1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Kinh nghiệm trang bị kiến thức lí luận văn học nhằm giải quyết khó khăn của học sinh khi làm dạng đề lí luận văn học, nâng cao hiệu quả bồi dư

23 588 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 167 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tham khảo ý kiến nhiều thầy cô giáo có uy tín, kinh nghiệm trong công tácbồi dưỡng học sinh giỏi, tôi nhận thấy rằng: cần phải trang bị thêm cho học sinh hệthống kiến thức lí luận văn họ

Trang 1

MỤC LỤC

Thực tế giáo dục ngày nay, ngoài việc cung cấp cho học sinh những kiếnthức cơ bản của môn học nhằm đáp ứng mục tiêu phổ cập THPT thì việc bồidưỡng học sinh mũi nhọn là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng Có đội ngũ học sinhgiỏi, người tài mới có nguồn lực để phát triển đất nước bởi “Hiền tài là nguyên khíquốc gia” Đáp ứng nhu cầu đó, bản thân tôi thiết nghĩ, việc lựa chọn, bồi dưỡng

Trang 2

học sinh giỏi thực sự là một nhiệm vụ quan trọng trong nhà trường, là trách nhiệmcủa mỗi thầy cô giáo đang đứng trên bục giảng.

Bồi dưỡng học sinh giỏi không chỉ là trách nhiệm mà còn là niềm vui nghềnghiệp mà bất cứ người giáo viên nào cũng mong muốn được làm Đây cũng là cơhội để mỗi người giáo viên tự rèn luyện, nâng cao trình độ chuyên môn Qua mỗilần bồi dưỡng học sinh giỏi, trình độ chuyên môn của giáo viên càng được củng cố

và vững vàng hơn trong nghề nghiệp của mình

Nghề giáo viên là nghề luôn phải buồn – vui vì nghề nghiệp Niềm vui, nỗibuồn của người giáo viên gắn liền với niềm vui nỗi buồn của học trò Mỗi lúc họctrò thành công, thầy cô vui; trò thất bại, thầy cô buồn Tôi cảm nhận rất rõ niềmvui, nỗi buồn trong lòng mình mỗi lúc như vậy Mỗi năm ôn luyện, bồi dưỡng họcsinh giỏi cô trò luôn mong mỏi và đề ra mục tiêu cần đạt được Nhưng kết quả đôilúc vẫn không được như mong muốn Số lượng học sinh đạt giải tuy năm nào cũngchiếm 80% đến 100% số học sinh dự thi nhưng chất lượng giải chưa cao Phần lớnchỉ dừng lại ở giải khuyến khích hoặc giải ba Đó là điều mà tôi cũng như nhiềuđồng nghiệp trăn trở: Phải chăng do năng lực học sinh hạn chế? Hay do phươngpháp bồi dưỡng chưa đúng cách? Làm sao để nâng cao chất lượng học sinh giỏi bộmôn Ngữ văn?

Tham khảo ý kiến nhiều thầy cô giáo có uy tín, kinh nghiệm trong công tácbồi dưỡng học sinh giỏi, tôi nhận thấy rằng: cần phải trang bị thêm cho học sinh hệthống kiến thức lí luận văn học để bài viết của các em đủ độ “dày” hơn, lập luậnsâu sắc hơn, có như vậy thì bài viết mới có sức thuyết phục Trao đổi với học sinh

về khó khăn của các em khi làm các đề thi học sinh giỏi, các em đều có chung ýkiến rằng còn lúng túng khi gặp các dạng đề lí luận văn học vì thiếu kiến thức líluận văn học, các em thường đi vào chứng minh vấn đề nghị luận bằng cảm tính

mà bỏ qua phần lí luận Tôi cho rằng đó cũng là một trong những lí do cơ bảnkhiến kết quả thi học sinh giỏi chưa cao cho dù học sinh diễn đạt rất tốt, thẩm bìnhrất hay Tôi nghĩ đến việc trang bị kiến thức lí luận văn học cho học sinh ngay từkhi mới lựa chọn đội tuyển với hi vọng sẽ cải thiện được chất lượng giải học sinh

giỏi Bởi vậy, tôi chọn đề tài: Kinh nghiệm trang bị kiến thức lí luận văn học nhằm giải quyết khó khăn của học sinh khi làm dạng đề lí luận văn học, nâng cao hiệu quả bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn trung học phổ thông làm

sáng kiến kinh nghiệm của mình trong năm học 2016 – 2017

1.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI.

