Về hệ thống tín hiệu: Ngôn ngữ nghệ thuật, tức là ngôn ngữ trong các tác phẩm nghệ thuật ngôn từ, lại là một mã phức tạp hơn, là hệ thống tín hiệu thứ hai, được cấu tạo nên từ hệ thống
Trang 2MỤC LỤC
A ĐẶC TRƯNG VĂN HỌC 3
1 Đối tượng của văn học 3
2 Đặc điểm của ngôn ngữ nghệ thuật 4
2.1 Về hệ thống tín hiệu: 4
2.2 Về chức năng xã hội: 4
2.3 Về tính hệ thống: 4
2.4 Về bình diện nghĩa: 4
2.5 Về sự có mặt của các loại ngôn ngữ: 5
2.6 Về vai trò trong ngôn ngữ dân tộc: 5
3 Tính hình tượng của ngôn ngữ thơ 5
4 Tính đa nghĩa của ngôn ngữ thơ 8
5 Tính truyền cảm của ngôn ngữ thơ 9
6 Nhạc tính của ngôn ngữ thơ 11
6.1 Thơ trữ tình: 11
6.2 Biểu hiện: 11
7 Tính hàm súc của ngôn ngữ thơ 13
B ĐỀ VĂN ỨNG DỤNG 15
C HƯỚNG DẪN LÀM BÀI 15
Đề 1: Quan niệm của em về một bài thơ hay? Hãy chọn một bài thờ em cho là hay 15
Đề 2: Hàn Mặc Tử từng nói: "Người thơ phong vận như thơ ấy" Hãy giải thích và chứng minh ngắn gọn qua một tác giả và một tác phẩm 18
CHUYÊN ĐỀ LÍ LUẬN VĂN HỌC
Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi nào muốn được giải đáp, hãy quét mã QR để gửi câu hỏi về cho BQT box Văn nhé !
Trang 3A ĐẶC TRƯNG VĂN HỌC
1 Đối tượng của văn học
Văn học được bắt nguồn từ đời sống, phản ánh đời sống, bày tỏ một quan điểm, lập trường với đời sống Chính vì thế mà văn học đã bén rễ vào trong đời sống của nhân loại và trở thành một phần không thể thiếu Tuy nhiên văn học lại mang đặc trưng nghệ thuật mang tính thẩm mĩ về nội dung, đối tượng cũng như phương thức tồn tại khiến văn học trở thành một bộ phận độc đáo của văn nghệ Bài viết này sẽ hướng đến phân tích những vấn đề khái quát về đối tượng văn học
Nhà dân chủ cách mạng Nga Séc-nư-sép-ski từng nói: “Phạm vi của nghệ thuật bao gồm tất cả những gì có trong hiện thực làm cho con người quan tâm, không phải là cái quan tâm của một học giả mà là cái quan tâm của người bình thường Cái mọi người quan tâm trong đời sống là nội dung của nghệ thuật.” Văn học hướng tới chiếm lĩnh nhận thức toàn bộ hiện thực khách quan và đời sống
xã hội Song đối tượng chủ yếu của văn học là con người Nếu các ngành khoa học tìm đến các sự vật hiện tượng để tìm ra bản chất, quy luật của nó thì nghệ thuật lại quan tâm và khám phá mối quan hệ của con người với thế giới xung quanh Đó là hình ảnh đất gắn liền với con đường đến trường, nước là nơi sinh hoạt hằng ngày và đất nước trở thành kết tinh của tinh cảm đôi lứa:
“Đất là nơi anh đến trường Nước là nơi em tắm Đất nước là nơi ta hò hẹn Đất nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm.”
Thế giới mang giá trị, ý nghĩa đối với sự sống của con người được xem là đối tượng chiếm lĩnh của văn học Hoa trong thơ văn không chỉ là một loài sinh vật mà còn là sự hiện thân của vẻ đẹp, của sự nảy nở tươi thắm:
“Hoa giãi nguyệt, nguyệt in một tấm Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông Nguyệt hoa, hoa nguyệt trùng trùng Nguyệt hoa, dưới nguyệt trong lòng xiết đau.”
