Qua các tác phẩm văn học, chúng ta sẽ thấy bức tranh đời sống xã hội, con người qua từng thời kì khác nhau và qua một số các tác phẩm trung đại chúng ta đã được học trong chương trình Ng
Trang 1LONG:
Văn học là tấm gương phản ánh hiện thực cuộc sống thông qua lăng kính chủ quan của người viết Qua các tác phẩm văn học, chúng ta sẽ thấy bức tranh đời sống xã hội, con người qua từng thời kì khác nhau và qua một số các tác phẩm
trung đại chúng ta đã được học trong chương trình Ngữ Văn THCS như: Thầy thuốc giỏi cốt nhất ở tấm lòng đã học vào lớp 6; lên lớp 7 chúng ta được học một
số bài thơ trung đại như bài thơ thần Nam quốc Sơn Hà tương truyền của Lý
Thường Kiệt theo sau đó là một loạt các thi phẩm trung đại khác; ở lớp 8 chúng ta được làm quen với một loạt các văn bản nghị luận trung đại ví dụ như: Chiếu dời
đô, Hịch tướng sĩ, Nước Đại Việt ta trích trong Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi rồi Bàn luận về phép học của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp; ngay đầu chương
trình ngữ văn lớp 9 chúng ta lại gặp lại một số tác phẩm trung đại như Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ với đoạn trích Chuyện người con gái Nam Xương hay một số đoạn trích trong Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du rồi hồi thứ 14
trong Hoàng Lê nhất thống chí của nhóm Ngô gia văn phái, sáng tác truyện Lục Vân Tiên với đoạn trích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga của Nguyễn Đình
Chiểu, tất cả những tác phẩm văn học đã nêu ở trên đều thuộc mảng văn học trung đại Việt Nam Và trước khi đi vào tìm hiểu những tác phẩm này chúng ta cần phải
có cái nhìn khái quát nhất tóm lược được những kiến thức cơ bản về nền văn học trung đại Việt Nam Ta có thể thấy ở đó một nền văn học kéo dài 10 thế kỉ-từ thế kỉ
X đến thế kỉ thứ XIX, qua đó chúng ta có thể thấy được hình hài của một thời kì văn học trong lịch sử nghìn năm văn hiến của dân tộc Lạc Việt chứa đựng những
sự kiện, những con người đặc biệt là những áng văn chương bất hủ còn lưu truyền
sử sách cho đến tận ngày hôm nay Phần đầu tiên chúng ta sẽ đi vào tìm hiểu các thành phần của văn học trung đại Việt Nam Văn học trung đại Việt Nam sẽ bao gồm 2 thành phần chính đó là văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm, dĩ nhiên là vào cuối thế kỉ XIX những sáng tác văn học bằng chữ Quốc ngữ đã ra đời tuy nhiên những tác phẩm văn học này chưa thực sự đạt được những thành tựu đánh kể thế nên về cơ bản văn học trung đại sẽ bao gồm 2 thành phần chính đó là văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm Trước hết về văn học chữ Hán đây là các sáng tác bằng chữ Hán của người Việt, văn học chữ Hán xuất hiện rất sớm, tồn tại trong suốt quá trình hình thành và phát triển của văn học trung đại Văn học chữ Hán bao gồm cả thơ và các tác phẩm văn xuôi, chủ yếu các tác phẩm viết bằng chữ Hán tiếp thu các thể loại từ văn học trung quốc như văn biền ngẫu, chiếu, biểu, hịch, cáo, tấu, phú, thơ Đường luật, thơ cổ phong,…Về văn học chữ Nôm Là các sáng tác viết bằng chữ Nôm Và ra đời vào khoảng cuối thế kỉ thứ XIII Văn học chữ Nôm