Tôi thực hiện đề tài này nhằm hướng tới một số mục đích cơ bản sau:

Thứ nhất: Cung cấp, trang bị thật tốt kiến thức lí luận văn học - một mảngkiến thức cần có đối với học sinh giỏi môn Ngữ văn

Thứ hai: Giải quyết khó khăn của học sinh vì thiếu kiến thức lí luận khi làmcác đề thi học sinh giỏi Học sinh có nền tảng lí luận vững chắc sẽ không còn

“ngại”, lúng túng khi gặp các dạng đề liên quan đến lí luận văn học – dạng đềthường thấy trong các đề thi học sinh giỏi

Trang 3

Thứ ba: Nâng cao chất lượng, hiệu quả bồi dưỡng học sinh giỏi.

1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI.

Xây dựng đề tài này, tôi tập trung vào nghiên cứu cách trang bị kiến thức líluận nhằm nâng cao hiệu bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn, giải quyết khókhăn của học sinh khi gặp các dạng đề lí luận văn học

1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI.

*Xây dựng cơ sở lí thuyết

Để xây dựng cơ sở lí thuyết cho đề tài, tôi đã trao đổi kinh nghiệm trang bịkiến thức lí luận văn học với nhiều thầy cô giáo có uy tín, bề dày trong công tácbồi dưỡng học sinh giỏi, tìm cho mình cách thức tốt nhất để bồi dưỡng mảng kiếnthức này cho học sinh

Tìm hiểu ý kiến của học sinh khi giải quyết các đề thi học sinh giỏi để tìm rađâu là điểm khó khăn về lí luận văn học mà các em gặp phải để tìm cách bổ sungkiến thức cho các em

*Thu thập, xử lí thông tin

Tôi tiến hành thu thập ý kiến của học sinh khi giải quyết các đề thi liên quanđến kiến thức lí luận văn học; sau đó tìm kiếm các tài liệu lí luận văn học cần thiếtđối với học sinh, soạn thành giáo án, biến các vấn đề lí luận khô khan, có tính hànlâm thành các bài giảng có dẫn chứng cụ thể, sinh động để học sinh dễ tiếp thu

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN.

Lí luận văn học là bộ môn nghiên cứu văn học ở bình diện lí thuyết kháiquát, bao gồm trong đó sự khảo cứu bản chất của sáng tác văn học, chức năng xãhôi – thẩm mĩ của nó; đồng thời xác định phương pháp luận và phương pháp phântích văn học Lí luận văn học tuy là kiến thức lí thuyết khái quát có phần khô khannhưng nó lại là “kim chỉ nam” cho người học văn, đọc văn, cảm thụ văn chương.Thiếu kiến thức lí luận, người đọc, học văn không tránh khỏi việc cảm thụ tácphẩm văn học một cách hời hợt, mơ hồ, chung chung, thiếu chiều sâu, sự bàn bạc,chứng minh không có cơ sở lí luận vững chắc không thể thuyết phục người đọc

Đối với đối tượng là học sinh giỏi, việc trang bị kiến thức lí luận văn họcgiúp học sinh có những bình luận, đánh giá, nhận xét chuẩn xác hơn về một hiệntượng văn học nào đó; bài viết của các em trở nên sâu sắc hơn về ý tưởng, chặt chẽhơn về lập luận, thuyết phục hơn khi đưa ra luận cứ

Vì vậy, việc trang bị kiến thức lí luận văn học là việc làm cần thiết trongcông tác bồi dưỡng học sinh giỏi nhằm nâng cao hiệu quả bồi dưỡng học sinh giỏimôn Ngữ văn THPT, giúp học sinh không còn lúng túng khi gặp những dạng đề líluận văn học

2.2 THỰC TRẠNH CỦA VẤN ĐỀ KHI CHƯA ÁP DỤNG SÁNG KIẾN.

Trang 4

Như trên đã đề cập đến tầm quan trọng của kiến thức lí luận văn học đối vớihọc văn, đọc văn, cảm thụ văn chương; càng quan trọng hơn với học sinh giỏi mônVăn Nhưng thực tế chương trình sách giáo khoa hiện nay những bài học lí luậncòn quá ít Như vậy là chưa đủ đối với học sinh giỏi trong khi đề thi đề cập đếnhầu hết các phạm trù lí luận văn học.

Những năm học trước, khi chưa áp dụng đề tài này, bồi dưỡng học sinh giỏimới chỉ tập trung vào hệ thống kiến thức các tác phẩm, tác giả văn học, việc trang

bị kiến thức lí luận còn sơ sài dẫn đến hiệu quả chưa cao, chất lượng giải còn hạnchế Cụ thể:

- Năm học 2011-2012: 02 học sinh dự thi đạt 02 giải khuyến khích

- Năm học 2012-2013: 02 học sinh dự thi đạt 02 giải ba

- Năm học 2015-2016: 02 học sinh dự thi đạt 01 giải nhì, 01 giải khuyếnkhích

(Thống kê này là kết quả thi học sinh giỏi của học sinh bản thân tôi phụ trách,không phải kết quả môn Ngữ văn của cả trường)

Từ kết quả trên cho thấy, mặc dù vẫn đảm bảo số lượng giải nhưng chất lượnggiải nhìn chung chưa cao

Trao đổi với học sinh về khó khăn khi giải quyết các dạng đề thi học sinhgiỏi các em học sinh của đội dự tuyển học sinh giỏi môn Ngữ văn đều có chúng ýkiến rằng rất lúng túng khi gặp các dạng đề thi học sinh giỏi vì đó đều là dạng đề líluận văn học trong khi bản thân lại không đủ hiểu biết về mảng kiến thức này

2.3 CÁC GIẢI PHÁP ĐÃ SỬ DỤNG ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.

2.3.1 Tìm hiểu, trao đổi với học sinh về các vướng mắc khi làm các dạng đề lí luận văn học để cung cấp kịp thời những kiến thức còn thiếu hụt của học sinh.

Qua tìm hiểu, trao đổi với học sinh về những khó khăn khi làm các dạng đề

lí luận văn học thì hầu hết các em đều cho rằng phần lí luận của mình còn chưa tốt;các em thường lúng túng khi bắt tay làm các dạng đề này vì thiếu kiến thức lí luận.Các em cho rằng những bài học lí luận văn học trong chương trình rất ít và sáchgiáo khoa trình bày tương đối sơ lược nên không đủ kiến thức để làm bài trong khicác đề thi lí luận văn học khá đa dạng và đề cập tới hầu như tất cả các vấn đề líluận Từ việc nắm bắt được khó khăn vướng mắc ấy, tôi lập kế hoạch tự nghiêncứu tài liệu và bổ sung kiến thức lí luận cho học sinh để kịp thời cung cấp nhữngkiến thức còn thiếu hụt cho các em

2.3.2 Giáo viên nghiên cứu tài liệu, tự bồi dưỡng kiến thức lí luận văn học.

Để có tư liệu phục vụ cho việc bồi dưỡng học sinh giỏi, tôi đã phải tìm đọcnhiều tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau, sau đó ghi chép, tổng hợp, phân chia cácphạm trù lí luận Qua học tập, nghiên cứu, tôi thấy rằng, các vấn đề lí luận văn họcrất rộng, tôi dành sự quan tâm tới các vấn đề lí luận học sinh còn thiếu hụt và cácvấn đề lí luận thường xuất hiện trong các đề thi học sinh giỏi Gồm có:

Trang 5

- Chức năng của văn học.

- Phong cách văn học

- Tiếp nhận văn học (mối quan hệ nhà văn và độc giả)

- Mối quan hệ nội dung và hình thức

- Mối quan hệ giữa văn học và hiện thực đời sống

- Đặc trưng của thơ

- Đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật

2.3.3 Trang bị kiến thức lí luận văn học cho học sinh bằng những bài giảng đã được chuẩn bị chu đáo Chuyển hóa các vấn đề lí luận văn học khô khan thành các bài giảng có dẫn chứng cụ thể về thực tế văn học.

Các sách viết về lí luận văn học thường đề cập vấn đề ở lí thuyết khái quátnên có phần khô khan và hàn lâm, đôi khi khó hiểu, nếu giáo viên cung cấp kiếnthức theo kiểu “bê nguyên si” từ sách vở đến học sinh thì không tránh khỏi việchọc sinh chán học văn, ngại phần lí luận Vì vậy, từ kiến thức sách vở, giáo viênphải chuyển hóa thành các bài giảng sinh động, kết hợp giữa lí thuyết và dẫnchứng cụ thể chứng minh cho lí thuyết Thêm những lời bình, sự đánh giá giàucảm xúc văn học để học sinh hứng thú với vấn đề lí luận mà giáo viên truyền đạt

Vấn đề 1: Chức năng của văn học.

Nói đến chức năng của văn học là nói đến mục đích, ý nghĩa xã hội của vănhọc Mĩ học và lí luận nghệ thuật macxít hiện nay cho rằng văn học có nhiều chứcnăng song tựu chung lại nó có các chức năng chủ yếu sau đây: Chức năng nhậnthức, chức năng giáo dục, chức năng thẩm mĩ

+ Chức năng nhận thức (còn gọi là chức năng phản ánh của văn học).

Văn học với chức năng nhận thức, phản ánh có thể đưa lại cho con ngườibiết bao tri thức Văn học có thể đưa ta về với quá khứ xa xưa, làm sống lại trong

ta hình ảnh các phong tục tập quán, nếp sống, nếp nghĩ, niềm vui nỗi buồn, cáisướng cái khổ, lời ăn tiếng nói…; tóm lại là đời sống tinh thần và đời sống vật chất

của cha ông, của nhân loại bao đời nay Người ta nói: Văn học là bộ Bách khoa toàn thư về cuộc sống là vì vậy.