Văn học nhận thức toàn bộ quan hệ của thế giới con người, đã đặt con người vào vị trí trung tâm của các mối quan hệ “Văn học và hiện thực là hai vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là con người” (Nguyễn Minh Châu) – tính hiện thực là thuộc tính tất yếu của văn học, chính vì vậy vòng tròn văn học và vòng tròn hiện thực phải chồng lên nhau, phải có những vùng giao nhau, và cái trục vận
Trang 4động của hai vòng tròn ấy, cái tâm, không gì khác chính là con người Lấy con người làm điểm tựa miêu tả thế giới, văn nghệ có một điểm tựa để nhìn ra toàn thế giới Văn nghệ bao giờ cũng nhìn hiện thực qua cái nhìn của con người Con người trong đời sống văn nghệ là trung tâm của các giá trị, trung tâm đánh giá, trung tâm kinh nghiệm của các mối quan hệ Như vậy, miêu tả con người là phương thức miêu tả toàn thế giới Việc biểu hiện hiện thực sâu sắc hay hời hợt, phụ thuộc vào việc nhận thức con người, am hiểu cái nhìn về con người Xem xét con người qua các mối quan hệ không làm mờ đi bản chất riêng của nó mà ngược lại, qua các mối quan hệ, con người càng thể hiện bản chất của mình từ đó có thể phát hiện tính cách độc đáo, số phận cụ thể
Như vậy ta có thể thấy rõ rằng văn học phản ánh các quan hệ hiện thực mà trung tâm là con người
xã hội Văn học miêu tả thế giới trong tương quan với lí tưởng, khát vọng, tình cảm của con người Văn học tái hiện vạn vật trong tinh toan vẹn, cảm tính sinh động
2 Đặc điểm của ngôn ngữ nghệ thuật
2.1 Về hệ thống tín hiệu:
Ngôn ngữ nghệ thuật, tức là ngôn ngữ trong các tác phẩm nghệ thuật ngôn từ, lại là một mã phức tạp hơn, là hệ thống tín hiệu thứ hai, được cấu tạo nên từ hệ thống tín hiệu thứ nhất (từ ngôn ngữ tự nhiên), “ ngôn ngữ lad yếu tố thứ nhất của văn học”, “ ngôn ngữ trở thành vật liệu xây dựng nên những hình tượng diễn đạt tư tưởng nghệ thuật” Mỗi yếu tố ngôn ngữ trong tác phẩm văn học là một phương tiện biểu hiện, mỗi yếu tố đó nhất thiết tham gia vào việc bộc lộ nội dung tư tưởng nghệ thuật của tác phẩm
2.2 Về chức năng xã hội:
Trong ngôn ngữ nghệ thuật chức năng thẩm mĩ đóng vai trò quyết định và các chức năng khác (thông báo, trao đổi thông tin, tác động,…) chỉ đóng vai trò thứ yếu Chức năng thẩm mĩ của ngôn ngữ trong các tác phẩm văn học là ở chỗ tín hiệu ngôn ngữ (đặc trưng nghĩa và âm thanh) là yếu tố tạo thành hình tượng
Trang 5hệ thống của phong cách với tư cách là một phạm trù thẩm mĩ với những thông số và những thước
đo gắn với phong cách của phong cách cá nhân, phong cách tác phẩm, phong cách khuynh hướng, phong cách trường phái văn học
2.5 Về sự có mặt của các loại ngôn ngữ:
Ngôn ngữ nghệ thuật là biểu hiện đầy đủ nhất và nổi bật nhất của ngôn ngữ văn hóa, rộng hơn là ngôn ngữ toàn dân Ngôn ngữ nghệ thuật không chỉ có ngôn ngữ hiện đại mà còn sử dụng các tân từ (từ tiềm năng), từ cổ, từ lịch sử, từ ngẫu hợp…Theo nghĩa nào đó thì ngôn ngữ nghệ thuật giàu hơn ngôn ngữ toàn dân
