban đầu, ở Bài phú sông: Bạch

Đằng có những nhân vật, như: khách, ta, bó.lao Thực chất, đấy chính là sự phân thân của chính tác giả; trong ‘mot tha

Dưới đây sé phân: tích bài phú theo cách chia đoạn "nơi 'ở trên

Trong văn chương trung đại, thiên nhiên được miêu tả khá nhiều Các nhà văn, nhà tho tim dén thiên' nhiên trong những tâm trạng khác nhau Cao Bá Quát đến với :thiên: nhiên để bộc

lộ tâm trạng chua xớt bất đác chi Nguyễn Bỉnh Khiêm thì đối

với thiên nhiên để bày tỏ đạo lý thanh cao trước thới đời bon chen danh Ii O Bai phú sông Bạch Đằng, Trương Hán Siêu

đã tìm: đến thiên nhiên trong một tâm trạng khác Mở đầu bài phú, nhà thơ đưa người đọc vào một thế giới hùng vĩ, bao la của những Cửu Giang, Ngũ Hổ, Tam Ngô, Bách Việt là những nơi "khách" đã từng đi qua khách, tổ ra là một con người có tâm hồn phóng khoáng, tu do:

Giương buồm giong gió chơi 0ới,

Lust bé choi trang mdi miét

Som gõ thuyền chit Nguyén Tuong,

Chiều lần thăm chit Vi Huyệt

Khách cũng là một con người đi nhiều, biết rong:

Đầm Văn Mộng chứa dời tram trong dọ cũng nhiều,

Mù tráng chỉ bốn phương uẫn còn tha thiết `”

Đi nhiều, biết nhiều, nhưng trong thú tiêu đao, "khách" chị học có Tử Trường, tức là Tư Mã Thiên, nhà sử học nổi tiếng Trung Quốc, từng chu du kháp đất Trung hoa rộng lớn trước

Trang 24

khi-viét bộ Sử kí bất hủ Phải chăng "khách" nói đến Tử Trường

để.tô bày tâm:hồn đồng điệu của mình với người xưa Đi xa,

đâu phải chỉ: để: tiêu dao; ngắm hoa’ vong nguyệt, mà quan

trọng hơn là tìm đến nơi cha ông ta đã lập chiến công to lớn

đã làm vẻ, vang cho lịch sử để chiêm ngưỡng, ngợi ca và suy

ngim

Điều này, chứng tổ tư thế vị khách thật cao đẹp,.chí khí

thật hào hùng Người đọc có thể nhận thấy vẻ.đẹp ấy trong

chính lời kể đẩy tự hào của khách Khách nhác tới nhiều địa

danh quen thuộc trong sách vở Tàu, chúng cách xa nhau hàng

ngàn đặm, làm sao có thể đi được trong một sớm, một chiều

(Sớm gõ thuyền chừ_ Nguyên Tương - Chiều lần “thăm chit: Va

Huyệt - Cửu Giang, Ngũ Hồ - Tam Ngô, Bách: ViệU Đấy chỉ

là cách phô diễn ý tưởng có tính chất ước lệ mà thôi: Điêu

quan trọng là nó đã đưa đến chơ người đọc ấn tượng khá rõ

về những khung cảnh thiên nhiên rộng lớn, góp phần thể hiện

niềm ham thích tự do, phóng khoáng của nhân vật "khách"

Câm hứng về cuộc viễn du mở đầu bài phú, thực ra chỉ là sự

chuẩn bị một không khí thích hợp trước khi đi vào thế giới

hùng vĩ của sông Bạch Đằng lịch sử -

Ấn tượng đầu tiên mà Trương Hán Siêu đưa đến cho người

đọc là sự bề thế rộng lớn và sức sống bển bỉ muôn đời của

Bach Dang giang: Con sông này thật hùng vĩ bởi rộng "bat

ngát" và đài "muôn đặm", Như vậy:nó không những là đại giang

và còn là trường giang (Bót ngát sóng hình muôn dặm), với

bao lớp sóng lớn trùng điệp Điều đáng lưu ý là ngoài vẻ thiêng

Hêng hùng vĩ, dòng Bạch Đằng còn có nét thật dịu dàng, duyên

đáng và thơ mộng: những con thuyền nối đuôi nhau trôi bập

bềnh trên sông; đã cuối thu rồi nền nước xanh, trời xanh; hai

24

Trang 25

bên bờ lau lách xào xạc, đìu hiu

Trước cảnh sông nước hùng vĩ và thơ thông ấy, tác giả cảm

thấy vui buồn lẫn lộn Đây là chiến trường ác liệt xưa kia, ta thắng lớn, nhưng kể sao cho hết những hi sinh mất mát với

bao "giáo gấy, xương khô", "Trời nước", "lau lách" như gợi lại chuyện cũ, khiến người hôm nay không tránh khỏi động lòng

tiếc nuối, xót thương cho bao "anh bùng" đã khuất 6 đoạn thơ

này, ta thấy một nỗi buổn cao đẹp qua những câu thơ cổ ân hưởng trầm láng, -với điệu cảm khái:

Thương nỗi anh hùng đâu uống tá Tiếc thưy dấu uết luống còn hưu, Sau này, Nguyễn Trãi khi thăm cảnh Bạch Đằng cũng cớ

nổi buổn tương tự Trong bài Cửa biển Bạch Đăng, nhà thơ

cũng thấy dáng núi dường như vẫn còn in dấu vết thất bại cua ké thi, cling bang khuang nhin dong nuée trôi mà hoài cổ:

Ngạc chất kình băm non lôm chởm;

Giáo chìm gươm gãy bài tầng tầng Dong trôi tìm bóng dạ bông 'khuông

“Tuy vậy, cảm hứng chính của Bài phú sông Bạch Dang la

sự ngợi ca chiến công oanh liệt của dan tộc tả tiên dòng sông

lịch sử này Từ những câu thơ trữ tình ở đoạn trên, đến đoạn

hai, tác giả chuyển sang những câu thơ tự sự, mượn lời các

bô lão - những người đã từng chứng kiến và tham gia trận Bạch Đàng kể lại Nếu như phần đầu là lời của khách thì đoạn

hai là lời của các bô lão Sự xuất hiện của họ làm cho việc

miêu tả chiến trận thêm sinh động, đồng thời việc chuyển ý

được tự nhiên (Mặc dù, ai cũng biết đẫu lời của khách hay lời

Trang 26

của các bô lão cũng chỉ là lời của tác giả), Các.bô, lão tiếp

chuyện khách với tự cách đại diện cho nhân dân địa phương

Họ tôn kính khách và tự hào kể lại trận chiến năm xưa Mở

đầu, các bô lão giới thiệu cho khách biết: “Đây là nơi chiến địa

buổi Trùng Hưng nhị thánh bát Ô Ma" và "cũng là bãi đất xưa

Ngô chúa phá Hoàng Thao" Bằng hai câu dài (mỗi câu 12 âm

tiếU, tác giả tạo được không khí trang nghiêm, đính đạc làm

nên cho việc miêu tả chiến trận ở phần tiếp theo

Trận thuỷ chiến được khác hoạ thật cô đọng, với những câu

Bằng cách ngất nhịp nhanh, bằng lối đối ngẫu chặt chế,

bằng một loạt hình ảnh ñới lên sự mãnh liệt, hùng đũng đoạn

thơ vừa trích đã thể biện được sinh động không khí trận mạc

quyết liệt tren sông Người đọc có thể hình dung khá rõ sự đông

đảo của lực lượng tham chiến, lẫn khí thế quyết chiến của hai

bên và sự khốc liệt, đữ đội của một cuộc chiến mà cá hai đều

ngang tài, ngang sức (“Trận đánh thư hùng chưa phân - chiến

luỹ Bắc Nam chống đối, có thể làm đổi thay cả vũ trụ (khiến

cho mặt trăng, mặt trời phải mờ đi, trơi đất phải đổi)

Sau khi miêu tả thế trận giao tranh ác liệt, các bô lão nhận

xét về đặc điểm của mỗi bên tham chiến Kẻ địch thì có lực

lượng hùng mạnh, lại thêm mưu kế gian xảo (“Tất Liệt thế

26

=

Trang 27

cường - Lưu Cung chước đối") Và nhất là chúng có thừa, sự kiêu ngạo của kế đã từng, tung vớ ngựa thôn tính nhiêu quốc gia tx A sang Au: "Những tưởng tung roi một lần" là có thể:

"Quét sạch Nam Bang bốn cối" Còn ta, trước hết, đây là cuộc chiến đấu chính nghĩa, vì chính nghĩa nên thuận với lẽ trời Ctrời cũng chiều người") Trong quan niệm của cha ông ta xưa, trời bao giờ cũng công mình, chính trực, đứng về phía chính nghĩa, trừng phạt ké bao tàn Thêm vào đỏ, ta lại có điều kiện

tự nhiên hiểm yếu ("Trời đất cho nơi hiểm trở”, lại cớ người

tổ chức lãnh đạo kiệt xuất với đường lối chiến thuật, chiến

lược đứng đắn Do đó, địch thua nhục nhã và ta đã thắng vang

dội: Nước sông "tuy chây hoài" từ đó tới nay, trải bao thang năm nhưng cái "nhục ấy vẫn không rửa nổi" Ở dây, Trương

Hán Siêu dẫn tích bên Tàu (Tào Tháo thua 'trận ở Xích Bích;

Bồ Kiên với hàng trăm vạn quân bị thất bại ở Họợp Phì) để nói về các trận đánh trên Bạch Đằng giang từ thời Ngô Quyền đến Trần Hưng Đạo Các bô lão không nơi nhiều đến phía quân

ta chỉ nhấn mạnh lòng biết ơn sâu nặng: "Tái tạo công lao -: Nghìn đời ca ngợi" cũng đủ cho người đọc cảm nhận: một cách sâu sắc tầm vóc to lớn của chiến thắng Bạch Dang trong sự nghiệp bảo vệ giang sơn gấm vớc của quan dan đời Trần, Điều

đáng lưu ý, khi nói về quân địch, các bô lão nhấn mạnh vào

sức mạnh vật chất của chúng, còn nởi về phía ta, lại nhấn

mạnh vào yếu tố tỉnh thần Rố tàng, lời các bô lão có ý nghĩa sâu sắc, chuẩn bị dấn đến những lời bình ở phần tiếp theo:

Những người bất nghĩg tiêu Uống,

Nghin thu chi có anh bùng lưu đanh, -

Lời bình này trở thành chân lí của muôn đời, sống mãi cùng Bach Dang giang hùng vĩ

Trang 28

GO “day cũng như phần đầu, thời gian và không gian được tác giả thể hiện đan xen với nhau Xưa và nay, không gian và thời gian dường như cũng được tái hiện làm chơ câu chuyện

tránh được sự tế nhạt, đơn điệu; và luôn sinh động hấp dẫn ˆ

người đọc Ngày nay, người ta thường gọi cách thể hiện này

Tiếp theo lời các bô lão, khách cũng vui về nổi tiếp lời ca kết thúc bài phú Lời của khách chính là phẩn tổng kết có chức năng bổ sung, đính chính những nhận định mà các bô lão đã trình bày ở trên (về nguyên nhân của chiến thắng) Với tâm trạng hân hoan, khách vừa đề cao công lao to lớn của các

vị anh hùng đời Trần, vừa bày tỏ niềm tỉn vào sức sống mãnh liệt và tương lai tươi sáng của đất nước, trong đó, đặc biệt

nhấn mạnh tới yếu tố "đức cao" của dân tộc Sự nhìn nhận của khách về chiến thang cd chiều sâu triết lí Sức mạnh của: non

sông đất nước không phải ở địa thế hiểm trở mà trước hết.ở

“con người (“Giặc tan muôn thuở thanh bình - Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao")

Đây là một bài phú có bố cục chặt chẽ, nhịp điệu thay đổi linh hoạt phóng khoáng, lời văn cô đọng, đổi dào cam xtc, khi

thì xót thương nhớ tiếc, khi thì vui sướng tự hảo Tác giả lại

rất giỏi phân thân thành những nhân vật khác nhau để vừa

kể vừa phụ hoạ thêm làm cho bài phú giàu chất thơ khiến người đọc xúc động tự hào về non sông đất nước hùng vĩ, về chiến công lừng lẫy và đường lối giữ nước tài tỉnh của quân

dan nhà Trần mà cũng là của dân tộc ta 7 thế kỉ trước

28

Trang 29

BAI HOC

KHAI QUAT VE TAC GIA NGUYEN TRAI

i DE LUYEN TAP:

Đề số 1: Nhân dịp kỉ niệm 520 năm ngày mất của nhà đại

văn hào Nguyễn Trãi, trong bài Nguyễn Trải, người anh hàng đân tộc, ông Phạm Văn Đồng có viết:

"Sự nghiệp và tác phẩm của Nguyễn Trãi là một bài ca yêu

nước và tự hào dân tộc"

Anh (chị hãy phân tích và chứng mình ý kiến trên

Đề số 2: Phân tích tình yêu thiên nhiên tha thiết và tỉnh cảm gán bó với cuộc sống nông thôn trong một số bài thơ của Nguyễn Trãi,

(Bản dịch của Khương Hữu Dụng)

Anh (chị) hãy phân tích tâm hồn nghệ sĩ tao nhã và tỉnh

tế của Nguyễn Trãi qua bài thơ trên

Trang 30

II BÀI VĂN THAM KHẢO (đề số 1)

Trong lịch sử giữ nước và dựng nước của dân tộc Việt Nam,

Nguyễn Trãi 1a ruột nhân vật kiệt xuất Ông không những là

một nhà chính trị, nhà quân sự, nhà ngoại giao thiên tài đã

giúp Lê Lợi đưa cuộc kháng chiến chống giặc Minh kéo dài

suốt 10 năm đến thấng lợi huy hoàng mà còn là một cây bút

xuất sắc với nhiều tác phẩm sống mãi với thời gian Bàn về

cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Trãi, nhân kỉ niệm

ð20 năm ngày mất của ông, nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng

đã trân trọng khẳng định: "Sự nghiệp và tác phẩm Nguyễn Trãi

là bài ca yêu nước và tự hao dan tộc",

Ý kiến trên thể hiện sự cảm nhận sâu sắc về cuộc đời và

về thơ văn của người anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi Như mọi

người đều biết, Nguyễn Trãi sớm có mối căm thù giặc sâu sác

Ngoài nỗi đau sót của: người đân mất nước, chứng kiến cảnh

giặc Minh tàn phá quê hương minh, day doa déng bào mỉnh,

Nguyễn Trãi còn có mối thù nhà sâu sắc Nơi đến Ni guyễn Trãi

người ta thường nhắc đến chuyện cha ông là Nguyễn Phi Khanh,

bề tôi của nhà Hồ, bị giặc Minh bắt đưa sang Trung Quốc

Theo cha tới ải Nam Quan, Nguyễn Trãi đã nghe lời cha trở

Về đến Đông Quan, Nguyễn Trãi bị giặc quản thúc một thời

gian dài, sống trong tinh cảnh vô cùng thiếu thốn, ăn không

đủ no, ốm không có thuốc Tuy vậy, ông vẫn giữ vững khí tiết,

ra sức học hỏi, ung nấu phương kế giết giặc cứu nước

Thế rồi, khoảng năm 1916, éng tim đến đại bản doanh của

nghĩa quân Lam Sơn, và trao cho Lê Lợi bản Bình ngô sách,

vạch phương hướng chiến lược đánh quân Minh, trong đó chủ

yếu nới đến việc đánh vào lòng người Trong những năm đi

80

Trang 31

theo Lê Lợi tham gia kháng chiến, Nguyễn Trãai đã kiên :trì chịu đựng gian khổ, nếm mật: nằm gai cùng nghĩa quân chiến

đấu, khi thì bày mưu tính kế, khi thì thảo thư từ, khi thì vào tận hang ổ địch dụ tướng giặc ra hang Trong Bai edo bình Ngo nổi tiếng, người đọc ít nhiều có thể hình dung ra hình

ảnh cao đẹp của Nguyễn Trãi ~ như chiến lược tài giỏi, nhìn

xa trông rộng, xót thương cho "dan den", "con dé" bi doa day

và luôn nung nấu quyết tâm trừ giặc

Đến những năm sau này, khi tuổi đã giả, lại gặp lúc lắm

sự rối ren trong triều, Nguyễn Trãi đành phải xin về ở ẩn tại Côn Sơn Thời gian nây, tuy ôm một nổi buồn cô đơn, chỉ biết chia sẻ với cây cô chốn lâm huyền, ông vẫn canh cánh một nỗi niềm lo cho dân, cho nước Khi được Lê Thái Tổng vời ra giúp nước, Nguyễn Trãi lại hãm hở đem hết tài đức ra phục -vụ Như vậy rõ ràng, cuộc đời Nguyễn Trãi đúng là cuộc đời của một con người yêu nước thiết: tha, phấn đấu không mệt' môi cho sự nghiệp cứu nước và dựng nước

Người ta thường nói, văn tức là người Thật vậy, thơ văn

Nguyễn Trãi giúp ta hiểu rõ hơn tấm lòng yêu nước nồng cháy của ông Trong những ngày đất nước bị xâm lược, tỉnh thần yêu nước của Nguyễn Trãi thể hiện trước hết ở lòng căm thù

giặc sâu sác Trong Bình ngô đại cáo, ông vạch trần những

tội ác dã man của giặc Minh đối với nhân đân ta:

Nướng dân đen trên ngọn lita hung tan

_Vùi con độ xuống dưới hầm tai va

Đối trời, lừa dân, đủ muôn: nghìn kế,

Tây bính, hết oán, trải bai muoi nam

Đau sót trước cảnh nước mất, nhà tan ông ngày đêm trăn

Trang 32

trở lo.chuẩn:bị cho.công cuộc cứu nước Những dòng sau đây ông viết về Lê Lợi nhưng cũng là điễn tả tâm trạng của mình:

Dau lòng, nhúc óc chốc đồ mười mấy năm trời

Nếm một, nằm gai, hả phải môi hai sớm tối

Quên an vi gidn, sách lược thao suy xét đã tỉnh Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế đốn do càng kí

6 Nguyễn Trãi, tư tưởng cở bản nhất, lớn nhất là tư tưởng nhân nghĩa, là tỉnh thần vì dân, "việc nhân nghĩa cốt :ở yên đân', yêu nước tức là thương dân: Dù là quan tại triều hay là người ở ẩn, lúc nào Nguyễn Trãi cũng mang nặng tấm lòng

"ưu ái" đối với nhân dân Ông mượn hình ảnh cây tùng để tô bày ý nguyện giúp dân giúp nước "dành còn để trợ dân nay" (Tung) Truéc-canh mia hé, Nguyén Trai ước Thong có được tiếng đàn của vua Thuấn để "Dân giàu đủ khấp đòi phen" (Đảo kính cảnh giới Đối với N guyén Trãi, người đọc sách phải hiểu được nghĩa lí của sách, cũng như người quản lí đất nước phải

hiểu được dòng dân: / "

Đọc sách thời thông đòi nghĩa sách

Chăn dân mẹ nữa mắt lòng dân

(Bảo kính cảnh giới) :

Yêu nước, thương đân, Nguyễn Trãi cũng rất tự hào về đất nước mình, dân tộc mình: Mở đầu Bình Ngô đại cáo, tác gid trịnh trọng tuyên bố sự tồn tại song song, bình đẳng của các triểu đại của Đại Việt với các triêu đại của Dai Han:

Như nước Đại Việt ta từ: trước

Vốn xưng nền van biến đã lâu

Núi sông bờ cõi đã chía -

32

Trang 33

Phong tục Bde Nam ciing khéc.,

Từ Triệu, Định, Lí, Trần 'bao dời gáy nền độc lập,” Cừng Tần, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng -

Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau

Song hào hiệt đời nào cũng có

Và với giọng văn đẩy hào hứng, ông đã nêu cao sức mạnh

quật cường của dân tộc Ông đã miêu tả sức mạnh ấy bằng những câu văn đầy hình tượng, cuồn cuộn khí thế chiến thắng:

Trận Bồ: Đằng sấm uang, chớp' giật

Miền Trà Lên trúc chẻ, tro bay

GƯƠơm mời đá, đó núi cũng mòn

Voi uống nước, nước sông phải can

Đánh một trộn, sạch không kình ngạc

Đánh hai trên, tan tác chữn muông

- Cơn gió to trút sạch lá khô

'Tổ kiến hổng : sụt togng đê :uỡ

lòng yêu nước và tự hào đân tộc của Nguyễn Trãi còn thể hiện ở tỉnh yêu tiếng mẹ đẻ Ngoài bộ phận sáng tác bằng chữ Hán ông còn viết nhiều thơ Nôm Cơ thể nói ông là:một trong những người đầu tiên đã làm sáng giá cho tiếng Việt bằng sáng tác văn chương Nôm vào loại sớm nhất trong lịch sử văn học nước nhà Tập thơ Quốc êm thi tập của Nguyễn “Trãi đến nay vẫn có giá trị lớn, được coi là hòn đá tảng đặt nền móng chọ thơ ca tiếng Việt Điêu này vừa chứng tỏ tài nang van chương lỗi lạc, vừa biểu hiện ý thức tự tôn dân tộc của người anh hùng tài: hoa, Nguyễn Trãi

Trang 34

Tớm lại, điểm qua những nét lớn trong cuộc đời và thơ văn

của Nguyễn Trãi, ta có thể nhận thấy sự nghiệp và tác phẩm

của ông đúng là "một bài ca yêu nước và tự hào dân tộc" Đấy

cũng là lí do để Ức 'Trai sống mãi trong tâm khám của mọi

thế hệ người Việt Nam chúng ta

BÀI HỌC

BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO

Nguyễn Trái

I ĐỀ LUYỆN TẬP:

Đề số 1: Trong lịch sử văn học nước nhà, có một số tác

phẩm thơ văn xuất hiện vào thời điểm trọng đại của sự nghiệp

giải phóng dân tộc và được: coi-là những bản tuyên ngôn độc

lập của dân tộc, trong đơ có tác phẩm Bình ngô dại cáo của

Anh (ch hãy phân:tích bài cáo để khẳng định giá trị nơi

Đề số '2: Bàn về tác phẩm Bình ngô đợi cáo của Nguyễn

Trãi, có người đã khẳng định: Đây là tác phẩm cổ nhiều giọng

điệu phong phú và hấp dẫn " /

Ảnh (chị) hãy phân tíh bài cáo để chứng mình ý kiến trên

Đề số 8: Anh (chị) hãy dựng lại bức chân dung tỉnh thần

34

ate

Trang 35

cia ngudi.anh hing dan téc.Nguyén.Trai qua: bai Binh :ngé

Đề số 4: Bài Bình ngô đại cáo được xem là một bân tuyên

ngôn độc lập của dân tộc, một văn kiện lịch sử lớn đồng thời

cũng là một kiệt tác văn chương

Anh (chị) hãy phân tích những sáng tạo nghệ thuật đặc sắc nhất của tác phẩm đã tạo nên giá trị văn chương của nó

II BÀI VĂN THAM KHẢO (đề số 1)

Bình ngô đại cóo là bàn báo cáo lớn, công bố rộng khắp

cho mọi người biết về việc dẹp yên giặc Ngõ, khẳng định chủ quyền độc: lập của dân tộc và tương lai của đất nước Bởi vậy,

nơ được coi là một bản tuyên ngôn độc lập

Như chúng ta đếu biết, sau mmột thời gian cẩm cự để xây

dựng lực lượng (1418 -: 1423), từ năm 1924, nghĩa quân Lam Sơn đã:-chuyển sang thời:kì phân :công: Đến mùa: đông năm

1427, sau khi đập tan lỗ vạn quân tiếp viện của giặc: Minh;

nước ta hoàn toàn được giải phóng Đầu năm 1428, Lê Lợi lên ngôi Hoàng Đế đặt tên hiệu là Thuận Thiên (hợp lòng trời) và

cử Nguyễn Trãi soạn bài cáo để tuyên bố cho toàn dân biết cuộc kháng chiến chống giặc Minh đã thắng lợi rực rỡ, đất nước ta chuyển sang một giai đoạn xây dựng hoà bình Như vậy, bài cáo ra đời trong lúc toàn quân, toàn dân ta han hoan

chào đón chiến thắng sau 10 năm chiến đấu gian khổ, anh

Trước hết, Bình ngô đợi cáo là một luận văn chính trị tổng kết chặt chẽ, súc tích về cuộc khởi nghĩa Lam Son, dua trén

tư tưởng yêu nước thiết tha và sự nhận thức sâu sắc, mới mé

về nhân dan và dân tộc Bao trùm bài cáo là niềm tự hào vô

Trang 36

biên trước thắng lợi vi đại của cuộc kháng chiến; của khi phách anh hùng của đân tộc Việt Nam

Nhìn đại thể, Bình ngô dại cáo có thể chia làm bốn phần: Phần 1: Khẳng định lý tưởng ñhân nghĩa của cuộc khang chiến và truyền thống bất khuất của dân tộc (từ đầu đến "chứng

Phần 2: Tố cáo tội ác của bọn cướp nước lợi dụng hoàn cảnh rồi ren của nước ta, đưa quân sang xâm lược và gây Ta

bao đau khổ cho nhân dân (tiếp theo đến "ai báo thần dân chịu

được”)

Phần.8: Mô tả quá trình khởi nghĩa Lam Sơn, mục đích của cuộc chiến đấu, những khó khăn ban đầu (quá trinh chiến đấu), những chiến công hiển hách của nghĩa quân chấm dit ach nô

lệ (tiếp theo đến "cũng là chưa thấy xưa nay")

Phần 4: Lời tuyên bố kết thúc, chiến tranh khẳng định tư `

thế của dân tộc và khát vọng xây dựng đất nước muôn thuở phồn vinh (tiếp theo đến hết)

GO phần thứ nhất, trước hết Bình ngô đại cáo khẳng định

lí tưởng của cuộc kháng chiến "Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân" Đánh giặc chính là việc nhân nghĩa Tiếp theo, Nguyễn Trãi khẳng định Việt Nam lä một quốc gia văn hiến từ bao đời đã sánh ngang với cường quốc Trung Hoa về nhiều phương diện:

Nội dung nơi trên được tác giả biểu đạt bằng những câu văn

trang trọng, đính đạc gợi không khí trang nghiêm lịch sử

Việc nhậm nghĩa cốt ö yên đâm, ,

Quên diéu phat trước lo trừ bạo,

Như nước Đại Việt ta từ trước,

Vốn xưng nền uăn hiến ‘da lau,

“86

Trang 37

Nui sông bờ cõi đã chia,

Phong tục Bác Nam cũng khác

Từ Triệu, Đình, Li, Tran bao đời gáy nền độc lap,

Cùng Hán, Đường, Tổng, Nguyên mỗi bên hùng ˆ

- cá một phương

6 đây, nổi bật là việc nhấn mạnh đến tư tưởng nhân nghia của cuộc chiến đấu và tư thế độc lập của dân tộc Nhân nghĩa gắn liền với việc yên dân Nguyễn Trãi quan tâm trước hết đến đời sống nhân dân, đến hạnh phúc của mọi người Đây chính là tử tưởng lớn và rất tiến bộ của Nguyễn Trãi, làm nền tang cho cả bài cáo Để nêu bật tử thế độc lập tự cường của dân tộc, Nguyễn Trãi đã sử dụng cách diễn đạt sóng đôi Đại Việt và Trung Hoa bao đời đã song song tồn tại Mỗi nước một

bờ cõi, mỗi nước một phong tục với những triều đại khác:nhau:

VÌ là nước văn hiến lâu đời nên người tài giỏi của Đại: Việt thời nào cũng có, giặc đến lần nào cũng thất bại Nội dung ấy được diễn đạt bằng những vế rất đãng đối Tuy vậy nếu để ý

ta thấy tư thế cân bằng, tác giả đường như ngày càng muốn đặt nặng đồng cân hơn về phía Đại Việt với những chiến công huy hoàng (“Cửa Hàm Tử bát sống Toa Đô - Sông Bạch Đăng giết tươi Ô Mã") Do đó, có thể nói ở phần 1 này, Nguyễn Trãi

vừa thể hiện niém tin vào chân lí của cuộc kháng chiến, vừa

bộc lộ niềm tự hào trước truyền thống oanh liệt của đân tộc

Phần thứ hai của bài cáo là phần luận tội giặc Lợi dụng

việc họ Hồ để mất lòng dân, giặc Minh cấu kết với bọn Việt gian bán nước, điên cuồng sang cửớp nước ta, gây ra bao tội

ác trời không dung đất không tha:

Nướng đền đen trên ngọn lửa hưng tần

Vùi con đô xuống dưới hầm tại va

Trang 38

Đọc lại sử sách cũ, chúng ta có thể thấy hai câu trên hoàn toàn không phải là cách diễn đạt cường điệu mà là sự thật: Giặc Minh hết sức hung tàn, chúng thường rút ruột người treo lên cây, nấu xác người lấy mỡ thấp đèn, nhiều khi chúng mua

vui bằng cách nướng những người dân vẽ tội Ngoài ra, bọn giặc đã thực hiện một chế độ sưu thuế cống nạp nặng để vơ

vét của cải (“Người bị ép xuống biển đồng lửng mò ngọc, ngắn

thay cA map thuéng luéng - Ké bi đem vào núi đãi cát tìm

vàng, khốn nỗi rừng sâu nước độc") Do do, ching da gây niên

cho đất nước ta những hậu quá ghê gớm, sản xuất bị đỉnh trệ (tan tác cá nghề canh cửi"), môi trường sinh thái bị huỷ hoại

nghiêm trọng (tàn hại cả giống côn trùng cây cổ"), đấy nhân dan Đại Việt vào tình cảnh thê thâm (Nheo nhóc thay kế goá

bụa;khốn cùng") Tội ác của giặc Minh chồng chất cđến mức

dấu chặt hết tre rừng cũng không ghi hết, khiến cho trời đất không thể dung tha, thần và dân đều không chịu được Đau sót và căm thù, người đân Đại Việt phải đồng lòng đứng day

“Phần thứ ba thuật lại quá trình của cuộc khởi nghĩa từ khởi đầu tới ngày chiến thắng Bài cáo nhân danh Lê Lợi "Ta đây,

Nai Lam Sớn dấy nghĩa " Những lời tự bạch như phơi trải

tâm can mình trước thần dan: "Dau lòng nhức óc, chốc đã mười

mấy năm trời - Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã

tỉnh - Ngẫm trước đến nay; lẽ hưng phế đắn đo càng kĩ" Buổi đầu của cuộc khởi nghĩa thật là đẩy khó khăn: quân giặc thì

đang hủng mạnh, mà chúng ta mới có Ít người, nhân tài thiếu

thốn như "saö buổi sớm", như "lá mùa thu" Có lúc bị bao vây, lương thực cạn kiệt, quân sĩ chẳng còn mấy người (“Khi Linh Sơn, lương hết mấy tuần - Khi Khôi Huyện quân không một đội) Tuy vậy, nhờ bên gan vững chí "khác phục gian nan”, 38

Trang 39

nhờ sự chung lưng đấu cật của tướng sỉ, nhờ sự đoàn: kết của

toàn đân và chiến lược, chiến thuật đúng đắn chúng ta đã dần

dần xây dựng được lực lượng vững mạnh dẫn tới chiến thắng Đoạn tiếp theo, Nguyễn Trãi tập trung lược thuật quá trinh chiến tháng Điều đáng lưu ý, trên thực tế, từ khi dựng cờ khởi nghĩa đến khi toàn thắng, nghĩa quân Lam Sơn đã chiến thắng nhiều trận Nhưng ở đây, Nguyễn Trãi chỉ tập trung nói đến một số trận tiêu biểu nhất của từng giai đoạn

6 giai đoạn mở màn đánh lớn, tác giả nói đến hai trên chiến ác liệt xảy ra tại Bồ Đằng và Trà Lân Quân giặc hoàn toàn bị bất ngờ, thua chạy liéng xiểng; quân:ta chiến thắng nhanh chóng Ở đây, Nguyễn Trãi có cách miêu tậ rất ngắn gọn nhưng vấn làm nổi bật lên được cái cốt lõi của hai trận này là sự bất ngờ trong việc dùng quân Do đó, giặc thì hoảng

sợ, hoang mang; quân ta thì càng đánh càng mạnh:

Sí khí đã hăng

Quân thanh càng mạnh

Trần trí, Sơn Thọ nghe hơi ma mat via,

Li An, Phuong Chinh nin thỏ cầu thoát thôn

6 giai đoạn thứ hai, quân ta mở chiến dịch Thanh Nghệ để

tiến quân ra Bác Nguyễn Trãi nơi đến hai trận có ý nghĩa chiến lược và đã diễn ra vô cùng ác liệt là trận Ninh Kiéu va trận Tốt Động Giặc thì huy động tổng lực sống chết cổ thủ,

ta thì quyết chiến, quyết thắng; do đớ, trận chiến trở nên cực

ki dữ dội Bằng cách nơi cường điệu, Nguyễn Trãi đã khiến

người đóc có ấn tướng sâu sắc về sự ác liệt của trận chiến, sự thất bại nhục nhã của giặc Minh: `

Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh trôi 0uạn đặm

Trang 40

„Tốt: Động thay chết đầy nội nhơ để ngàn nam

Phúc lâm: quấn giặc: Trồn Hiệp đã phải bêu đầu

Mot gian hé thù: LÍ Lượng cũng đănh bỏ mạng

6 giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến, Nguyễn Trãi tệp trung bút lực kể về chiến dịch Chỉ Lăng - Xương Giang, Đây là bản hùng ca vang dội nhất của cuộc kháng chiến trường kì Như mọi người đã biết, lẽ ra sau một loạt chiến bại, giặc Minh phải rút quân, nhưng trái lại, với bản chất ngoan cố, chúng lại cử viện biủh hùng Hậu, chia làm nhiều ngá tiến xuống Đại Việt

Hai tên tướng giỏi chỉ huy bai đạo quân mạnh tạo nên thế

gong kim hịng đè bẹp quân ta:

Dinh Mùi tháng chín, lâu Thăng đem bình từ

Khéu On kéo lai,

Nam dy thang mười, Mộc “Thạnh chia đường từ

Van Nam tién sang Nhưng ta đã cĩ sự bố phịng chu đáo Hai gong kim cta giặc liên tiếp bị bé gấy:

Tu trước điều bình thủ hiểm, chặt mũi tiên phong Sơu lại sai tướng chẹn đường, tuyệt nguồn

“Sau đĩ là những chiến thắng dén đập Hơi văn ham hở như

cĩ nhịp thở của người viết, mach văn đổn đuổi như cố theo kịp bước hành quân thần tốc và những địn đánh cấp tập của nghĩa quân: /

Ngày mười tam,,tran Chi Lang, Liéu Thang thất thế,,

Ngày hai mươi, trên Mỡ Yên, Liễu Thăng cụt đầu

Ngày hăm, lăm, bĩ tuớc Lương Minh bại trận, tú :uong 40

Ngày đăng: 06/04/2022, 09:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  ảnh  quân  ta  càng  hùng  tráng  bao  nhiêu,  thì  hình  ánh  quân  giặc  càng  thâm  hại  bấy  nhiêu  và  từ giọng  văn  sảng  khoái - 217 đề và bài văn lớp 10, 11, 12 - Phần 1
nh ảnh quân ta càng hùng tráng bao nhiêu, thì hình ánh quân giặc càng thâm hại bấy nhiêu và từ giọng văn sảng khoái (Trang 41)
Hình  ảnh  của  sự  đoàn  tụ  mỗi  ngày.  Những  con  cò  suốt  ngày - 217 đề và bài văn lớp 10, 11, 12 - Phần 1
nh ảnh của sự đoàn tụ mỗi ngày. Những con cò suốt ngày (Trang 50)
Hình  tượng  bất  bủ.  Hãy  phân  tích  hình  tượng  nhân  vật  Thuý - 217 đề và bài văn lớp 10, 11, 12 - Phần 1
nh tượng bất bủ. Hãy phân tích hình tượng nhân vật Thuý (Trang 60)
Hình  ảnh  rất  thu.  Câu  thơ  ấy  nhắc  ta  nhớ  một  vần  thơ  cổ: - 217 đề và bài văn lớp 10, 11, 12 - Phần 1
nh ảnh rất thu. Câu thơ ấy nhắc ta nhớ một vần thơ cổ: (Trang 170)
Hình  :tượng  trung  tâm  của  bài  thơ  là  "non"  và  "nước"  đúng  là - 217 đề và bài văn lớp 10, 11, 12 - Phần 1
nh :tượng trung tâm của bài thơ là "non" và "nước" đúng là (Trang 196)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w