Nội dung chính của chức năng nhận thức văn học là nhận thức về con người

Ý nghĩa nhận thức về con người của văn học bộc lộ trong nhiều mặt khác nhau:trong việc khám phá ra tính cách xã hội điển hình của một giai đoạn, một xã hội,một tầng lớp nào đó (ví dụ: Chí Phèo, chị Dậu…); trong những lí giải về số phận

con người (như Truyện Kiều, Chiến tranh và hòa bình…); và đặc biệt là sự thâm

nhập vào thế giới bên trong của con người, vào các quá trình tư duy và tình cảmcon người Nghệ thuật không giải phẫu cơ thể nhưng nó là sự giải phẫu tinh thầncon người, đi vào những ngõ ngách tâm hồn con người, cao hơn là giúp con ngườinhận thức bản thân mình: giá trị của mình, vị trí của mình, biết mình phải làm gì và

có thể làm gì cho cuộc sống

Trang 6

Một đặc điểm đáng chú ý của nhận thức nghệ thuật là ở đây dường như

“biết” chưa đủ mà còn “hiểu” mới là cái chính Tác phẩm thường không nói cái gìhoàn toàn chưa biết, chưa nghe, chưa nói bao giờ Nghệ thuật là sự ngạc nhiên vìkhám phá ra điều mới mẻ trong cái quen thuộc hàng ngày, nhận ra cái chí lý sâu xatrong những gì bình thường, đơn giản

+ Chức năng giáo dục.

Văn học có chức năng giáo dục ở chỗ nó góp phần tích cực trong việc bồidưỡng tâm hồn, trí tuệ, tình cảm, đạo đức…, nói một cách khái quát là góp phầnhình thành, nâng cao, phát triển nhân cách con người Nghệ thuật trở thành phươngtiện tác động quan trọng trong việc giáo dục đạo đức, tư tưởng, tình cảm; bởi vìvăn nghệ chính là tình cảm, văn nghệ tác động vào con người cũng là tác động vàotình cảm Văn nghệ giáo dục con người bằng con đường tình cảm, vì thế mà vănnghệ là vũ khí rất sắc bén

Con đường văn nghệ đến với độc giả, tác động, cải biến độc giả rất tinh tế.Văn nghệ không phải là người thầy thuyết giáo đạo đức mà như một người bạnđồng hành tâm tình, đối thoại với độc giả về những vấn đề nhân cách: lương tri vàtội lỗi, cao thượng và thấp hèn, thiện và ác…Văn nghệ như một tấm gương đểngười đọc tự soi mình nào đó, người đọc hiểu mình và tự thanh lọc tình cảm của

mình theo cái thiện Văn nghệ chuyển quá trình giáo dục thành tự giáo dục Người

đọc say mê vẻ đẹp hình tượng, tự nguyện sống theo vẻ đẹp hình tượng

Cuối cùng cũng cần lưu ý thêm rằng, sở dĩ nghệ thuật dễ tác động, cải biếnđược con người là vì nó hấp dẫn, vui tươi Ở đây dường như giáo dục, giải trí, vuichơi là một Thậm chí chính trong những tác phẩm có vẻ thiếu “nghiêm chỉnh”nhất (như các thể loại hài hước, châm biếm) thì việc giáo dục, trước hết là giáo dụcđạo đức, lại được đặt ra hết sức nghiêm chỉnh Chính vì sức mạnh cải biến, tácđộng của văn học âm thầm mà mãnh liệt như vậy nên rất đòi hỏi ở người nghệ sĩlương tâm, trách nhiệm trước ngòi bút của mình; tránh lối viết cẩu thả để rồi gâynên những tác động xấu đến sự phát triển, hoàn thiện nhân cách của con người

+ Chức năng thẩm mĩ.

Nhìn chung chức năng thẩm mĩ của văn học bộc lộ ở chỗ nó có nhiệm vụthỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người Cần hiểu rằng nhu cầu hưởng thụ cáiđẹp là nhu cầu rất tự nhiên, mang tính bản chất của con người Dù ở đâu, làm gì,khi nào con người cũng luôn có xu hướng vươn tới cái đẹp Thỏa mãn nhu cầu vềcái đẹp không phải chỉ riêng văn học nhưng văn học thiên về cái đẹp nhiều hơn cả

Nhà mĩ học, nhà phê bình văn học nổi tiếng nước Nga Biêlinxki đã nói: “Cái đẹp

là điều kiện không thể thiếu được của nghệ thuật, nếu thiếu cái đẹp thì không có và không thể có nghệ thuật Đó là một định lý”.