2.6 Về vai trò trong ngôn ngữ dân tộc:
Không chỉ có tầm bao quát hơn ngôn ngữ toàn dân mà ngôn ngữ nghệ thuật còn có tính chât chuẩn mực Trở thành hiện tượng nghệ thuật nhờ sự hoàn thiện của nó nhờ tài năng và lao động bền bỉ Ngôn ngữ nghệ thuật mang màu sắc riêng mỗi tác giả, cái nhìn độc đáo không bị lặp lại
Chính vì vậy ngôn ngữ nghệ thuật xứng đáng giữ vai trò trung tâm ngôn ngữ dân tộc
3 Tính hình tượng của ngôn ngữ thơ
Hình tượng trong văn học nói chung và ngôn ngữ thơ nói riêng đều được xem xét theo ba nghĩa:
- Hình tượng như một chi tiết có màu sắc, hình ảnh, một ẩn dụ hoặc một hình thức chuyển nghĩa khác gắn với nghĩa bóng
- Hình tượng như là một nhân vật văn học
- Hình tượng như là một kiểu đặc biệt của nhận thức và phản ánh của thế giới khách quan
Giả thiết thứ ba là giả thuyết chung nhất về hình tượng, còn hai cách giải quyết đều có thể coi là những phương tiện nhận thức và phản ánh một cách hình tượng thực tế khách quan
Trong ngôn ngữ học, đặc biệt phong cách học thì tính hình tượng theo nghĩa rộng nhất có thể xác định là thuộc tính của ngôn ngữ nghệ thuật mà cụ thể là ngôn ngữ thơ truyền đạt không chỉ thông tin logic mà còn truyền được thông tin được tri giác một cách cảm tính (cảm giác, tri giác, biểu tượng) nhờ hệ thống những hình tượng ngôn từ Còn bản thân hình tượng ngôn từ đầu tiên có thể xác định là mảnh đoạn cụm từ mang thông tin hình tượng, mà ý nghĩa của thông tin hình tượng này không tương đương với ý nghĩa của những yếu tố được lấy tách riêng ra của mảnh đoạn đó cộng lại Một từ trong lời nói nghệ thuật không thể coi ngang bằng ngôn ngữ thực hành, vì trong văn bản nghệ thuật, từ thi ca có hai bình diện theo khuynh hướng nghĩa của mình, có mối tương quan đồng
Trang 6thời cả với những từ của ngôn ngữ văn hóa chung, cả với những yếu tố của cấu trúc ngôn từ của văn bản nghệ thuật Từ “vũng” trong câu thơ Nguyễn Đình Thi cũng như vậy:
Buổi chiều ứa máu Ngổn ngang những vũng bom
“Vũng bom” chứ không phải là “hố bom” Trong từ “vũng” có nét nghĩa thường trực là “có nước”
mà từ “hố” không nhất thiết phải có Chính nét nghĩa “có nước” này tạo nên sự cộng hưởng giữa từ
“vũng” và từ “máu” trong câu đi trước Sự cộng hưởng đó tạo nên một hình tượng liên tưởng có sức
tố cáo mạnh mẽ: những vũng bom đạn Mỹ trút xuống làng quê ta chính là những vũng máu
Có thể nói khi đi vào thơ thì những từ ngữ phi nghệ thuật đều có thể là ngôn ngữ nghệ thuật nếu nó
có thêm một nghĩa bổ sung nào đó, một nghĩa hình tượng nào đó Trong câu thơ Nguyễn Đình Thi:
