1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

VÀI NÉT VỀ CÁC PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN TÌNH VỢ CHỒNG TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM

11 51 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bài viết này, chúng tôi đề cập đến một số phương thức thể hiện tình cảm vợ chồng trong văn học trung đại Việt Nam cụ thể là hai phương thức cơ bản: tự bạch (các tác giả tự giãi b[r]

Trang 1

Tập 183, số 07, 2018

Trang 2

T¹p chÝ Khoa häc vµ C«ng nghÖ

CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI – NHÂN VĂN – KINH TẾ

Hoàng Thị Phương Nga - Mô hình du lịch văn học “Làng Vũ Đại ngày ấy” 3

Phạm Thị Thu Hoài, Trần Thị Thanh - Tiếng lóng trong truyện về đề tài giáo dục của Văn Thành Lê 9 Ngô Thị Thanh Nga, Phạm Thị Hồng Vân - Vài nét về các phương thức thể hiện tình vợ chồng trong văn

Nguyễn Thị Thắm, Nguyễn Minh Sơn - Ý thức đối thoại của Nguyễn Ngọc Tư với văn học truyền thống thông

qua những nhân vật nữ trong tập truyện Không ai qua sông 21 Đặng Thị Thùy, Nguyễn Diệu Thương - Lô gích của các hiện tượng “phi lô gích” trong ca dao, tục ngữ

Đinh Thị Giang - Những nhân tố ảnh hưởng đến lối sống của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ hiện nay 33 Nguyễn Diệu Thương, Nguyễn Thị Lan Hương - Phương thức tạo hàm ý trong tiểu phẩm trào phúng 39

Nguyễn Thu Quỳnh, Vì Thị Hiền - Từ ngữ chỉ đồ gia dụng trong tiếng Thái ở tỉnh Điện Biên 45 Nguyễn Thị Thu Oanh, Hoàng Thị Mỹ Hạnh - Vị thế, vai trò cầm quyền của Đảng Cộng Sản Việt Nam giai

đoạn 1945 - 1975 và một số bài học kinh nghiệm 51

Đỗ Hằng Nga, Phạm Quốc Tuấn - Việc thu thuế trong làng xã qua tư liệu hương ước cải lương tỉnh Thái Nguyên 57

Lê Văn Hiếu - Hiệu quả hoạt động của mô hình “ban tuyên vận” xã, phường, thị trấn và “tổ tuyên vận” thôn, bản, tổ

dân phố ở tỉnh Lào Cai trong giai đoạn hiện nay 63 Thái Hữu Linh, Nguyễn Thị Thu Hiền, Nguyễn Thị Thanh Hà - Vai trò của hậu phương Bắc Thái trong cuộc

Phạm Anh Nguyên - Sức hấp dẫn trong Hài đàm của Phan Khôi 73 Nguyễn Thị Hường, Nguyễn Thị Mão, Nguyễn Tuấn Anh - Nâng cao hiệu quả tổ chức các hoạt động ngoại

khoá trong dạy học môn giáo dục công dân ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Thái

Nguyễn Văn Dũng, Đào Ngọc Anh - Thực trạng thể chất của sinh viên không chuyên thể dục thể thao Trường

Đại hoc Sư phạm – Đại học Thái Nguyên 85 Trần Bảo Ngọc, Lê Ngọc Uyển, Bùi Thanh Thủy và cs - Thực trạng xếp loại tốt nghiệp sinh viên diện cử

tuyển ở trường Đại học Y Dược – Đại học Thái Nguyên giai đoạn 2013-2017 91 Nguyễn Thúc Cảnh - Nghiên cứu xây dựng hệ thống bài tập có nội dung thực tế trong giảng dạy cơ học cho

Hà Thị Kim Linh, Chu Thị Bích Huệ - Giáo dục kiến thức pháp luật cho phụ nữ vùng dân tộc thiểu số ở huyện

Nguyễn Thị Thanh Hồng, Nguyễn Thị Khánh Ly, Vũ Kiều Hạnh - Tăng cường sự tham gia của sinh viên

vào các hoạt động học tiếng Anh trong lớp học đông nhiều trình độ của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học

Phạm Thị Huyền, Vũ Thị Thủy - Vận dụng phong cách nêu gương theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng

phong cách làm việc đối với cán bộ chủ chốt ở nước ta hiện nay 117 Đàm Quang Hưng - Thiết kế bài học khoa học lớp 4, lớp 5 theo hướng tìm tòi thực nghiệm 123 Hoàng Thị Thu Hoài - Những khó khăn trong việc dạy và học từ vựng tiếng Anh chuyên cho sinh viên chuyên

ngành điều dưỡng, trường Cao đẳng Y tế Thái Nguyên và một số giải pháp đề xuất 129