Văn học thể hiện chức năng thẩm mĩ, nghĩa là đưa cái đẹp đến với đến vớicon người thông qua hình tượng nghệ thuật Mỗi hình tượng nghệ thuật trong tácphẩm văn học là kết quả sáng tạo độc đáo của người nghệ sĩ sau quá trình công phunhào nặn chất liệu tự nhiên Một Nguyễn Bá Ngọc dũng cảm cứu bạn thoát chết

Trang 7

khỏi bom Mĩ nhưng mình lại hy sinh Một Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗchâu mai cho bộ đội ta tiến lên diệt giặc Pháp Một cuộc đời “nâng niu tất cả chỉquên mình" của Bác Hồ Một tiếng thét “Anh em ơi tuốt gươm ra” để giành lại Tổquốc của Phan Bội Châu Một tiếng chửi của Hồ Xuân Hương “Chém cha cái kiếplấy chồng chung” Một tiếng chim chiền chiện hót trên cao Một áng mây chiềunhè nhẹ trôi trên bầu trời Tất cả đều đẹp! Văn học sẽ giúp ta nhận ra cái đẹp đó.Mặt khác, thấy Sở Khanh ta ghét, Bá Kiến ta thù…Cái ghét cái thù đó cũng đưa tađến với cái đẹp bằng con đường phản cảm Đưa con người đến với cái đẹp, lí luậncoi đó là chức năng thẩm mĩ của văn học.

Vấn đề 2: Phong cách văn học.

* Khái niệm phong cách văn học.

“Thế giới không được tạo lập một lần, mà mỗi lần người nghệ sĩ độc đáo xuất hiện thì lại một lần thế giới được tạo lập” (Mác xen Prút) Chính cái độc đáo

ấy đã tạo nên phong cách văn học, dấu hiệu trưởng thành về bản lĩnh nghệ thuậtcủa một cá nhân nhà văn

Phong cách văn học hay phong cách nghệ thuật nảy sinh do chính nhữngnhu cầu của cuộc sống, bởi vì cuộc sống luôn đòi hỏi sự xuất hiện những nhân tốmới mẻ, những cái không lặp lại Phong cách là những nét riêng biệt, độc đáo củamột tác giả trong quá trình nhận thức và phản ánh cuộc sống, những nét độc đáo ấythể hiện trong tất cả các yếu tố nội dung và hình thức của từng tác phẩm Nói cáchkhác, phong cách là sự thể hiện tài nghệ của người nghệ sĩ trong việc đưa đến chođộc giả một cái nhìn mới mẻ về cuộc đời thông qua những phương thức, phươngtiện nghệ thuật mang đậm dấu ấn cá nhân người sáng tác Vì thế, Buy-phông viết:

“Phong cách chính là người” Trong tác phẩm của Sếch-xpia “mỗi một ưu điểm nhỏ nhất cũng in dấu ấn riêng, dấu ấn đó có thể lập tức nói với toàn thế giới rằng: Tôi là Sếch-xpia” (Lét-xinh).

* Những biểu hiện của phong cách văn học.

Phong cách văn học biểu hiện trước hết ở cách nhìn, cách cảm thụ có tínhchất khám phá, giọng điệu riêng biệt của tác giả Bản thân nghệ thuật (trong đó cóvăn chương) là lĩnh vực của cái mới lạ, cái độc đáo Vì thế nó đòi hỏi rất cao ởngười nghệ sĩ năng lực sáng tạo Quá trình sáng tạo tác phẩm văn học là quá trìnhsản xuất đơn lẻ, cá biệt, nó không chấp nhận sự sản xuất hàng loạt, rập khuôn máymóc Tác phẩm nghệ thuật phải đem đến cho người đọc những điều người ta chưa

rõ, chưa biết, những điều mới lạ trong cuộc sống, hoặc cách khám phá độc đáo từnhững cái đã biết Bản thân nhà văn chân chính không thể dẫm chân lên con đường

người khác đã đi, họ mong muốn được tìm tòi, khám phá, sáng tạo, “khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo nhưng gì chưa có” Viết về đèo Ngang, Phạm Tiến Duật có một cách nhìn mới: “Bao nhiêu người làm thơ đèo Ngang/ Mà không biết con đèo chạy dọc” Thật thú vị! Cách cảm thụ hài hước của Nguyễn Công Hoan khơi ra một điều nghịch lí, nghịch cảnh: “Sự thành công của anh cu Bản đã làm cho vợ anh góa chồng” Giai đoạn văn học 1930-1945 ghi dấu nhiều phong cách

độc đáo bởi cách nhìn, cách cảm thụ có tính khám phá, ở giọng điệu riêng biệt:

Trang 8

Một Thạch Lam “duy cảm” – phám phá con người ở đời sống nhạy cảm của tâm

hồn với những cảm xúc, cảm giác mơ hồ, mong manh, tinh tế; một Nguyễn Tuận

“duy mĩ” – luôn nhìn con người ở phẩm chất tài hoa, nhân cách; một Nam Cao

“duy lí” – tiếp cận con người ở đời sống nội tâm, diễn biến tâm lí tinh vi phức tạp,

khám phá “con người bên trong con người”…

Phong cách văn học là cái thống nhất trong sự đa dạng của sáng tác Cái độcđáo, vẻ riêng phải xuất hiện thường xuyên, lặp đi lặp lại, có tính chất bền vững,nhất quán trong nhiều tác phẩm thì mới tạo nên phong cách Thống nhất từ cốt lõi

nhưng triển khai phải đa dạng, đổi mới (ví dụ: Nguyễn Trãi trong Đại cáo bình Ngô, Quân trung từ mệnh tập rất hào hùng đanh thép, nhưng trong Quốc âm thi tập lại u hoài, trầm lắng, suy tư Hồ Chí Minh trong truyện và kí thì hiện đại,

nhưng thơ chữ Hán lại giàu sắc thái phương Đông cổ kính, thơ tiếng Việt đậm cốtcách dân gian…)

Độc đáo, đa dạng, bền vững mà luôn đổi mới, nhưng phong cách còn phải cóphẩm chất thẩm mĩ, nghĩa là phải đem lại cho người đọc một sự hưởng thụ mĩ cảmdồi dào qua những tác phẩm giàu tính nghệ thuật, hay, sinh động, hấp dẫn Chỉ khi

đó dấu ấn của phong cách trong quá trình văn học mới được ghi nhớ mãi mãi, nóimột cách hình ảnh như nhà thơ Lê Đạt:

Mỗi công dân đều có một dạng vân tay Mỗi nhà thơ thứ thiệt có một dạng vân chữ Không trộn lẫn.

(Vân chữ)

Vấn đề 3: Tiếp nhận văn học.

* Tiếp nhận trong đời sống văn học:

Bên cạnh hoạt động sản xuất ra của cải vật chất để tồn tại và phát triển, loàingười còn có hoạt động sản xuất rất quan trọng đó là sản xuất ra của cải tinh thần.Văn chương nghệ thuật là một trong những dạng sản xuất của cải tinh thần của conngười Quá trình sản xuất ra của cải tình thần – tác phẩm nghệ thuật diễn ra nhưthế nào? Phải chăng khi nhà văn nung nấu ý đồ rồi lập sơ đồ, viết, sửa chữa vàhoàn thành tác phẩm là quá trình sản xuất tinh thần đã hoàn tất? Không phải nhưvậy Hiểu một cách đúng đắn và nghiêm ngặt thì xong khâu sửa chữa, việc sángtạo nghệ thuật mới chỉ hoàn thành được một công đoạn trong cả quá trình sản xuất

Đó là công đoạn hoàn thành văn bản tác phẩm Nếu ví tác phẩm nghệ thuật là đứacon tinh thần của nhà văn, nhà văn thai nghén, mang nặng đẻ đau thì hoàn thànhvăn bản tác phẩm chỉ ứng với lúc đứa con sinh ra, đứa con chào đời Còn sự sống,cuộc đời, số phận của nó thế nào thì chưa được nói đến Số phận của đứa con sẽđược định đoạt như thế nào là tùy thuộc vào nó và xã hội xung quanh Số phận củatác phẩm nghệ thuật như thế nào là tùy thuộc vào nó và những người tiếp nhận nó.Chỉ đến khi được người đọc tiếp nhận thì hoạt động sáng tạo nghệ thuật mới hoàntất Hoạt động sản xuất tinh thần này cũng giống như hoạt động sản xuất vật chất.Chỉ có sử dụng mới hoàn tất hành động sản xuất Một vật phẩm làm ra nhưng

Trang 9

không được đưa vào sử dụng thì nó chẳng có ích lợi gì cho sự sống, nó chẳng cógiá trị gì cả Một tác phẩm nghệ thuật được viết xong nằm im trong ngăn kéo củanhà văn hoặc không được ai đoái hoài tới thì chưa phải là tác phẩm nghệ thuật thực

sự Vì nó chưa được sử dụng Nghệ thuật có chức năng giao tiếp, khi chưa đượcgiao tiếp với người đọc thì nghệ thuật chưa sống đúng với vai trò của nó Quá trìnhgiao tiếp của nghệ thuật là quá trình sử dụng sản phẩm của nghệ thuật, là quá trìnhphát huy tác dụng chức năng của nghệ thuật Quá trình đó xác định con đườngsống, số phận lịch sử của tác phẩm nghệ thuật

Sơ đồ của quá trình sáng tác – giao tiếp của văn chương như sau:

Nhà văn – Tác phẩm – Bạn đọcNhư vậy, có 3 giai đoạn của quá trình sinh tồn tác phẩm văn chương: Giaiđoạn 1 là giai đoạn hình thành ý đồ sáng tác, giai đoạn 2 là giai đoạn sáng tác Đây

là giai đoạn ý đồ sáng tác cộng với tài năng sáng tạo được vật chất hóa trong chấtliệu ngôn ngữ, thành tác phẩm Giai đoạn 3 là giai đoạn tiếp nhận của bạn đọc Đây

là giai đoạn văn bản tác phẩm thoát li khỏi nhà văn để tồn tại một cách độc lậptrong xã hội, trong từng người đọc:

“ Rồi tác phẩm rời anh như con thuyền rời bến.

Sống cuộc đời riêng anh không dự kiến.

Nó trôi đến các thời gian xa, những năm tháng mơ hồ Với ngọn gió anh thổi vào buồm trang giấy lúc xa bờ”.

(Con thuyền – Chế Lan Viên)

Thế nhưng cơ sở nào đem lại sự cảm thông, chia sẻ giữa người đọc và ngườiviết? Trước hết cần được bắt đầu bằng qui luật sáng tạo nghệ thuật Người nghệ sĩcầm bút trước tiên là để giải bày lòng mình Khi những trăn trở, suy nghĩ, day dứt,dằn vặt, vui hay buồn không thể nói với ai thì người nghệ sĩ tìm đến văn học, bởi

“thơ là tiếng lòng”, là tiếng nói hồn nhiên nhất của trái tim Người nghệ sĩ sáng tác

trước hết là cho chính mình và cho những người thực sự hiểu mình mà thôi Phải

Trang 10

chăng vì vậy mà khi Dương Khuê mất, Nguyễn Khuyến đã đắn đo: “Câu thơ nghĩ đắn đo không viết/ Viết đưa ai, ai biết mà đưa” Thế nhưng thơ là “tiếng nói đồng điệu đi tìm những tâm hồn đồng điệu” Nhà thơ đồng thời là bạn đọc thơ, như Tế Hanh nói: Đọc thơ đồng chí ngỡ thơ mình Nhà văn viết tác phẩm như rải phấn

thông vàng đi khắp nơi, mong có người theo phấn mà tìm về Cho nên, bạn đọc làmột mắt xích quan trọng trong chu trình sáng tác – tiếp nhận tác phẩm Bạn đọccũng là người có suy nghĩ, tình cảm, cảm xúc, có niềm vui và nỗi buồn, có cảnhngộ và tâm trạng, nhiều khi bắt gặp sự đồng điệu với nhà văn, nhà thơ Khi hailuồng sóng tâm tình ấy giao thoa thì tác phẩm sẽ rực sáng lên, trở thành nhịp cầunối liền tâm hồn với tâm hồn, trái tim với trái tim Phải chăng vì thế mà Lưu Quí

Kì viết: “Nhà thơ gói tâm tình của mình trong thơ Người đọc mở ra bỗng thấy tâm tình của chính mình” Muốn vậy, người nghệ sĩ ngôn từ phải là người vừa hiểu

mình, vừa hiểu người Hiểu khát khao mà mình muốn hướng tới và hiểu người đọcmong muốn điều gì, nói cách khác là phải thấu hiểu mong muốn, khát vọng, củacon người, phải xem những nhu cầu của người đọc là mục đích sáng tạo của thơca:

Tả một môi son có khi anh chỉ nói sắc sen hồ.

Phải giấu đi tình cảm của anh như ém quân trong rừng vắng.

Chỉ vì anh nghĩ đến người độc giả mai sau có cái thú đi tìm vàng trên trang giấy.

Đang bơi thuyền giữa sen hồ bỗng bắt gặp môi son.

(Tín hiệu – Chế Lan Viên) Văn Cao khi bàn đến vai trò của người đọc đã viết: “Họ không muốn nghe lại những lời đã cũ như không muốn mua lại những đồ cũ mà họ thải đi từ lâu rồi”.

Như vậy, cả Văn Cao và Chế Lan Viên đều nhận ra rằng: Những đòi hỏi của ngườiđọc chính là động lực để người nghệ sĩ phát huy cá tính sáng tạo của mình Và bởingười đọc là người đồng hành trong sáng tạo, là động lực sáng tạo của tác giả nênchính người đọc cũng là người quyết định số phận của tác phẩm văn chương:

“ Những phong thư anh gửi vào hư vô đều bị trả về

Dù tem vẽ các vĩ nhân, thần thánh.

Chi bằng anh đưa cho cô hàng xóm ở hàng rào bên cạnh.

Viết cho người đọc bình thường gần gụi đọc thơ anh”.

(Thơ cao cả - Chế Lan Viên).

Những câu hỏi: Viết cho ai? Viết để làm gì? Viết cái gì? Viết như thế nào?luôn là những câu hỏi mà mỗi người nghệ sĩ ngôn từ cần đặc biệt quan tâm mỗi khicầm bút

Như vậy, tiếng nói tri âm giữa người đọc và người viết là điều văn học dântộc nào, thời đại nào cũng hướng tới Điều đó đặt ra yêu cầu đối với nghệ sĩ phảisáng tác những tác phẩm bằng những cảm xúc chân thành nhất, da diết nhất, hướng

Trang 11

tới và ngợi ca những giá trị Chân Thiện Mĩ muôn đời Và người đọc, hãy sống hếtmình với tác phẩm để hiểu được thông điệp thẩm mĩ của tác giả, để chia sẻ, cảmthông, thấu hiểu nỗi lòng, những khát vọng tác giả gửi gắm Mỗi người hãy runglên khúc đàn Ba Nha và Chung Tử Kì để văn chương mãi mãi tươi đẹp, kì diệu

Vấn đề 4: Mối quan hệ giữa nội dung và hình thức của tác phẩm văn học.

* Sự hài hòa máu thịt giữa nội dung phản ánh và hình thức nghệ thuật.

Nội dung và hình thức vốn là một phạm trù triết học liên quan đến mọi hiệntượng trong đời sống Hình thức tất yếu phải là hình thức của một nội dung nhấtđịnh và nội dung bao giờ cũng là nội dung được biểu hiện qua một hình thức.Không thể có cái này mà không có cái kia và ngược lại Tác phẩm nghệ thuật làmột hiện tượng xã hội, cho nên trong những tác phẩm nghệ thuật có giá trị, nộidung và hình thức luôn luôn thống nhất khăng khít với nhau Có lẽ không ai diễnđạt sự thống nhất chặt chẽ này ấn tượng hơn nhà phê bình văn học Nga Biêlinxki:

“Trong tác phẩm nghệ thuật, tư tưởng và hình thức phải hòa hợp với nhau một cách hữu cơ như là tâm hồn và thể xác, nếu hủy diệt hình thức cũng có nghĩa là hủy diệt tư tưởng và ngược lại cũng vậy” Ông cho rằng: “Khi hình thức là biểu hiện của nội dung thì nó gắn chặt với nội dung tới mức nếu nó tách khỏi nội dung

có nghĩa là hủy diệt bản thân nội dung; và ngược lại, nội dung tách khỏi hình thức, có nghĩa là tiêu diệt hình thức”

Trong tác phẩm văn học, hình thức là cái để biểu hiện nội dung, hình thứcphải phù hợp với nội dung Mối quan hệ này bắt nguồn từ chỗ nhà văn có nhu cầuphát biểu quan điểm, sự đánh giá một nội dung nào đó của hiện thực dưới hìnhthức nghệ thuật Trong mối quan hệ giữa nội dung và hình thức của tác phẩm vănhọc, nội dung đóng vai trò quyết định còn hình thức góp phần làm định hình vàbiểu hiện nội dung đó Trong một tác phẩm cụ thể, nội dung quyết định việc lựachọn hình thức thể loại, ngôn ngữ, nhân vật, kết cấu…Ví dụ: Để diễn tả những cảmxúc của con người đối với thế giới, nghệ sĩ thường tìm đến thể loại trữ tình Vớimục đích răn dạy, giáo huấn về những chân lí đời sống phổ biến, giản dị, thể loạingụ ngôn là hình thức phù hợp Để trình bày dự cảm sâu xa về sự truyền kiếp củanhững số phận như Chí Phèo, Nam Cao đã để cho hình ảnh cái lò gạch cũ xuấthiện đầu và cuối tác phẩm… Nội dung muốn được thể hiện tốt nhất cần phải tìmđược một hình thức phù hợp Do đó, hình thức phù hợp với nội dung trở thành tiêu

chuẩn để đánh giá tác phẩm nghệ thuật Hêghen khẳng định: “Chỉ những tác phẩm nghệ thuật mà nội dung và hình thức đồng nhất với nhau mới là những tác phẩm nghệ thuật đích thực” Ông cũng nói: “Nội dung chẳng phải cái gì khác, mà chính

là sự chuyển hóa của hình thức vào nội dung, và hình thức cũng chẳng có gì khác hơn là sự chuyển hóa của nội dung vào hình thức”.

Nếu một tác phẩm nghệ thuật không đạt được sự thống nhất chặt chẽ ấy thì

sẽ như thế nào? Biêlinxki cho rằng: Dù một bài thơ dù có chất chứa những tư tưởng đẹp đến mấy đi nữa… nhưng nếu trong nó không có tính thơ thì nó cũng chỉ

là một dụng ý đẹp được thực hiện tồi Rêpin cũng nói: Ý tưởng anh đẹp đẽ như vậy nhưng anh vẽ tồi thì anh chỉ làm cho người ta ghê sợ và coi rẻ ý tưởng của anh mà

Ngày đăng: 16/10/2017, 14:48

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w