Ôi những cánh đồng quê chảy máu Dây thép gai đâm nát trời chiều Các từ ngữ “chảy máu”, “đâm nát” bên cạnh các nghĩa đen, nghĩa đầu tiên còn mang nghĩa bổ sung xây dựng hình tượng văn học: phác họa hình tượng Tổ quốc Việt Nam thân thương bị kẻ thù tàn phá, hủy diệt Nói như trên không có nghĩa là mỗi từ của ngôn ngữ phi nghệ thuật xuất hiện trong ngôn ngữ thơ đều bắt buộc cải tạo thành từ thi ca, mang giá trị nghệ thuật mà còn có những “vị trí trống rỗng”, “những bao bì”, tức là những vị trí có giá trị về mặt giao tiếp mà không có hoặc ít giá trị nghệ thuật
Nói về hình tượng trong thơ, những đơn vị lớn hơn từ thì khái niệm hình tượng có thể xác định như
là một thể thống nhất của tạo hình và biểu đạt Hình tượng là một tín hiệu phức tạp trong đó xuất hiện với tư cách là bình diện nội dung, có sự biểu đạt mới, không bị rút gọn lại ở cái được biểu đạt trước đó Giống như bài thơ Sóng của nhà thơ Xuân Quỳnh, hình tượng sóng và hình tượng nhân vật em song song cùng tồn tại, hiện hữu trong bài thơ Trong ngôn ngữ viết về hình tượng sóng thì hình tượng em lại được đan hòa, hiện lên thông qua ngôn ngữ hình tượng sóng
Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Trang 7“Dữ dội” – “dịu êm”, “ồn ào” – “lặng lẽ” là những cặp trạng thái đối nghịch của hình tượng sóng nó gợi lên những trạng thái khác nhau khi yêu của hình tượng nhân vật em Đây là những trạng thái đối nghịch nhưng lại thống nhất, hài hòa trong hình tượng sóng cũng như là trạng thái cảm xúc hình tượng nhân vật em
Không phải tất cả các yếu tố ngôn ngữ thơ đều có vai trò như nhau trong chức năng thẩm mĩ mà được phân biệt nhau theo tính chất và mức độ tham gia vào việc tham gia vào việc diễn đạt hình tượng nghệ thuật Vai trò quyết định trong việc diễn đạt hình tượng nghệ thuật thuộc về những đơn
vị ngôn ngữ thơ mà sự phức hợp chức năng của chúng trong tác phẩm nghệ thuật thể hiện ở sự biến đổi nội dung khái niệm của chúng Ví dụ đoạn trích Nước non ngàn dặm của Tố Hữu:
Con thuyền rời bến sang Hiên Xuôi dòng sông Cái, ngược chiều sông Bung Chập chùng thác Lửa thác Chông Thác Dài, thác Khó, thác Ông, thác Bà Thác bao nhiêu thác cũng qua Thênh thênh là chiếc thuyền ta trên đời
Từ “thuyền” trong câu thơ cuối là từ có sự biến đổi nội dung khái niệm Do cách kết hợp độc đáo giữa “chiếc thuyền” (chỉ sự vật cụ thể) với “trên đời” (khái niệm trừu tượng) mà người đọc buộc phải chuyển sang bình diện nghĩa thứ hai Đây là sự hiện thực hóa đồng thời hai ý nghĩa: ý nghĩa sự vật – logic (chiếc thuyền) với nghĩa hình tượng có tính ẩn dụ (con đường cách mạng) đã mang đến rung cảm thẩm mĩ của người đọc khi nhận được một nội dung thông tin mới mẻ: lập trường, tư tưởng, tình cảm, thái độ vững vàng của tác giả đối với cuộc hành trình vượt thác bằng thuyền trên con đường công tác trở ra Bắc cũng như con đường cách mạng mà tác giả đã lựa chọn
Sự biến đổi nội dung khái niệm từ “thuyền” trong ví dụ đã được chuẩn bị bởi ngữ cảnh, chịu sự biến đổi ngữ nghĩa nhất định, ngoài nghĩa đen còn mang đặc trưng chung thực tại hóa do kết quả sử dụng VD: Để diễn đạt cái dữ dội, nguy hiểm, dai dẳng, gian nan, rùng rợn của thác ghềnh, tác giả