Trang 2chủ yếu là thơ, rất ít các tác phẩm viết bằng văn xuôi, phần lớn các tác phẩm viết bằng chữ Nôm đều sử dụng các thể loại văn học dân tộc, các khúc ngâm, các
truyện thơ hay các bài hát nói được viết bằng thể lục bát hay song thất lục bát Có thể thấy 2 thành phần của văn học trung đại là văn học chữ Hán và chữ Nôm có mối quan hệ cùng nhau song song tồn tại để làm nên diện mạo của nền văn học trung đại Việt Nam Phần tiếp theo, chúng ta sẽ cùng đi vào tìm hiểu các giai đoạn phát triển của văn học trung đại Việt Nam
CHÂU:
Trong suốt 10 thế kỉ có thể chia văn học Việt Nam thành 4 giai đoạn: giai đoạn đầu tiên từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIV-đây là giai đoạn đất nước ta đã giành được rất nhiều thắng lợi trong các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược như Tống, dân tộc đã dành được độc lập tự chủ bắt đầu quá trình xây dựng quốc gia thống nhất và chúng có thể thấy ở thời kì này hệ thống xã hội phong kiến phát triển rực
rỡ nhất Vậy thì bối cảnh xã hội có ảnh hưởng như thế nào đối với nội dung và nghệ thuật của văn học trung đại Trong giai đoạn này văn học khôi phục lại nền văn hiến đặt nền móng cho sự phát triển của văn học trung đại, tinh thần yêu nước
và hào khí của thời đại trở thành nội dung quan trọng nhất của văn học lúc bấy giờ Chúng ta có thể thấy nổi lên là Hào khí Đông A của thời đại nhà Trần-một thời đại
đã 3 lần đánh thắng giặc Mông-Nguyên xâm lược-đội quân hùng mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ Văn học chữ Hán trong giai đoạn này đóng vai trò chủ đạo và văn học chữ Nôm mới bắt đầu đặt viên gạch đầu tiên trên chặng đường phát triển của mình Một số những tác phẩm và tác giả của thế kỉ X-thế kỉ thứ XIV mà chúng ta
đã được giới thiệu ví dụ như: Lý Thường Kiệt với bài thơ thần Sông núi nước Nam,
Lý Công Uẩn với Chiếu dời đô, Trần Quốc Tuần với Hịch tướng sĩ hay Phò giá về kinh của Trần Quang Khải chúng ta đã giới thiệu trong chương trình ngữ văn lớp 7
và lớp 8 Giai đoạn thứ 2 là giai đoạn từ thế kỉ XV-thế kỉ thứ XVII, trong giai đoạn này chúng ta cần phải chú ý một số nét cơ bản, về bối cảnh xã hội, triều Lê đã được thiết lập sau chiến thắng giặc minh xâm lược trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn vào cuối năm 1427-đầu năm 1428 Xã hội phong kiến thịnh trị ở thời gian đầu nhưng cho đến khoảng cuối thế kỉ XVI bắt đầu xuất hiện những dấu hiệu khủng hoảng Nội dung và nghệ thuật chủ yếu của giai đoạn này đó chính là nội dung yêu nước
mang âm hưởng ngợi ca mà tiêu biểu là Bình Ngô đại cáo - áng thiên cổ hùng văn
của dân tộc do Nguyễn Trãi sáng tác nhưng đồng thời văn học giai đoạn này cũng xuất hiện thêm nội dung nữa đó chính là phê phán xã hội phong kiến Văn học chữ Hán tiếp tục phát triển với rất nhiều những thể loại như: văn xuôi, chính luận hay
văn tự sự mà tiêu biểu đó chính là Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ Văn học chữ
Trang 3Nôm việt hóa các thể loại tiếp thu từ văn học Trung Quốc, sáng tạo thêm những thể loại của văn học dân tộc và chúng ta đã có 1 thành tựu được coi là bông hoa thơ