Journal of Science and Technology

183 (07)

N¨m 2018

Trang 3

Nguyễn Lan Hương, Văn Thị Quỳnh Hoa - Những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng nói tiếng Anh của sinh

viên năm thứ nhất trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên 135

Vũ Kiều Hạnh - Những yếu tố quyết định đến mức độ đọc hiểu của sinh viên năm thứ hai tại trường Đại học

Nguyễn Thị Quế, Hoàng Thị Nhung - Hỏi đúng để tự học và học tập cộng tác thành công – hướng tới xây

dựng người học ngoại ngữ độc lập trong bối cảnh hội nhập khu vực và quốc tế 147 Ngô Thị Thu Hà, Nguyễn Thị Hoài Thu - Ứng dụng các phương pháp giảng dạy tích cực nhằm nâng cao chất

lượng dạy – học tiếng Việt cho học viên quốc tế tại Học viện Kỹ thuật Quân sự 153 Dương Văn Tân - Đánh giá hiệu quả áp dụng trò chơi vận động trong phát triển thể lực chung cho sinh viên

trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp – Đại học Thái Nguyên 159 Bùi Thị Hương Giang - Nâng cao năng lực giao tiếp giao văn hóa trong dạy và học ngoại ngữ 165 Trần Hoàng Tinh, Nông La Duy, Phạm Văn Tuân - Xây dựng trung đội tự quản trong quản lý giáo dục tính

kỷ luật cho sinh viên tại trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh trong giai đoạn hiện nay 171 Trần Thị Yến, Khổng Thị Thanh Huyền - Sử dụng hình thức đọc chuyên sâu để nâng cao khả năng viết học

thuật cho sinh viên chuyên ngành tiếng Anh 177

Đỗ Thị Hồng Hạnh, Hoàng Mai Phương - Đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện Chợ Mới,

Trần Thùy Linh, Trần Lương Đức, Nguyễn Thị Thùy Trang - Cách tiếp cận của pháp luật cạnh tranh liên

minh châu Âu về hành vi lạm dụng mang tính trục lợi 189 Nguyễn Thị Thanh Hà, Phạm Việt Hương - Xây dựng bộ tiêu chí và chỉ số kinh tế phù hợp để đánh giá quản

Đinh Thị Hoài - Truyền thông marketing sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại Trung tâm Học liệu Đại

Nguyễn Thị Thanh Xuân - Nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng sử dụng dịch vụ

Dương Thị Tình - Đóng góp của xuất khẩu hàng hóa tới tăng trưởng kinh tế của tỉnh Yên Bái 213

Lê Minh Hải, Trần Viết Khanh - Phân tích tổ chức không gian lãnh thổ du lịch tỉnh Thái Nguyên 219

Hà Văn Vương - Vận dụng lý thuyết Ecgônômi trong tổ chức môi trường làm việc tại văn phòng chi nhánh may

Sông Công II - Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG 227 Mai Anh Linh, Nguyễn Thị Minh Anh - Đánh giá chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng: nghiên

cứu thực nghiệm tại siêu thị Lan Chi, Thái Nguyên 233 Đinh Hồng Linh, Nguyễn Thu Nga, Nguyễn Thu Hằng - Sử dụng hàm Loga siêu việt để đánh giá hiệu quả

kinh doanh của các ngân hàng Việt Nam 239

Trang 4

Ngô Thị Thanh Nga và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 183(07): 15 - 20

15

VÀI NÉT VỀ CÁC PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN TÌNH VỢ CHỒNG

TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM

Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên

TÓM TẮT

Tình yêu nói chung, tình vợ chồng nói riêng là tình cảm thiêng liêng cao quý của con người Chính

vì thế mà những ngáng trở của giáo lý phong kiến khắc nghiệt cũng không thể khuất lấp được tình cảm cao đẹp đó Trong bài viết này, chúng tôi đề cập đến một số phương thức thể hiện tình cảm vợ chồng trong văn học trung đại Việt Nam cụ thể là hai phương thức cơ bản: tự bạch (các tác giả tự giãi bày câu chuyện tình vợ chồng của chính mình) và nhập vai (mượn câu chuyện của người khác

để thể hiện tình cảm vợ chồng) Qua hai phương thức phản ánh này, người đọc phần nào thấy được những tình cảm trân quý thiết tha sâu nặng trong tình vợ chồng đồng thời cũng thấy được sự phong phú của tâm hồn con người Việt Nam dù ở bất kỳ hoàn cảnh sống nào

Từ khóa: Tình vợ chồng, văn học, Việt Nam trung đại, phương thức, tự bạch

Văn học viết Việt Nam từ thế kỷ X đến hết

thế kỷ XIX là nền văn học tồn tại và phát

triển trong xã hội phong kiến Mười thế kỷ

văn học này còn được gọi là văn học trung đại

(hay văn học cổ) Lực lượng sáng tác chủ yếu

là tầng lớp trí thức chịu ảnh hưởng sâu sắc

của Hán học Quan niệm về văn học của họ là

coi trọng mục đích giáo huấn “thi dĩ ngôn

chí”, “văn dĩ tải đạo” Đạo đức Nho gia

khuôn nén con người mà chủ yếu là tầng lớp

Nho sĩ Họ phải “khắc kỷ phục lễ”, phải “tu

thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”, hay “an

bần lạc đạo”

Để chứng tỏ quyền lực tối cao và phục vụ cho

lợi ích của mình, giai cấp phong kiến thống trị

áp đặt con người cả thể xác và tâm hồn Con

người bị trói buộc bởi các mối quan hệ, đặc

biệt là mối quan hệ nam nữ, quan hệ yêu

đương Việc kết hôn phải do cha mẹ sắp đặt,

phải được xã hội thừa nhận

Có thể nói, lễ giáo phong kiến đã kiềm tỏa

tình cảm của con người, không để cho tình

cảm riêng tư xuất hiện, đặc biệt là tình yêu

đôi lứa Nhưng lịch sử loài người luôn vận

động phát triển Cùng với quá trình thức tỉnh,

trỗi dậy lớn mạnh của con người cá nhân, thì

*

Tel: 0982548560; Email: thanngamy@yahoo.com.vn

cái “tôi” trong văn học được biểu hiện rõ hơn, tình cảm cá nhân, tình yêu (vốn có nguồn gốc sâu xa từ văn học dân gian) dần đậm nét và định hình trong văn học trung đại Các nhà nho đã dành những trang thơ văn viết về đời sống riêng tư, về tình cảm vợ chồng thiết tha

và cảm động

NHỮNG PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN CỤ THỂ Các tác giả tự giãi bày câu chuyện của chính mình

Tình yêu nói chung, tình vợ chồng nói riêng

là tình cảm thiêng liêng cao đẹp, chính vì vậy

dù có bị ngáng trở và kìm nén bởi lễ giáo thì tình cảm ấy vẫn luôn bền bỉ sống Lần đầu tiên trong lịch sử văn học nước nhà, có một bậc đại Nho dám nói lên tình yêu của mình đối với vợ mà không phải mượn câu chuyện tình của người khác Đó chính là Nguyễn Trãi

- một nhân vật lớn ở thế kỷ XV, một nhà chính trị quân sự lỗi lạc, một danh nhân văn

hóa thế giới Qua bài thơ Tiếc cảnh số 10, ông

đã gửi nỗi nhớ nhung xen lẫn giận hờn tới người thiếp yêu của mình:

Loàn đan ướm hỏi khách lầu hồng, Đầm ấm thì thương kẻ lạnh lùng

Ngoài ấy dầu còn áo lẻ,

Cả lòng mượn đắp lấy hơi cùng

(Quốc âm thi tập, Tiếc cảnh số 10) [1, tr 457]

Trang 5

Ngô Thị Thanh Nga và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 183(07): 15 - 20

Nguyễn Thị Lộ là người thiếp yêu mà Nguyễn

Trãi dành tình cảm sâu sắc nhất bởi bà không

phải là một phụ nữ tầm thường Nguyễn Thị

Lộ là một cô gái quê sắc nước hương trời của

làng Hải Triều (Thái Bình) Ở bà hội đủ những

phẩm chất tuyệt vời như: vẻ đẹp nghiêng nước

nghiêng thành, sự duyên dáng, thông minh, có

học vấn, tài đối đáp sắc sảo, đức hạnh, tính

năng động trong mọi công việc Bà được vua

Lê Thái Tông cho vời vào cung, phong

chức Lễ nghi học sĩ (dạy lễ nghi cho các cung

phi và công chúa) Kể từ đó, Nguyễn Trãi đành

phải xa người vợ yêu của mình

Qua bài Tiếc cảnh số 10, ông muốn gửi nỗi

nhớ thương cùng với chút hờn ghen trách móc

nhẹ nhàng tới người vợ yêu của mình Trước

người vợ tài sắc, Nguyễn Trãi đã bộc bạch

lòng mình một cách chân tình Ở đây, người

đọc không thấy dấu vết gì của một vĩ nhân mà

chỉ thấy tình vợ chồng đích thực, trọn vẹn

Từ thế kỷ XVIII trở đi, những chuyển biến

mạnh mẽ của lịch sử, xã hội đã tác động sâu

sắc đến đời sống văn học Tư tưởng dân chủ

phát triển tạo điều kiện cho con người cá nhân

xuất hiện, nhu cầu giải phóng tình cảm đã trở

nên cấp thiết, một trong những tình cảm cần

được giải phóng là tình vợ chồng Tình yêu và

hạnh phúc gia đình trở thành một trong những

vấn đề chủ yếu của con người thời đại Lớp

nhà nho đương thời không còn coi tình yêu là

một điều đáng sợ như các bậc nho sĩ xưa, mà

họ luôn coi trọng tình cảm này Tình yêu trở

nên cao đẹp và là cội nguồn của hạnh phúc

Đề tài tình yêu như có ma lực thu hút hầu hết

các tầng lớp xã hội: những sĩ phu đạo mạo,

những quan lại trang nghiêm, những tiểu thư

khuê các đều nói về chuyện tình yêu, tình

vợ chồng Một số thi sĩ không chỉ mượn nỗi

lòng của kẻ khác, câu chuyện của người khác

để biểu đạt tình yêu mà còn trình bày trực tiếp

trước công chúng độc giả chuyện tình yêu của

chính mình Đó là Nguyễn Kiều đau quặn

lòng trước linh cữu Đoàn Thị Điểm - người

vợ yêu của ông, đồng thời cũng là một trong

những nữ sĩ tài ba nhất trong lịch sử văn học

nước Nam:

Đào chưa quả đã vội khô, Quế đang thơm mà đã rủ!

Rừng sâu bể rộng Nàng hỡi đi đâu?

Ngọc nát châu chìm, lòng tôi quặn nhớ Những muốn:

Chèo thuyền nan, mà sớm phát Đưa giá liễu

để chóng về

Hẹn lại quê nhà an táng Dốc đem ý hậu theo đi

(Văn tế Đoàn Thị Điểm) [2]

Hay là Ngô Thì Sĩ đau khổ, đã phải thốt ra lời cái ý nghĩ day dứt “Nếu sớm biết vì làm quan

xa mà phải ly biệt đau khổ đến thế, thì chức

vạn hộ hầu có đáng kể gì” trong Khuê ai lục [3.184]; là Phạm Nguyễn Du khóc nức nở:

“Ôi ta với nàng chỉ một, cớ sao đang sum họp

phải chia lìa” trong Đoạn trường lục [4.52]; là

Hoàng hậu Lê Ngọc Hân bàng hoàng, hụt hẫng “nỗi con côi cút, nỗi mình bơ vơ!” trong

Ai tư vãn [5.20] Ngay cả Tự Đức - vị vua nổi

tiếng trong lịch sử triều Nguyễn cũng từng than tiếc, nhớ nhung một người phi yêu dấu chẳng may thác sớm:

Ới Thị Bằng ơi ! đã mất rồi!

Ới tình, ới nghĩa, ới duyên ôi!

Và còn muốn:

Đập cổ kính ra, tìm lấy bóng, Xếp tàn y lại, để dành hơi

(Khóc Bằng phi) [6]

Có lẽ, đây là hai câu hay nhất, lãng mạn nhất

và cảm động nhất trong bài thơ Khóc Bằng

phi của vua Tự Đức Nhân vật trữ tình vì quá

nhớ thương người bạn đời nên đập vỡ tấm gương cũ mà nàng đã từng soi để mong tìm thấy bóng nàng trong đó, và xếp chiếc áo cũ

mà nàng đã từng mặc, đem cất kỹ để giữ lại

dư hương của nàng

Còn viết về cuộc chia tay “không bao giờ gặp lại” với người vợ cả, Nguyễn Khuyến lại sử dụng ngôn ngữ mộc mạc hơn nhưng vẫn chan

chứa nghĩa tình Câu đối Khóc vợ của Nguyễn

Khuyến không chỉ giúp người đọc hình dung

ra bức chân dung của người vợ cả lam lũ, suốt

Trang 6

Ngô Thị Thanh Nga và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 183(07): 15 - 20

17

đời chịu thương chịu khó mà còn cho thấy nỗi

lòng của nhà thơ khi vợ mất:

Lão cũng đã mừng thay! Nhờ được bà hay

lam, hay làm, thắt lưng bó que, xắn váy quai

cồng, tất tả chân đăm đá chân chiêu, vì lão

đỡ đần trong mọi việc;

Bà đi đâu vội bấy! Để cho lão vất vơ vất

vưởng, búi tóc củ hành, buông quần lá toạ,

gật gù tay đũa chạm tay chén, cùng ai kể lể

chuyện trăm năm

(Khóc vợ) [7, tr 269-270]

Bà cả là người vợ mà Nguyễn Khuyến vô

cùng yêu quý, bởi bà là người kề vai sát cánh

cùng chồng vượt qua bao khó khăn thử thách

Bà lo lắng, gánh vác, đỡ đần mọi việc để

chồng an tâm thi cử và chăm lo việc nước Vì

vậy, khi bà mất đi thì ông cũng mất luôn một

chỗ dựa tinh thần, khiến ông sống “vất

vưởng” một mình nơi trần thế, biết cùng ai

“kể lể chuyện trăm năm”

Nguyễn Khuyến là một nhà nho sống dưới

chế độ phong kiến nên chịu ảnh hưởng của

Đạo nho khá nhiều và cũng giống như bao

người đàn ông khác trong xã hội cũ, Nguyễn

Khuyến có tới bốn bà vợ Tuy nhiên, ông

không thể hiện uy quyền và khuôn họ vào

những luật lệ khắt khe mà Nho giáo đề ra đối

với người phụ nữ Vì thấu hiểu nỗi gian truân,

vất vả của người phụ nữ nên ông luôn quan

tâm, yêu thương, bảo ban vợ cũng như trân

trọng, đề cao người bạn đời tri âm tri kỉ của

mình Mặc dù Nguyễn Khuyến dành nhiều

tình cảm cho bà cả nhất, song không quá thiên

vị ai, ông san sẻ tình cảm của mình cho bốn

bà Ông khóc thương, day dứt ân hận khi

người vợ hai mất ở nơi đất khách quê người

mà không kịp gặp mặt bà lần cuối (Lữ thấn

khốc nội)[8], ông bày tỏ nỗi đau xót khi người

vợ tư bất hạnh chết trẻ lại không con (Vãn

thiếp Phạm thị)[8], ông đau đớn đến tột độ

thương người vợ cả mất đi mà chưa một lần

được sống trong cảnh vinh hoa phú quý (Điệu

nội)[8] Nguyễn Khuyến chỉ có 6 tác phẩm

viết về người vợ, tuy số lượng không nhiều

nhưng cũng đủ cho thấy ông là một người chồng thương yêu tin tưởng vợ hết mực, luôn

đề cao và coi trọng tình nghĩa vợ chồng Cũng giống như Nguyễn Khuyến, Tú Xương

có những sáng tác rất cảm động về vợ của mình với sự trân trọng nể vì Vợ ông là bà Phạm Thị Mẫn, xuất thân dòng dõi nho gia

“con gái nhà dòng, lấy chồng kẻ chợ” Bà là người vợ đảm đang chịu khó, quanh năm buôn bán nơi đầu sông cuối bến để nuôi chồng ăn học cùng với đàn con thơ dại Mọi việc lớn nhỏ trong nhà đều do một tay bà Tú gánh vác Vì vậy, Tú Xương viết về vợ như một sự tri ân, thể hiện thái độ trân trọng của

nhà thơ đối với vợ Qua các bài Thương vợ,

Văn tế sống vợ Tú Xương đã khắc họa rõ

nét và sống động hình ảnh người vợ tảo tần với những nét phẩm chất điển hình của người phụ nữ Việt Nam với những câu thơ cảm

động như: “Quanh năm buôn bán ở mom

sông/ Nuôi đủ năm con với một chồng/ Lặn lội thân cò khi quãng vắng/ Eo sèo mặt nước buổi đò đông,…” [9, tr 36]

Như vậy có thể nói, tình cảm vợ chồng là một trong những tình cảm thiêng liêng cao quý vì thế các giáo điều phong kiến cũng không thể khuất lấp được Các nho sĩ phong kiến, các nhà Nho vốn được đào luyện trong môi trường nho giáo lại chính là những người đã dám bộc bạch trực tiếp tình cảm ấy ở trong thơ Điều này thật đáng trân trọng

Mượn câu chuyện của người khác để giãi bày Viết về tình vợ chồng, các nhà nho trung đại không chỉ kể về chuyện tình của chính mình

mà họ còn mượn nỗi lòng của kẻ khác, câu chuyện của người khác để biểu đạt tình yêu,

khát vọng hạnh phúc của con người Ở

Chuyện người con gái Nam Xương (Truyền kì mạn lục), Nguyễn Dữ ca ngợi sự gắn bó son

sắt trong tình cảm vợ chồng giữa Vũ Nương

và Trương Sinh Vợ chồng họ đã từng có thời gian sống hạnh phúc, không để xảy ra chuyện thất hòa Hạnh phúc đó không chỉ do sự cố gắng của một mình Vũ Nương, mà còn do

Trang 7

Ngô Thị Thanh Nga và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 183(07): 15 - 20

Trương Sinh hết lòng chăm chút và nâng niu

tổ ấm của mình Tình cảm của Trương Sinh

dành cho Vũ Nương hoàn toàn hồn nhiên,

trong sáng và đáng quý Thế nhưng hạnh

phúc của vợ chồng họ quá ngắn ngủi Nguyên

nhân chính và sâu xa dẫn đến vợ chồng âm

dương cách biệt là do “tính đa nghi”, “hay

ghen” của chồng Trong tình yêu, ghen tuông

là điều khó tránh khỏi Cơn ghen khiến người

chồng mất khả năng kiểm soát hành vi của

bản thân, chàng đã “mắng mỏ, nhiếc móc,

đánh đuổi” vợ Khi Vũ Nương quyên sinh,

chàng Trương động lòng thương xót tìm vớt

thây nàng Đây là một hành động đáng trân

trọng, thể hiện tình cảm của chàng với người

vợ bất hạnh Sống trong sự dằn vặt, hối hận,

Trương Sinh đã lập đàn tràng giải oan cho Vũ

Nương tại bến Hoàng Giang Có thể nói, đó là

cố gắng cuối cùng của chàng để níu kéo hạnh

phúc đã mất, nhưng tất cả đã quá muộn màng

Qua những truyện viết về tình cảm vợ chồng

như Chuyện người con gái Nam Xương,

Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu,

Nguyễn Dữ muốn nhắn gửi tới người đọc một

thông điệp: hãy biết trân trọng, xây dựng, bảo

vệ tình cảm gia đình, hạnh phúc lứa đôi

Có thể nói, nếu ở thế kỷ XVI, Nguyễn Dữ đã

đề cập đến tình vợ chồng nhưng vẫn đậm chất

giáo huấn và màu sắc hoang đường kì ảo thì

từ thế kỷ XVIII trở đi, các nhà nho viết về

tình vợ chồng không còn là thứ tình e ấp,

bóng gió, kín đáo mà tình yêu luôn gắn với

khát khao hạnh phúc ái ân Niềm khát khao

hạnh phúc ái ân ấy đã được các nhà thơ thể

hiện trong những thi phẩm hàng đầu của văn

chương thế kỷ XVIII – XIX như: Chinh phụ

ngâm khúc (Đặng Trần Côn - Đoàn Thị

Điểm), Truyền kỳ tân phả (Đoàn Thị Điểm),

Cung oán ngâm khúc (Nguyễn Gia Thiều),

Truyện Kiều (Nguyễn Du),

Chinh phụ ngâm khúc là lời than thở bi đát

về cuộc sống lẻ loi của người chinh phụ

Chiến tranh đã làm cho vợ chồng nàng đang

sống hạnh phúc phải chia lìa đôi ngả Người

chồng ra đi biền biệt, đến ngày hẹn mà vẫn

không trở về Nàng sống trong tâm trạng ngóng trông, chờ đợi, khát khao có được một cuộc sống bình thường, vui vẻ hạnh phúc bên người chồng Năm tháng qua đi, nhớ thương ngày một chất chồng trong lòng người chinh phụ Nàng tìm đến giấc mộng ái

ân với chồng để giải thoát cho nỗi nhớ mong đằng đẵng của mình:

Duy còn hồn mộng được gần, Đêm đêm thường tới giang tân tìm người Tìm chàng thuở Dương Ðài lối cũ, Gặp chàng nơi Tương Phố bến xưa (Chinh phụ ngâm khúc) [10, tr.55] Cung oán ngâm khúc là bài ca ai oán của

người cung nữ tài sắc lúc đầu được nhà vua yêu chuộng, ái ân nồng nàn thắm thiết nhưng

chẳng bao lâu đã bị ruồng bỏ Nàng đã sống

hết mình, yêu hết mình, nhưng tình yêu của thân phận cung nữ đã không giúp nàng tìm được hạnh phúc Nàng sống trong tâm trạng sầu tủi, buồn bã, nhớ nhung, giận hờn, trách móc, thương cho tuổi xuân xanh của người con gái trôi qua chóng vánh Nàng khao khát được yêu thương, được hòa hợp về thể xác và tâm hồn với người mình yêu Nàng thấp thỏm chờ đợi sự đoái hoài của đấng quân vương Trong cuộc đời chờ đợi dài dằng dặc của nàng, những giây phút cùng nhà vua chung chăn chung gối được xem như một kỷ niệm lớn Mỗi khi hồi tưởng lại ngày đầu được nhà vua sủng ái, người cung nữ vẫn còn rạo rực khát khao:

Cái đêm hôm ấy đêm gì, Bóng dương lồng bóng đồ mi trập trùng

(Cung oán ngâm khúc) [10, tr.147]

Đâu chỉ có Đăng Trần Côn, Nguyễn Gia Thiều mới viết về niềm khao khát hạnh phúc

ái ân của vợ chồng, mà Nguyễn Du cũng đã

đề cập tới điều này trong Truyện Kiều Dưới

ngòi bút tài tình của Nguyễn Du, tình cảm vợ chồng Thúy Kiều - Thúc Sinh trong những ngày đầu thật êm ấm và tràn ngập niềm hạnh phúc ái ân, quấn quýt:

Trang 8

Ngô Thị Thanh Nga và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 183(07): 15 - 20

19

Một nhà sum họp trúc mai,

Càng sâu nghĩa bể càng dài tình sông

Hương càng đượm lửa càng nồng,

Càng sôi vẻ ngọc càng lồng màu sen

[11, tr.244]

hay đầy bịn rịn, lưu luyến trong buổi chia tay:

Vầng trăng ai xẻ làm đôi

Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường

(Truyện Kiều) [11, tr.252]

Như vậy, tình cảm yêu thương, tình vợ chồng

nồng ấm, thiết tha của con người không chỉ

được phản ánh một cách trực tiếp qua những

câu chuyện cảm động của chính các nhân vật

trữ tình tự bạch - tác giả mà còn được thể hiện

một cách gián tiếp Các tác giả văn học trung

đại đã mượn những nỗi niềm, những câu

chuyện của người khác để thể hiện những

cung bậc réo rắt của tình yêu nói chung, tình

vợ chồng nói riêng Có thể nói đây là một

trong những âm hưởng đẹp nhất của văn học

thời kỳ này

KẾT LUẬN

Qua các mặt phân tích của vấn đề, chúng tôi

nhận thấy, vượt qua những giáo lý “khắc kỷ,

phục lễ” khắc nghiệt của lễ giáo phong kiến,

các tác giả văn chương trung đại đã thể hiện rất

sâu sắc tình cảm vợ chồng qua các sáng tác của

mình bằng những phương thức khác nhau

Trong bài viết này, chúng tôi đề cập đến hai

phương thức cơ bản: tự bạch (các tác giả tự

giãi bày câu chuyện tình vợ chồng của chính

mình) và nhập vai (mượn câu chuyện của

người khác để thể hiện tình cảm vợ chồng)

Qua hai phương thức phản ánh này, những

cung bậc và sắc thái khác nhau trong tình cảm

vợ chồng đã phản ánh sự phong phú của tâm

hồn con người Việt Nam Từ những bài thơ nhỏ lẻ mang ý vị tình yêu của Nguyễn Trãi đến những truyện ca ngợi tình nghĩa vợ chồng

trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ, cho

thấy chủ đề tình vợ chồng dần dần đậm nét và định hình trong văn học trung đại Từ thế kỷ XVIII trở đi, với sự phát triển mạnh mẽ của tư tưởng nhân đạo, tinh thần dân chủ, chủ đề tình yêu nói chung, tình vợ chồng nói riêng đã nở

rộ góp phần làm nên sự phong phú, đa diện của văn học Việt Nam thời trung đại

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam - Viện Sử

học (1969), Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb Khoa học

xã hội, Hà Nội

2 Phạm Trọng Chánh (2015), Mối tình Nguyễn Kiều và Đoàn Thị Điểm, Nguồn Chimviet.free.fr,

truy cập ngày 14/04/2018

3 Trần Thị Băng Thanh (1992), Ngô Thì Sĩ – Những chặng đường thơ văn, Nxb Khoa học xã

hội, Hà Nội

4 Phạm Nguyễn Du (2001), Đoạn trường lục,

Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội

5 Lương Văn Đang - Nguyễn Thạch Giang -

Nguyễn Lộc (1994), Những khúc ngâm chọn lọc,

tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội

6.http://www.thivien.net/TựĐứchoàngđế/KhócBằn gphi/poemS5saLcceaEp6YRNqcwaKrQ

7 Lại Văn Hùng (giới thiệu và tuyển chọn)

(2009), Nguyễn Khuyến tác phẩm chọn lọc, Nxb

Giáo dục Việt Nam

8 http://www.thivien.net/ Nhóm bài thơ: Thơ chữ Hán (Nguyễn Khuyến)

9 Vũ Văn Sỹ, Đoàn Ánh Dương (tuyển chọn và

giới thiệu) (2009), Trần Tế Xương tác phẩm chọn lọc, Nxb Giáo dục Việt Nam

10 Lương Văn Đang - Nguyễn Thạch Giang -

Nguyễn Lộc (1994), Những khúc ngâm chọn lọc,

tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội

11 Nguyễn Du, Truyện Kiều (1975), Hà Huy Giáp

giới thiệu, Nguyễn Thạch Giang khảo đính và chú thích, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp,

Hà Nội

Trang 9

Ngô Thị Thanh Nga và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 183(07): 15 - 20

SUMMARY

A BRIEF DESCRIPTION OF THE MODES OF EXPRESSING CONJUGAL

SENTIMENTS IN THE VIETNAM MEDIEVAL LITERATURE

TNU - University of Education

Love in general, the conjugal sentiments in particular is the noble spirit of human beings Therefore, the hindrances of the harsh feudal doctrine can not be hidden by such sentiments In this article, we discuss some of the modes in which couples express feelings in the VietNam medieval literatute, namely two basic ways: self-disclosure (self-confessed authors her husband) and role play (borrowing stories of other people to express their feelings for the couple) Through these two modes of reflection, the reader is able to see the deeply cherished feelings of deep conjugal sentiments, at the same time to see the richness of the human soul in each age

Keywords: Conjugal sentiments, Viet Nam medieval, literature, mode, self-disclosure

Ngày nhận bài: 16/4/2018; Ngày phản biện: 06/5/2018; Ngày duyệt đăng: 29/6/2018

*

Tel: 0982548560; Email: thanngamy@yahoo.com.vn

Trang 10

soT T¹p chÝ Khoa häc vµ C«ng nghÖ

SOCIAL SCIENCE – HUMANITIES – ECONOMICS

Hoang Thi Phuong Nga - Literature tourism model “the old Vu Dai village” 3

Pham Thi Thu Hoai, Tran Thi Thanh - Slang in Van Thanh Le's stories about education problems 9 Ngo Thi Thanh Nga, Pham Thi Hong Van - A brief description of the modes of expressing conjugal

sentiments in the Vietnam medieval literature 15 Nguyen Thi Tham, Nguyen Minh Son - The opposite view of Nguyen Ngoc Tu to Vietnamese traditional

literature via the main female characters in Khong ai qua song 21 Dang Thi Thuy, Nguyen Dieu Thuong - The logic of “non logic” phenomenon in Vietnamese folk verses, proverbs 27 Dinh Thi Giang - Factors affecting current lifestyle of Vietnamese people in the northern delta 33 Nguyen Dieu Thuong, Nguyen Thi Lan Huong - Mechanisms creating implication in satirical jokes 39 Nguyen Thu Quynh, Vi Thi Hien - Household vocabulary of Thai language in Dien Bien province 45 Nguyen Thi Thu Oanh, Hoang Thi My Hanh - Position, role of the communist party of Vietnam in the period

1954 – 1975 and some lessons learned 51

Do Hang Nga, Pham Quoc Tuan - Collection of taxes in the villages through material of reformist village

Le Van Hieu - The efficiency of the model "propaganda department" in communes, wards, township and

"commander" in villages, cities at the current period in Lao Cai province 63 Thai Huu Linh, Nguyen Thi Thu Hien, Nguyen Thi Thanh Ha - The role of the rear Bac Thai in the 1968

Pham Anh Nguyen - The attraction in “Hai dam” of Phan Khoi 73 Nguyen Thi Huong, Nguyen Thi Mao, Nguyen Tuan Anh - Enhancing the efficiency of extracurrucular

activities in teaching civic education at high schools in thai nguyen city these days 79 Nguyen Van Dung, Dao Ngoc Anh - Physical status of non-sports students at Thai Nguyen University of Education 85 Tran Bao Ngoc, Le Ngoc Uyen, Bui Thanh Thuy et al - The reality of degree classification in

non-examination students at University of Medicine and Pharmacy – Thai Nguyen University in the period from

Nguyen Thuc Canh - The need for buiding an exercise system with practical content to teach mechanics

Ha Thi Kim Linh, Chu Thi Bich Hue - Educate legal knowledge for ethnic minority women in Vo Nhai

Nguyen Thi Thanh Hong, Nguyen Thi Khanh Ly, Vu Kieu Hanh - Improve students’ participation in

English learning activities in large mixed ability classes of the freshman students at Thai Nguyen University of

Medicine and Pharmacy 111 Pham Thi Huyen, Vu Thi Thuy - Manipulate exemplary style according to the President Ho Chi Minh’s

thought in building work style for key caders at present period 117 Dam Quang Hung - Science lesson planning for grade 4, 5 according to experimental research 123 Hoang Thi Thu Hoai - Difficulties in teaching and learning ESP vocabulary for nursing students at Thai

Nguyen Medical College and some solutions 129 Nguyen Lan Huong, Van Thi Quynh Hoa - Determinants affecting English speaking performance of the

first-year students at Thai Nguyen University of Agriculture and Forestry 135

Journal of Science and Technology

183 (07)

N¨m 2018

Ngày đăng: 14/01/2021, 23:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w