đã sử dụng việc đảo từ láy “chập chùng” lên đầu câu, tiếp đó dùng phương thức liệt kê một loạt tên thác: thác Lửa, thác Chông, thác Ông, thác Bà, thác Dà, thác Khó Điệp từ “thác” 6 lần khiến cho cuộc hành trình dường như ngày càng trắc trở Việc láy từ thác khiến khổ thơ ngắt nhịp: T – B / (T) – B(T) – B(T) – B/(T) – T/(T) – B(T) - B / với 8 thanh trắc trong đó 6 tiếng láy lại vị trí đầu khiến
Trang 8hành trình vượt thác khó khăn hơn, hành trình gian nan không ngừng, không nghỉ được Năm dòng thơ đầu không trực tiếp diễn đạt quan điểm, thái độ của chủ thể tường thuật đối với hiện tượng miêu
tả trong thực tế song chúng tạo nên chỉnh thể thống thất: mức xuất phát, mở đầu rồi đi đến sự biến chuyển nội dung khái niệm của từ vốn diễn đạt quan điểm, thái độ của tác giả với cái được miêu tả Như vậy trong việc biểu đạt hình tượng nghệ thuật, trong ngôn ngữ thơ có hai loại đơn vị:
+ Đơn vị ngôn ngữ có sự biến đổi nội dung khái niệm
+ Đơn vị ngôn ngữ diễn đạt cái đặc trưng chung được thực tại hóa trong ngữ cảnh
Tính hình tượng xuất hiện do kết quả của sự đối chiếu hai khái niệm hoặc do kết quả của sự thay thế một khái niệm này bằng một khái niệm khác Phương tiện của tính hình tượng trong nghĩa hẹp
là phương tiện tu từ và biện pháp tu từ Tuy nhiên một số từ thông thường lại mang cá tính chủ thể tác giả và nhân vật trong tác phẩm thì chúng lại mang tính hình tượng
4 Tính đa nghĩa của ngôn ngữ thơ
Tính đa nghĩa của thơ không chỉ do yếu tố chủ quan của người tiếp nhận theo nguyên lý: tác phẩm văn học = văn bản + người đọc Tính đa nghĩa còn do đặc trưng của ngôn ngữ thơ.Quan điểm của nhà thơ càng kín đáo bao nhiêu càng có lợi cho tác phẩm bấy nhiêu Đặc trưng của tư tưởng nghệ thuật là toát ra từ hình tượng, tình huống, chi tiết Chúng kích thích, khêu gợi người đọc để họ tự rút
ra một tư tưởng nào đó Tính mơ hồ, đa nghĩa của ngôn ngữ thơ tạo điều kiện cho người đọc đồng sáng tạo Tạ Trăn (đời Minh) từng phát biểu: “Thơ có chỗ có thể giải thích, có chỗ không thể giải thích, có chỗ không cần giải thích như hoa dưới nước, trăng trong gương Một nhà thi học đồng thời
là nhà thơ là Vương Sĩ Trinh cũng nói: “Thơ khó ở chỗ không giải thích được thì vô vị, giải thích được thì hết vị” Các nhà thơ trong nhóm Xuân Thu nhã tập quan niệm: “Thơ không phải lúc nào cũng rõ nghĩa vì nó không chủ động trong địa hạt ý nghĩa; không phải lúc nào cũng sáng sủa vì nó không vụ cái phần sáng sủa của tâm linh, nó giữ phần sâu kín, nó giữ phần sâu sắc” Tính đa nghĩa không phải là dấu hiệu non kém về nghệ thuật mà phải được xem là đặc trưng của ngôn ngữ thơ Một số hiện tượng thơ đã phải tốn rất nhiều giấy mực để tìm hiểu như "Tống biệt hành "(Thâm Tâm)," Đây thôn Vĩ Dạ ""(Hàn Mặc Từ)