Nôm đầu mùa của thơ cả cổ điển bằng tiếng Việt đó chính là Quốc âm thi tập của
Nguyễn Trãi Một số những tác phẩm và tác giả tiêu biểu trong giai đoạn này phải
kể đến như Nguyễn Trãi với Đại cáo Bình Ngô và Quốc âm thi tập, Nguyễn Dữ với Truyền kì mạn lục Giai đoạn thứ 3 đó chính là thế kỉ XVIII-nửa đầu thế kỉ
XIX, bối cảnh xã hội của giai đoạn này đó là chế độ phong kiến bước vào thời kì khủng dẫn một cách trầm trọng dẫn đến suy thoái, phong trào đấu tranh của nông dân nổ ra khắp nơi, các cứ chiến tranh liên miên khiến cho đời sống nhân dân vô cùng cực khổ, trong khi đó quan lại vua chúa lại ăn chơi xa đọa, đỉnh cao của các cuộc khởi nghĩa nông dân là cuộc khởi nghĩa Tây Sơn do người anh hùng áo vải cờ đào Quang Trung-Nguyễn Huệ chỉ huy Nội dung và nghệ thuật chủ yếu trong giai đoạn này đó chính là xuất hiện một trào lưu mới trong văn học là chủ nghĩa nhân đạo, văn học lúc bấy giờ đã quan tâm nhiều hơn đến số phận con người đặc biệt là
số phận người phụ nữ Văn học đã đạt được một số những thành tựu nghệ thuật lớn
như là văn xuôi tự sự, các tác phẩm kí và tùy bút, trong đó phải nhắc đến Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ Văn học chữ nôm đã đạt tới đỉnh cao với những tác
phẩm thơ nôm đường luật, những khúc ngâm song thất lục bát hay truyện thơ lục bát Văn học lúc bấy giờ được coi là nền văn học cổ điển với những thành tựu về
cả nội dung và cả nghệ thuật gắn liền với các tác giả và tác phẩm lớn như: Nguyễn
Du với Truyện Kiều , tác phẩm thơ của bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương, Đặng Trần Côn với Chinh phụ ngâm Và giai đoạn cuối cùng chính là giai đoạn nửa cuối
thế kỉ XIX, đây là giai đoạn thực dân Pháp đã tiến hành xâm lược nước ta chính thức vào năm 1858, xã hội Việt Nam đã chuyển dần sang xã hội thực dân nửa phong kiến và chúng ta không chỉ đơn giản chịu ảnh hưởng văn hóa văn học Trung Quốc mà đã bắt đầu có những ảnh hưởng văn hóa phương Tây đặc biệt là văn hóa văn học Pháp Về nội dung và nghệ thuật văn học lúc bấy giờ nổi lên đó chính là cảm hứng yêu nước nhưng không còn mang âm điệu hào hùng, ngợi ca giống như giai đoạn đầu tiên từ thế kỉ X - thế kỉ XIV nữa Vào lúc bấy giờ văn học yêu nước mang âm hưởng bi tráng thơ trữ tình trào phúng đạt được những thành tựu xuất sắc, văn học chữ quốc đã ra đời bên cạnh văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm, tuy nhiên ta vẫn thấy được vai trò quan trọng của văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm, vào lúc bấy giờ văn học đã đổi mới theo hướng hiện đại hóa, một số những tác phẩm và tác giả tiêu biểu trong giai đoạn này phải kể đến như: Nguyễn Đình
Triểu với Văn tế nghĩa sĩ cần giuộc hay Truyện Lục Vân Tiên hay thơ trữ tình trào
phúng phải nhắc đến 2 tên tuổi lớn là Nguyễn Khuyến và Tú Xương
Trang 4THẢO:
Vừa rồi ta đã cùng tìm hiểu về 4 giai đoạn phát triển của văn học trung đại Việt Nam trong 10 thế kỉ từ thế kỉ X cho đến hết thứ kỉ XIX, vậy văn học trung đại Việt Nam có những đặc điểm lớn nào về mặt nội dung? Chúng ta có thể thấy văn học thể hiện rất rõ 3 mảng nội dung lớn, thứ nhất là chủ nghĩa yêu nước, thứ hai là chủ nghĩa nhân đạo và thứ ba đó là cảm hứng thế sự Trong đó, chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân đạo được coi là 2 sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong toàn bộ nền văn học trung đại Việt Nam nói riêng và văn học Việt Nam nói chung Phần đầu tiên đó là
về chủ nghĩa yêu nước trong văn học trung đại Do đặc thù văn học trung đại Việt Nam gắn liền với các triều đại phong kiến nên 1 trong những đặc điểm của chủ nghĩa yêu nước trong văn học trung đại đó là gắn liền với tư tưởng trung quân ái quốc-trung thành với vua là yêu nước, phải yêu nước trước hết phải trung thành với vua Chủ nghĩa yêu nước được biểu hiện ở rất nhiều khía cạnh khác nhau ví dụ như: ý thức độc lập tự chủ, tự cường, tự hào dân tộc; lòng căm thù giặc, tinh thần quyết chiến, quyết thắng kẻ thù; tự hào trước chiến công thời đại; tự hào trước truyền thống lịch sử, biết ơn, ca ngợi những người hi sinh vì nước và đặc biệt được thể hiện qua tình yêu thiên nhiên đất nước cũng là một biểu hiện của chủ nghĩa yêu nước Phần tiếp đó là chủ nghĩa nhân đạo, chủ nghĩa nhân đạo có hạt nhân đó là lòng yêu thương con người, các tác giả trong văn học trung đại đặc biệt giai đoạn
từ cuối thế kỉ XVIII đã quan tâm nhiều hơn đến quyền sống, quyền tự do, quyền hạnh phúc của con người, đặc biệt các tác giả đã dùng ngòi bút của mình để lên án
tố có các thế lực tàn bạo chà đạp lên con người, đồng thời khẳng định, đề cao giá trị con người cũng như đề cao quan hệ đạo đức, lối sống tốt đẹp giữa người với
người Điều này được thể hiện rất rõ trong các tác phẩm như Truyện Kiều của Nguyễn Du, Truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu hay Truyền kì mạn lục trong đó có Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ Phần đặc điểm thứ
ba về nội dung đó chính là cảm hứng thế sự Cảm hứng thế sự là hướng tới phản ánh hiện thực đời sống, những biệu hiện của cảm hứng thế sự trong văn học trung đại: nó được bắt đầu từ cuối thời Trần (thế kỉ XIV), lúc bấy giờ nhà Trần đã có những dấu hiệu suy thoái, văn học bắt đầu phản ánh cuộc sống đau khổ của nhân dân Thứ hai, cảm hứng thế sự được bộc lộ qua những bài thơ về nhân tình thế thái của Nguyễn Bỉnh Khiêm ở thế kỉ XVI Thứ ba, văn học ghi lại “những điều trông thấy” trong “Thượng kính kí sự” của Lê Hữu Trác hay “Vũ trung tùy bút” của Phạm Đình Hổ Và đặc biệt đó là bức tranh đời sống nông thôn trong thơ của
Nguyễn Khuyến và hình ảnh xã hội thành thị trong thơ Tú Xương Trong giai đoạn này, ta có thể thấy cảm hứng thế sự chính là một tiên đề để góp phần cho sự ra đời
Trang 5của văn học hiện thực thời kì sau Vậy thì văn học trung đại Việt Nam sẽ có những đặc điểm lớn nào về mặt nghệ thuật? Ta có thể thấy văn học trung đại thể hiện rất
rõ 3 đặc điểm lớn về mặt nghệ thuật Đặc điểm đầu tiên đó là tính quy phạm và phá
vỡ tính quy phạm Đặc điểm thứ hai về mặt nghệ thuật là khuynh hướng trang nhã
và xu hướng bình dị Và đặc điểm thứ ba, văn học Việt Nam luôn tiếp thu và dân tộc hóa tinh hoa văn học nước ngoài cụ thể là văn học Trung Quốc Phần đầu tiên
là tính quy phạm và phá vỡ tính quy phạm, ta có thể thấy tính quy phạm là những quy định chặt chẽ theo khuôn mẫu Trong văn học trung đại Việt Nam, chúng ta có thể thấy tính quy phạm được biểu hiện ở những khía cạnh sau: đầu tiên về quan điểm văn học, văn học trung đại luôn coi trọng mục đích giáo huấn Thi sĩ ngôn chí, văn sĩ tài đạo tức là làm thơ để nói chí hướng của con người và viết văn để thể hiện đạo lí Biểu hiện thứ hai của tính quy phạm đó là ở tư duy nghệ thuật, văn học trung đại luôn theo kiểu mẫu nghệ thuật có sẵn đã thành công thức, ví dụ như khi nói về buổi chiều chắc chắn sẽ xuất hiện những thi liệu rất quen thuộc như hình ảnh cánh chim, hình ảnh chòm mây Về thể loại văn học, văn học trung đại theo quy định chặt chẽ về kết cấu của các thể loại, ví dụ 1 bài thơ thất ngôn bát cú bắt buộc phải có đúng 8 câu, mỗi câu 7 chữ và được bố cục theo cấu trúc đề-thực-luận-kết Về sử thi liệu, văn học trung đại rất ưa sử dụng các điển cố, điển tích và những văn liệu quen thuộc đặc biệt là hán văn Tuy nhiên, chúng ta cũng cần phải thấy có những tác giả lớn họ đã phá vớ tính quy phạm để phát huy cá tính sáng tạo của mình có thể kể đến như Nguyễn Trãi hay Hồ Xuân Hương Đặc điểm thứ hai về văn học nghệ thuật của trung đại chính là khuynh hướng trang nhã và xu hướng bình dị Ta có thể thấy khuynh hướng trang nhã được thể hiện ở đề tài, chủ đề, thường được hướng tới cái cao cả , trang trọng hơn là cái đời thường bình dị Thứ hai về hình tượng nghệ thuật, bao giờ văn học trung đại cũng thích sự tao nhã, mĩ
lệ hơn là đơn sơ, mộc mạc Về ngôn ngữ, văn học trung đại thường thể hiện, sử dụng ngôn ngữ cao quý, trau chuốt hơn là ngôn ngữ thông tục, tự nhiên, gần gũi với đời sống Tuy nhiên cũng phải thấy rằng văn học đang ngày càng gắn bó với hiện thực, vì vậy mà văn học trung đại Việt Nam càng về sau càng thể hiện được ngôn ngữ rất tự nhiên và bình dị, đó chính là biểu hiện xu hướng bình dị trong văn học trung đại Việt Nam Có thể thấy văn học trung đại Việt Nam ảnh hưởng rất lớn
từ nền văn hóa, văn học nước ngoài đó chính là nền văn học Trung Quốc Tuy nhiên bên cạnh việc tiếp thu văn học Trung Quốc thì chúng ta cũng đã thể hiện sự sáng tạo cũng như dân tộc hóa tinh hoa văn học nước ngoài Về mặt tiếp thu, văn học trung đại Việt Nam đã tiếp thu ngôn ngữ chính là chữ Hán Về thể loại, chúng
ta có tiếp thu các thể thơ, văn xuôi, văn biền ngẫu của văn học Trung Quốc Về thi liệu chúng ta cũng sử dụng nhiều những điển cố, những thi liệu hán văn Bên cạnh
Trang 6đó, văn học trung đại Việt Nam cũng có những nét riêng, đặc sắc thể hiện tinh thần dân tộc đó chính là ở việc dân tộc hóa tinh hoa văn học nước ngoài Chúng ta đã sáng tạo ra chữ Nôm-một thứ ngôn ngữ riêng của người Việt để ghi âm tiếng Việt Chúng ta cũng đã việt hóa thể thơ Đường luật và sáng tạo các thể thơ dân tộc Và đồng thời trong quá trình sáng tác, tác giả cũng ý thức được việc sử dụng lời ăn tiếng nói, cách diễn đạt của nhân dân trong sáng tác Như vậy trong suốt 10 thế kỉ, văn học trung đại Việt Nam đã phát triển trong sự gắn bó với vận mệnh đất nước, nhân dân Cùng với văn học dân gian, văn học trung đại góp phần làm nên diện mạo hoàn chỉnh và đa dạng của văn học dân tộc ngay từ buổi đầu, tạo cơ sở vững chắc cho sự phát triển của văn học ở những thời kì sau
CHÂU:
Trong số vô vàn những áng văn thơ trung đại được lưu lại còn tồn tại đến ngày nay, vượt qua mọi quy luật băng hoại của thời gian, chúng ta phải nhắc đến tác phẩm Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du đã phản ánh phần nào chân thực nhất về xã hội trung đại Việt Nam Vì vậy, chúng ta sẽ cùng nhau đi tìm hiểu sâu
hơn về Đoạn trường tân thanh-tiếng kêu mới đau đứt ruột của Tố Như
Quay ngược bánh xe thời gian trở về quá khứ để chúng ta cùng tìm hiểu bối cảnh
lịch sử mà Truyện Kiều ra đời Từ đầu thế kỉ XVI, nhất là vào những năm
1509-1527, đất nước của chúng ta cực kì hỗn loạn Năm 1509-1527, nhà Mạc nghênh ngang vào chiếm Thăng Long, lạnh lùng làm sự thoán đoạt (usurpation), gây ra cảnh bắc Mạc, nam Lê Nhờ sự phù tá đắc lực của Trịnh Tùng, nhà Lê khôi phục Thăng Long năm 1592, đẩy lui quân nhà Mạc về miền rừng núi ; nhưng từ năm 1599 trở
đi, khi các tướng Trịnh được mang tước Vương, nhà Lê bắt đầu suy yếu, để mặc cho vận nước bị thao túng trong tay các chúa Trịnh Cảnh bắc Trịnh, nam Nguyễn diễn ra tàn khốc; cạnh tranh kịch liệt, thù hận ngất trời, nhất là khi năm 1558
Nguyễn Hoàng vào trấn đất Thuận Hóa, năm 1611 lập Phủ Phú Yên, và năm 1620 đình chỉ việc tuế cống Năm 1627, bùng nổ một cuộc chiến tranh Trịnh Nguyễn lần đầu tiên, và kéo lài đến cuộc chiến thứ 7 năm 1672 Nhà Nguyễn đóng đô ở Phú Xuân năm 1687, lập ra một chế độ tương đối dễ thở hơn miền Bắc, và bắt đầu thu hút các nhân tài Đàng ngoài, như Đào Duy Từ, vào Đàng trong Cảnh phát triển đất nước ở Miền Nam đang diễn ra tốt đẹp thì năm 1771, anh em Tây Sơn bắt đầu xuất hiện Năm 1772 hạ Thành Quy Nhơn, năm 1776 hạ Thành Gia Định Năm 1778, Nguyễn Nhạc lên ngôi vua ở Quy Nhơn Năm 1785, chiến thắng của Nguyễn Huệ
ở Rạch Gầm, Xoài Mút tạo điều kiện cho ông chiếm Thuận Hóa năm 1786 rồi ra Bắc ào ạt tiến vào Thành Thăng Long Nghiệp nhà Trịnh sụp đổ, làm sụp đổ ngay sau đó cả một hệ thống tư tưởng khuôn theo những giáo điều cứng nhắc của Tống Nho lạc hậu Năm 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi vua ở Phú Xuân, lấy niên hiệu là Quang Trung, rồi ào ào tiến quân ra Bắc năm 1789, dẹp tan quân Thanh trong một
Trang 7trận chiến oai hùng Sự thăng hà đột ngột của Vua Quang Trung năm 1792 làm băng giá mọi thiện chí, trong khi Nguyễn Ánh phản công dữ dội, giành lại Gia Định năm 1788, hạ Thành Huế năm 1801 và năm 1802, rầm rộ kéo quân vào
Thăng Long, thiết lập giang sơn nhà Nguyễn Mộng thống nhất quốc gia của các nhà chính trị được thực hiện, nhưng sự vinh quang của họ không làm cho đời sống nhân dân sáng sủa hơn mà chỉ có tác dụng bần cùng hóa mọi tầng lớp xã hội Bốn phương đã phẳng lặng thực chưa? Tại sao lại có chuyện hai kinh vững vàng? Công đức bình thành có được người dân đội lên đầu không hay chỉ giam hãm họ trong một đời sống tang tóc?
Vậy chính xác hoàn cảnh Truyện Kiều ra đời vào thời gian nào? Chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu hoàn cảnh sáng tác của một trong những tác phẩm giúp
Nguyễn Du trở thành danh nhân văn hóa thế giới Truyện Kiều được Nguyễn Du thai ghén vào những năm 1797 sau khi bị tướng Tây Sơn bắt giam 3 tháng rồi tha
về vì liên tài Về Tiên Điền sau đó, giữa cảnh non sông hùng vĩ của đất Hồng Lam, những biến động về chính trị đã làm cho tâm hồn ông nao nao xúc động Chắc là nhà thơ của chúng ta đã nhiều lần tự hỏi mình: Tại sao ta lại muốn vào Nam để giúp Nguyễn Ánh? Tại sao ta lại bỏ nhà Lê? Tại sao ta chống nhà Tây Sơn mà tướng Tây Sơn lại cứu ta? Ông nhìn về tương lai mịt mù dặm cát đồi cây Ông chỉ
là một cánh “Hoa trôi man mác biết là về đâu?”Xã hội của ông, xã hội thời Lê mạt, chìm đắm trong bầu không khí u trầm ngột ngạt Đó là bối cảnh lịch sử của Truyện Kiều Ta thử đi vào chi tiết Có nhiều giả thuyết xoay quanh hoàn cảnh ra đời của Truyện Kiều Có thuyết nói Nguyễn Du viết Truyện Kiều sau khi đi sứ Trung Quốc (1814-1820) (ý kiến của nhà nghiên cứu văn học Hoàng Xuân Hãn) Hoàng Xuân Hãn cho rằng, Nguyễn Du đi xứ Trung Quốc đã tiếp cận được với Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân Trên cơ sở đó, đã tiếp biến mà viết ra Truyện Kiều Có thuyết lại cho rằng ông viết trước khi đi sứ, có thể vào khoảng cuối Lê đầu Tây Sơn (ý kiến của học giả Đào Duy Anh) Học giả Đào Duy Anh căn cứ vào những ghi chép trong Đại Nam liệt truyện và đưa ra nhận định Sách này có đoạn:
“Ông giỏi thơ lại sành quốc âm, sau khi đi xứ về có Bắc hành thi tập và truyện Thúy Kiều còn lại đến ngày nay” Đào Duy Anh phản bác: “Liệt truyện căn cứ vào khẩu truyền thiếu chính xác nên đã ghi là Bắc hành thi tập và truyện Thúy Kiều như nhân gian thường gọi chứ không ghi chính xác là Bắc hành tạp lục và Đoạn trường tân thanh đúng tên gốc của nó” Thuyết sau được nhiều người chấp nhận hơn Các học giả bằng việc khảo cứu tài liệu trong và ngoài nước tiếp tục truy nguyên nguồn gốc ra đời của Truyện Kiều Dựa trên đó có thể khẳng định chắc chắn rằng Nguyễn Du có tiếp cận và tiếp biến cốt truyện tác phẩm Kim-Vân-Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân Còn việc Nguyễn Du viết truyện Kiều khi nào vẫn còn chưa thấu rõ Ngay sau khi ra đời, Truyện Kiều được nhiều nơi khắc in và lưu hành rộng rãi Hai bản in xưa nhất hiện còn là bản của Liễu Văn Đường (1871)
và bản của Duy Minh Thị (1872), đều ở thời vua Tự Đức Truyện dựa theo bộ
Trang 8truyện văn xuôi Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, lấy bối cảnh Trung Quốc thời vua Gia Tĩnh Đế đời nhà Minh (từ năm 1521 tới năm 1567) Có một số nhân vật như tổng đốc Hồ Tôn Hiến, kỹ nữ Vương Thúy Kiều, nhân vật Từ Hải là có thật trong lịch sử
THẢO:
Tiếp theo chúng ta sẽ cùng đi vào tìm hiểu đôi nét về Nguyễn Du-bậc đại thi hào của dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới được UNESCO công nhận, tác giả của
Đoạn trường tân thanh (đọc slide) Để hiểu rõ hơn về tác phẩm, chúng ta phải tóm
lược được nội dung của 3254 câu lục bát, xin mời các bạn cùng xem đoạn phim vô cùng thú vị Sau khi đón xem đoạn phim tóm lược về câu chuyện xung quanh nàng Kiều của Nguyễn Du, ta thấy được hiện lên nổi bật giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của tác phẩm Thứ nhất về giá trị hiện thực(đọc slide) Thứ hai về giá trị nhân đạo của tác phẩm(đọc slide) Không chỉ dừng lại ở đó Truyện Kiều của Nguyễn Du còn đặc sắc hơn bởi những nghệ thuật (đọc slide)
LONG:
Tuy Truyện Kiều ra đời vào thời điểm, thời đại xã hội nhạy cảm và nhận lại vô vàn những chỉ trích và ý kiến trái chiều, song vượt qua mọi sự băng hoại của thời gian, Truyện Kiều của Nguyễn Du đã khẳng định vị trí của mình trong nền văn học nước nhà và vang danh thế giới góp phần tạo nên tên tuổi của danh nhân văn hóa Nguyễn Du Cùng nhau đi tìm hiểu một số lời bình mà chúng mình đã tìm được Nhà thơ Chế Lan Viên từng viết “những đền xưa đổ nát dưới Thời Gian”, song có
lẽ Truyện Kiều đị ngược lại với quy luật đó bởi lẽ nó đã vượt lên trên mọi định luật tàn phá của thời gian bằng sức sống bền bỉ tồn tại trong tâm thức của dân tộc Việt trong suốt hơn 2 thế kỉ (đọc slide) Cho đến nay ''Truyện Kiều'' vẫn là hòn ngọc sáng nhất và là đỉnh cao chói lọi nhất của tiếng nói Việt Nam, của văn học dân tộc Thiên tuyệt bút này của Nguyễn Du là sự kết tinh tinh hoa của cả quá trình mấy trăm năm hình thành và phát triển nền văn học cổ điển viết bằng ngôn ngữ dân tộc ''Truyện Kiều'' cũng được xem là hòn đá tảng, đặt nền móng cho sự phát triển của nghệ thuật văn học dân tộc sau này Văn học Việt Nam, thậm chí văn học thế giới,
ít có tác phẩm nào chinh phục được tình cảm của đông đảo người đọc đến như vậy Trong suốt hai thế kỷ qua, ''Truyện Kiều'' đã trở thành cuốn sách "gối đầu giường," thậm chí được xem là cuốn "thánh kinh" của người Việt Ngôn từ trong ''Truyện Kiều'' được dùng rộng rãi trong các sinh hoạt văn hóa của mọi tầng lớp nhân dân như ngâm Kiều, vịnh Kiều, bình Kiều, lẩy Kiều, trò Kiều, chèo Kiều, cải lương Kiều, tranh Kiều, bói Kiều… và cả trong những làn điệu ví giặm đặc sắc của người dân địa phương vùng Nghệ Tĩnh vừa được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại Hàng loạt nhân vật của ''Truyện Kiều'' như Kiều,
Từ Hải, Hoạn Thư, Tú Bà… đã bước ra khỏi các trang sách, trở thành biểu trưng cho vẻ đẹp thể chất và tâm hồn, một hạng người hay một nét tính cách trong xã hội Nhiều câu Kiều mang ý nghĩa khái quát những triết lý nhân sinh sâu sắc về các
Trang 9mối quan hệ xã hội, về cuộc đời, về số phận con người và về những cảnh huống của đời người "Ma lực" của các con chữ mạnh tới mức người đọc cảm thấy "ứng vận," thấy mình đâu đó trong các cảnh ngộ, thân phận, hạnh phúc khổ đau của các nhân vật''Truyện Kiều.'' Sinh thời, Nguyễn Du từng đau đớn thốt lên rằng: "Ba trăm năm nữa ta đâu biết/ Thiên hạ ai người khóc Tố Như?" để thể hiện tâm trạng
cô đơn đến tuyệt cùng giữa nhân tình thế thái Tuy nhiên, kể từ khi nhà thơ từ giã cõi trần, kho di sản văn thơ vô giá của người, đặc biệt là''Truyện Kiều,'' đã trở thành "nguồn mạch dân tộc" và là một phần máu thịt trong đời sống tâm hồn của dân tộc Việt Nam "Đoạn trường tân thanh" sẽ tiếp tục trường tồn cùng dân tộc, đồng thời không ngừng lan tỏa và không ngừng được khám phá trên toàn thế giới Xin cảm ơn tất cả các bạn đã chăm chú lắng nghe trong suốt quá trình nhóm mình thuyết trình, mong rằng những tri thức mà nhóm mình đã tổng kết sẽ giúp ích các bạn trong quá trình học tập và nghiên cứu mảng văn học trung đại Việt Nam Phần thuyết trình của nhóm mình tới đây là kết, rất mong có những ý kiến đóng góp từ các bạn