Ví dụ khổ thơ cuối trong bài "Tống biệt hành":
Người đi, ừ nhỉ, người đi thực
Mẹ thà xem như chiếc lá bay
Trang 9Chị thà xem như là hạt bụi
Em thà xem như hơi rượu say
Có nhà nghiên cứu hiểu người ra đi xem mẹ như chiếc lá bay, chị như là hạt bụi, em như hơi rượu say Phải hiểu ngược lại mới đúng bởi Nguyễn Bính cũng đã từng viết:
Thầy đừng nhớ, mẹ đừng thương Coi như đồng kẽm ngang đường đánh rơi
Từ ngữ tiếng việt vốn có khả năng chuyển nghĩa tạo nghĩa mới hay do tu từ nên ngôn từ văn học cũng có tính đa nghĩa Văn bản văn học, do đó, nó cũng có tính đa nghĩa Chẳng hạn “ Thề non nước” của Tản Đà Một mặt, đó là bức tranh non nước tang thương, một trái núi đứng chơ vơ bên cạnh dòng sông đã cạn Mặt khác, bài thơ còn là câu chuyện của hai người tình đã thề nguyền chung thủy, hiện tại chia phôi và ngày mai gắn bó
“Ngắn gọn là bà chị của thiên tài” (Sê Khốp)
“Ý hết mà lời dừng, ấy là lời rất mừng trong thiên hạ
Nhưng lời dừng mà ý chưa hết lại càng hay tuyệt”
( Lê Quý Đôn)
“Công phu của thơ là ở ngoài thơ”
Ngữ nghĩa trong thơ ca khác với ngữ nghĩa trong giao tiếp thường nhật và khác với ngữ nghĩa trong văn xuôi Sỡ dĩ có điều đó bởi vì ngôn ngữ thường cô đọng, hàm súc, về mặt ngôn từ và hình ảnh Một từ ngữ nào đó được đưa vào thơ đều trải qua sự lựa chọn của tác giả vào vị trí của mình Ngữ nghĩa trong thơ không chỉ có giá trị biểu hiện mà còn có những giá trị khác Khi đi vào thơ, do áp lực của cấu trúc mà ngữ nghĩa của ngôn từ không dừng lại ở nghĩa đen, nghĩa gốc, nghĩa ban đầu
mà còn có nghĩa mới, nghĩa phát sinh tinh tế, đa dạng hơn tạo nên hiện tượng nhòe về nghĩa của thơ Chính đặc tính này đã làm cho mỗi chữ trong thơ có một sứ mạnh tiềm tàng, chứa đựng cái đẹp, tinh tế, sâu sắc
5 Tính truyền cảm của ngôn ngữ thơ
Tính truyền cảm cũng là đặc trưng chung của ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương, bởi tác phẩm văn học là sản phẩm của cảm xúc của người nghệ sĩ trước cảnh đời, cảnh người, trước thiên nhiên Cho nên, ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương phải biểu hiện được cảm xúc của tác giả và phải truyền được cảm xúc của tác giả đến người đọc, khơi dậy trong lòng người đọc những cảm xúc
Trang 10thẩm mĩ Tuy nhiên, do đặc trưng của thơ là tiếng nói trực tiếp của tình cảm, trái tim nên ngôn ngữ thơ ca có tác dụng gợi cảm đặc biệt
- Ngôn ngữ thơ không bao giờ là ngôn ngữ chú trọng miêu tả cái khách quan như ngôn ngữ trong tác phẩm tự sự Nếu nhà văn dùng ngôn ngữ để thuyết minh, miêu tả, nhắn nhủ, giải thích thì nhà thơ dùng ngôn ngữ để truyền cảm Khi Quang Dũng viết:
"Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa"
Quang Dũng không có ý hỏi ai lên Châu Mộc trong buổi chiều sương nào đó có nhìn thấy phong cảnh hữu tình không mà tác giả khơi gợi trong ta nỗi nhớ thương mất mát, nuối tiếc ngậm ngùi, những ngày tháng, những kỷ niệm, những ảo ảnh đã tan biến trong đời Quang Dũng gợi trong ta một trạng thái bằng cách hồi sinh những gì đã mất, đồng thời phản ánh tâm trạng của chính mình Lời thơ thường là lời đánh giá trực tiếp thể hiện quan hệ của chủ thể với cuộc đời Là lời đánh giá trực tiếp, thể hiện tâm trạng cho nên sự lựa chọn từ ngữ, phương thức tu từ trong thơ bao giờ cũng nhằm làm cho nội dung cảm xúc, thái độ đánh giá, sự đồng cảm hoặc phê phán, ca ngợi trở nên nổi bật:
"Ôi những cánh đồng quê chảy máu Dây thép gai đâm nát trời chiều"
(Nguyễn Đình Thi)
Ở đây, mỗi câu thơ đều mang một từ tập trung tất cả sức nặng của tình cảm Những từ đó như là những tiêu điểm để ta nhìn thấu vào tâm hồn tác giả Tính truyền cảm của ngôn ngữ thơ không chỉ biểu hiện qua cách lựa chọn từ ngữ, các phương thức tu từ mà còn biểu hiện qua nhạc điệu thơ Chẳng hạn:
"Em ơi Ba Lan mùa tuyết tan Đường bạch dương sương trắng nắng tràn."
(Tố Hữu)
Sự tập trung dày đặc các nguyên âm có độ mở rộng và phụ âm mũi vang khiến câu thơ nghe giàu tính nhạc, kéo dài như âm vang của sóng biển vỗ bờ Nhạc tính đó không đơn thuần là sự ngân nga của ngôn ngữ mà còn là khúc nhạc hát lên trong lòng người
Trang 11Tóm lại, thơ là một hình thái nghệ thuật cao quý, tinh vi của sáng tạo văn học nghệ thuật Vì vậy, ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ mang tính nghệ thuật; ngôn ngữ thơ trước hết mang đầy đủ những thuộc tính của ngôn ngữ văn học, đó là: tính chính xác, tính hàm súc, tính đa nghĩa, tính tạo hình, tính biểu cảm Tuy nhiên, ở mỗi loại tác phẩm khác nhau, những đặc điểm ấy lại biểu hiện dưới những sắc thái và mức độ khác nhau Đồng thời, mỗi loại tác phẩm lại có những đặc trưng ngôn ngữ riêng
6 Nhạc tính của ngôn ngữ thơ
6.1 Thơ trữ tình:
Thơ trữ tình phản ánh cuộc sống qua những rung động của tình cảm Thế giới nội tâm của nhà thơ không chỉ biểu hiện bằng ý nghĩa của từ ngữ mà còn bằng cả âm thanh, nhịp điệu của từ ngữ ấy Nếu như trong văn xuôi, các đặc tính thanh học của ngôn ngữ (như cao độ, cường độ, trường độ ) không được tổ chức thì trong thơ, trái lại, những đặc tính ấy lại được tổ chức một cách chặt chẽ, có dụng ý, nhằm tăng hàm nghĩa cho từ ngữ, gợi ra những điều mà từ ngữ không nói hết Bởi thế, đặc trưng tính nhạc được coi là đặc trưng chủ yếu mang tính loại biệt rõ nét của ngôn ngữ thơ ca
6.2 Biểu hiện:
Theo các nhà nghiên cứu, nhạc tính trong thơ được thể hiện ra ở ba mặt cơ bản Đó là: sự cân đối,
sự trầm bổng và sự trùng điệp:
"Còn bạc, còn tiền, còn đệ tử Hết cơm, hết rượu, hết ông tôi"
6.2.2 Sự trầm bổng
Sự trầm bổng của ngôn ngữ thơ thể hiện ở cách hoà âm, ở sự thay đổi độ cao giữa hai nhóm thanh điệu Xuân Diệu với hai dòng thơ toàn vận dụng vần bằng đã biểu hiện được cảm xúc lâng lâng, bay bổng theo tiếng đàn du dương, nhẹ êm: