1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Thuyết minh quy hoạch chung xây dựng thủ đô hà nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050

140 388 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 140
Dung lượng 8,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thuyết minh quy hoạch chung xây dựng thủ đô hà nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 Quy hoạch xây dựng vùng thủ đô hà nộiDự án quy hoạch hà nội đến năm 2030Thuyết minh quy hoạch chung xây dựng thủ đô hà nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 Quy hoạch xây dựng vùng thủ đô hà nộiDự án quy hoạch hà nội đến năm 2030

Trang 1

MỤC LỤC

I PHẦN MỞ ĐẦU 4

1.1 Sự cần thiết của Quy hoạch chung 4

1.2 Các căn cứ lập Quy hoạch chung 4

1.3 Các giai đoạn quy hoạch 5

1.4 Phạm vi, ranh giới nghiên cứu quy hoạch 5

1.5 Quan điểm 5

1.6. Tầm nhìn 5

1.7. Mục tiêu và nhiệm vụ 5

1.8 Tính chất đô thị 6

II ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG THỦ ĐÔ HÀ NỘI 6

2.1 Tổng quan phát triển Thủ đô Hà Nội qua các thời kỳ 6

2.1.1 Quy hoạch đô thị Hà Nội qua các thời ky 6

2.1.2 Đánh giá việc thực hiện Quy hoạch đã có 7

2.2 Đánh giá hiện trạng 7

2.2.1 Điều kiện tự nhiên và hiện trạng môi trường 7

2.2.2 Hiện trạng về kinh tế - dân số - đất đai 10

2.2.3 Hiện trạng hệ thống hạ tầng kinh tế 11

2.2.4 Hiện trạng hệ thống hạ tầng xã hội 12

2.2.5 Hiện trạng hệ thống hạ tầng kỹ thuật 16

2.2.6 Hiện trạng môi trường 23

2.2.7 Hiện trạng công tác lập và triển khai thực hiện quy hoạch 25

2.2.8 Hiện trạng quản lý đô thị 25

2.3 Rà soát các dự án, đồ án 26

2.4 Đánh giá hiện trạng phát triển đô thị Hà Nội 26

2.4.1 Những ưu thế và tồn tại chính 26

2.4.2 Cơ hội và thách thức 27

2.5 Các vấn đề cần giải quyết trong Quy hoạch chung 27

III KINH NGHIỆM QUỐC TẾ 27

3.1 Giới thiệu: 27

3.2 Kinh nghiệm quốc tế: 27

IV LIÊN KẾT VÙNG 28

4.1 Bối cảnh vùng: 28

4.2 Các mối quan hệ vùng: 28

V DỰ BÁO PHÁT TRIỂN 29

5.1 Dự báo phát triển 29

5.1.1 Dự báo phát triển kinh tế-xã hội 29

5.1.2 Định hướng phát triển kinh tế 29

5.1.3 Định hướng các lĩnh vực xã hội 29

5.1.4 Các chỉ số phát triển kinh tế-xã hội 30

5.2 Dự báo phát triển dân số, phân bố dân cư và lao động 30

5.2.1 Căn cứ dự báo dân số: 30

5.2.2 Dự báo dân số 30

5.2.3 Dự báo phân bố dân cư các khu vực 31

5.2.4 Dự báo lao động, việc làm 33

5.3 Các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật chính 33

5.3.1 Các căn cứ để xác định các chỉ tiêu 33

5.3.2 Các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật chính 33

VI ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KHÔNG GIAN 34

6.1 Định hướng phát triển tổng thể không gian đô thị 34

6.1.1 Chiến lược phát triển không gian Thủ đô Hà Nội 34

6.1.2 Hà Nội trong mô hình cấu trúc phát triển không gian Vùng Thủ đô Hà Nội 34

6.1.3 Mô hình phát triển không gian Thủ đô Hà Nội 34

6.1.4 Định hướng phát triển không gian tổng thể 37

6.1.4.1 Phân bố mạng lưới không gian đô thị-nông thôn 37

6.1.4.2 Phát triển hệ thống giao thông đô thị đồng bộ và hiện đại 38

6.1.4.3 Phân bố hệ thống trung tâm đô thị 39

6.1.4.4 Liên kết các không gian xanh 39

6.1.4.5 Các trục không gian chủ đạo 42

6.1.4.7 Quy hoạch hai bên sông Hồng 43

6.2 Đô thị trung tâm 44

6.2.1 Khu vực nội đô 44

6.2.2 Chuỗi khu đô thị phía Đông vành đai 4 (khu vực phía Nam sông Hồng) 46

6.2.3 Chuỗi khu đô thị phía Bắc sông Hồng: 46

6.3 Đô thị vệ tinh 48

6.3.1 Đô thị vệ tinh Sóc Sơn: 48

6.3.2 Đô thị vệ tinh Sơn Tây 48

6.3.3 Đô thị vệ tinh Hòa Lạc 49

6.3.4 Đô thị vệ tinh Xuân Mai 49

6.3.5 Đô thị vệ tinh Phú Xuyên 50

6.4 Thị trấn 50

6.4.1 Tổng quan chung 50

6.4.2 Định hướng phát triển chung 50

6.4.3 Các thị trấn nằm trong vùng đô thị hóa 51

6.4.4 Thị trấn sinh thái 51

6.4.4.1 Thị trấn sinh thái Phúc Tho 51

6.4.4.2 Thị trấn sinh thái Quốc Oai 51

6.4.4.3 Thị trấn sinh thái Chúc Sơn 51

6.4.5 Các thị trấn huyện lỵ 52

VII QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT 52

7.1 Quan điểm sử dụng đất 52

7.2 Chỉ tiêu sử dụng đất 52

7.2.1 Nguyên tắc 52

7.2.2 Căn cứ xác định chỉ tiêu sử dụng đất 52

7.3 Quy hoạch sử dụng đất 53

7.3.1 Nhu cầu mở rộng quỹ đất phát triển đô thị 53

7.3.2 Tổng hợp đất xây dựng tại thành thị - nông thôn 54

VIII ĐỊNH HƯỚNG QUY HOẠCH HỆ THỐNG HẠ TẦNG KINH TẾ VÀ HẠ TẦNG XÃ HỘI 58 8.1 Định hướng quy hoạch hệ thống hạ tầng kinh tế 58

8.1.1 Định hướng quy hoạch hệ thống công nghiệp 58

8.1.2 Định hướng quy hoạch hệ thống dịch vụ thương mại 60

8.1.3 Định hướng quy hoạch hệ thống dịch vụ du lịch 60

8.1.4 Định hướng quy hoạch nông, lâm, ngư nghiệp 61

8.2 Định hướng quy hoạch hạ tầng xã hội 61

Trang 2

8.2.1 Định hướng quy hoạch hệ thống công sở 61

8.2.2 Định hướng phát triển nhà ở 62

8.2.3 Định hướng hệ thống các viện, trung tâm nghiên cứu,văn phòng làm việc 63

8.2.4 Định hướng phát triển khu vực an ninh quốc phòng 63

8.2.5 Định hướng quy hoạch hệ thống giáo dục đào tạo 63

8.2.5.1 Mạng lưới các trường đại hoc và cao đẳng: 63

8.2.5.2 Hệ thống giáo dục phổ thông 66

8.2.6 Định hướng quy hoạch hệ thống y tế và chăm sóc sức khỏe cộng đồng 66

8.2.7 Định hướng quy hoạch hệ thống công trình văn hóa 68

8.2.8 Định hướng quy hoạch hệ thống thể dục thể thao 70

IX ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN 71

9.1 Tổng quan chung 71

9.2 Những vấn đề cần giải quyết 71

9.3 Nguyên tắc phát triển 71

9.4 Định hướng chung 71

9.5 Định hướng cụ thể 72

9.5.1 Về dân cư – Lao động 72

9.5.2 Mô hình điểm dân cư nông thôn 72

9.5.3 Về nhà ở nông thôn 72

9.5.4 Về hạ tầng xã hội 72

9.5.5 Về hạ tầng kỹ thuật 72

9.5.6 Về giải quyết môi trường nông thôn 72

X ĐỊNH HƯỚNG QUY HOẠCH HỆ THỐNG HẠ TẦNG KỸ THUẬT 73

10.1 Định hướng quy hoạch Giao thông 73

10.1.1 Quan điểm phát triển 73

10.1.2 Chiến lược phát triển giao thông Thủ đô 73

10.1.3 Dự báo phát triển và nhu cầu vận tải 73

10.1.4 Giao thông đường bộ 73

10.1.5 Giao thông đường sắt 75

10.1.6 Giao thông hàng không 76

10.1.7 Giao thông đường thuỷ 77

10.1.8 Các trung tâm tiếp vận liên kết giữa các phương thức vận tải: 77

10.1.9 Tổng hợp khối lượng và nhu cầu vốn đầu tư xây dựng 77

10.2 Định hướng quy hoạch Chuẩn bị kỹ thuật 78

10.2.1 Quy hoạch phòng chống chống lũ: 78

10.2.2 Định hướng quy hoạch san nền 79

10.2.3 Định hướng quy hoạch Thoát nước mưa 79

10.2.4 Các công tác chuẩn bị kỹ thuật khác: 81

10.2.5 Giải pháp định hướng cụ thể cho từng đô thị 81

10.2.6 Kiến nghị và tồn tại: 86

10.3 Định hướng quy hoạch Cấp nước 87

10.3.1 Cơ sở pháp lý 87

10.3.2 Tiêu chuẩn và nhu cầu cấp nước 87

10.3.3 Định hướng quy hoạch cấp nước 87

10.3.4 Quy hoạch cấp nước sau năm 2030 89

10.3.5 Kiến nghị 90

10.4 Định hướng quy hoạch Cấp điện, chiếu sáng đô thị 90

10.4.1 Căn cứ thiết kế 90

10.4.2 Dự báo nhu cầu điện 90

10.4.3 Định hướng chung 90

10.4.4 Nguồn điện vùng thủ đô Hà Nội đến 2030 91

10.4.5 Sơ đồ phát triển lưới điện 500KV đến 2030 91

10.4.6 Sơ đồ phát triển lưới điện 220KV đến 2030 92

10.4.7 Định hướng cấp điện sau giai đoạn 2030 93

10.4.8 Chiếu sáng đô thị 93

10.4.9 Kiến nghị 94

10.5 Định hướng quy hoạch thông tin liên lạc 94

10.5.1 Viễn thông và công nghệ thông tin 94

10.5.2 Định hướng hệ thống thông tin - liên lạc: 95

10.5.3 Công nghệ thông tin (CNTT) 96

10.5.4 Hệ thống bưu chính 96

10.5.5 Kiến nghị 96

10.6 Quy hoạch thoát nước thải: 96

10.6.1 Chỉ tiêu tính toán 96

10.6.2 Dự báo lượng nước thải 96

10.6.3 Nguyên tắc quy hoạch 96

10.6.4 Quy hoạch thu gom và xử lý nước thải: 97

10.7 Định hướng Quản lý chất thải rắn 100

10.7.1 Chỉ tiêu tính toán và tỷ lệ thu gom chất thải rắn: 100

10.7.2 Quy hoạch thu gom và xử lý CTR: 101

10.8 Quy hoạch Quản lý nghĩa trang: 102

10.8.1 Chỉ tiêu tính toán: 102

10.8.2 Dự báo nhu cầu đất nghĩa trang: 102

10.8.3 Quy hoạch nghĩa trang tập trung: 103

10.8.4 Nhà tang lễ: 103

XI BẢO TỒN DI SẢN 105

11.1 Tổng quan chung 105

11.2 Quan điểm bảo tồn 105

11.3 Các đối tượng bảo tồn 105

11.4 Định hướng chung 105

11.5 Định hướng bảo tồn cụ thể 105

XII ĐÁNH GIÁ MÔI TRƯỜNG CHIẾN LƯỢC 106

12.1 Mục tiêu bảo vệ môi trường 106

12.2 Đánh giá sự thống nhất giữa mục tiêu quy hoạch và mục tiêu môi trường 106107

12.3 Phân vùng cải thiện, bảo vệ môi trường 107

12.4 Các biện pháp giảm thiểu tác động tiêu cực 108

XIII TÀI CHÍNH VÀ CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH 108

13.1 Tài chính đô thị 108

13.1.1 Đánh giá 108

13.1.2 Tổng chi phí đầu tư 110

13.1.3 Các giải pháp huy động vốn: 111

13.1.4 Phân ky phát triển 111

13.1.5 Quản lý nguồn vốn đầu tư 112113

13.1.6 Phối hợp 114

13.2 Đề xuất cơ chế chính sách 114115

XIV THIẾT KẾ ĐÔ THỊ 115

Trang 3

14.1 Mục tiêu và nguyên tắc thiết kế 115

14.1.1 Mục tiêu 115

14.1.2 Các nguyên tắc thiết kế đô thị 115

14.2 Các giải pháp chung 115116

14.2.1 Ý tưởng thiết kế đô thị 115116

14.2.2 Cấu trúc cảnh quan đô thị 116

14.2.3 Phân vùng kiến trúc cảnh quan 116117

14.2.4 Kiểm soát bảo vệ di sản, di tích lịch sử văn hóa 117118

14.2.5 Kiểm soát phát triển các vùng cảnh quan tự nhiên 118

14.2.6 Kiểm soát phát triển trên các trục giao thông chính đô thị 118119

14.2.7 Kiểm soát phát triển các không gian công cộng đô thị 119

14.3 Đề xuất giải pháp cụ thể cho các khu vực chức năng đặc thù 119120

XV QUY HOẠCH XÂY DỰNG ĐỢT ĐẦU (GIAI ĐOẠN 2010-2020) 122

15.1 Mục tiêu quy hoạch 122

15.2 Định hướng phát triển không gian đợt đầu 122

15.2.1 Nguyên tắc quy hoạch 122

15.2.2 Định hướng phát triển không gian đợt đầu 122123

15.3 Quy hoạch sử dụng đất đợt đầu 124

15.4 Quy hoạch hệ thống hạ tầng kinh tế và hạ tầng xã hội đợt đầu 126

15.4.1 Quy hoạch hệ thống hạ tầng kinh tế 126

15.4.2 Quy hoạch hệ thống hạ tầng xã hội đợt đầu 127

15.5 Quy hoạch hệ thống hạ tầng kỹ thuật đợt đầu 128129

15.5.1 Quy hoạch giao thông 128129

15.5.2 Quy hoạch chuẩn bị kỹ thuật 131

15.5.3 Quy hoạch cấp điện 131

15.5.4 Quy hoạch cấp nước 132133

15.5.5 Quy hoạch thu gom và xử lý nước thải, quản lý chất thải rắn và nghĩa trang 134

15.5.6 Quy hoạch thông tin lên lạc 134

15.6 Danh mục các dự án chiến lược giai đoạn 2010-2020 135136

15.7 Kinh phí xây dựng khung hạ tầng kỹ thuật đợt đầu: 136

XVI KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 136137

16.1 Kết luận 136137

16.2 Kiến nghị 137

DANH MỤC HỒ SƠ BẢN VẼ THU NHỎ (A3) 138

Trang 4

I PHẦN MỞ ĐẦU

1.1. Sự cần thiết của Quy hoạch chung

Ngày 29/05/2008 Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam đã ra Nghị quyết 15/2008 QH12 về việc điều

chỉnh địa giới hành chính thủ đô Hà Nội trên cơ sở sáp nhập: Thành phố Hà Nội cũ, với tỉnh Hà Tây cũ,

huyện Mê Linh tỉnh Vĩnh Phúc và 4 xã thuộc huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình Theo niên giám Thống

kê toàn quốc 2009, dân số Hà Nội là 6.472.200 người và có diện tích tự nhiên rộng 3.344,6 km2, gồm

10 quận, 1 thị xã và 18 huyện ngoại thành, là thành phố đứng thứ hai về dân số của Việt Nam và nằm

trong danh sách 17 thủ đô có diện tích lớn nhất thế giới

Công tác quản lý và phát triển đô thị tại Hà Nội cũ đã và đang tiến hành theo Đồ án “ Điều chỉnh Quy

hoạch chung thủ đô Hà Nội đến năm 2020” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 1998, gọi tắt là

“quy hoạch 108”, tại Quyết định số 108/1998/QĐ-TTg

Cùng với quá trình hội nhập kinh tế thế giới, chính sách khuyến khích đầu tư của Nhà nước và Thành

phố, Hà Nội đã thu hút nhiều dự án đầu tư lớn ở cấp quốc gia và địa phương với sự tham gia của nhiều

nhà đầu tư lớn trong và ngoài nước Sau hơn 10 năm thực hiện theo quy hoạch 108 đã đạt những thành

tựu đáng kể, nhiều khu nhà ở, khu thương mại, văn hóa, thể thao, dịch vụ khách sạn, nhiều tuyến đường

đã và đang hình thành như: Trung tâm Hội nghị Quốc gia, tòa tháp văn phòng, khu liên hợp thể thao

quốc gia, khu Trung Hòa - Nhân Chính, khu nhà ở Linh Đàm tạo nên sự thay đổi lớn về hình ảnh đô

thị, đáp ứng một phần nhu cầu quỹ nhà ở, tạo đà kích thích sự phát triển Thủ đô Với tốc độ đô thị hóa

nhanh chóng trong những năm vừa qua, đã hơn 5 lần Thủ tướng Chính phủ cho phép điều chỉnh, mở

rộng quy mô đất phát triển đô thị so với quy hoạch 108

Tuy nhiên quá trình phát triển đô thị còn nhiều bất cập, công tác quản lý đô thị chưa theo kịp tốc độ đô

thị hóa Nguồn lực đầu tư của nhà nước còn hạn hẹp, hệ thống hạ tầng kỹ thuật chưa đáp ứng đủ nhu cầu

đầu tư, công tác đền bù giải phóng mặt bằng gặp nhiều khó khăn, việc thu hút đầu tư không tập trung,

dàn trải gây ô nhiễm môi trường, lãng phí đất đai và nguồn lực đầu tư

Cùng với việc tập trung nhiều cơ sở cấp trung ương, trường đào tạo, công nghiệp… trong trung tâm

thành phố đã thu hút nhiều người đến lao động và sinh hoạt, trong những năm vừa qua tốc độ phát triển

kinh tế cao hàng năm của Hà Nội là một trong những thành phố đứng đầu của quốc gia, cùng với Luật cư

trú ra đời đã tạo điều kiện thu hút nhiều lao động và di dân từ các khu vực khác vào thành phố để sinh

sống, tạo nên tình trạng tăng trưởng dân số quá mức, gây nên sự quá tải cho hệ thống hạ tầng xã hội, hạ

tầng kỹ thuật: dịch vụ y tế, cơ sở giáo dục, vui chơi giải trí, TDTT; cấp điện, cấp nước, thoát nước, đặc

biệt là hệ thống giao thông quá tải gây ùn tắc nghiêm trọng, thiếu nhà máy xử lý nước thải và nhà máy

xử lý chất thải rắn…

Việc mở rộng quy mô của thành phố Hà Nội mới trên cơ sở sát nhập từ đơn vị hành chính Hà Nội cũ,

tỉnh Hà Tây và một phần các tỉnh Hòa Bình,Vĩnh Phúc cũng đặt ra cho Hà Nội những yêu cầu phát triển

mới Sau khi sát nhập, nhiều sự biến động về kinh tế, xã hội, văn hóa, đặc biệt về không gian đô thị, hạ

tầng đô thị, mô hình phát triển và nhiều vấn đề khác Quy hoạch chung Hà Nội cần phải xem xét lại để

đáp ứng những yêu cầu mới và phù hợp với bối cảnh phát triển của Quốc gia và của Thủ đô

Để sớm ổn định và xây dựng các chiến lược phát triển, tạo tiền đề thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội,

nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân Thủ đô, giải quyết các vấn đề tồn tại trong quá trình xây

dựng và phát triển phục vụ công tác quản lý đô thị trong giai đoạn tới, việc lập Quy hoạch chung xây

dựng Thủ đô Hà Nội là nhiệm vụ cấp bách cần được tiến hành

a Căn cứ pháp lý

- Luật Xây dựng năm 2003

- Luật Quy hoạch đô thị năm 2009

- Nghị định số 08/2005/NĐ-CP của Chính phủ về Quy hoạch xây dựng;

- Nghị định số 37/2010/NĐ-CP về lập thẩm định, phê duyệt và quản lý Quy hoạch đô thị

- Quyết định số 490/QĐ-TTg ngày 5/5/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Qui hoạchxây dựng vùng Thủ đô Hà Nội đến năm 2020 & tầm nhìn đến 2050

- Nghị quyết số 15/2008/QH12 về việc Điều chỉnh địa giới hành chính thành phố Hà Nội tại ky họpthứ 3 Quốc hội khoá 12

- QĐ 1878/QĐ-TTg ngày 22/12/2008 của TTCP phê duyệt Nhiệm vụ thiết kế QHC thủ đô Hà Nội đếnnăm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050

b Các tư liệu và tài liệu liên quan

- Các tư liệu tài liệu về điều kiện tự nhiên, hiện trạng kinh tế xã hội

- Các quy hoạch, các dự án lớn đã, đang triển khai trên địa bàn Hà Nội Quy hoạch chung được thựchiện dựa trên một khối lượng lớn các quy hoạch được triển khai và thực hiện trong những năm trướcđây Trong quá trình nghiên cứu Quy hoạch chung Hà Nội, các quy hoạch sau đây sẽ được nghiêncứu và kế thừa, như:

Quy hoạch 108 [năm 1998] - Quyết định số 108/1998/QĐ-TTg của TTCP phê duyệt Quy hoạch

chung xây dựng thành phố Hà Nội đã được Thủ tướng Chính phủ

Quy hoạch HAIDEP [năm 2007]

Quy hoạch vùng thủ đô Hà Nội [năm 2008] - Quyết định số 490/QĐ-TTg ngày 05/5/2008 của TTCP

về phê duyệt Quy hoạch xây dựng vùng Thủ đô Hà Nội đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2050

Quy hoạch chung hai bên sông Hồng [năm 2009]

Quy hoạch chung đường Láng Hòa Lạc( đại lộ Thăng Long) Quy hoạch chung đường Hồ Chí Minh

Quy hoạch chung huyện Mê Linh Quy hoạch chung chuỗi đô thị Miếu Môn-Xuân Mai-Hòa Lạc-Sơn Tây

- Các bản đồ đo đạc địa hình tỉ lệ 1/10.000, 1/25.000, 1/50.000, 1/100.000

- Bản đồ GIS

b Các văn bản đóng góp ý kiến.

- Thông báo số 279/TB-VPCP ngày 8/9/2009 về Kết luận của TTCP tại cuộc họp Thường trực Chínhphủ về đồ án Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050(Báo cao III)

- Thông báo kết luận của TTCP tại cuộc họp Thường trực Chính phủ về đồ án Quy hoạch chung xâydựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050, lần 1: ngày 24/04/2009, lần 2: ngày21/08/2009, lần 3: ngày 26/11/2009

- Thông báo số 29/TB-VPCP ngày 1/2/2010 về Kết luận của TTCP tại cuộc họp Thường trực Chínhphủ về đồ án Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050

- Nghị quyết số 12/NQ- CP ngày 07/3/2010 của Chính phủ giao nhiệm vụ cho một số Bộ, Ngànhliên quan triển khai các công việc tiếp theo về về đồ án Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nộiđến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050,

- Ý kiến đóng góp của các Hội nghề nghiệp

- Ý kiến đóng góp của nhân dân tại Hà Nội từ ngày 21/4-04/5/2010 và tại Thành phố Hồ Chí Minh

từ ngày 27/6-04/07/2010 do Bộ Xây dựng và UBND Thành phố Hà Nội thực hiện

- Hội đồng thẩm định Nhà nước

- Tư vấn phản biện Worley Parsons của Úc

- Tư vấn phản biện chuyên gia Vùng Ile de France của Pháp

- Thành ủy Hà Nội

Trang 5

- Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội.

- UBND thành phố Hà Nội

- Uỷ ban Kinh tế Quốc hội

- Ủy ban Thường vụ Quốc hội

- Quốc Hội khóa XII, ky họp thứ 7

- Ban cán sự Đảng của Chính phủ

- Quy hoạch ngắn hạn: 2010-2020

- Quy hoạch dài hạn: 2020- 2030

- Tầm nhìn đến năm 2050

1.4 Phạm vi, ranh giới nghiên cứu quy hoạch.

a Phạm vi nghiên cứu trực tiếp:

- Vị trí địa lý:

Thủ đô Hà Nội nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, ở vị trí trong khoảng từ 20°25' đến 21°23'vĩ độ Bắc,

105°15'đến 106°03' kinh độ Đông

Phạm vi nghiên cứu trực tiếp bao gồm toàn bộ diện tích Thủ đô Hà Nội theo Nghị quyết số

15/2008/QH12 về việc điều chỉnh địa giới hành chính thành phố Hà Nội tại ky họp thứ III Quốc hội khoá

XII

- Ranh giới hành chính :

Phía Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên và tỉnh Vĩnh Phúc;

Phía Nam giáp tỉnh Hà Nam và tỉnh Hòa Bình;

Phía Đông giáp các tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh và Hưng Yên;

Phía Tây giáp tỉnh Hòa Bình và tỉnh Phú Thọ;

- Đơn vị hành chính:

Thành phố Hà Nội bao gồm:

10 quận: Hoàn Kiếm, Đống Đa, Ba Đình, Hai Bà Trưng, Tây Hồ, Cầu Giấy, Hoàng Mai, Long Biên,

Thanh Xuân, Hà Đông

18 huyện: Đông Anh, Từ Liêm, Sóc Sơn, Gia Lâm, Thanh Trì, Ba Vì, Chương Mỹ, Đan Phượng,

Hoài Đức, Mỹ Đức, Phú Xuyên, Phúc Thọ, Quốc Oai, Thạch Thất, Thanh Oai, Thường Tín, ứng Hòa,

Mê Linh

Thị xã Sơn Tây

- Quy mô diện tích tự nhiên thành phố Hà Nội

Tổng diện tích tự nhiên toàn thành phố khoảng 3.344,6 km2

Dân số: 6.472.200 người (theo niên giám Thống kê toàn quốc năm 2009)

b Phạm vi nghiên cứu gián tiếp:

Thủ đô Hà Nội được nghiên cứu trong mối quan hệ vùng nhằm xác định vai trò vị thế của Thủ đô với tư

cách là đô thị động lực thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội các tỉnh trong vùng Nghiên cứu các mối quan

hệ, chia sẻ chức năng về phát triển đô thị, công nghiệp, giáo dục, y tế phát triển hạ tầng kỹ thuật khung,

đảm bảo cho Thủ đô Hà Nội và các đô thị trong vùng phát triển năng động và hiệu quả

Phạm vi nghiên cứu bao gồm 15 tỉnh và thành phố thuộc Vùng Hà Nội, vùng đồng bằng sông Hồng,

Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và các tỉnh liên quan khác: Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Nam, Hà Nội,

Hải Dương, Hải Phòng, Hòa Bình, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Nam Định, Ninh Bình, Phú Thọ, Quảng Ninh,

Thái Bình, Thái Nguyên

- Quy hoạch đô thị Hà Nội đáp ứng yêu cầu nhội nhập và thu hút đầu tư; đảm bảo tính linh hoạt vàhiệu quả của nền kinh tế thị trường; ưu tiên phát triển các ngành, lĩnh vực tạo thế và lực xây dựng kếtcấu hạ tầng kỹ thuật khung và ngành kinh tế mũi nhọn tạo động lực phát triển Thủ đô; gắn kết chặtchẽ giữa phát triển kinh tế, xây dựng và phát triển các lĩnh vực xã hội, giáo dục đào tạo, y tế, vănhóa, hạ tầng kỹ thuật với quản lý đô thị theo quy hoạch

- Phát triển Thủ đô Hà Nội bền vững, gắn kết giữa phát triển kinh tế với sử dụng tiết kiệm tài nguyên,bảo vệ môi trường sinh thái và văn hóa lịch sử truyền thống Tạo lập diện mạo kiến trúc đô thị đặctrưng của Thủ đô ngàn năm văn hiến

- Phát triển Thủ đô gắn với ổn định chính trị và an ninh quốc phòng

- Nghiên cứu Quy hoạch xây dựng Thủ đô Hà Nội toàn diện trên nhiều lĩnh vực đảm bảo phát triểnkinh tế, kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội đồng bộ

Thủ đô Hà Nội mở rộng qui hoạch tới năm 2030 và hướng tới tầm nhìn 2050 là trung tâm chính trị

-hành chính của Quốc gia; trung tâm lớn về văn hoá - khoa học - đào tạo - kinh tế, du lịch và giao dịch Quốc tế có tầm khu vực Châu Á - Thái Bình Dương; Hà Nội sẽ có môi trường sống, sinh hoạt giải trí với chất lượng cao Hà Nội trở thành một đô thị hiện đại, năng động và hiệu quả, xứng đáng là biểu trưng của cả nước.

Thủ đô Hà Nội trong tương lai hướng tới thành phố: Xanh – Văn hiến – Văn Minh - Hiện đại Thủ đôđược phát triển trên nền tảng gìn giữ những giá trị về cảnh quan tự nhiên với những dãy núi Ba Vì, TamĐảo, Hương Sơn, những khoảng không gian xanh gắn với vùng nông nghiệp trù phú và những làng nghềtruyền thống, hệ thống các di tích Văn Miếu-Quốc Tử Giám, cùng hàng ngàn di sản khác, nơi ẩn chứa bềdày lịch sử 1000 năm văn hiến tạo ra một Hà Nội mang đặc trưng riêng mà khó thành phố nào có được.Thủ đô cũng cần phải được xây dựng theo hướng là thành phố năng động và hiện đại với kết cấu hạ tầngtiên tiến, các khu đô thị đồng bộ hoàn chỉnh đi liền với xây dựng, duy trì và phát triển lối sống văn minhthanh lịch của người Hà Nội xưa và nay

a Mục tiêu

Xây dựng Thủ đô Hà Nội cần phải đạt được 3 yêu cầu lớn, như sau:

(1) Xây dựng cấu trúc đô thị phát triển bền vững, đáp ứng các yêu cầu của một Thủ đô được mở rộng,phù hợp chiến lược phát triển Quốc gia;

Xây dựng và phát triển Thủ đô xã hội chủ nghĩa giàu đẹp, văn minh, thanh lịch, hiện đại, tiêu biểucho cả nước không chỉ cho giai đoạn 2030-2050 mà còn trong tương lai xa hơn;

Hà Nội là trung tâm chính trị, văn hóa, giao thương và kinh tế lớn của cả nước Bảo đảm vững chắc

an ninh chính trị, quốc phòng, trật tự an toàn xã hội; bảo vệ nhân dân và bảo đảm tuyệt đối an toàncho hoạt động của các cơ quan lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, các tổ chức chính trị-xã hội, các cơquan đại diện ngoại giao, tổ chức quốc tế

(2) Xây dựng Thủ đô Hà Nội có tổng thể không gian phát triển năng động, hoà nhập, khai thác các giá trịtiềm năng của vùng địa lý cảnh quan tự nhiên, tiềm năng về tri thức-công nghệ và lịch sử văn hoátruyền thống

Trang 6

Hà Nội sẽ có các cơ sở hàng đầu của đất nước về nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, văn

hóa, giáo dục, y tế, thể dục thể thao đáp ứng yêu cầu hội nhập; trên cơ sở bảo tồn và phát huy tinh

hoa văn hóa truyền thống của Thủ đô ngàn năm văn hiến

(3) Xây dựng Thủ đô Hà Nội đạt hiệu quả trong sử dụng đất đai và có hệ thống hạ tầng kĩ thuật đồng bộ,

hiện đại, môi trường bền vững

b Nhiệm vụ

(1) Cụ thể hóa Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội thành phố Hà Nội đến năm 2020, định hướng

đến năm 20301

Bảng 1: Các chỉ tiêu cho giai đoạn 2020 và giai đoạn 2030

Các chỉ tiêu Giai đoạn đến 2020 Giai đoạn đến 2030

Về kinh tế:

Cơ cấu kinh tế GDP (dịch vụ/công nghiệp - xây dựng/nông

Về xã hội:

Về hạ tầng:

Diện tích nhà ở khu vực thành thị 25-30m 2 sàn sử dụng /người >30m 2 sàn sử dụng /người

(2) Xây dựng kế hoạch phát triển ngắn hạn cho Thủ đô Hà Nội trong giai đoạn từ nay đến 2020 Là cơ sở

để lập Chương trình phát triển đô thị cho giai đoạn ngắn hạn, tạo nguồn lực xây dựng đô thị, thu hút

các nguồn vốn đầu tư và đề xuất các cơ chế chính sách thực hiện

(3) Lập quy chế quản lý đô thị Kiểm soát quy hoạch, kiến trúc và cảnh quan Hà Nội

(4) Là cơ sở pháp lý để tiếp tục triển khai các quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết xây dựng các khu

chức năng đô thị, các điểm dân cư nông thôn, các quy hoạch ngành và các dự án đầu tư theo quy

hoạch chung xây dựng đã được phê duyệt

(5) Đề xuất các vấn đề tồn tại chủ yếu trong phát triển đô thị Từ đó giúp cho các cơ quan quản lý nhà

nước hoạch định các chính sách và cơ chế phù hợp với điều kiện phát triển Thủ đô Hà Nội theo Định

hướng quy hoạch được duyệt

1.8 Tính chất đô thị

- Là thủ đô nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam - trung tâm đầu não chính trị - hành chính quốc

gia, là đô thị loại đặc biệt;

- Là trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế của cả nước;

1 Nguồn: Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội Thành phố Hà Nội đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030

Là một trong những trung tâm kinh tế - giao dịch - du lịch và thương mại của khu vực Châu Á - TháiBình Dương

II ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG THỦ ĐÔ HÀ NỘI

2.1 Tổng quan phát triển Thủ đô Hà Nội qua các thời kỳ 2.1.1 Quy hoạch đô thị Hà Nội qua các thời kỳ

Trong suốt quá trình hình thành và phát triển, quá trình đô thị hoá của thủ đô Hà Nội đã trải qua nhiềuthay đổi Điểm lại quá trình xây dựng phát triển Thủ đô và các ý tưởng chủ đạo của các quy hoạch HàNội trong từng thời ky chính như sau:

 Trước năm 1954, người Pháp đã nhiều lần lập quy hoạch cho Thủ đô Hà Nội, với cấu trúc mạng lướiphố xá ô bàn cờ Quy hoạch này đã thực hiện trên diện tích khoảng 45km2, quy mô khoảng 300.000người đã mang lại những tiện ích lúc đương thời và cho đến tận ngày nay Để thực hiện theo quyhoạch đó người Pháp cũng đã lấp nhiều hồ ao, xóa bỏ nhiều làng mạc, di dời nhiều dân cư và cũnglàm ảnh hưởng đến nhiều công trình tôn giáo tín ngưỡng Phố cổ và phố cũ của Hà Nội còn tồn tạiđến nay là sản phẩm của công tác quy hoạch và cải tạo chỉnh trang đô thị từ thời ky 1900-1926 Đâycũng là di sản kiến trúc-đô thị đặc thù của Thủ đô Hà Nội với nhiều công trình kiến trúc và cấu trúc

đô thị có nhiều giá trị văn hoá - lịch sử cần phải được bảo vệ

 Từ năm 1954-1998, Thủ đô Hà Nội đã nhiều lần lập và điều chỉnh quy hoạch để phù hợp với điềukiện kinh tế xã hội của Thủ đô trong từng giai đoạn Qua mỗi lần lập và điều chỉnh quy hoạch đềudựa trên nguyên tắc kế thừa, phát huy những mặt tích cực của quy hoạch lần trước; có điều chỉnh vàbổ sung cho phù hợp Trong đó:

 Quy hoạch Hà Nội thời ky 1960-1962: Hà Nội tập trung phát triển phía Nam sông Hồng với quy môkhoảng 1,0 triệu người, diện tích khoảng 200km2 Năm 1964, chiến tranh phá hoại lan ra miền Bắc,nên quy hoạch thời ky này tạm thời chưa thực hiện được

 Quy hoạch Hà Nội thời ky 1976-1981 (Quyết định số 100/TTg ngày 24/4/1981 của TTCP) Sau ngàythống nhất đất nước, Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô được Nhà nước chỉ đạo lập Định hướngphát triển không gian Thủ đô đến thời hạn năm 2000, quy mô dân số khoảng 1,5 triệu người, quy môđất đai khoảng 135,5km2 phát triển chủ yếu về phía Nam sông Hồng, 1 phần ở cửa ngõ phía Bắc Thủ

đô hướng lên sân bay quốc tế Nội Bài và cửa ngõ phía Đông khu vực quận Long Biên hiện nay Lấy

hồ Tây làm trọng tâm bố cục không gian, hình thành hệ thống trung tâm bao gồm: Từ khu vực 36phố phường, trung tâm chính trị Ba Đình, hành chính thương mại thành phố phía Nam hồ Tây, khuNgoại giao đoàn phía Tây hồ Tây Trung tâm hội nghị quốc gia, triển lãm quốc gia và trung tâmTDTT ở phía Nam thành phố (trước đó đã có phương án phát triển Vĩnh Yên làm đô thị vệ tinh lớncủa Hà Nội được kết nối với nhau bằng hệ thống giao thông cao tốc) Tuy nhiên quy hoạch này đượclập trong thời ky bao cấp dựa vào nguồn vốn Nhà nước để xây dựng đô thị, vì vậy tốc độ phát triển

đô thị trong thời gian này rất chậm

 Quy hoạch Hà Nội thời ky 1986-1992 (Quyết định 132/HĐBT ngày 18/4/1992 của Chủ tịch Hộiđồng Bộ trưởng), đây là thời ky đầu của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN với phương châmlấy đô thị nuôi đô thị và huy động mọi thành phần kinh tế cùng tham gia xây dựng đô thị Tập trungphát triển đô thị trong khu vực đường vành đai 3 phía Nam sông Hồng

 Ngày 20/6/1998, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Điều chỉnh quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đếnnăm 2020 (Quyết định số 108/1998/QĐ-TTg) Quy hoạch này phục vụ phát triển Thủ đô Hà Nội(cũ), nhưng đã tính đến mối quan hệ vùng có phạm vi bán kính ảnh hưởng từ 30-50km với quy môkhoảng 4,5 triệu dân, trong đó thành phố Trung tâm với 2,5 triệu dân, được gắn kết với chuỗi đô thị

Trang 7

đối trọng phía Tây khoảng 1 triệu dân (gồm Sơn Tây, Hòa Lạc, Xuân Mai, Miếu Môn) Quy hoạch

năm 1998 đã đề xuất vùng hạn chế phát triển là khu vực 4 quận nội thành cũ; sự cần thiết có vành đai

xanh xung quanh Thành phố (rộng từ 1-4km) để bảo vệ cho thành phố trung tâm phát triển ổn định,

bền vững

2.1.2 Đánh giá việc thực hiện Quy hoạch đã có

(Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội theo QĐ 108/1998/TTg và Quy hoạch của Hà Tây, Mê Linh cũ gọi tắt

là Quy hoạch 108)

a Đối với Hà Nội cũ

Quy hoạch 108 là bản Quy hoạch tổng thể của Thành phố Hà nội được coi là sử dụng hiệu quả nhất từ

trước tới nay, được sử dụng làm cơ sở chỉ đạo thực hiện các Quy hoạch chi tiết, triển khai các dự án đầu

tư phát triển đô thị trên địa bàn Thành phố Sau 10 năm thực hiện có thể nhận thấy:

- Nhiều khu Đô thị mới, các công trình HTKT, các công trình đầu mối quan trọng đã được triển khai

xây dựng

- Là cơ sở quan trọng để lập QHCT các Quận, Huyện, các quy hoạch chi tiết khác, các dự án phát triển

đồng bộ quy hoạch kiến trúc, hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật Và lập kế hoạch kêu gọi đầu tư, đối

với phát triển kinh tế xã hội nói chung không gian đô thị nói riêng Kết quả đạt được đã thực sự làm

thay đổi căn bản bộ mặt đô thị của Thành phố Hà nội, Thành phố được mở rộng trên 50% diện tích

dự báo cho phát triển khu vực Thành phố trung tâm Tuy nhiên, sự phát triển và quá trình hoàn thiện

bộ mặt đô thị không chỉ do quy hoạch mà nó còn tuy thuộc vào năng lực quản lý và nguồn lực đầu tư

Thực trạng hiện nay ở Thành phố Hà nội còn đang tồn tại nổi cộm một số vấn đề mà quá trình thực hiện

quy hoạch theo QĐ 108/1998/QĐ-TTg vừa qua chưa giải quyết được, đó là:

- Quá trình đô thị hoá tăng nhanh với sự tăng trưởng cao về kinh tế, dư thừa lao động ngoại thành,

chênh lệch mức sống giữa đô thị và các vùng xung quanh Dẫn đến quá trình dịch cư từ khu vực nông

thôn và các tỉnh lân cận vào Hà nội, tìm kiếm công ăn việc làm, chất tải lên hệ thống hạ tầng xã hội

và hạ tầng kỹ thuật đô thị Vì vậy khu vực trung tâm không thể kiểm soát nổi, nó phá vỡ quy mô, cơ

cấu dân số đã dự báo

- Sự gia tăng dân số thiếu kiểm soát, đặc biệt tập trung vào khu vực trung tâm dẫn đến sức ép làm quá

tải hệ thống HTXH, HTKT đô thị

- Đô thị hoá tăng nhanh cũng đồng nghĩa với những thách thức về môi trường đang đặt ra hàng ngày

đối với các nhà quản lý, hoạch định chính sách như: Sự quá tải đã là nguy cơ thực tế, tình trạng tắc

đường, úng ngập, ô nhiễm bụi, tiếng ồn, không khí, nguồn nước đang ngày càng bức xúc

- Sự đầu tư còn dàn trải, thiếu hệ thống dẫn đến diện mạo kiến trúc đô thị bị chia cắt manh mún, không

hoàn chỉnh Hệ thống HTKT đô thị chưa tạo được một bộ khung vững chắc liên thông ổn định làm cơ

sở cho sự phát triển bền vững

b Đối với Hà Tây cũ và vùng Mê Linh

(*) Đối với địa bàn Thủ đô Hà Nội mở rộng, đặc biệt là tỉnh Hà Tây cũ, chỉ mới quan tâm thực hiện quy

hoạch đô thị tại Hà Đông, Sơn Tây, các thị trấn hiện hữu và trên các trục giao thông quốc gia như Đại lộ

Thăng Long, đường Hồ Chí Minh, QL21 Các dự án trong khu vực này triển khai chậm, đặc biệt là khu

vực chuỗi đô thị Sơn Tây, Xuân Mai, Miếu Môn, Hòa Lạc Khu vực giáp ranh giới Thủ đô Hà Nội có tốc

độ đô thị hóa cao như Đan Phượng, Hoài Đức, Thường Tín…chưa được lập quy hoạch tổng thể; đã gây

nên tình trạng quy hoạch thiếu tính đồng nhất về hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội và chưa phù hợp với

các định hướng lớn xây dựng Thủ đô Hà Nội

2.2 Đánh giá hiện trạng 2.2.1 Điều kiện tự nhiên và hiện trạng môi trường

a Điều kiện tự nhiên

- Thủ đô Hà Nội có địa hình khá đa dạng, gồm: Vùng đồng bằng, vùng Trung du, đồi núi thấp và vùngnúi cao Cao độ địa hình biển đổi từ Tây Bắc xuống Đông Nam và từ Tây sang Đông

Vùng đồng bằng: chiếm khoảng 54,5% diện tích tự nhiên, nằm dọc hạ lưu sông Hồng, sông Đáy và sông

Tích Đây là vùng đồng bằng phì nhiêu, là vùng sản xuất nông nghiệp với cây trồng chủ yếu là lúa nước.

Tuy là vùng đồng bằng nhưng cao độ cũng có nhiều biến đổi, phổ biến từ 1,0m đến trên 11,0m

Vùng trung du, đồi núi thấp: chiếm khoảng 40,5% diện tích tự nhiên, tập trung chủ yếu thuộc Hà Tây cũ

và Sóc Sơn Đây là dạng địa hình địa hình gò đồi, núi thấp, có độ cao từ (30-300)m tập trung chủ yếu ởvùng thấp của Ba Vì, vùng cao của các huyện Thạch Thất, Quốc Oai, Mỹ Đức, Chương Mỹ, TX SơnTây, Lương Sơn Đây là nơi tập trung nhiều núi đá vôi và hang động karstơ Do có địa hình dốc, diện tíchđất trống đồi trọc lớn nên đât đai thường bị xói mòn , rửa trôi mạnh Thuộc địa hình trung du còn mộtphần diện tích chiếm tỷ lệ không lớn, đó là các vùng đồi Sóc Sơn, Hoà Lạc

Vùng núi: Địa hình núi cao có diện tích khoảng 17.000ha, chiếm khoảng 5%, tập trung chủ yếu ở Ba Vì

có độ cao từ 300m trở lên với đỉnh cao nhất tới 1.296m Đây là nơi có địa hình dốc (>25o), tập trung tới54% diện tích đất lâm nghiệp của Hà Tây cũ

Thủ đô Hà Nội nằm trong vùng khí hậu Đồng bằng và Trung du Bắc bộ, có khí hậu nhiệt đới gió mùa.Mùa đông lạnh và ít mưa, cuối mùa ẩm ướt với hiện tượng mưa phùn; mùa hè nóng và nhiều mưa Nhiệtđộ, độ ẩm, bốc hơi tương đối đồng nhất, biến đổi không nhiều giữa các vùng địa hình (Nhiệt độ trungbình ở vùng đồng bằng khoảng 23oC  24oC, miền núi vào khoảng 21oC  22,8oC; Độ ẩm dao động 83-85%;lượng bốc hơi TB năm 800-<1000mm) Riêng phân bố lượng mưa trong địa bàn biến đổi theokhông gian, thời gian, chịu ảnh hưởng mạnh của đặc điểm địa hình và hướng gió Mưa ở khu vực đồngbằng nhỏ hơn vùng núi Ba Vì là trung tâm mưa lớn nhất Hà Nội với tổng lượng mưa trung bình năm đạt2100mm Khu vực đập Đáy là nơi ít mưa nhất với tổng lượng mưa trung bình năm chỉ đạt 1500mm Tạikhu vực đồng bằng lượng mưa tăng dấn từ Bắc xuống Nam, song các trận mưa lớn xảy ra ở khu vựcđồng bằng tương đối đồng đều

Sông Hồng là con sông lớn nhất miền Bắc có tổng diện tích lưu vực 155.000 km2 ( phần trong nước ta72.000 km2) Sông có chiều dài khoảng 1226km, đoạn qua lãnh thổ Việt Nam có chiều dài 556km, đoạnchảy qua Hà Nội dài khoảng 118km có lưu lượng bình quân hàng năm 2640m3/s với tổng lượng nướckhoảng 83,5 triệu m3 Sông Hồng không chỉ là nguồn chính cung cấp nước tưới mà còn là một trongnhững nơi nhận nước tiêu của Hà Nội Mùa lũ kéo dài 5 tháng bắt đầu từ tháng 6 và kết thúc vào tháng

10 Lượng nước trong các tháng mùa lũ chiếm 75 – 80% tổng lượng nước hàng năm, trong đó tháng 8chiếm tỷ trọng lớn nhất

Chế độ thuỷ văn:

Hà Nội do ảnh hưởng của địa hình các vùng núi xung quanh có độ dốc lớn, độ che phủ bởi thảm thực vậtthấp, cấu trúc mạng lưới sông có hình nan quạt, mưa lớn và kéo dài trên toàn lưu vực…đã làm cho nước

lũ trên hệ thống mang tính chất lũ núi Mực nước và lưu lượng lũ biến đổi rất nhanh, nhiều khi rất đột

Trang 8

ngột, thời gian lũ tương đối dài, trung bình 6-7 ngày, dài nhất lên tới 20 ngày Biên độ lũ khá lớn dao

động từ 7 đến trên 10m Các vùng thượng lưu và trung lưu hệ thống sông Hồng có chế độ nước lũ rất

phức tạp, tốc độ dòng chảy lớn đạt từ 3-5m/s, cường suất mực nước khi lũ lên rất lớn từ 3 – 7m/ngày

Vùng hạ lưu sau khi các sông Đà, sông Lô hội lưu với sông Hồng, thì toàn bộ lượng nước đều đổ dồn về

đồng bằng, nơi có địa hình trũng thấp, lòng sông bị thu hẹp do các tuyến đê bao bọc gây lên lũ lớn Theo

tài liệu thống kê 1971 trong vòng 70 năm đã có 7 lần lũ sông Hồng, sông Đà, sông Lô gặp nhau Trong

đó đặc biệt là 3 năm lũ lớn là 1913, 1945 và 1971 Lưu lượng trung bình các tháng mùa lũ đạt tới 8.000

đến 10.000m3/s Số liệu thực đo tại Hà Nội trong khoảng 100 năm cho thấy trận lũ lịch sử với giá trị đo

chưa hoàn nguyên do vỡ đê, tràn đê và phân chậm lũ của đỉnh lũ đo được ngày 20-8-1971: tại Sơn Tây

mực nước lớn nhất 16,9m, lưu lượng 30.000m3/s; tại Hà Nội cũ Hmax = 14,13m và Qmax = 25.000m3/s

Mùa kiệt kéo dài 7 tháng từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau Dòng chảy của sông trong thời đoạn này

ngoài nước mưa trên lưu vực, chủ yếu do nước ngầm cung cấp Mực nước sông trong các tháng 3 và 4

thường xuống mức thấp nhất

- Địa chất: 2

Khu vực Hà Nội có cấu trúc địa chất khá phức tạp, nguy hiểm nhất là động đất dự đoán xảy ra trên các

đứt gãy sâu chạy qua địa phận thành phố Khu vực từ đứt gãy ở phía Tây sông Hồng và ở phía Đông

sông Lô nằm trong vùng động đất cấp 8 (trong điều kiện nền bình quân) magnitude Mmax≤ 6,2; độ sâu

chấn tiêu h=15-20m

tạo do quá trình bồi tụ và lắng đọng trầm tích trong điều kiện biển nâng cùng với các dòng chảy của

sông ra biển Do quá trình chuyển động kiến tạo đã trải qua với các kỷ Trias, Đệ Tam, Đệ Tứ cùng

với tác động mạnh của các điều kiện tự nhiên ( nhiệt độ, nóng, ẩm, mưa…) làm cho đất đá bị phong

hoá mạnh tạo nên nền địa chất nham thạch, đất đai không đồng nhất Với các lớp bồi tích, trầm tích,

phù sa khá dày thể hiện một bồn địa mới được hình thành Trải qua thời ky biển lấn lần 1, lần 2 và

thời ky phát triển kế thừa, biển lùi, miền trũng võng chuyển sang một thời ky bình ổn và lấp đầy tạo

ra một vùng đồng bằng rộng lớn và ngập nước Nhìn chung khu vực này có nền địa chất rất yếu, khi

xây dựng công trình đặc biệt là công trình cao tầng cần có biện pháp xử lý chống lún, chống cát đùn

và cát chảy

- Khu vực nằm giữa sông Đáy và sông Tích (tả Tích) kéo dài từ Tả Hồng đến cửa sông Tích tại Ba Thá

thuộc kỷ Đệ tứ thống Halogioi bồi tích trầm tích, trầm tích đầm lầy, thành phần đất nền chủ yếu là

cuội sỏi, cát kết xám xanh, xám đen và than bùn Khu vực nằm sát ven sông Tích chạy dọc đường

QL21A từ Trung Hà đến Quảng Oai cũ thuộc thống giữa bậc Ladini điệp cốt bãi, thành phần cát kết,

đá phiến sét xennit thấu kính vôi Khu vực từ Quảng Oai đến Tây Phương thuộc hệ Trias thống dưới

điệp Mường Hinh Thành phần chủ yếu là cuội kết, đá phiến sét màu nâu đỏ phun trào bazơ, đá vôi

Với đặc điểm địa chất như vậy khi xây dựng các công trình có tải trọng lớn cần lưu ý các biện pháp

xử lý nền móng để chống lún sụt và trượt ngang

- Khu vực nằm phía bờ hữu sông Tích: đây là khu vực có địa hình chủ yếu là núi cao xen kẽ đồi núi

thấp nên có nhiều dải địa chất xen lẫn khá phức tạp Dải sông Tích từ Trung Hà đến Xuân Khanh

thuộc đới Protezoi phức hệ sông Hồng, đá phiến liatit có granat, ximimatit, grafit Dải từ Đầm Long

theo đường Khê Thượng đến dưới Tân Xã thuộc hệ Trias thống giữa bậc ladimi cát kết, đá phiến sét

xennit thấu kính vôi Sườn và núi cao của dãy Ba Vì thuộc hệ Trias dưới điệp Dốc Cun, đá phiến sét,

cát kết, đá vôi bazan Điều kiện điạ chất công trình khu vực này khá tốt, tuy vậy khi xây dựng các

công trình có tải trọng lớn vẫn cần có các giải pháp xử lý nền phù hợp

- Về hệ sinh thái rất đa dạng, bao gồm: hệ sinh thái rừng (Ba Vì, Hương Sơn, Mỹ Đức), hệ sinh thái

nông nghiệp (đồng bằng châu thổ sông Hồng), hệ sinh thái thủy vực và hệ sinh thái ao hồ

2 Nguồn: TS Trần Tân Văn/ Viện khoa học địa chất và khoảng sản.

Thủ đô Hà Nội là vùng có điều kiện tự nhiên khá thuận lợi để xây dựng và phát triển đô thị Tuy nhiên,

do đặc điểm chung của vùng Đồng bằng sông Hồng có nhiều sông hồ nhưng độ dốc thấp, nên hàng năm

Hà Nội thường chịu ảnh hưởng của bão gây ra mưa lớn và làm ngập úng diện rộng Vì vậy khi xây dựng

và phát triển đô thị cần phải có giải pháp thoát nước và xử lý cao độ nền hợp lý để hạn chế tối đa ngập úng

Ngoài ra do cấu trúc địa chất phức tạp, một số khu vực (Phú Xuyên) nền đất yếu cường độ chịu tải thấp R<1,5kg/cm2, khi xây dựng công trình đặc biệt là các khu vực tập trung xây dựng nhà cao tầng mật độ cao cần phải lưu ý về xử lý nền móng.

b Hiện trạng môi trường

b1 Môi trường nước

Nguồn nước tại các lưu vực ngày càng cạn kiệt, đặc biệt là sông Tích và sông Đáy Chất lượng nước cácsông chính thuộc lưu vực sông Nhụê - sông Đáy đang bị ô nhiễm, đặc biệt là nước sông Nhuệ Các sôngthoát nước và sông Cầu Bây (Gia Lâm): tiếp nhận khoảng 700.000 m3/ngày nước thải đô thị và sản xuất.Chất lượng nước ở hầu hết các con sông nội thành Hà Nội ngày càng bị ô nhiễm nghiêm trọng (BOD5

sông Tô Lịch vượt 7,13 lần, Kim Ngưu vượt 6,64 lần, sông Sét vượt 2,84 lần, sông Lừ vượt 5,28 lần) và

xu thế tiếp tục bị ô nhiễm do nước thải chưa được xử lý và đổ thẳng ra sông, hồ Dự báo đến năm 2020mức ô nhiễm môi trường nước của các sông nội thành ở Hà Nội sẽ tăng gấp 2 lần hiện nay nếu không cógiải pháp hiệu quả

+ Sông Nhụê: Tiếp nhận nước thải đô thị chủ yếu của Hà Nội, Hà Đông và nước thải nông thôn, làngnghề trong lưu vực Chất lượng nước thay đổi dọc chiều dài sông và đều bị ô nhiễm, đoạn sau đậpThanh Liệt ô nhiễm nghiêm trọng

+ Sông Đáy: Sông Đáy hiện bị bồi lấp, cạn kiệt dòng chảy Chất lượng nước sông đang bị ô nhiễm bởinước thải nông thôn, làng nghề bởi các thành phần hữu cơ và vô cơ (COD vượt 3,54 lần, BOD5 vượt3,2 lần)

+ Sông Hồng: Sông Hồng trước trạm bơm Yên Sở hầu như chưa bị ô nhiễm (trừ hàm lượng cặn) Đoạnhạ lưu trạm bơm Yên Sở BOD5 có dấu hiệu ô nhiễm nhưng không cao Nước sông Hồng tại hạ lưumương thoát nước của trạm bơm Yên Sở BOD5, COD, NH4+; đều vượt TCVN 5942-1995 trong đótại vị trí cảng Khuyến Lương vượt TCCP 5,8 lần Tuy nhiên do lưu lượng dòng chảy lớn nên khảnăng tự làm sạch còn tốt

+ Sông Tích: Chất lượng nước sông Tích bắt đầu có dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ và kim loại nặng (BOD5

vượt 1,05 lần, Fe vượt 1,41 lần)

+ Sông Bùi: Các kết quả quan trắc cho thấy nước sông Bùi chưa ô nhiễm

+ Chất lượng nước các hồ nội thành Hà Nội ngày càng bị ô nhiễm nghiêm trọng, nặng nhất tại các hồVăn Chương, Giám, Linh Quang, Ngọc Khánh, Trúc Bạch Các hồ ở ven đô (hồ Yên Sở, Linh Đàm,Hạ Đình, Pháp Vân ) là những hồ điều hòa đang được sử dụng để nuôi cá, khả năng ô nhiễm trongnhững năm tới cao Các hồ thượng lưu Đồng Mô, Suối Hai, Quan Sơn đều chưa bị ô nhiễm

Nước ngầm tại Hà Nội đang ngày càng suy giảm về trữ lượng Mực nước ngầm Hà Nội đang sụt giảm0,3-0,4 m/năm, đặc biệt là khu vực Mai Dịch, Pháp Vân Xuất hiện ô nhiễm Asen trong nguồn nước ở HàNội, có nơi đã lên tới 40 lần TCVN (Đan Phượng) Ô nhiễm amôni (NH4+) một số nơi cũng vượt mứccho phép 20-30 lần

b.2 Môi trường không khí

Ô nhiễm nặng nhất là khu Thượng Đình, tiếp theo là Mai Động, các nhà máy: Dệt kim Thăng Long, GiấyTrúc Bạch

Trang 9

- Ô nhiễm do giao thông:

Ô nhiễm bụi, tiếng ồn cao do hoạt động giao thông đô thị tại nhiều tuyến đường như: vành đai II, III,

Nguyễn Trãi, Phạm Hùng, Phạm Văn Đồng, Giải Phóng, Vĩnh Tuy, Minh Khai Các khu dân cư và

huyện ngoại thành Hà Nội chưa ô nhiễm nhưng nồng độ chất ô nhiễm đang gia tăng do hoạt động giao

thông, xây dựng và công nghiệp

Chất lượng không khí tại nội thành Hà Nội cũ: Ô nhiễm bụi do giao thông đô thị ở mức “báo động đỏ”

Nồng độ bụi lơ lửng vượt tiêu chuẩn 2-3 lần Các chất ô nhiễm SO2, CO2, CO, NOx… vẫn nằm dưới tiêu

chuẩn cho phép

Chất lượng không khí tại các đô thị, KCN khu vực Hà Tây cũ: Ô nhiễm bụi do hoạt động giao thông, xây

dựng vượt tiêu chuẩn 1,05 - 2,18 lần tại Hà Đông, Cầu Giẽ, ga Thường Tín, Ba La, Mai Lĩnh, Gạch và

dọc đường Láng-Hoà Lạc

b.3 Môi trường đất

Chất lượng đất nông nghiệp một số vùng (Đông Anh, Gia Lâm và Thanh Trì) đã có dấu hiệu ô nhiễm về

hóa chất BVTV và kim loại nặng

Lâm xấp xỉ ngưỡng cho phép

Thanh Liệt, Đại áng, Ngọc Hồi, Yên Sở, Vạn Phúc, Yên Mỹ, Liên Ninh, Tứ Hiệp, Hoàng Liệt, Thanh

Trì, Tam Hiệp (Thanh Trì), Đông Dư, Thạch Bàn, Kim Sơn, Dương Xá, Phú Thị, Lệ Chi, Đặng Xá,

Dốc Lở (Gia Lâm), Vân Trì, Vân Nội (Đông Anh)

b.4 Hệ sinh thái trên cạn và dưới nước

Hệ sinh thái lâm nghiệp gồm: Vườn Quốc gia Ba Vì, khu bảo tồn Hương Sơn, Chùa Thày, Vật Lại Đây

là các khu vực có giá trị đa dạng sinh học cao Hệ sinh thái lâm nghiệp tuy phong phú đa dạng về giống

loài song quy mô diện tích thấp, khoảng 25.124 ha chiếm 7% diện tích tự nhiên, phân bô không đều, tập

trung ở phía Tây (Ba Vì, Hương Sơn, Sóc Sơn)

Hệ sinh thái nông nghiệp: Chiếm 58% diện tích tự nhiên Đây là vùng sinh thái quan trọng, chiếm phần

lớn diện tích của Hà Nội, với đặc trưng là canh tác nông nghiệp gắn với làng xóm nơi ở của gần 60% dân

số nông thôn

Hệ sinh thái ao hồ: Hà Nội là một trong những thành phố được đánh giá có nhiều hồ, ao và mặt nước lớn

nhất trên thế giới; Hà Nội nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ nên có nhiều ao hồ tư nhiên phục vụ tiêu

thóat nước và tưới tiêu nông nghiệp Riêng 10 quận nội thành đã có tới 111 hồ, ao Trong đó có những hồ

lớn như: Hồ Tây, Hồ Bảy Mẫu, Trúc Bạch, Hoàn Kiếm, Thiền Quang, Thủ Lệ, Giảng Võ…

Hệ sinh thái sông ngòi: Các sông lớn như sông Hồng, sông Đà, sông Đuống, sông Cà Lồ, sông Nhuệ,

sông Đáy và những con sông thoát nước nội thị như sông Tô Lịch, sông Sét, sông Kim Ngưu, sông Lừ,

Cầu Bây… Cùng với quá trình phát triển công nghiệp, đô thị hóa, các hệ sinh thái thuỷ sinh đang bị biến

động, suy thoái

b5 Tai biến môi trường

- Biến đổi khí hậu

Hà Nội hiện tại và trong tương lai sẽ chịu ảnh hưởng chung của biến đổi khí hậu toàn cầu Nhiệt độ trung

bình năm của thập niên 1991-2000 ở Hà Nội cao hơn trung bình của thập niên 1931- 1940 là 0,80C Số

ngày mưa phùn trung bình năm ở Hà Nội giảm dần trong thập niên 1981-1990 và chỉ còn gần một nửa

(15 ngày/năm) trong 10 năm gần đây

Trên hệ thống sông Hồng, trong 70 năm (1902 - 1972) tại Hà Nội có 9 năm nước lũ cao hơn 12,0m (nếukhông vỡ đê và phân lũ vào sông Đáy), 12 năm có lũ cao hơn 11,5 m, 38 năm có lũ cao hơn 10,5 m, hoặc

có ngọn lũ cao hơn mức báo động II kéo dài đến 10 ngày Trong 15 năm (1956 - 1971) trên sông Hồng

đã xuất hiện 6 trận lũ lớn, mực nước đỉnh lũ ở Hà Nội lên hơn 11,0m trong đó có trận lũ xẩy ra vào thángVIII - 1971 mực nước ở Hà Nội lên tới 14,13m, nếu không có vỡ đê và phân lũ thì mực nước ở Hà Nộilên tới 14,6m (mực nước đã hoàn nguyên) Lưu lượng đỉnh lũ trong trận lũ lịch sử này tại Sơn Tây đạt tới34.200m3/s Hàng năm từ tháng VI đến tháng X, nước hệ thống sông Hồng lên cao làm ngập các vùngngoài đê, và có những năm làm vỡ đê, là thảm hoạ cho cả một vùng rộng lớn, gây mất mùa, thiệt hại lớn

về người và của Đã có những trận lụt kinh hoàng ở hệ thống sông Hồng vào các năm 1913, 1945 và

1971

Sau khi nhà máy thủy điện Hòa Bình được đưa vào vận hành sử dụng, nhà máy đã phát huy được tối đakhả năng cắt lũ cho hạ lưu, hạ chế được khá nhiều tình trạng lũ cho Hà Nội Tuy nhiên, cũng với sự biếnđổi khí hậu, tình trạng lũ lụt vẫn diễn biến rất phức tạp Điển hình năm 1971, mực nước ở Hà Nội là14,13m; năm 1986 mực nước tại Hà Nội cao 11,96m Trận lũ đặc biệt lớn năm 1996 khiến mực nước tạiHà nội lên tới 13,30m (mực nước đã hoàn nguyên), nếu không có nhà máy thủy điện Hòa Bình tham giachống lũ, thiệt hại sẽ không thể lường hết

Nội thành Hà Nội ngày càng tăng nguy cơ bị úng ngập hơn Năm 1984 với những trận mưa trên 100mm/ngày trong đó có trận mưa tháng 11/1984, Hà Nội đã có đến 80 điểm úng ngập trong đó có 24 điểmúng ngập trầm trọng, thời gian ngập trên 2 giờ, có điểm đến 5 - 6 ngày, độ sâu ngập trung bình 0,6 -0,8m Đến năm 1994, tuy cùng lượng mưa hoặc kém hơn năm 1984, thời gian ngập úng đã kéo dài hơn 2lần Năm 2001, từ ngày 2-4/8, với lượng mưa 200 - 400mm, thành phố đã có tới 120 điểm ngập nước, độsâu 0,2 - 1,1m, làm tắc nghẽn nhiều tuyến giao thông Đặc biệt là trận mưa có tính lịch sử tháng 11/2008

có lượng mưa khoảng 560 mm khu vực nội thành và một số khu vực ngoại thành còn cao hơn khoảng800-1000 mm gây nên tình trạng úng ngập diên rộng đối với thủ đô Hà Nội Các vùng thường bị ngậpúng trên địa bàn thành phố Hà Nội rải rác trên nhiều tuyến phố trong nội thành và tập trung ở phía Namthành phố (khu vực Yên Sở, Hoàng Liệt - quận Hoàng Mai)

Một trong những nguyên nhân của úng ngập cho trung tâm thành phố là do bề mặt địa hình thấp, nhất làphần phía Nam, việc tiêu thoát tự nhiên nước mặt ra các hệ thống sông là không thể (sông Hồng) hoặcrất khó khăn (sông Nhuệ - Đáy) Úng ngập có nguyên nhân quan trọng là do con người: triệt tiêu bề mặtthấm nước (do bê tông hoá bề mặt); san lấp, thu hẹp và làm nông dần các hồ điều hoà; thu hẹp và làm tắcnghẽn các hệ thống mương thoát nước

- Xói lở bờ sôngXói lở xảy ra chủ yếu ở sông Hồng, sông Đà tại những khúc uốn lượn, hay ở những đoạn sông khai tháccát Xói lở bờ sông Đà xảy ra phía bờ phải tại khu vực Thái Bạt, Thuần Mỹ (Ba Vì) Xói lở bờ sôngHồng xảy ra tại Cổ Đô (Ba Vì), Linh Chiểu-Phương Độ-Cẩm Đình (ứng Hòa), Thượng Cát (Từ Liêm),Ngọc Thuỵ, Bồ Đề (Gia Lâm) Xói lở bờ sông Đuống tại bờ hữu đoạn kè Tĩnh Quang, bờ tả đoạn kèĐổng Viên, kè Chi Phương

Các hiện tượng xói lở này mang tính đặc trưng của lũ sông Hồng và là tiềm tàng của tai biến có khả năngphá hủy đê sông ở đây

- Sụt lún mặt đất do khai thác nước ngầmKhai thác nước ngầm đã gây ra hiện tượng sụt lún mặt đất tại khu vực phía Nam sông Hồng Khu vực cóđộ sụt <10 mm/năm chiếm hầu hết phần phía Nam sông Hồng Khu vực có độ sụt lún lớn nhất (khoảng

30 mm/năm) rộng khoảng 2 km2, ở xung quanh khu vực nhà máy nước Pháp Vân

Trang 10

2.2.2 Hiện trạng về kinh tế - dân số - đất đai

a Hiện trạng kinh tế 3 :

Kinh tế Thủ đô Hà Nội trong những năm qua đã phát triển nhanh, cơ cấu kinh tế ngày càng hiện đại và

có hiệu quả Tổng GDP đứng thứ hai cả nước sau Thành phố Hồ Chí Minh

Năm 2008, tổng GDP của Hà Nội đạt 178,5 nghìn tỷ đồng, tương đương 10,77 tỷ USD Thu nhập bình

quân đầu người năm 2008 đạt 1700USD/người Tốc độ tăng trưởng kinh tế thời ky 2001-2008 là 11,3%,

trong đó: Công nghiệp-xây dựng: 17,6-13,3%; Dịch vụ: 10,5-10,9%; Nông nghiệp: 1,6-3,9% Về cơ cấu

kinh tế, tỷ trọng nông nghiệp giảm còn 6,5%, dịch vụ 52,4% So sánh với các khu vực trong cả nước, Hà

Nội có tổng GDP bằng 61,5% so với Thành phố HCM, bằng >50% vùng ĐBSH và bằng 12,1% cả nước

Về xây dựng và quản lý đô thị, tốc độ xây dựng phát triển đô thị ở mức nhanh nhất so với cả nước

b Hiện trạng dân số, lao động

Theo niên giám Thống kê toàn quốc 2009(tóm tắt), dân số Hà Nội là 6.472.200 người Tỉ suất tăng dân

số bình quân năm của Hà Nội mới cho thời ky 1999-2009 trung bình 2% Tăng bình quân 2,1 %/năm

(2000 – 2008) trong đó thành thị là 4,6 %, cao hơn cả thành phố Hồ Chí Minh (3,1%), chủ yếu tăng cơ

học và 1,2%/năm ở nông thôn

Dân cư phân bố không đều, tập trung tại các quận nội thành, mật độ dân số trung bình là 1.926

người/km2 Tốc độ đô thị hóa phát triển tương đối nhanh, năm 2008 có 40,8% dân thành thị tương ứng

với 2.632.087 người và 59,2% dân nông thôn tương ứng với 3.816.750 người

Trong 13 năm từ 1994 đến 2008 tại 4 quận nội thành cũ tăng thêm 96.600 người, trung bình trên 7.400

người/năm, riêng quận Hoàn Kiếm chỉ tăng gần 380 người/năm; 5 quận mới (trừ Hà Đông) thêm hơn 1

triệu dân, trung bình 79.000 người/năm, nhiều nhất là tại quận Thanh Xuân 6.600người/năm Vì vậy cần

kiểm soát chặt chẽ mức tăng dân cư nội thành hơn nữa, nhất ở các quận Đống đa và 5 quận mới

Tại khu vực nông thôn biến động dân số chủ yếu do luồng di dân đi kiếm sống tại đô thị hoặc học tập

Xu hướng dịch cư từ các tỉnh quanh Hà Nội mới vào, đặc biệt từ vùng đồng bằng sông Hồng chiếm 70%

lượng dịch cư và đa số chọn các vùng ven đô để sinh sống và đi làm tại các nội đô

- Lao động 4:

Dân số lao động trong độ tuổi ở thành thị và nông thôn khoảng trên 4,3 triệu người, đều chiếm một tỷ lệ

lớn trên 67% (2008) Dân số trẻ chiếm tỷ lệ cao, đặc biệt ở độ tuổi 20-25 có đào tạo Đây là nguồn nhân

lực lớn, tạo thuận lợi tăng trưởng kinh tế cho Hà Nội Dân số trong độ tuổi lao động tham gia hoạt động

kinh tế năm 2008 (theo sở Lao động, thương binh và xã hội) khu vực công nghiệp- xây dựng (31,27%),

nông nghiệp (32,22%) và dịch vụ (36,51%) Tỷ lệ đô thị hóa tăng dần và cần có lộ trình để đào tạo tiếp

một lực lượng lớn lao động nông thôn thành những người có tay nghề cao trong các ngành kinh tế

c Hiện trạng đất đai

Theo Bộ Tài nguyên Môi trường, tổng đất tự nhiên hiện nay của Hà nội 3.344,6 km2 Tổng đất tự nhiên

khu vực thành thị khoảng 34.615 ha (chiếm khoảng 10,4%), tổng đất tự nhiên khu vực nông thôn khoảng

299.845 ha (chiếm khoảng 89,6%)

Đất nông, lâm nghiệp có >189.000 ha, chiếm 56,5% đất tự nhiên; đất phi nông nghiệp có khoảng

135.000 ha chiếm >40,4% đất tự nhiên, trong đó đất nghĩa trang khoảng >2.890 ha

Đất chưa sử dụng khoảng 10.450 ha chiếm 3,1% đất tự nhiên, trong đó đất bằng chưa sử dụng khoảng

4.850 ha, chiếm khoảng 1,4% đất tự nhiên

Tổng đất xây dựng cả thành thị và nông thôn khoảng 45.500ha chiếm khoảng 13,7% diện tích tự nhiên

Trong đó, đất xây dựng thành thị khoảng 18.000ha; chủ yếu tập trung vào 10 quận nội thành chiếm 5,2%

3 Nguồn: Niên giám thống kê Hà Nội 2009

4 Nguồn: QHTTKT XH Hà Nội

đất tự nhiên, đất xây dựng nông thôn khoảng 27.400ha; đất dành cho cây xanh-thể dục thể thao khoảng

>720ha; đất dành cho các trường đại học và cao đẳng khoảng 600ha; đất khu công nghiệp khoảng >5.000ha

Chỉ tiêu đất đơn vị ở (không tính công cộng, cây xanh, giao thông cấp khu ở) năm 2009 trong 4 quận nội

đô cũ rất thấp 11,1 m2/người, 5 quận mới 35 m2/người, thị trấn Thường Tín 16,4 m2/người, còn lại tại HàĐông, thị xã Sơn Tây và các thị trấn khác đạt trên 40 m2/người

Bảng 2: Tổng hợp hiện trạng sử dụng đất đai

Tổng diện tích các loại đất trong địa giới hành chính Hà

Nội (ha)

Tỉ lệ đất

so với tổng đất tự

nhiên(%)

Tổng đô thị (ha): 10 Quận (cả Hà Đông) +thị xã Sơn Tây(9 ph.)+ 22 thị trấn

Tỉ lệ đất so với tổng đất tự

nhiên(%)10 quận, TX Sơn Tây, các thị trấn

Tổng nông thôn Hà

Nội (ha)

Tỉ lệ đất so với tổng đất tự nhiên(%) nông thôn

Trang 11

2.2.3 Hiện trạng hệ thống hạ tầng kinh tế

a Hiện trạng công nghiệp

Công nghiệp Hà Nội trong những năm qua có mức tăng trưởng khá: Cơ cấu kinh tế Thủ đô có sự chuyển

dịch theo xu hướng gia tăng tỷ trọng công nghiệp- xây dựng; Đến năm 2008, tỷ trọng công nghiệp- xây

dựng trong GDP là 42,2% Tuy nhiên, sự phát triển này còn chưa tương xứng với tiềm năng, chưa dự báo

hết khả năng cạnh tranh cũng như sự xuất hiện các cơ hội và lợi thế mới của Hà Nội sau khi mở rộng

Theo Báo cáo của Bộ Công Thương (văn bản số: 10929/BCT-KH ngày 30 tháng 10 năm 2009 về việc

cung cấp thông tin phục vụ công tác lập Quy hoạch chung Hà Nội) Trên địa bàn Thành phố Hà Nội

tính đến tháng 9 năm 2009 có:

- 01 Khu công nghệ cao Hòa Lạc (diện tích 1.600 ha) và 11 khu công nghiệp (tổng diện tích 2.000 ha),

bình quân 180 ha/ khu công nghiệp, trong đó: 09 khu đã cơ bản hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật và giao đất

cho các nhà đầu tư thứ phát cơ bản lấp đầy diện tích (Khu công nghiệp Thăng Long, Nội Bài, Sài Đồng

B, Nam Thăng Long, Đài Tư, Thạch Thất- Quốc Oai, Phú Nghĩa, Bắc Thường Tín, Quang Minh); 02 khu

đang tiến hành thủ tục bồi thường, giải phóng mặt bằng và triển khai xây dựng hạ tầng kỹ thuật (Khu

công nghiệp Công nghệ cao sinh học và Khu công nghiệp Phụng Hiệp)

- 49 cụm công nghiệp (CCN) với tổng diện tích 3.707 ha, bình quân 75 ha/cụm, trong đó: 43/49 cụm đã

và đang triển khai xây dựng: 19 cụm đã hoàn thành hoặc cơ bản hoàn thành xây dựng hạ tầng kỹ thuật,

đã thu hút đầu tư lấp đầy đi vào hoạt động; 07 cụm đang triển khai xây dựng từng phần các hạng mục hạ

tầng kỹ thuật và thu hút các nhà đầu tư thứ phát; 17 cụm mới đang thực hiện các bước chuẩn bị đầu tư

(hầu hết mới chỉ dừng lại ở khâu phê duyệt quy hoạch chi tiết, dự án, GPMB hoặc bắt đầu triển khai xây

dựng hạ tầng kỹ thuật); 06 cụm đang trong quá trình kêu gọi đầu tư, chưa triển khai đầu tư xây dựng

- 177 điểm công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp (ĐCN- TTCN) với tổng diện tích 1.330 ha, bình quân 7,5

ha/ điểm, trong đó: 63/177 điểm đã và đang triển khai xây dựng (22 điểm đã hoàn thành hoặc cơ bản

hoàn thành xây dựng hạ tầng kỹ thuật, đã giao đất cho các hộ sản xuất làng nghề xây dựng nhà xưởng;

41 điểm đang hoàn thiện các thủ tục chuẩn bị đầu tư, giải phóng mặt bằng hoặc bắt đầu triển khai xây

dựng hạ tầng kỹ thuật); 114 điểm chưa triển khai xây dựng

Theo Báo cáo của Ban Quản lý các khu công nghiệp và chế xuất Hà Nội (văn bản số

534/BQL-QHXD ngày 22/6/2010)

Hiện nay Hà Nội có 17 Khu công nghiệp (tổng diện tích 3.603,456Ha), trong đó: 08 KCN đang hoạt

động (Thăng Long, Nội Bài, Sài Đồng B, HN-Đài Tư, Nam Thăng Long, Thạch Thất - Quốc Oai, Phú

Nghĩa, Quang Minh I) và 09 KCN đang triển khai (Quang Minh II, Kim Hoa, CNC Sinh học, CVCN

Thông tin HN, Bắc Thường Tín, Phụng Hiệp, Đông Anh, KCN sạch Sóc Sơn, Nam Phú Cát)

Mặc dù các cơ sở công nghiệp đã góp phần thể hiện vai trò của Hà Nội là 1 trong những trung tâm kinh

tế lớn của cả nước, giải quyết gần 9 vạn lao động Song việc phát triển công nghiệp của Thành phố chưa

tương xứng với tiềm năng đã có, nhiều KCN triển khai chậm và không có hiệu quả.

- Đối với các làng nghề:

Hà Nội có tổng số 256 làng nghề Tuy nhiên thị trường tiêu thụ sản phẩm chưa phát triển và mở rộng

đúng tiềm năng Nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất chưa đảm bảo Quy mô sản xuất nhỏ lẻ Phát triển

tự phát Hạ tầng xuống cấp Các tác động tiêu cực từ đô thị hóa như: đất đai bị thu hẹp, mật độ dân cư và

mật độ xây dựng tăng nhanh Bảo tồn văn hóa làng nghề chưa được chú trọng đúng mức, đồng thời tình

trạng ô nhiễm môi trường tại các làng nghề gia tăng

b Hiện trạng về dịch vụ thương mại

Năm 2008, khu vực dịch vụ có tỷ trọng cao nhất trong tổng cơ cấu kinh tế GDP, chiếm 52%, có tác dụnglàm hạt nhân đóng góp vào mức tăng chung của kinh tế Thủ đô Hệ thống các công trình dịch vụ baogồm các dịch vụ về thương mại và dịch vụ về du lịch, cụ thể như sau:

b1 Hiện trạng về dịch vụ thương mại

Hiện nay toàn thành phố 5 có 362 chợ (trong đó có 20 chợ loại 1; 52 chợ loại 2 và 290 chợ loại 3), có 70trung tâm thương mại, siêu thị (trong đó có 12 trung tâm thương mại (TTTM) và siêu thị (ST) hạng 1; 17TTTM và ST hạng 2; 41 TTTM và ST hạng 3), có gần 200 cửa hàng tiện ích, tự chọn …

Nhìn chung mạng lưới chợ, siêu thị- trung tâm thương mại trên cơ sở phân bố mật độ dân cư khu vực HàNội và hệ thống chợ đầu mối hiện đại đều thiếu và yếu Hệ thống phân phối bán lẻ nằm rải rác và tự phátkhông có sức cạnh tranh Thiếu diện tích cho bãi đỗ xe và các công trình phụ trợ Về trung tâm hội chợtriển lãm, nhu cầu ngày càng tăng nhưng quy mô và chất lượng dịch vụ chưa đáp ứng yêu cầu

b2 Hiện trạng về dịch vụ du lịch 6

Thủ đô Hà Nội có bề dày lịch sử 1000 năm, chứa đựng nhiều đặc trưng văn hóa và cảnh quan đặc sắc, sựphong phú về nét văn hóa riêng và văn hóa du nhập đa dạng thông qua văn hóa vật thể và phi vật thể.Bên cạnh đó Hà Nội còn có nhiều cảnh quan tự nhiên đẹp có một không hai, đó là những điều kiện thuậnlợi để Hà Nội phát triển ngành dịch vụ, du lịch

Năm 2007, GDP thu được từ du lịch của Hà Nội chiếm tỷ trọng khoảng 4,9% tổng GDP du lịch của toànquốc Hà Nội đón 1,1 triệu lượt khách du lịch ngoại quốc, gần bằng một nửa so với TPHCM Năm 2008,trong 9 triệu lượt khách của thành phố, có 1,3 triệu lượt khách nước ngoài tới Hà Nội Tính đến tháng7/2008 Hà Nội có khoảng 551 cơ sở lưu trú với hơn 14.008 phòng đang hoạt động, trong đó chỉ có 177khách sạn được xếp hạng với 8.614 phòng, phân bố không đồng đều trên khắp địa bàn Hiện nay khu vực

xa trung tâm hạ tầng còn chưa phát triển đồng bộ, thấp kém, chưa thu hút được khách du lịch, vẫn còn 8huyện không có cơ sở lưu trú du lịch Điều đó cho thấy, Hà Nội hiện nay đang thiếu các tiện ích phục vụ

du lịch Các sản phẩm du lịch của Hà Nội cũng chưa phát triển so với các thành phố du lịch khác ở ViệtNam và cả trên thế giới

Du lịch nội đô: Hà Nội ngàn năm văn hiến với bao di tích lịch sử được lưu giữ, chủ yếu được đặt tại khuvực trung tâm, tại các bảo tàng và khu vực đặc biệt như Hoàng thành Được thể hiện qua các bảo tàng,nhà hát, và từ các công trình văn hóa này hình thành các tour du lịch nằm trong khu vực trung tâm HàNội, tham quan các điểm dích nổi tiếng như: khu vực phố cổ, hồ Gươm, khu vực phố cũ cùng các phốnghề, cầu Long Biên, sông Hồng, Hồ Tây, Hoàng thành, các đình chùa miếu mạo, các nhà hát và bảotàng giới thiệu quá trình hình thành của Hà Nội qua các giai đoạn…

Du lịch sinh thái: Hà Nội cũng được biết đến là nơi có nhiều danh lam thắng cảnh đẹp, tự nhiên và cáctour du lịch sinh thái được hình thành bởi sự kết nối các điểm thắng cảnh đẹp này, chủ yếu ở khu vực xatrung tâm, nơi đô thị ít phát triển, không khí trong lành, thoáng mát, trữ tình như: Ao Vua, suối Tiên, Hồsuối hai, hồ Đồng Mô, đàm Vân Trì, hồ Quan Sơn

Du lịch đến với di sản, di tích: Hà Nội đứng hàng đầu với 1853 di tích trong đó có 1050 di tích cấp quốcgia và 803 di tích cấp tỉnh, thành phố được Bộ Văn hóa – thể thao và du lịch công nhận xếp hạng Vớitiềm năng là các công trình di tích gắn liền với lịch sử và văn hóa tín ngưỡng của Hà Nội, tạo nên cáctour du lịch đan xen giúp cho khách du lịch có thể tham quan và tìm hiểu về phong tục tập quán phongphú của người Hà Nội nói chung và văn hóa của từng miền nói riêng

Du lịch tại Hà Nội vẫn chưa phát triển mạnh, bị ảnh hưởng bởi hệ thống cơ sở lưu trú và các dịch vụ dulịch đi kèm Khan hiếm dịch vụ lưu trú cho khách, đặc biệt là các khách sạn cao cấp, gây khó khăn chovấn đề đặt chỗ đặt tour Bên cạnh sự thiếu thốn về cơ sở vật chất, tiện ích dịch vụ du lịch, Hà Nội còn bị

5 Nguồn: Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội thành phố Hà nội đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030.

6 Nguồn: Sở Văn hóa-thể thao-du lịch

Trang 12

ảnh hưởng bởi tác động của đô thị hóa và ô nhiễm về chất lượng môi trường, xuống cấp của các tài

nguyên di sản, văn hóa truyền thống v.v , đó là một trong những nguyên nhân khiến lượng khách du

lịch quốc tế tới Hà Nội còn khiêm tốn so với vùng miền Trung và Thành phố Hồ Chí Minh

c Hiện trạng nông, lâm, ngư nghiệp

Hạ tầng kinh tế khu vực nông thôn Hà Nội trong những năm qua tiếp tục được đầu tư nâng cấp phục vụ

sản xuất nông nghiệp Sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp năm 2008 tại Hà Nội chiếm tỷ trọng 6,5% GDP

Trong đó ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trên 94% Cơ cấu nông nghiệp chuyển dịch theo hướng

giảm trồng trọt, tăng chăn nuôi-thủy sản-dịch vụ nông nghiệp; tỷ trọng các cây trồng, vật nuôi có chất

lượng và giá trị kinh tế cao, an toàn thực phẩm tăng dần

Về đất đai, sau khi mở rộng diện tích đất nông nghiệp Hà Nội có >189.000 ha, chiếm 56,5% đất tự nhiên

7, trong đó đất sản xuất nông nghiệp >150.000 ha Mặc dù, diện tích đất nông nghiệp khá lớn, nhưng tỷ

trọng GDP của nông lâm ngư nghiệp Hà Nội chỉ chiếm khoảng 6,5% và tỷ lệ lao động phục vụ nông

nghiệp chiếm tới 30% Điều đó cho thấy cần phải có sự cải tiến trong năng suất lao động và phân bổ lại

nguồn lực lao động giữa các ngành kinh tế tại Hà Nội

Mô hình sản xuất nông nghiệp tại Hà nội đang theo hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng và phương thức

canh tác, nhằm tăng chất lượng nông sản hàng hóa và hiệu quả kinh tế Tại các huyện ngoại thành Hà

Nội đã hình thành một số mô hình nông nghiệp công nghệ cao tại khu vực Đông Anh, Mê Linh, Gia

Lâm; hình thành một số vùng chuyên canh rau sạch, hoa, cây cảnh, cây ăn quả và mở rộng diện tích

trồng lúa chất lượng cao… Trong chăn nuôi đã xuất hiện một số mô hình chăn nuôi tập trung, các trang

trại nuôi lợn, bò sữa, gia cầm tại khu vực Ba Vì, Mỹ Đức, Thanh Oai…

Diện tích rừng của Hà Nội không nhiều so với các tỉnh khác trong cả nước tập trung chủ yếu tại khu vực

Sóc Sơn, Hương Sơn-Mỹ Đức và Ba Vì Lâm nghiệp của Hà Nội chủ yếu là bảo vệ rừng nguyên sinh,

rừng đặc dụng, rừng đầu nguồn với hiệu quả chính là bảo vệ môi trường sinh thái, phục vụ phát triển du

lịch

Diện tích rừng và đất lâm nghiệp của Hà Nội là: 25.123,7ha, chiếm khoảng 7,5% diện tích tự nhiên của

thành phố Rừng tự nhiên của Hà Nội có tại Ba Vì, Hương Sơn, Sóc Sơn…và thuộc rừng phòng hộ

huyện Mỹ Đức

- Về thủy sản:

Ngành thủy sản Hà Nội mặc dù có tăng trưởng trong những năm qua, nhưng tỷ trọng thấp, chiếm <5% tỷ

trọng GDP cơ cấu nông lâm thủy sản Một số diện tích đất nông nghiệp trồng lúa một vụ, vùng trũng đã

được chuyển sang nuôi trồng thủy sản

Tóm lại: Khu vực nông lâm nghiệp có giá trị quan trọng đối với môi trường của thành phố, giữ gìn và

bảo tồn đa dạng sinh học, điều hoà khí hậu, tạo không gian nghỉ ngơi, du lịch và cung cấp lương thực

thực phẩm, rau xanh cho Hà Nội Tuy nhiên hiện nay, mỗi năm Hà Nội thu hồi hơn 1.000ha đất, Hà tây

cũ khoảng 2000ha, trong đó chiếm tới 80% là đất nông nghiệp, phục vụ các dự án công nghiệp, đô thị

Có 19 sân golf đang xin triển khai đầu tư chủ yếu trên quỹ đất nông nghiệp và UBND Thành phố Hà Nội

đã đề nghị 10 dự án phải chuyển đổi vì không phù hợp với quy hoạch Xu hướng trong những năm tới

đất nông nghiệp tại Hà Nội tiếp tục thu hẹp diện tích 8 Đất lâm nghiệp, từ năm 1998 đến nay9, trên địa

bàn huyện Sóc Sơn giảm 2073 ha, địa bàn tỉnh Hà Tây cũ là 4.083,3 ha chuyển đổi mục đích khác, chủ

yếu là du lịch, dịch vụ và đô thị sinh thái

Các vấn đề cần giải quyết hiện nay:

7 Nguồn: Trung tâm khuyến nông / Bộ NNPT-NT

8 Nguồn: Báo cáo Rà soát các dự án đầu tư trên địa bàn Hà Nội/ Sở kiến trúc quy hoạch.

9 Nguồn: Viện điều tra quy hoạch rừng

nước nuôi trồng thủy sản và tạo cảnh quan môi trường

thể tăng cường đầu tư hạ tầng kỹ thuật để phát triển công nghiệp và đô thị

- Tiếp tục bảo tồn đa dạng sinh học và phòng hộ môi trường sinh thái khu vực VQG Ba Vì, KhuDTLSVH Chùa Hương; Bảo vệ, cải tạo nâng cấp hệ thống rừng hiện có, khai thác dịch vụ du lịchgắn với bảo vệ rừng

2.2.4 Hiện trạng hệ thống hạ tầng xã hội

a Hiện trạng hệ thống công sở

a1 Hệ thống công sở cấp quốc gia:

Thủ đô Hà Nội có “Trung tâm Chính trị Ba Đình” Đây là nơi có trụ sở các cơ quan đầu não của Đảng vàNhà nước, nơi có chứng tích về sự khai sinh của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và các di tíchlịch sử liên quan đến cuộc đời và hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh Hiện nay, khu vực Ba Đình cònlà khu vực tập trung nhiều công sở của các cơ quan Bộ, ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ vànhiều cơ quan đại diện ngoại giao, tổ chức Quốc tế và là nơi diễn ra các hoạt động đối nội, đối ngoạiquan trọng nhất của đất nước

Tuy nhiên, tại khu vực Ba Đình không có điều kiện để xây dựng tập trung tất cả trụ sở của các cơ quanđầu não của bộ máy hành chính Quốc gia, mà thực tế phải bố trí phân tán ở nhìều khu vực khác nhautrong thành phố Hà Nội (cũ)

Về các cơ quan Bộ, ngang Bộ và cơ quan trực thuộc Chính phủ: Tại thời điểm điều tra hiện trạng (năm2009), cơ cấu Chính phủ có 30 cơ quan Trong đó, có 18 Bộ, 4 cơ quan ngang Bộ và 8 cơ quan thuộcChính phủ Hầu hết nằm trong các quận nội thành (11 đơn vị thuộc quận Ba Đình, 12 đơn vị thuộc quậnHoàn Kiếm, 3 đơn vị thuộc quận Hai Bà Trưng, 1 đơn vị thuộc quận Đống Đa, 2 đơn vị thuộc quận CầuGiấy) Đây là các khu vực xen lẫn trong khu dân cư mật độ cao, thuận tiện trong giao dịch công tácnhưng là nơi tập trung mật độ giao thông đô thị lớn, gây những ách tắc giao thông vào các giờ cao điểm,thiếu các dịch vụ đô thị như: bãi đỗ xe, khu giải trí, Hầu hết các cơ quan đều thiếu về diện tích (14 đơn

vị <1ha, 15 đơn vị >1ha) và sử dụng các công trình kiến trúc cũ làm văn phòng làm việc Cơ sở vật chất

có chất lượng thấp kém, hầu hết đã xuống cấp không đáp ứng nhu cầu làm việc của các đơn vị, đòi hỏiphải cải tạo, nâng cấp và di chuyển ra địa điểm mới Trong những năm gần đây do nhu cầu phải cải tạonâng cấp cơ sở làm việc, nhiều dự án đã phải tác động tới các không gian di sản trong khu vực nội đô.Một số Bộ được đầu tư xây dựng mới (Bộ Tài Chính, Bộ Tư Pháp, một số đơn vị đã có dự án di chuyển

ra ngoài tại các quận thành lập mới hoặc các huyện ngoại thành (Bộ Ngoại Giao, Bộ Nội Vụ, Bộ TàiNguyên – Môi Trường, Bộ Công An, UB Dân tộc – miền núi…)

Cùng với quá trình hội nhập quốc tế sâu, rộng của Việt Nam, Hà Nội liên tục đăng cai các chương trìnhhội nghị, diễn đàn lớn trong nước và quốc tế…Hệ thống công sở phân tán, nhỏ hẹp, cơ sở vật chất xuốngcấp và hệ thống hạ tầng quá tải trong nội đô đã tác động tiêu cực tới các hoạt động này Nhiều chươngtrình hội nghị đã phải cho cán bộ, công nhân viên và sinh viên nghỉ làm việc để các hội nghị diễn ra theokế hoạch

Hiện nay, khi Thủ đô Hà Nội được mở rộng, quỹ đất xây dựng đô thị đã được mở rộng, các yêu cầu mới

về quỹ đất xây dựng cơ quan công sở Quốc gia trong bối cảnh hội nhập càng trở nên cần thiết một mặtđáp ứng công tác cải cách hành chính, mặt khác tạo lập quần thể kiến trúc công sở Quốc Gia xứng đángvới Thủ đô của Quốc gia

a2 Hệ thống công sở cấp thành phố:

Hệ thống công sở đầu não cấp thành phố hiện nay được đặt tại khu vực xung quanh Hồ Gươm, bao gồmtrụ sở UBND thành phố, Thành Ủy, Hội đồng nhân dân, mặt trận tổ quốc Thành phố Vị trí này có đủđiều kiện liên kết với Trung tâm đầu não chính trị Ba Đình và vùng phụ cận, do vậy các công sở này cầnđược quy hoạch lại nhằm đảm bảo tính kế thừa truyền thống cũng như có vị trí trung tâm của Hà Nội

Trang 13

Thành phố hiện có 37 Sở, Ban, Ngành, Đoàn trực thuộc thành phố Hà Nội với tổng diện tích công sở

khoảng 487ha, bao gồm cả các cơ sở trực thuộc được phân bổ đều trên khắp 24 quận, huyện Hệ thống

công sở nằm phân tán trong các quận nội thành Hà Nội cũ và quận Hà Đông, nhiều công trình đã hết

niên hạn sử dụng, kiến trúc công trình không đóng góp vào cảnh quan đô thị

Việc bố trí và xây dựng các công sở cấp Thành phố như hiện nay chưa đáp ứng nhu cầu xã hội, cần phải

có biện pháp cải tạo, nâng cấp, thậm chí tìm địa điểm mới tạo dựng quần thể kiến trúc công sở cấp Thành

phố đóng góp cảnh quan kiến trúc đô thị chung của cả thành phố

a3 Hệ thống đất các khu ngoại giao đoàn

Theo tài liệu do Cục phục vụ Ngoại giao đoàn cung cấp tháng 6 năm 2009, Thành phố Hà Nội hiện có

104 đoàn ngoại giao thuê và sử dụng do Cục quản lý với diện tích khoảng 21,73ha Các đoàn ngoại giao

chủ yếu tập trung tại khu vực quận Ba Đình, quận Hoàn Kiếm và quận Hai Bà Trưng

Ngay từ năm 2001 để có quỹ đất phục vụ cho các đoàn ngoại giao, Thủ tướng Chính phủ đã giao cho Bộ

Xây dựng nghiên cứu Dự án xây dựng cơ sở hạ tầng khu Đoàn ngoại giao tại xã Xuân Đỉnh, huyện Từ

Liêm với quy mô nghiên cứu khoảng 62,8 ha

Nhận định chung

Các công trình công sở cấp quốc gia, các công sở cấp Thành phố tập trung chủ yếu vào nội đô, nên diện

tích chật hẹp, thiếu chỗ làm việc của CBCNV và dịch vụ công Vị trí đa số nằm xen lẫn trong khu dân cư

mật độ cao gây nên ách tắc giao thông vào các giờ cao điểm Nhiều công trình đã hết niên hạn sử dụng,

kiến trúc công trình không đóng góp vào cảnh quan đô thị Các công sở cấp thành phố hầu hết nằm phân

tán, gây lãng phí về duy tu bảo dưỡng và mất nhiều thời gian đi lại khi liên hệ công tác

b Hiện trạng hệ thống nhà ở

Nhà ở Thủ đô Hà nội rất đa dạng về loại hình và chất lượng nhà ở như: Nhà ống kiểu truyền thống trong

khu phố cổ/ Biệt thự kiểu Pháp/ Nhà biệt lập ở khu vực đô thị/ Nhà biệt lập ở khu vực nông thôn/ Nhà

tập thể cũ/ Nhà ở chung cư cao tầng/ Nhà hỗn hợp Trong đó nhà ở phố cổ và nhà ở biệt thự kiểu Pháp ở

phố cũ có rất nhiều giá trị di sản kiến trúc đô thị

Chất lượng nhà ở thủ đô cao hơn so với mặt bằng chung của cả nước, hầu hết hộ gia đình đều có nhà ở

Tuy nhiên, Hà Nội vẫn tồn tại một khối lượng lớn nhà ở chất lượng thấp như khu vực nhà ở cho lao động

dịch cư, nhà ở phố cổ, nhà ở khu tập thể cũ, nhà tạm và nhà ở người nghèo ở các khu vực nông thôn Hệ

thống các khu nhà ở phân bố phân tán đan xen do đặc điểm phát triển đô thị lan tỏa hiện nay

Khu vực trung tâm Hà Nội hiện có khoảng 24 khu tập thể với diện tích gần 400ha được xây dựng qua

các thời ky với nhiều mô hình như của Liên xô (cũ) 3- 5 tầng; các tập thể các nhà máy, xí nghiệp có

những khu là các dãy nhà 1-2 tầng Do sự gia tăng dân số trong nhưng năm gần đây, nhu cầu diện tích ở

đòi hỏi nhiều và cũng do điều kiện kinh tế Hiện tại hầu hết các khu chung cư cũ của Hà Nội đều trong

tình trạng lấn chiếm đất công, xây xen, cơi nới, xây vẩy trái phép; nạn “chuồng cọp”, lồng sắt hầu như

khu chung cư cũ nào cũng có gây mất mỹ quan đô thị, chất lượng công trình bị ảnh hưởng xuống cấp,

các chức năng hạ tầng xã hội (cây xanh, trường học, nhà trẻ, bãi đỗ xe ) bị xem nhẹ Việc đầu tư cải tạo

xây dựng lại các khu chung cư cũ hiện nay là vô cùng bức thiết nhằm nâng cao diện tích ở, cải thiện môi

trường sống, bổ sung các chức năng hạ tầng xã hội còn thiếu trong khu vực

Chỉ tiêu nhà ở khu vực đô thị đạt 25,1m2 sàn sử dụng/người (năm 2009), cao hơn so với chỉ tiêu chung

của toàn quốc là 23,11m2 sàn sử dụng/người Chỉ tiêu nhà ở khu vực nông thôn đạt 17,9m2 sàn sử

dụng/người (năm 2009)

Bên cạnh những chính sách phát triển mới về nhà ở, Hà nội cần nghiêm cứu cải tạo chỉnh trang quỹ nhà

ở hiện có đang xây dựng và phát triển lộn xộn ảnh hưởng rất lớn đến kiến trúc và cảnh quan chung đô

thị

Nhận định chung

Quỹ nhà ở phát triển nhanh góp phần cải thiện điều kiện ở của người dân Trong 10 năm gần đây, tốc độ

triển khai các dự án phát triển nhanh với quy mô lớn đáp ứng nhu cầu ở rất cao của người dân thủ đô

Tuy nhiên chỉ tiêu về diện tích nhà ở, chỉ tiêu về hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật trong các khu ở cònthấp và không đồng đều Kiến trúc nhà ở tự phát, không liên kết, không đồng nhất tạo nên bộ mặt kiếntrúc đô thị nham nhở, hiệu quả thẩm mỹ kém đặc biệt là kiến trúc nhà ở lô phố và nhà ở chung cư caotầng

c Hiện trạng hệ thống các cơ sở văn hóa 10

c1 Hiện trạng văn hóa, tín ngưỡngHà Nội là nơi tập trung nhiều di sản di tích tôn giáo tín ngưỡng có trên 5.100 di tích lịch sử văn hóa, lànơi tập trung nhiều lễ hội và các những lễ hội mang tính đặc trưng riêng như Lễ hội chùa Hương, hội gòĐống Đa, hội Gióng … trong đó Khu vực Hà Nội cũ và Mê Linh có gần 2000 di tích với hơn 600 di tích

đã xếp hạng Thăng Long – Hà Nội ngàn năm văn hiến trải qua bao thăng trầm và biến cố thời gian, HàNội ngày nay còn lưu giữ được rất nhiều những công trình văn hóa gắn liền với lịch sử Hàng ngàn ditích lịch sử văn hóa, cách mạng quý hiếm, tiêu biểu là Cổ Loa, Thành Cổ, Phố cổ, là hàng trăm đình,chùa, miếu, phủ, tượng đài, làng nghề, phố nghề… nổi tiếng Hà Nội còn là nơi giao thoa hội tụ củanhiều nền văn hóa trên thế giới như dấu ấn của nền văn hóa Trung Hoa, Pháp, thể hiện qua những côngtrình văn hóa và những giá trị văn hóa phi vật thể Một số công trình văn hóa tiêu biểu như: Nhà hát LớnHà Nội, Bảo tàng lịch sử, Thư viện Quốc gia,

Bên cạnh văn hóa Thăng Long, Hà Nội còn nổi tiếng với văn hóa xứ Đoài, nơi hội tụ của nhiều làngnghề nổi tiếng và những ngôi làng cổ mang dấu ấn của các vị vua (Phùng Hưng, Ngô Quyền) với các lễhội truyền thống mang đậm nét dân gian, hay những ngôi đình chùa cổ kính danh bất hư truyền cùng vớicác danh nhân văn hóa đã có công góp sức hình thành nên lịch sử văn hóa xứ Đoài

c2 Hiện trạng các công trình văn hóa

Hệ thống rạp hát:

Thăng Long – Hà Nội, kinh đô của Việt Nam, còn là nơi giao thoa của các nền văn hoá lớn, nền vănminh của Á Đông và phương Tây để rồi xây dựng nên những cơ sở đầu tiên cho nền nghệ thuật Rạp hátlà nơi giao lưu và truyền bá văn hoá, đời sống của con người thông qua bộ môn nghệ thuật diễn trên sânkhấu Văn hoá nghệ thuật được thịnh hành và phát triển mạnh từ xa xưa, tuy nhiên phải đến thời ky Phápthuộc các nhà hát mới được xây dựng nhiều Hệ thống nhà hát trên địa bàn Hà Nội có khoảng 19 rạp, đặcbiệt 12 rạp hát thuộc hai quận trung tâm là Hoàn Kiếm và Hai Bà Trưng, phân bố không đồng đều, chủyếu tập trung tại trung tâm của thủ đô, còn tại các huyện ngoại thành hầu như không có Chỉ có một số ítnhà hát đạt tiêu chuẩn như Nhà hát Lớn xây vào thời Pháp thuộc được xây dựng năm 1902-1911, bảo trìthường xuyên, còn đa số không đạt chỉ tiêu về mặt kỹ thuật bên trong cũng như bên ngoài và thẩm mỹkiến trúc So với sự phát triển của xã hội hiện nay thì quy mô của các nhà hát không lớn Hạn chế nữa lànhiều rạp hát bị che chắn tầm nhìn bởi dân cư phát triển trong đô thị Trong 19 rạp hát có 4 rạp hát chưa

có rạp, một số dự án xây dựng rạp hát bị treo, nhiều rạp hát cũ bị phá bỏ hoặc chuyển đổi chức năng biếnthành vũ trường, quán bia… Với đời sống của người dân ngày càng phát triển, nhu cầu về thưởng thứcvăn hoá cũng tăng theo và sự xuống cấp của hệ thống nhà hát không đủ để đáp ứng Các khu vực ngoàitrung tâm Hà Nội thiếu cơ sở rạp hát tạo nên sự hình thành của những hát lưu động

Hệ thống rạp chiếu phim:

Chuyên ngành nghệ thuật thứ bảy được biết đến khi có sự du nhập của văn hoá và nền văn minh khoahọc nước ngoài do chế độ đô hộ của những năm Bắc thuộc Tuy nhiên thời đó rất ít rạp được xây dựng,chủ yếu xây dựng thời Pháp thuộc và quay lưu động Vì vậy hệ thống rạp chiếu phim phần lớn được xâydựng vào thời ky đổi mới Có 21 rạp chiếu phim, trong đó có cả những cụm rạp chiếu phim đạt tiêuchuẩn quốc tế như Megastar, trung tâm chiếu phim Quốc Gia được xây dựng mới và có quy mô lớn Sựphân bố của các rạp chiếu phim chủ yếu ở trung tâm của thủ đô và đô thị lớn như Sóc Sơn, Đông Anh,nên việc đáp ứng nhu cầu của người dân tại các đô thị và thị trấn, thị tứ thiếu nghiêm trọng Đồng thờichỉ có những rạp đủ tiêu chuẩn thu hút được khán giả, nhiều rạp chiếu phim chưa đủ tiêu chuẩn kỹ thuậtnhư: chất lượng âm thanh và hình ảnh kém, chỗ ngồi chưa hợp lý, tầm nhìn bị vướng, chỗ để xe chưahợp lý

10 Nguồn: Hà Nội bách khoa toàn thư.

Trang 14

Hệ thống rạp xiếc:

Bộ môn nghệ thuật xiếc góp phần mang lại niềm vui và sự hiểu biết về khoa học, đời sống và kỹ năng

khéo léo của con ngời và các loài vật thông minh Được ra đời muộn trong thời ky đổi mới và chưa được

chú trọng, rạp xiếc hầu như không thu hút được sự quan tâm của người dân mà chủ yếu chỉ đáp ứng số

lượng khán giả nhỏ tuổi, thiếu niên và nhi đồng Hiện tại chỉ có duy nhất một rạp xiếc trung ương có cơ

sở vật chất chưa đầy đủ tại trung tâm của thủ đô, phục vụ cho các đoàn xiếc Tuy vậy quy mô rất nhỏ và

bị che khuất tầm nhìn và ảnh hưởng bởi các nhà hàng, quán bia xung quanh Thiếu cơ sở hoạt động rất

nhiều tại khu vực trung tâm cũng như tại các quận huyện, đặc biệt là các cơ sở phục vụ cho thiếu nhi là

những đối tượng phần lớn của chuyên ngành này Do vậy đoàn xiếc phải đi biểu diễn lưu động tại các

khu vực dân cư nông thôn, xa trung tâm

Hệ thống thư viện:

Thư viện là nơi giao lưu học hỏi, truyền bá văn hoá, khoa học và đời sống tới người dân, góp phần quan

trọng tới sự phát triển văn minh của thủ đô Hệ thống thư viện của Hà Nội có khoảng hơn 40 thư viện với

hàng ngàn cuốn sách, trong đó có thư viện quốc gia Việt Nam có thể xem là thư viện quan trọng nhất của

cả quốc gia, mới được xây dựng lại với cơ sở vật chất hiện đại Các thư viện tập trung chủ yếu tại trung

tâm thủ đô và các đô thị lớn, đa số được xây dựng trong thời ky mới Thư viện cấp thành phố và hệ thống

thư viện tại các quận huyện địa phương chưa đáp ứng được đầy đủ nhu cầu của người dân Tại trung tâm

Hà Nội còn kể tới các thư viện tại các trường đại học và các thư viện chuyên ngành, tuy hiên quy mô

nhỏ, chỉ đáp ứng được một phần nhỏ cho các cán bộ và học sinh, sinh viên đại học Hình thức kiến trúc

của các thư viện chưa được quan tâm, đa số được lồng ghép và các công trình khác hoặc bị khuất tầm

nhìn Số thư viện tại Hà Nội nhiều hơn số thư viện của thành phố Hồ Chí Minh (26 thư viện với 2402

ngàn cuốn) nhưng số đầu sách thì chỉ bằng một phần tư, chưa xứng tầm là trung tâm văn hoá của cả

nước

Hệ thống bảo tàng:

Với chức năng là nơi lưu giữ quá khứ cũng như hiện tại của quá trình hình thành thủ đô qua các hiện vật,

di tích, khảo cổ… Hệ thống bảo tàng tại thủ đô có khoảng 16 bảo tàng lớn với nhiều chủ đề khác nhau,

qua nhiều thời ky khác nhau Một số bảo tàng được xây dựng vào thời ky thuộc địa nên cấu trúc mang

dáng dấp kiểu Pháp (bảo tàng lịch sử Việt Nam, bảo tàng mỹ thuật Việt Nam, bảo tàng Hà Nội, nhà tù

Hoả Lò), đa số xây với kiến trúc kiểu mới Tuy nhiên mật độ tập trung chủ yếu ở khu vực trung tâm, hiện

tại nhiều bảo tàng trong khu vực các quận huyện khá chật chội và hầu như là không có Hiện tại thiếu các

bảo tàng chuyên ngành, bảo tàng về thiên nhiên, bảo tàng dành cho các thanh thiếu niên nghiên cứu, giao

lưu và học tập Đặc biệt là bảo tàng Hà Nội hiện tại vẫn chưa được xây xong

Hệ thống Trung tâm văn hóa:

Là nơi giao lưu và hoạt động văn hóa cho mọi người dân, cho mọi lứa tuổi Hệ thống trung tâm văn hoá

được phân bố đồng đều trên toàn thành phố Tuy nhiên các trung tâm văn hóa chỉ được chú trọng tại đô

thị trung tâm, tại các huyện ngoại thành chỉ được xây dựng với quy mô nhà văn hoá nhỏ Tình trạng các

công trình thiếu thốn cơ sở vật chất, bộc lộ những hạn chế về mặt kiến trúc và mau xuống cấp Đặc biệt ở

các quận huyện xa trung tâm chưa hoạt động có hiệu quả Nhiều trung tâm văn hóa tuy được xây mới

nhưng quy mô nhỏ, kém cả về chất lượng và thẩm mỹ Thiếu những trung tâm văn hóa cấp quốc gia với

quy mô lớn

Hệ thống trung tâm triển lãm:

Triển lãm nơi giao lưu và giới thiệu những sản phẩm văn hóa cũng như sản xuất của người dân Hà Nội

với mọi người dân trên cả nước cũng như các bạn nước ngoài Tuy nhiên số lượng ít, xây dựng chủ yếu

vào thời ky kinh tế phát triển, chỉ có một trung tâm triển lãm cấp quốc gia nhưng hoạt động chưa hiệu

quả Trung tâm triển lãm Vân Hồ quy mô nhỏ, chật chội, có khu vực bị sử dụng sai mục đích, hoạt động

cho giao lưu triển lãm không nhiều Hiện tại cơ sở vật chất cho các trung tâm triển lãm không nhiều, đa

số mượn tạm cơ sở của các nhà văn hóa hoặc cung văn hóa Vì vậy chưa đáp ứng đầy đủ được nhu cầu

thiết yếu của người dân

Hệ thống công viên vui chơi giải trí:

Nơi phục vụ nhu cầu vui chơi và giải trí cho người dân toàn thành phố cùng khách du lịch Hiện tại cáccông viên phân bố rải rác trên địa bàn trung tâm thủ đô với quy mô nhỏ và số lượng thiếu trầm trọng,hiện chỉ có mỗi công viên nước Hồ Tây được gọi là công viên vui chơi giải trí lớn tại Hà Nội Còn đa sốcác công viên đều chỉ trồng cây lấy bóng mát và trở thành nơi tập thể dục thể thao cho người dân đô thị.Bên cạnh đó nhiều công viên bị chiếm dụng đất sử dụng sai mục đích thành nhà hàng và các quán xá,hoặc bị bỏ hoang thành tụ điểm cho các tệ nạn xã hội Tại các quận huyện xa trung tâm hầu như không

có công viên vui chơi giải trí, chỉ có một số ít có bố trí khu vực vui chơi cho trẻ em với quy mô rất nhỏ

Hệ thống quảng trường:

Nơi tụ họp của người dân trong những lễ hội, sự kiện trọng đại của thủ đô, nơi hội tụ không gian và tạođiểm nhấn quan trọng cho đô thị, đặc biệt là quảng trường cửa ngõ Hiện tại trung tâm Hà Nội chỉ cókhoảng 5 quảng trường văn hóa, các quảng trường quy mô chưa lớn, chưa được phát huy hết giá trị vốn

có Duy nhất Quảng trường Ba Đình gắn liền với lịch sử, có quy mô lớn nhưng đã từ lâu chỉ được trưngbày như di tích lịch sử Quảng trường Cách mạng tháng 8 trước mặt nhà hát Lớn được tổ chức nhiều sựkiện lớn của thủ đô nhưng quy mô quá nhỏ Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục tuy được gọi là quảngtrường nhưng được sử dụng như một nút giao thông đầu mối Bên cạnh đó các quảng trường chưa kếthợp được các công trình văn hóa đẹp và quan trọng, thu hút người dân và tạo thành điểm nhấn của đô thị

Hệ thống tượng đài:

Là công trình văn hóa có mối giao lưu trực tiếp tới người dân đô thị, đồng thời truyền đạt ngôn ngữ hìnhảnh và đánh dấu những chứng tích lịch sử của thủ đô Phần lớn tượng đài của Hà Nội được xây dựng khihoà bình lập lại nên nội dung chủ yếu ghi danh các chiến công lịch sử, anh hùng đất nước, khô khan vàthiếu nội dung truyền đạt tới người dân Nhiều tượng đài được xây dựng tại khu vực vắng vẻ hẻo lánh,hoặc bị che khuất, không kết hợp được với cảnh quan xung quanh Thiếu những tượng đài mang tính mỹthuật, tượng đài mang tính biểu tượng và tôn vinh vẻ đẹp của Hà Nội Hiện tại sự thiếu thốn tượng đàicần phải được quy hoạch rõ ràng, gắn liền với các quảng trường văn hóa, tạo bộ mặt mới cho đô thị vàghi lại dấu ấn cho từng mốc thời ky phát triển của thủ đô Hà Nội

Đánh giá chung

Hà Nội có bề dày 1000 năm lịch sử, có nhiều danh thắng, di tích lịch sử - văn hóa - khảo cổ cùng với vănhóa phi vật thể, là nơi tập trung nhiều công trình văn hóa lớn và quan trọng của cả nước Để Hà Nội tiếptục giữ vai trò là Thủ đô Văn Hiến của cả nước, bên cạnh việc giữ gìn phát huy các giá trị văn hóa truyềnthống cả vật thể và phi vật thể, cần sáng tạo các giá trị văn hóa mới để Hà Nội có sự chuyển biến mạnh

mẽ trong việc xây dựng thành phố Hà Nội Văn Hiến – Văn Minh – Hiện Đại

d Hiện trạng hệ thống giáo dục, đào tạo

- Các trường đào tạo đại học và cao đẳngHà Nội là trung tâm giáo dục và đào tạo lớn nhất của đất nước, có hàng trăm các viện nghiên cứu, trườngđại học cao đẳng đóng trên địa bàn Các công trình kiến trúc của các trường đại học truyền thống gópphần tạo nên bộ mặt kiến trúc đô thị của thủ đô Khu vực Hà Nội cũ tập trung nhiều nhất các trường đạihọc cao đẳng, trong đó: Đại học 46 trường; Cao đẳng 17 trường và Trung học chuyên nghiệp 39 trườngchiếm diện tích khoảng 450ha

Từ năm 196011 đến nay, số lượng trường đại học cao đẳng tại Hà Nội tăng gấp 3 lần, quy mô sinh viêntăng 11 lần và tỷ trọng người dân/sinh viên là 6/1 Do điều kiện về quỹ đất nội đô chật hẹp không đủ diệntích để mở rộpng trường, đã tác động tiêu cực tới chất lượng đào tạo Các chỉ tiêu về đất đai/sinh viên tạicác trường đại học, cao đẳng của Hà Nội rất thấp so với tiêu chuẩn; 1/3 số trường tại Hà Nội đạt chỉ tiêuđất từ 0,2-6m2/SV, còn lại trung bình 17m2/SV (tiêu chuẩn khu học tập là 25m2/SV không bao gồm khu

hỗ trợ) Ví dụ một số trường điển hình: Đại học mở Hà Nội tuyển sinh 40.000SV, quy mô trường 0,37ha,chỉ tiêu 0,2m2/SV; Đại học Bách Khoa tuyển sinh 44.000SV, quy mô trường 21 ha, chỉ tiêu8m2/SV.v.v…

11 Nguồn: Bộ Giáo dục và đào tạo

Trang 15

Ngoài các trường Đại học cao đẳng, các trường trung học chuyên nghiệp, dạy nghề cũng tập trung tại thủ

đô Hà Nội với số lượng lớn, tại Hà Nội có 59/99 trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề với 5,3

vạn giáo viên, học sinh

Đánh giá chung

Hầu hết các trường đại học cao đẳng này tập trung trong khu vực các quận nội thành đã gây áp lực quá

tải tới hệ thống kết cấu hạ tầng đô thị hiện có Cơ sở vật chất nghèo nàn, diện tích đất bình quân các

trường quá thấp so với tiêu chuẩn tối thiểu, thiếu chỗ cho nơi học tập, rèn luyện thể chất, nghiên cứu

sáng tạo Chính vì vậy, đến nay công tác đào tạo đại học chưa đáp ứng đủ nhu cầu cung cấp lực lượng

lao động có trình độ và tay nghề cao phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội cho Thủ đô và cả nước

- Hệ thống các trường giáo dục phổ thông 12

Hà Nội hiện có 2.375 cơ sở, trong đó ngoài công lập có 316 cơ sở Mạng lưới trường học phổ thông tại

Hà Nội có nhiều tồn tại đó là: Thiếu trường học (đặc biệt ngành mầm non, tiểu học) Trừ một số trường

mới được xây dựng, đa số các trường có cơ sở vật chất trang thiết bị dạy và học thiếu thốn, không đáp

ứng tiêu chuẩn quốc gia, ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo Các trường ngoài công lập không ổn định vị

trí do phải đi thuê cơ sở vật chất

Diện tích đất cho các trường thấp hơn tiêu chuẩn Trường mầm non đạt 7,0 m2/chỗ (tiêu chuẩn là 15

m2/chỗ ), trường tiểu học đạt 11,43 m2 (tiêu chuẩn 15 m2/chỗ ), trường THCS đạt 9,22 m2 (tiêu chuẩn là

15 m2/chỗ), trường PTTH đạt 9,36 m2 (tiêu chuẩn là 15 m2/chỗ)

Mạng lưới giáo dục phổ thông còn bộc lộ nhiều yếu kém, bất cập so với yêu cầu hiện đại hóa trường lớp

Những trường “điểm”, tỷ lệ học sinh/lớp quá cao, thiếu trường học đặc biệt ngành mầm non, tiểu học

Mạng lưới trường ngoài công lập không ổn định, phụ thuộc vào các hợp đồng thuê mượn Diện tích đất /

học sinh còn thấp so với quy định

Để nâng cao chất lượng sống cho người dân Hà Nội, cần phải có những giải pháp cụ thể và khả thi để

mở rộng cơ sở trường lớp, đặc biệt là khu vực đông dân cư nội đô hiện nay

e Hiện trạng hệ thống y tế:

Hệ thống các cơ sở y tế lớn tập trung ở khu vực trung tâm thành phố, nên không có điều kiện phát triển

mở rộng và góp phần gây quá tải tới hệ thống hạ tầng đô thị Các cơ sở y tế tuyến trung ương được đầu

tư và quan tâm vượt trội còn tuyến địa phương hầu như ít biến động về năng lực do đó nhiều nơi tuyến

địa phương chỉ hoạt động một cách hình thức, thiếu chủ động Hiện còn thiếu các cơ sở khám chữa bệnh,

cơ sở vật chất yếu kém, lạc hậu, xuống cấp và quá tải Và chưa có các quy hoạch, định hướng cụ thể cho

công tác đầu tư phát triển hệ thống cơ sở y tế trên địa bàn thủ đô Hà Nội và khu vực

Đặc biệt khu vực Hà Nội trung tâm tập trung tới: 32 cơ sở cơ sở y tế trung ương với 7710 giường có tổng

diện tích đất khoảng: 74 ha, trong đó: 16 bệnh viện đa khoa và chuyên khoa có diện tích khoảng 51,93

Ha, tổng số 6680 giường bệnh, chiếm 60% số giường bệnh trên địa bàn Hà Nội; 16 viện nghiên cứu thực

nghiệm y dược, trong đó 8 cơ sở nghiên cứu có thực nghiệm điều trị với 1030 giường có diện tích

khoảng 22,1 ha; 16 cơ sở y tế bộ ngành, với 3270 giường, Bao gồm của các bộ như: giao thông, Nông

nghiệp, Xây dựng, Công nghiệp, Công an, quốc phòng ; Cơ sở y tế trực thuộc thành phố Hà Nội gồm

21 bệnh viện đa khoa, chuyên khoa, y học cổ truyền Tổng diện tích 35,6 ha, 4090 giường bệnh; 8 trung

tâm chuyên khoa bao gồm lĩnh vực y tế dự phòng, kiểm dịch, giám định y khoa 2 trường cao đẳng y

tế Và 15 trung tâm y tế quận huyện thị xã, trong đó có 7 trung tâm có giường bệnh

Đánh giá chung

12 Nguồn: Sở giáo dục đào tạo Hà Nội

Phần lớn các bệnh viện tại Hà Nội có quy mô diện tích nhỏ, được xây dựng từ lâu, mặt bằng chật hẹp,xen kẽ trong các khu dân cư đông đúc, thiếu so với tiêu chuẩn Mật độ các bệnh viện tập trung quá nhiềuvào khu vực nội thành gây sức ép lên cơ sở hạ tầng và môi trường Trình độ năng lực của đội ngũ nhânviên y tế không đồng đều Quá tải tại các bệnh viện TW do số lượng bệnh nhân tập trung từ các tỉnhkhác

g Hiện trạng không gian xanh, cây xanh đô thị và mặt nước:

Trong thành phố, không gian xanh bao gồm tàn bộ đất nông nghiệp, sông hồ, vùng rừng thiên nhiên khuvực núi Ba Vì, Sóc Sơn, Hương Tích và các không gian xanh trông đô thị

- Khu vực ngoài đô thị

Chủ yếu là khu vực rừng tự nhiên (Ba Vì, Sóc Sơn, Quan Sơn, Hương Sơn), khu vực nông nghiệp chiếm56,5% tổng diện tích Khu vực rừng tự nhiên hiện tại đang dần bị khai thác lấn chiếm, làm ảnh hưởng tớimôi trường sống của các loài động vật đang sinh sống, đồng thời một số nơi khai thác du lịch với mật độcao gây ảnh hưởng tới mỹ quan của không gian tự nhiên vốn có Khu vực nông nghiệp được khai thácbởi trồng lúa, trồng hoa màu, trồng hoa, cây cảnh và cây ăn quả, chủ yếu là trồng lúa

Xu hướng sử dụng đất nông nghiệp xây dựng sân Golf

Từ một nền kinh tế nông nghiệp tập trung, bao cấp, chuyển sang nền kinh tế thị trường, việc chuyển dịch

cơ cấu sản xuất nông nghiệp đã đạt được những thành tựu quan trọng trong đó đầu tư và chuyển đổi mụcđích sử dụng đất thành sân golf là một vấn đề được quan tâm Sân golf là một loại hình không gian xanhvừa mang tính chất rèn luyện thể thao, vui chơi giải trí đồng thời các dự án đầu tư xây dựng sân golf cònđược coi là phát triển du lịch, giải quyết lao động và tăng trưởng mạng nền kinh tế của khu vực Tuynhiên trong khoảng 5 năm trở lại đây tình hình đất nông nghiệp bị khai thác để chuyển đổi thành sân golfngày một gia tăng Các dự án sân golf thay vì đầu tư vào vùng đất cằn cỗi, canh tác không hiệu quả thìlại xâm chiếm vùng đất thuộc diện trù mật, chăn nuôi trồng trọt năng suất cao Sự chiếm dụng đất nôngnghiệp để xây dựng không chỉ gây nên những bức bối cho người dân mà còn làm ảnh hưởng đến môitrường sống của khu vực

Tình hình các dự án sân golf hiện nay, theo UBND thành phố đến thời điểm tháng 7 năm 2010 trong số

19 dự án thì có 4 sân gôn hoạt động bình thường, 4 sân golf khác được tiếp tục xây dựng và 11 sân golf

sẽ ngưng triển khai

4 sân Golf đã đi vào hoạt động là sân golf King’s Island Golf Course tại Đồng Mô – Sơn Tây, Vân TrìGolf Club tại Đông Anh, Hà Nội Golf Club tại Minh Trí – Sóc Sơn, Sky Lake Resort and Golf Club tạiVăn Sơn – Sơn Tây

Khuyến cáo:

Đất nông nghiệp đặc biệt là đất trồng lúa bị thu hồi để triển khai các dự án sân golf gây ảnh hưởng đếnđời sống của người dân cũng như nền nông nghiệp của vùng Thu hồi đất nông nghiệp vào mục đínhkhác làm thay đổi cơ cấu nông nghiệp, giảm sản lượng lúa, tạo ra một luồng lao động tự phát tràn vào đôthị, gia tăng áp lực cho đô thị trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng và an ninh xã hội Vấn đề phát triển sângolf là xu hướng tất yếu của nhu cầu xã hội nhưng cần có quy hoạch rõ ràng cho những khu vực pháttriển loại hình sân golf này

- Khu vực đô thị:

Sau khi mở rộng địa giới hành chính thủ đô, toàn thành phố Hà Nội có khoảng 60 công viên, vườn hoalớn nhỏ với tổng diện tích khoảng 300ha, bình quân chỉ tiêu cây xanh đầu người thấp 5m2/người, khuvực các quận nội thành khoảng 2-3m2/ng (Quy hoạch năm 1998 phân đấu đạt 15m2/người)

Trong các quận nội thành cũ: diện tích cây xanh ngày càng thu hẹp do tác động của áp lực kinh tế xã hộivà thiếu kiểm soát trong quản lý đô thị Tại khu vực khu phố cổ và khu phố cũ, những vườn hoa câyxanh bị thu hẹp bởi các hàng quán và bị ô nhiễm Cây xanh và mặt nước hồ Gươm là một trong nhữngđiểm văn hóa điển hình của trung tâm Hà Nội, gắn liền với lịch sử của các khu phố, được đầu tư và chỉnh

Trang 16

trang hợp lý Tại quận Ba Đình có hai công viên lớn của thành phố là công viên Thủ Lệ và công viên

Bách Thảo, đặc biệt là khu vực mặt nước trong địa bàn quận như hồ Trúc Bạch, Giảng Võ, Ngọc Khánh,

công viên Thống Nhất, công viên Tuổi Trẻ quận Hai Bà Trưng đã góp phần tạo cảnh quan và cải tạo vi

khí hậu cho khu vực

Trong các khu đô thị mở rộng: Cây xanh chỉ được quan tâm ở mức độ từng dự án nhỏ lẻ riêng biệt, hầu

như không có cây xanh công viên phục vụ cấp khu vực, tại các đô thị lớn tỉ lệ cây xanh rất thấp và không

được đâu tư nâng cấp

Các công viên chuyên đề: Hiện tại thiếu công viên chuyên đề, công viên chuyên ngành, công viên tự

nhiên dành cho khoa học nghiên cứu, hay những đại công viên như công viên rừng tự nhiên gắn bó với

hoạt động của người dân Ví dụ công viên bách thú hiện tại chưa được đầu tư cơ sở vật chất cũng như số

lượng các giống loài, quang cảnh sơ sài và điều kiện chăm sóc các con thú kém chất lượng

Cây xanh đường phố: Do mật độ của đô thị đông đúc, đường phố chật hẹp và bị lấn chiếm, tình trạng cây

xanh đường phố là rất thiếu, tạo nên ít trục xanh trong đô thị Phần lớn các trục đường có cây xanh chỉ

tập trung tại các khu phố cũ, khu phố Pháp, còn tại các khu vực mới phát triển hầu như không có, hoặc

không được đầu tư

Đánh giá chung:

Tình trạng các công viên được nghiên cứu và gắn kết cùng các dự án mới với các công trình mới được

xây kèm làm thu nhỏ không gian xanh vốn có Các không gian xanh không chỉ thiếu thốn tại khu vực

trung tâm mà còn bị ô nhiễm đối với khu vực hai bên sông của hệ thống các con sông của Hà Nội Phần

lớn phần xanh được che phủ bởi đất nông nghiệp, đất hoang, chưa được quy hoạch thống nhất để tạo

cảnh quan đẹp Thiếu quy hoạch đồng bộ các hệ thống cây xanh đô thị và mặt nước cấp Vùng, cấp thành

phố, cấp quận, huyện và các phường xã đến các đơn vị ở theo quy chuẩn quy phạm của đô thị Một số

cùng cảnh quan đẹp không bố trí công viên mà chỉ chú trọng đến các công năng khác như khu vực hồ

Tây, Linh Đàm

- Hệ thống mặt nước

Ngoài hệ thống các sông Đà, Hồng, Đuống, Nhuệ, Tô Lịch, Kim Ngưu, Lừ, Sét…Hà Nội hiện nay là

thành phố có số lượng ao hồ nhiều, diện tích ao hồ lớn so với các đô thị trong cả nước Hiện nay trên địa

bàn 10 quận nội thành Hà Nội có khoảng 111 hồ, ao với tổng diện tích khoảng 1.165ha Với 46 hồ đã

được cải tạo (15 hồ đã cải tạo đồng bộ, hoàn chỉnh); 65 hồ chưa được cải tạo, trong đó: 21 hồ đã có dự án

cải tạo và 44 hồ chưa có dự án cải tạo

Tuy nhiên, diện tích ao hồ giảm mạnh trong các năm qua gây tình trạng úng lụt và tiêu thoát không tốt,

ảnh hưởng nghiêm trọng đến cảnh quan thiên nhiên của đô thị và làm mất cân bằng sinh thái, ô nhiễm

môi trường Sông hồ Hà Nội là nguồn tiếp nhận, dẫn, vận chuyển và chứa xử lý nước thải sinh hoạt công

nghiệp và điều hòa nước mưa

h Hiện trạng khu thể dục thể thao:

Các công trình thể dục - thể thao chủ yếu do 3 cấp quản lý:

- Khu TDTT cấp quốc gia: Khu liên hợp TDTT Mỹ Đình diện tích 250 ha, tiêu chuẩn xây dựng đạt cấp

quốc gia Vẫn đang trong quá trình hoàn thiện nốt tuy nhiên quy mô chưa đủ để đáp ứng cho ASIAD và

các hoạt động giao lưu mang tầm cỡ quốc tế trong thời gian tới

- Khu TDTT cấp Thành phố: Tập trung tại quận Ba Đình, gồm các tổ hợp thể thao được xây dựng theo

tiêu chuẩn Việt Nam từ nhiều năm trước đây, quỹ đất hạn chế Nhiều nơi bị lẫn vào không gian ở của

người dân gây nên chật chội và không có thẩm mỹ, gây tắc nghẽn giao thông khi có các buổi thi đấu

- Khu TDTT cấp quận huyện: Khu vực nội thành có các công trình phục vụ dân cư luyện tập, vui chơi

tuy nhiên quy mô nhỏ, cơ sở vật chất lạc hậu Khu vực ngoại thành chủ yếu có các công trình quy rất mô

nhỏ, sân bãi TDTT ngoài trời Khả năng phục vụ cho khu dân cư rất hạn chế Theo thống kê chỉ có 14/29

quận huyện có các công trình TDTT cấp huyện, tập trung tại các quận nội thành cũ của Hà Nội, Hà Đôngvà Sơn Tây

- Công trình TDTT trong khu ở: được hình thành bởi các khu TDTT trong khu ở mới và không gian côngcộng của khu ở cũ Đáp ứng phần nào nhưng chật chội và không đủ cơ sở vật chất

- Ngoài ra còn có một số công trình thể dục thể thao tư nhân được xây dựng để kinh doanh như sân bóng

đá, sân tennis nhưng quy mô nhỏ

- Tình hình các dự án sân golf hiện nay, theo UBND thành phố trong số 19 dự án thì có 4 sân gôn vẫnhoạt động bình thường, 4 sân golf khác được tiếp tục xây dựng và 11 sân golf sẽ ngưng triển khai 4 sângolf được phép đầu tư và đi vào hoạt động: sân golf Minh Trí, Vân Trì, Đồng Mô, Văn Sơn

Nhận định chung:

Dân số quá đông, không gian đô thị ngày càng chật chội khiến những địa điểm thể thao trở nên khanhiếm và không đáp ứng đủ nhu cầu của người dân Hầu hết các trường đại học và cao đẳng tại Hà Nộiđều trong tình trạng thiếu sân chơi Một vài trường có diện tích rộng, nhưng lại sử dụng một phần để xâydựng sân quần vợt với hiệu suất sử dụng không cao Các sinh viên của thành phố thường phải chơi bóngtrong những khoảng sân có diện tích nhỏ hẹp Các công trình TDTT các cấp tuy đã được hình thànhnhưng cơ sở vật chất còn chưa đảm bảo đặc biệt là cấp quận huyện Việc thiếu thốn cơ sở vật chất kèmtheo thiếu thốn về quỹ đất dành cho TDTT trong các khu dân cư gây nên tình trạng người dân phải đếncác khu công viên công cộng để luyện tập Nhiều khu vực công cộng bị ảnh hưởng, bị ô nhiễm hoặc bịphá hoại do thiếu ý thức của người dân

i Hiện trạng đất quốc phòng

Tổng đất dành cho quốc phòng trên địa bàn Hà Nội là 9.500-10.000ha Phân bố rộng khắp trên địa bàncủa Thành phố và phân chia thành 3 vùng, tương ứng với mức độ đô thị hoá, mật độ xây dựng và khảnăng khai thác quỹ đất trống Riêng khu vực trung tâm thành phố và phụ cận, đất Quốc phòng do quânđội quản lý trên địa bàn quân khu thủ đô là 2499,57ha (427 vị trí) Bao gồm Đất sử dụng cho các đơn vịđóng quân; căn cứ không quân, hải quân và các căn cứ quân sự khác; Các công trình phòng thủ quốc gia,trận địa và các công trình đặc biệt; ga, cảnh quân sự… Đất sử dụng cho mục đích an ninh do Bộ Công anquản lý bao gồm đất sử dụng cho các đơn vị đóng quân; Đất sử dụng làm nơi tạm giữ, tạm giam , trạigiam phạm nhân, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng; Đất sử dụng làm nhà trường, đào tạo của ngành,Đất sử dụng làm bệnh viện, nhà điều dưỡng của ngành; Đất sử dụng làm trường bắn; Đất sử dụng làmkho tàng với tổng số 172 vị trí có tổng diện tích khoảng 123,33ha Đất An ninh thuộc Công an Thành phốHà Nội có tổng diện tích khoảng 62ha bao gồm: Khối an ninh, khối cảnh sát, khối hậu cần …

Trong thời gian qua, áp lực của quá trình đô thị hoá, sự bùng nổ về kinh tế đô thị và nhiều vấn đề khácnảy sinh trong quá trình phát triển song vẫn đảm bảo thế trận an ninh quốc phòng đáp ứng đảm bảo antoàn tuyệt đối cho Thủ đô, đất an ninh quốc phòng ngày cành được củng cố, tổ chức lại theo quy hoạchchiến lược chuyên ngành

2.2.5 Hiện trạng hệ thống hạ tầng kỹ thuật

a Giao thông

- Hệ thống giao thông đường bộ đối ngoại:

Quốc lộ: Hà Nội là đầu mối giao thông quan trọng, các tuyến đường bộ hướng tâm về Hà Nội (quốc lộ1,2, 3,5,6,32, đại lộ Thăng Long, cao tốc Thăng Long-Nôị Bài tạo thành mạng lưới hình nan quạt Mậtđộ mạng lưới đường QL thấp, phân bố không đồng đều, quy mô các tuyến nhỏ, hẹp chỉ đạt 2-4 làn xe ô

tô Hầu hết các tuyến quốc lộ đã đầy tải và quá tải Việc xây dựng các tuyến đường cao tốc song hànhhoặc mở rộng tuyến hiện có rất chậm so với yêu cầu Đặc biệt các tuyến đường vành đai 2, 3, 4, chưahoàn thiện, nên lưu lượng phương tiện vận tải hàng hoá, hành khách trung chuyển qua đầu mối Hà Nội,phải đi vào nội thành tạo sức ép lên hệ thống đường nội đô, gây ách tắc giao thông, ô nhiễm môi trườngcủa Thủ đô Hà Nội

Trang 17

Thực trạng về việc vi phạm hành lang bảo vệ đường bộ đang rất nghiêm trọng Do không có đường gom,

thiếu các giải pháp kỹ thuật đã ảnh hưởng tới khả năng thông xe của các tuyến và gây nên tai nạn giao

thông

Đường tỉnh, đường huyện: Có 35 tuyến tỉnh lộ, được phân bố khá hợp lý và đồng đều cho tất cả các vùng

song quy mô mặt cắt nhỏ hẹp, tỷ lệ mặt đường được cứng hóa thấp (35-40%)

- Hệ thống giao thông đô thị:

Mạng lưới giao thông đô thị Thủ đô Hà Nội đang bị quá tải nặng nề do đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng

còn cách xa so với tốc độ tăng dân số và tốc độ phát triển kinh tế – xã hội, gây ùn tắc giao thông, làm

ngưng trệ hoạt động của đô thị, gây ô nhiễm khí thải, bụi, tiếng ồn, an toàn giao thông và cảnh quan đô

thị Quỹ đất giao thông hiện trạng chỉ chiếm dưới 8% đất xây dựng đô thị, đáp ứng được dưới 40% mức

hợp lý Đất giao thông các quận nội thành hiện nay trung bình đạt khoảng 5% trên đất xây dựng đô thị

Mật độ đường chính khu vực toàn thành phố khoảng 0,74km/km2 (theo quy chuẩn xây dựng Việt nam

thì tỷ trọng đất giao thông phải đạt khoảng 16-25% và mật độ đường đạt khoảng 6,5-8 km/km2 So sánh

1 số nước trong khu vực và các nước phát triển thì con số này là 25-30% thậm chí tới 40%)

Mạng lưới đường chính đô thị hiện nay có dạng vành đai kết hợp xuyên tâm Hệ thống các đường hướng

tâm, các cầu chính qua sông Hồng, sông Đuống và các đường vành đai chưa xây dựng liên thông

- Giao thông công cộng: Vận tải hành khách công cộng chiếm tỷ lệ thấp, khoảng 14% chủ yếu do xe

buýt và taxi Các phương tiện vận tải cá nhân hai bánh giữ vai trò chủ đạo, đây cùng là nguyên nhân

chính dẫn đến tình trạng ách tắc giao thông trong nội đô

- Hệ thống giao thông ngoại thành:

Hiện tại lưu lượng đi lại trên các tuyến hướng tâm vào nội thành vào giờ cao điểm là 6-7 vạn lượt xe/giờ,

nhưng khả năng đáp ứng của các tuyến hướng tâm hiện có chỉ đáp ứng 1/3 nhu cầu Tại một số khu vực

phát triển khá nhanh như KCN, các làng nghề đã có sự quá tải trên các tuyến tỉnh lộ, đường huyện và

liên xã Các tuyến quốc lộ qua các huyện ngoại thành phần lớn thiếu đường gom dân sinh, các đoạn qua

các thị trấn, thị tứ có mặt cắt ngang hẹp, chưa phân rõ giao thông liên tỉnh và giao thông địa phương, làm

giảm khả năng thông xe và mất an toàn giao thông trên các tuyến quốc lộ

Bảng 3: Tổng hợp mạng lưới đường bộ Thủ đô Hà Nội

TT Loại đường Số tuyến/ số cầu Chiều dài(km) Bề rộng (làn

Nguồn: Theo báo cáo của Sở GTVT Hà Nội

Các công trình giao thông: Hiện nay chỉ có 13 cầu vượt sông lớn (qua sông Hồng có 5 cầu, sông Đuống

có 3 cầu, sông Đà có 1 cầu, sông Đáy có 4 cầu) Nút giao thông phần lớn là nút giao thông đồng mức

đơn giản, số nút tổ chức giao thông khác mức ít (khoảng10 nút) Hệ thống bến bãi đỗ xe, điểm dừng,

điểm nghỉ trên các cữa ngõ vào thành phố hầu như chưa có Bến xe liên tỉnh có 11 bến, công suất

3.500-4.000 lượt/ngày, tổng diện tích ~12ha Điểm trông giữ xe công cộng có trên 150 điểm với tổng diện tích

27,24ha và công suất trên 9,5 triệu lượt xe/năm

- Hệ thống giao thông đường sắt:

Hà Nội là đầu mối đường sắt quan trọng nhất cả nước, với 5 tuyến đường sắt hướng tâm và 1 tuyến vành

đai ở phía Tây Hầu hết các tuyến đường sắt đều là tuyến đơn khổ hẹp 1,0m với kết cấu loại cũ, các chỉ

tiêu kỹ thuật rất thấp, chưa kiểm soát được hành lang an toàn đường sắt Các tuyến đường sắt hầu hết

giao cắt đồng mức với các tuyến giao thông đường bộ, không đảm bảo an toàn, gây ách tắc giao thông,

hạn chế tốc độ và lưu lượng chạy tàu Đặc biệt tuyến đường sắt xuyên tâm từ Ngọc Hồi – ga Hà Nội

-Long Biên – Yên Viên, chia cắt thành phố thành hai phần đang gây cản trở giao thông nội đô nghiêmtrọng

Quy mô ga nhìn chung nhỏ, thiếu các ga đầu mối quy mô lớn mang ý nghĩa cấp Vùng và Quốc gia

Hệ thống giao thông đường thủy:

Các tuyến vận tải thuỷ đối ngoại của Hà Nội chủ yếu là các tuyến đường thuỷ kết nối trực tiếp Thủ đôvới cụm cảng biển cửa ngõ Hải Phòng và Quảng Ninh

Khu vực Hà Nội gồm 3 tuyến chính là tuyến trên sông Hồng, tuyến trên sông Đuống và tuyến trên sôngĐà Tuyến đường thuỷ sông Cầu – sông Công sẽ được duy trì cho các xà lan và tàu hàng nhỏ hơn 100T.Các tuyến sông Cà Lồ, Sông Đáy, sông Tích, sông Thiếp - Ngũ Huyện Khê, hệ thống sông Nhuệ - TôLịch cần được cải tạo, bổ sung nguồn nước vào mùa cạn, khắc phục ô nhiễm để vừa làm chức năng cảnhquan, thoát nước, vừa khai thác vận tải thủy phục vụ du lịch, nghỉ ngơi bằng ca nô, tàu nhỏ

Các tuyến đường thủy có tổng chiều dài khoảng 300km Tuy nhiên, khả năng khai thác bị hạn chế so vớitiềm năng do chỉ dựa vào điều kiện tự nhiên, chưa đầu tư cải tạo, nạo vét luồng lạch thiếu kết nối liênthông

Hệ thống cảng phân bố khá hợp lý dọc theo các tuyến đường thuỷ chính, với 16 cảng, 102 bến bốc xếpvà 33 bến thủy nội địa Lượng hàng hóa thông qua trên 800 triệu tấn/năm, hành khách đạt 4,8 triệu lượtngười/năm Tuy nhiên cơ sở hạ tầng, thiết bị bốc xếp, kho bãi lạc hậu, diện tích mặt đất và mặt nước hẹp

- Hệ thống giao thông đường không:

Hiện nay chỉ có 2 sân bay đang khai thác dân dụng Cảng hàng không, sân bay quốc tế Nội Bài đạt tiêuchuẩn cấp 4E, hành khách thông qua đạt 6 triệu HK/Năm Sân bay nội địa Gia Lâm đạt tiêu chuẩn cấp3C (theo tiểu chuẩn ICAO) Ngoài ra Hà Nội còn có 3 sân bay do quân đội quản lý: Bạch Mai, Hòa Lạcvà Miếu Môn

Nhận xét, đánh giá thực trạng giao thông đô thị

Hệ thống giao thông đô thị của Hà Nội đang bị quá tải nặng nề trước tốc độ phát triển kinh tế - xã hội vàdân số tăng nhanh Sự quá tải đã gây nên ùn tắc giao thông trên tại các nút giao, cửa ngõ và các tuyếnchính thành phố Xét từ góc độ quy hoạch có thể thấy các chỉ tiêu giao thông đều quá thấp so với yêucầu, diện tích dất giao thông chỉ đạt dưới 8% đất xây dựng đô thị (mức hợp lý 20-26%) Mạng lướiđường chính đô thị chất lượng kém và chưa được kết nối liên thông Hệ thống bãi đỗ xe thiếu Hệ thốngđường sắt, đường thủy lạc hậu, chiếm tỷ trọng quá nhỏ so với tổng nhu cầu vận tải Vận tải đô thị chủyếu sử dụng phương tiện cá nhân, vận tải hành khách công cộng chiếm tỷ lệ rất thấp chỉ đạt khoảng 14%

Do vậy tình trạng ùn tắc giao thông, tai nạn giao thông, ô nhiễm môi trường… trong hoạt động giaothông đô thị ngày nay đã trở thành hiện tượng xảy ra thường xuyên và nghiêm trọng

b Chuẩn bị kỹ thuật b1 Hiện trạng thủy lợi:

Địa bàn Hà Nội có 3 vùng thủy lợi: vùng hệ thống thuỷ lợi Sông Nhuệ (Tả Đáy), vùng hệ thống thuỷ lợisông Tích – Thanh Hà (Hữu Đáy) và vùng Bắc Hà Nội

- Vùng hệ thống thuỷ lợi Sông Nhuệ : Gồm các quận huyện: Ba Đình, Hoàn Kiếm, Hoàng Mai, CầuGiấy, Tây Hồ, Hai Bà Trưng, Thanh Trì, Từ Liêm, Đan Phượng, Hoài Đức, Hà Đông, Thường Tín,Thanh Oai, Ứng Hòa, Phú Xuyên, 1 phần huyện Kim Bảng và TP Phủ Lý tỉnh Hà Nam VớiFtn=132.356ha, Fcầntiêu = 107 530ha (Hà Nam: 21.435ha) Vùng này tiêu ra 3 hướng : tiêu ra sôngHồng, tiêu ra sông Đáy và tiêu ra sông Nhuệ Tuy được phân làm 3 vùng tiêu nhưng toàn bộ hệ thốngvẫn có thể tiêu liên hoàn với nhau do cả hệ thống kênh trục tiêu và công trình trên kênh trục có thể vậnhành kết hợp hoặc tách rời Đó là những kênh trục ở bờ tả sông Nhuệ: Tô Lịch – Yên Sở, Sông Om, KhaiThái, Yên Lệnh, Duy Tiên, sông Châu; ở bờ hữu sông Nhuệ: Cầu Ngà, La Khê, Vân Đình, Ngoại Độ,Quế Các sông trục này kể cả sông Nhuệ đều bị bồi lắng, không hoàn chỉnh về mặt cắt và công trình điềutiết Hệ số tiêu vùng này trung bình, hệ số tiêu trung bình của vùng này 4,5-6l/s/ha, một số công trình

Trang 18

mới nâng cấp và cải tạo đạt 7l/s/ha; nội thành Hà Nội: 5,6l/s/ha ( yêu cầu tiêu thực tế của khu vực nông

nghiệp là 7-8l/s/ha, khu vực đô thị và công nghiệp là 14-20l/s/ha) Các trạm bơm lớn hầu hết mới được

đầu tư và đang được tu bổ nâng cấp phục vụ tốt việc tiêu ra sông ngoài

- Vùng hệ thống thuỷ lợi sông Tích – Thanh Hà: Gồm toàn bộ các đơn vị hành chính còn lại của Hà Nội

khu vực Nam sông Hồng Vùng này được chia thành 5 tiểu vùng tiêu: tiểu vùng Ba Vì, tiểu vùng tả sông

Tích, tiểu vùng hữu sông Tích, tiểu vùng Thượng Thanh Hà và tiểu vùng tả Mỹ Hà Hệ số tiêu hiện trạng

vùng này là 4-6l/s/ha

 Tiểu vùng Ba Vì: gồm toàn bộ huyện Ba Vì Do địa hình cao, bán sơn địa và dốc về phía sông Tích

nên hướng tiêu chính là đổ vào sông Tích

 Tiểu vùng tả sông Tích: bao gồm các huyện Thạch Thất, Quốc Oai, Chương Mỹ, Phúc Thọ và Sơn

Tây nằm phía tả sông Tích , hữu sông Đáy Hướng tiêu của vùng là ra sông Tích và sông Đáy Đây là

vùng tiêu hỗn hợp bằng động lực và tiêu tự chảy

 Tiểu vùng hữu sông Tích: bao gồm 4 xã Lương Sơn, một phần các huyện Thạch Thất, Quốc Oai,

Chương Mỹ, đô thị Sơn Tây Hướng tiêu là ra sông Tích với hình thức tiêu chủ yếu là tiêu tự chảy và

bán tự chảy Diện tích tiêu bằng động lực nằm rải rác ven bờ sông Tích

 Tiểu vùng Thượng Thanh Hà: chỉ có 2 xã Hương Sơn và An Phú thuộc huyện Mỹ Đức thuộc tiểu

vùng này Hướng tiêu ra sông Thanh Hà sau đó đổ ra sông Đáy

 Tiểu vùng tả Mỹ Hà: gồm huyện Mỹ Đức Hướng tiêu ra sông Đáy và sông Thanh Hà

- Vùng Bắc Hà Nội: Gồm các quận, huyện Đông Anh, Gia Lâm, Sóc Sơn và Mê Linh, diện tích tự nhiên

là 88.591ha, diện tích cần tiêu: 42.411 ha Hệ số tiêu hiện trạng là 5-5,5l/s/ha Phân thành 4 tiểu vùng: Tả

Cà Lồ, Hữu Cà Lồ, Bắc Đuống, Bắc Hưng Hải Toàn vùng hầu như hoàn toàn tiêu ra hệ thống các sông

nội đồng sau đó ra sông ngoài: ra sông Hồng, sông Đuống và ra sông Cầu Việc tiêu thoát hoàn toàn phụ

thuộc vào mực nước trên các sông trục này và các sông ngoài

- Nhận xét: hệ số tiêu hiện trạng quá thấp không đáp ứng đủ cho yêu cầu Hệ thống công trình đầu mối

và công trình nội đồng chưa đồng bộ, không được tu sửa, nạo vét thường xuyên, bị xâm lấn gây úng giả

tạo Nhiều kênh tiêu bị xâm hại, lấn chiếm nghiêm trọng, đặc biệt là các kênh mương nội đồng ở khu vực

đô thị, công nghiệp phát triển

b2 Hiện trạng đê điều chống lũ:

Hệ thống đê sông trên địa bàn Hà Nội gồm có đê Hữu Hồng và Tả Hồng, đê sông Đuống, sông Cầu,

sông Đáy, sông Cà Lồ, sông Tích với tổng chiều dài các tuyến khoảng 425,09 km với 59 cống đang hoạt

động và 14 cống đã hoàn triệt, 29 cửa khẩu và 118 điểm canh đê

- Tuyến đê sông Hồng đã được quan tâm và tập trung đầu tư đảm bảo mặt cắt, cơ đê, cứng hoá mặt đê,

kè, cống, trồng cây chắn sóng, xử lý thân đê Tuy nhiên xói lở bờ sông vẫn thường xẩy ra, các vị trí xung

yếu vẫn là tại vị trí các cống, trạm bơm

- Tuyến đê sông Đuống có cao trình đỉnh đê thấp so với thiết kế: 0,4-0,7m Một số mặt cắt đê còn nhỏ,

địa chất thân đê không đồng đều, nền đê nhiều đoạn chất lượng còn kém, các cống qua đê nhìn chung

đảm bảo

- Tuyến đê sông Cà Lồ chưa đảm bảo chống lũ do nhiều chỗ bị sạt lở, nhất là khi xảy ra trường hợp lũ

sông Cà Lồ trùng hợp với lũ sông Cầu

- Các tuyến đê khác trong hệ thống thuỷ lợi sông Nhuệ: toàn bộ tuyến đê thuộc hai bờ tả, bờ hữu sông

Nhuệ mặt cắt thiếu, nhiều ẩn hoạ, có nhiều vị trí xung yếu, chưa được cứng hoá mặt và tạo liền tuyến để

sử dụng đa mục tiêu, các tuyến khác như: La Khê, Vân Đình, Ngoại Độ, Quế, Yên Sở, Om, sông Duy

Tiên, Khai Thái, Yên Lệnh, Lạc Tràng … đều chưa hoàn chỉnh, còn thiếu mặt cắt, nhiều công trình dưới

đê, dân lấn chiếm, chưa thông tuyến, nhiều vật cản, ách tắc

- Tuyến để Tả Đáy: Trong thân đê có nhiều tổ mối và ẩn hoạ, tập trung nhiều là đê tả Đáy, Vân Cốc và đêsông Đáy Mặc dù đã được tập trung đầu tư xây dựng nhưng vẫn còn những điểm xung yếu

- Tuyến đê Tả Tích, Tả Bùi, Mỹ Hà: có nguy cơ tràn, vỡ cao

- Hệ thống đê nội đồng: còn chắp vá, chưa thông tuyến, chưa đủ mặt cắt, chưa hoàn chỉnh, nhiều vị tríxung yếu Khi mực nước tiêu trong các sông trục cao, nhiều sự cố xảy ra Nhiều đoạn đê chưa đảm bảo

hệ số mái thiét kế (chủ yếu mái thượng lưu) dễ gây sạt lở

b3 Hiện trạng nền và thoát nước đô thị

b3.1 Hiện trạng nền xây dựng

Những khu vực đã xây dựng trong Hà Nội cũ, nội thành Hà Đông cũ, nội thành Sơn Tây, các khu đô thịmới, các khu công nghiệp, các thị trấn huyện lỵ đều đã xây dưng theo cao độ khống chế của đồ án quyhoạch chung xây dựng, đồ án quy hoạch chi tiết Các làng xóm đều đã xây dựng trên cao độ không bịảnh hưởng của ngập lụt theo kinh nghiệm thực tế

Những khu vực dự kiến phát triển phần lớn là đất nông nghiệp, do vậy đều phải san gạt, tôn nền tới caođộ xây dựng khống chế

Những khu vực đô thị bị úng ngập khi mưa lớn đều do chưa có đủ cống (chưa có cống hoặc cống khôngđủ năng lực thoát) hoặc chưa có kết nối giữa hệ thống cống chính thành phố và khu vực hoặc do quản lýbảo dưỡng kém nên bị ách tắc dòng chảy Các điểm dân cư ngoài đê thường bị ảnh hưởng ngập về mùalũ

- Nhìn chung diện tích ngập úng hàng năm trên địa bàn thành phố vẫn lớn Đặc biệt là khu vực Tả Đáy,diện tích ngập của khu vực này những năm gần đây xấp xỉ 60.000ha

Bảng 4: Diện tích úng ngập

Tả Đáy Hữu Đáy Bắc Hà Nội

5 Năm 2006 58740 6813 Khu vực trên Hà Đông ngập nặngTB Yên Sở phải hỗ trợ cho Sông Nhuệ

6 2008 56500 Mưa lớn vào cuối vụ mùa (Th11)Nhiều khu vực Nam Thành phố ngập trong nhiều ngày

b3.2 Hiện trạng thoát nước đô thị:

Công tác thoát nước đô thị của cả nước nói chung, Thành phố Hà Nội nói riêng được tiêu thoát nước theochế độ tiêu thoát của vùng tiêu thuỷ lợi Các khu vực phía Bắc sông Hồng, toàn bộ khu vực Hà Tây cũ và

4 xã Lương Sơn đều phụ thuộc vào chế độ tiêu thoát của thuỷ lợi Khu vực nội thành Hà Nội cũ gồm cácquận Ba Đình, Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Hoàng Mai, Đống Đa và một phần quận Tây Hồ, huyệnThanh Trì nằm trong dự án thoát nước Hà Nội, với trạm bơm thoát nước đô thị riêng và có thể chủ độngtiêu thoát nước Ngoài ra, dự án này có thể hỗ trợ một phần cho vùng tiêu thuỷ lợi sông Nhuệ

Hiện trạng các công trình tiêu: Hiện nay trên toàn thành phố đã có một hệ thống công trình tiêu rất lớnvới gần 700 trạm bơm lớn nhỏ, công suất đảm bảo tiêu cho khoảng 70% diện tích cần tiêu, tuy nhiên tìnhtrạng úng ngập vẫn thường xuyên xảy ra do chưa chủ động tiêu thoát cho thành phố cả ở khu vực đô thịvà nông nghiệp

Trang 19

Bảng 6: Tổng hợp hiện trạng công trình tiêu thành phố Hà Nội

Hiện trạng mạng cống thoát nước đô thị:

Hầu hết các quận nội thành hiện nay, thị xã Sơn Tây và một số các điểm đô thị lớn khác đều đã có mạng

thoát nước đô thị với hệ thống cống thoát nước chung (thoát chung cho cả nước mưa và nước thải) Tuy

hệ thống này đã được nâng cấp trong những năm gần đây song vẫn chưa hoàn chỉnh Khu vực lưu vực

sông Tô Lịch đã và đang thực hiện dự án thoát nước, hiện nay đang tiếp tục giai đoạn II, tuy vậy cũng

chỉ mới nâng cấp các trục tiêu chính và xây dựng công trình đầu mối Hầu hết mạng cống thoát nước đã

quá cũ, khẩu độ nhỏ không đáp ứng được khả năng thoát nước theo sự phát triển của đô thị và có kết cấu

hỗn hợp: cống ngầm, mương nắp đan, mương hở kết hợp với hệ thống hồ điều hòa và các trạm bơm

+ Tại các khu công nghiệp và các khu đô thị mới trên địa bàn Hà Nội đều đang xây dựng hệ thống thoát

nước riêng, tuy vậy vẫn chưa triệt để Tại các khu công nghiệp, nước thải sau xử lý cục bộ vẫn xả trực

tiếp ra khu vực trũng gần kề, còn tại các khu đô thị mới thì tuy mạng cống ngầm riêng nhưng chưa có

trạm xử lý vì vậy vẫn xả chung

+ Tại các thị trấn mới chỉ có một hai tuyến cống qua trung tâm, còn lại là các rãnh đất hoặc chảy tràn

theo độ dốc địa hình

+ Tại các làng xóm mạng cống thoát nước nếu có đều tự phát do nhu cầu thực tế với kết cấu rãnh xây hở

hoặc rãnh đất, còn lại nước mưa tự chảy theo độ dốc địa hình

b3.3 Các đô thị:

Đô thị trung tâm:

+ Khu vực nội thành cũ:

- Khu phố cũ bao gồm khu phố cổ (36 phố phường) và khu Hoàng thành: được xây dựng từ trước khi

Vua Lý Thái Tổ rời đô ra Thăng Long Qua nhiều giai đoạn xây dựng cao độ hiện nay của khu phố cổ từ

7m đến 9,5m, khu Hoàn Kiếm giáp bờ sông Hồng cao độ còn từ 10m đến 11m

- Sau 1954 thành phố phát triển sang phía Tây và Đông Nam, cùng với đó là hình thành các khu tập thể

cũ như: Kim Liên, Trung Tự, Trương Định, Nguyễn Công Trứ, Tân Mai, Thành Công, Giảng Võ…Cao

độ hiện nay của các khu này từ 5,7m đến 6,5m, trũng hơn các đường bao xung quanh

- Các làng xóm nằm trong thành phố: nền các làng Kim Liên, làng Hoàng Mai, Thịnh Liệt, Ngọc Hà…

có đặc điểm là có rất nhiều hồ, ao xen kẽ và việc tôn đắp nền rất tự phát, tùy tiện không có quy hoạch

Việc hình thành hồ ao lặt vặt nhỏ 1-2 ha là do dân đào lấy đất để đắp nền nhà và sân vườn Vì vậy riêng

nền nhà thường cao còn sân vườn vẫn thấp và thường bị ngập úng về mùa mưa Đặc điểm nữa là các

làng xóm này thường nằm ở các khu trũng, các đường giao thông bao quanh thường cao hơn như Ngọc

Hà, Liễu Giai, Hoàng Mai, Mai Động, Tân Mai…

- Các khu phát triển mới theo quy hoạch 108: chủ yếu tập trung ở khu vực phía Tây, Nam và Tây Namthành phố Đó là các khu đô thị mới được phát triển trong những năm gần đây như khu Nam ThăngLong, Trung hòa Nhân Chính, Mỹ Đình, Mễ Trì, Linh Đàm Phần lớn nền được tôn đắp đến cao độ xâydựng khống chế của các đồ án quy hoạch, có cao độ trung bình từ 6,0m đến 7,0m

Khu vực huyện Từ Liêm, huyện Thanh Trì:

Ngoại trừ các khu đô thị mới được xây dựng theo quy hoạch, có cao độ nền từ 6,0 – 7,0m thì hầu hết cáckhu vực còn lại, bao gồm các khu dân cư làng xóm cũ, các cơ quan xí nghiệp cũ và đồng ruộng có cao độnền tương đối thấp Cụ thể như sau:

Khu vực huyện Thanh Trì: được chia làm 2 vùng địa hình: Vùng phía Đông quốc lộ 1 cũ, có địa hình gầnnhư bằng phẳng Các khu vực dân cư, cơ quan, xí nghiệp dọc theo quốc lộ 1 và khu vực làng xóm hiện

có cao độ khoảng 4,8 – 6,9m Khu vực đồng ruộng có cao độ khoảng 3,8m – 5,1m Vùng phía Tây quốclộ 1 cũ có hướng dốc địa hình chính là hướng Bắc - Nam Khu vực dân cư làng xóm hiện có cao độkhoảng 5,2m - 6,8m Khu vực làng xóm nằm phía Nam tuyến đường sắt vành đai từ ga Văn Điển đi gaHà Đông thuộc các xã Tả Thanh Oai, Đại Áng và Vĩnh Quynh có cao độ nền khá thấp, khoảng từ 2,9m-5,2m

Khu vực huyện Từ Liêm: có hướng dốc địa hình chính là hướng Bắc – Nam và được chia làm 2 vùng địahình Vùng hữu Nhuệ: khu vực dân cư làng xóm, các cơ quan xí nghiệp cao độ nền từ 6,0 – 7,0m Khuvực đồng ruộng cao độ nền từ 5,0m – 6,0m, trung bình 5,5m Vùng tả Nhuệ: phía Bắc Quốc lộ 32 cao độnền tương đối cao Khu dân cư làng xóm, các cơ quan xí nghiệp cũ cao độ nền từ 6,5m – 7,5m Khu vựcđồng ruộng thấp hơn các khu vực xây dựng từ 0,5 – 1,0m Phía Nam Quốc lộ 32 có địa hình thấp hơnkhu vực trên, cao độ nền khu vực đồng ruộng từ 4,5m-6,0m, phổ biến là khoảng 5,5m Khu vực xâydựng mới cao hơn khu vực đồng ruộng từ 0,5 – 1,0m

+ Khu vực Bắc sông HồngKhu vực Bắc sông Hồng gồm Mê Linh, Đông Anh, Long Biên và Gia Lâm Hiện các khu đô thị nhưĐông Anh, Yên Viên, Việt Hưng, Gia Lâm có ưu điểm nằm trên địa hình cao, nền ổn định Cao độ nềnkhu Đông Anh từ 9,0m -10,0m, khu Yên Viên 6,5m-7,0m, khu Việt Hưng khoảng 6,0m-7,0m và một sốkhu phát triển mới của Gia Lâm cao độ khoảng 6,00-6,50 mét Nền các khu này vốn đã hình thành từthời Pháp thuộc và đã được tôn đắp để phát triển gần đây Đặc điểm nền địa hình khu vực này ít bị chiacắt, ít ao hồ lặt vặt và nền các khu vực xây dựng thường cao hơn đồng ruộng xung quanh khoảng 0,3m-1,0m Cụ thể từng khu vực như sau:

Khu vực huyện Mê Linh: hướng dốc chủ yếu Bắc Nam, được chia làm 2 vùng địa hình

Vùng Bắc Quốc lộ 23: vùng này có hướng dốc chính Tây Bắc - Đông Nam, dốc về các vệt trũnghiện có và về phía đầm - phía Đông Nam huyện Cao độ tự nhiên từ 8,00 – 10,00m, trung bình khoảng9,00m Các khu vực xây dựng cao hơn khu vực đồng ruộng khoảng 0,5 – 1,0m

Vùng Nam Quốc lộ 23: cao độ nền có xu hướng giảm dần từ ven sông vào trong đồng (sôngHồng và sông Cà Lồ cụt) Cao độ nền giao động từ 6,0 – 7,5m, trung bình khoảng 7,0m Các khu vựcxây dựng cao hơn khu vực đồng ruộng khoảng 0,5 – 1,0m

Khu vực huyện Đông Anh: Đây là khu vực có địa hình tương đối bằng phẳng, cao so với khuvực phía Nam sông Hồng, có thể được chia ra làm 3 vùng địa hình chính như sau:

Vùng Bắc Vân Trì - Nam Cà Lồ (phía Tây Bắc huyện Đông Anh): hướng dốc chủ yếu về sông Cà

Lồ ở phía Bắc, đầm Tiền Phong ở phía Tây, đầm Vân Trì - sông Thiếp ở phía Nam và kênh tiêu XuânNộn ở phía Đông Cao độ tự nhiên khoảng từ trên 9,0m đến trên 15m (khu vực xã Nguyên Khê), trungbình khoảng 11,0m Các khu dân cư, cơ quan, xí nghiệp và khu vực làng xóm có cao độ cao hơn khu vựcđồng ruộng khoảng 1m

Vùng Nam Vân Trì (phía Tây Nam huyên Đông Anh): hướng dốc chủ yếu về đầm Vân Trì - sôngThiếp ở phía Tây Bắc và phía Bắc; kênh tiêu Việt Thắng và các dải thấp, vệt trũng nối với Đầm Vân Trì -

Trang 20

sông Thiếp; sông Hoàng Giang ở phía Đông Cao độ tự nhiên khoảng từ 6,0m đến trên 10,0m, trung bình

khoảng 7,5 m Khu vực dân cư làng xóm có cao độ khoảng 7m trở lên, cao hơn khu vực đồng ruộng

xung quanh khoảng 1m

Vùng Cổ Loa - Uy Nỗ – Việt Hùng (phía Đông Bắc sông Hoàng Giang): vùng địa hình này như

một gò cao nổi lên giữa các khu vực trũng thấp hơn xung quanh, gồm khu vực xã Cổ Loa, phía Tây xã

Việt Hùng và phía Đông xã Uy Nỗ Độ cao tự nhiên phổ biến từ trên 10 đến 13m, trung bình khoảng

11m, một số gò trong khu di tích Cổ Loa lên tới 19m Trong khi đó xung quanh có cao độ tự nhiên từ 4,2

đến 7,8m, phân biệt rất rõ bằng mắt thường do chênh lệch độ cao từ 2m đến trên 5m

Xen kẽ giữa các vùng địa hình nói trên là các mảng trũng dọc theo tuyến đầm Vân Trì - sông

Thiếp, sông Hoàng Giang – Ngũ huyện Khê và các dải mương, lạch thoát nước về phía đầm Vâm Trì

-sông Hoàng Giang Các mảng trũng này có cao độ khoảng 5 - 7m

Khu vực phía Đông huyện Đông Anh và huyện Gia Lâm (Bắc Sông Đuống):

Vùng phía Đông và phía Nam huyện Đông Anh: vùng địa hình này có cao độ tự nhiên khoảng 4 –

6m (khu vực làng xóm hiện có cao hơn khoảng 0,5 – 1m), trung bình khoảng 5,3 -5,4m Địa hình khá

bằng phẳng Khu vực này là khu vực trũng thấp nhất của huyện Đông Anh, thường xuyên bị úng ngập

khi có mưa lớn

Vùng huyện Gia Lâm bắc sông Đuống: phần đất phía Tây Bắc Quốc lộ 1A cao độ giảm dần từ

ven sông vào phía trong đồng theo hướng từ Tây Nam sang Đông Bắc và thay đổi cao độ trung bình từ

7,20m đến 5,5m Phần đất phía Đông Nam Quốc lộ 1A cao độ cũng giảm dần từ ven sông vào phía trong

đồng, từ Tây Bắc xuống Đông Nam và thay đổi cao độ trung bình từ 6,2m đến 4,2m

Khu vực quận Long Biên và huyện Gia Lâm Nam sông Đuống:

Cao độ giảm dần từ ven sông vào trong đồng, từ Tây Bắc xuống Đông Nam và thay đổi trung

bình từ 7,2m đến 3,2m Tại các điểm dân cư cao độ nền thường cao hơn từ 0,4 đến 0,7m so với cao độ

ruộng lân cận

- Hiện trạng thoát nước đô thị :

So sánh tỷ lệ đường cống so với đầu người ở đô thị trung tâm Hà Nội hiện nay khoảng 0,3m/người, so

sánh với tỷ lệ của các thành phố ở các nước phát triển khác là khoảng 2m/người thì tỷ lệ này của Hà Nội

quá thấp Trong khu vực thành phố cũ với diện tích khoảng 1080 ha trước năm 1954 có khoảng 74 km

đường cống ngầm từ D 400 đến D 1500 và các cống hộp, mật độ cống đạt 69m/ha ,vào loại khá dày

Sau năm 1954 đến 1995 thành phố mở rộng ra bốn quận nội thành diện tích 4454 ha đã xây dựng thêm

một só tuyến cống ngầm, có khoảng 120 km đường cống từ D400 đến D 2000 mm và cống bản, mật độ

cống chỉ đạt 30 m/ha, nhìn chung tỷ lệ khá thấp Đến năm 2003, chiều dài cống đã tăng gấp 2,6 lần so

với 1995 Tỷ lệ các tuyến cống so với chiều dài đường phố vẫn còn thấp, 238km cống /400km đường

phố chính và chủ yếu tập trung trong khu vực nội thành Hà Nội cũ

Hiện nay nội đô thành phố đã xây dựng phát triển ra 10 quận nội thành Các lưu vực thoát nước đã nhiều

và phong phú, song mật độ cống thoát nước cũng chỉ mới đạt khoảng 674km/ 700km đường

- Hiện trạng hồ: Nội thành Hà Nội có khoảng 110 hồ Đã có 46 hồ được kè đá, trong đó 15 hồ được cải

tạo đồng bộ: nạo vét, kè mái hồ, đường dạo, hệ thống thoát nước mưa, nước thải, cây xanh và chiếu sáng

Tiếp tục đến 2020 sẽ cải tạo 65 hồ còn lại ( 21 hồ đã có dự án đầu tư, 44 hồ chưa có dự án)

Bảng 7: thống kê chiều dài mạng lưới đường cống

Địa hình vùng đồi núi thấp (vùng bán sơn địa) bao gồm phía Tây Bắc và Bắc huyện là các đồi thoải nằmrải rác xen kẽ khu vực ruộng canh tác, có độ dốc trung bình từ (10  20)%, cao độ trung bình 30m, caođộ lớn nhất 112m, cao độ ven các chân đồi phổ biến ở mức 10m và địa hình đồng bằng

Hiện trạng thoát nước: khu vực trung tâm thị trấn Sóc Sơn có 2 tuyến mương nắp đan với tổng chiều dàikhoảng 4km, kích thước 600 x 800 mm và 2km mương hở kích thước 400x600, hiện trạng cống còn tốt.Vùng ven thị trấn Sóc Sơn và các cụm dân cư tại các xã hầu như chưa có hệ thống thoát nước

Khu vực Sơn Tây:

Hiện trạng nền: Khu nội thành thị xã Sơn Tây có thể chia ra 2 khu vực:

có cao độ +8,5 đến +10,5 Độ dốc trung bình khu thành cổ 1% dốc từ Bắc xuống Nam

- Khu Sơn Tây mới : Có 2 phường Sơn Lộc, Xuân Khanh và vùng ngoại thành có địa hình không bằngphẳng, gò đồi bán sơn địa, thấp dần từ Tây sang Đông Cao độ từ +10  +65 m, cao nhất 112 m( Xuân Sơn, Xuân Khanh ) Độ dốc 10%  30%

Chính, Phạm Hồng Thái, Trưng Vương; Chợ cũ, dọc tuyến đường 32 Nguyên nhân chính là dothiếu cống, kích thước cống nhỏ lại không được bảo dưỡng định ky

Hiện trạng thoát nước: hiện khu vực đang sử dụng hệ thống thoát nước chung Hệ thống mương cốngthoát nước đô thị chỉ tập trung quanh khu vực thành cổ: phường Quang Trung, phường Lê Lợi và phườngNgô Quyền Ngoài ra có một số đoạn cống dọc QL21A thuộc phường Sơn Lộc Các khu vực khác hoặc

có mương đất, hoặc thoát tự nhiên theo địa hình Hướng thoát chính ra sông Tích, sông Hang và hồ Đồng

Mô Tổng chiều dài mương cống khoảng 49264m với các loại kích thước cống tròn BTCT từ D1000 và mương nắp đan BxH từ 400x600 đến 800x1200

D600-Khu vực Hoà Lạc:

Hiện trạng nền: có độ dốc tự nhiên ra hồ Tân Xã và ra sông Tích, độ dốc địa hình < 10% Đặc trưng làvùng bán sơn địa Địa hình có dạng trung du đồi thấp, xen lẫn các dải ruộng trũng và khe suối Hướngdốc địa hình từ Tây sang Đông

- Khu dự kiến đại học quốc gia: độ dốc địa hình từ 5 đến 10%, cao độ nền thấp nhất +12,0m , cao độ caonhất +43m( trừ núi Múc có cao độ +99,81m) Cao độ trung bình của khu vực này là +25,0m

- Khu vực dự kiến công nghệ cao: độ dốc địa hình trung bình 5%, cao độ nền thấp nhất ở phía ĐôngNam +3,8m- +10,0m, cao độ cao nhất +22,0m Địa hình chính là các đồi thoải xen kẽ ruộng cao độtrung bình 8 – 11,0m

- Khu dự kiến công nghiệp kỹ thuật cao( lắp ráp và công nghiệp sạch): cao độ nền hiện trạng từ +12,0mđến +22,0m

Hiện trạng thoát nước: toàn đô thị chưa có hệ thống thoát nước mưa Mới chỉ có 6 tuyến cống thoát nướcmưa tại khu vực công nghệ cao, dọc 2 bên đường đã được xây dựng (6 tuyến đường A,B,C,D,E,C*) vớikích thước D600mm- D2000mm Hướng thoát ra các suối trong khu vực, khu trũng liền kề và hồ TânXã

Khu vực Xuân Mai:

Hiện trạng nền: có địa hình vùng bán sơn địa Cao độ biến đổi dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, từ Tâysang Đông Có các dạng địa hình ruộng lúa và các núi đá vôi Cao độ hiện trạng từ +5,0 m đến +100m

Trang 21

Hiện trạng thoát nước mưa: Chưa có hệ thống thoát nước mưa Mới chỉ có một hai tuyến mương nắp đan

thu chung cả nước mưa lẫn nước thải sinh hoạt dọc phố chính trong thị trấn, thoát ra suối và khu trũng

Các khu vực còn lại thoát theo địa hình tự nhiên từ cao xuống thấp, ra suối rồi ra sông Tích

.Đô thị Phú Xuyên:

Hiện trạng nền: có dạng địa hình đồng bằng thấp, cao độ trung bình là +2,5 - +3,0m Các khu vực dân cư

hiện hữu, các đường giao thông có cao độ cao nhất khu vực, thường ≥+4,5m Các khu ruộng trũng, ao hồ

có cao độ thấp nhất <+2,0m Địa hình Phú Xuyên bị chia cắt bới các con sông chảy qua: sông Duy Tiên,

sông Lương, sông Vân Đình

Đoạn đê sông Hồng đi qua Phú Xuyên dài 17km, mặt đê rộng 6,0m, cao trình đê từ +11,0 đến +12,0m

Đoạn đê sông Nhuệ qua phú Xuyên có cao trình từ +5,5 m đến +6,0m Cao độ bờ kênh A2-7(kênh tưới

tiêu chính của huyện Phú Xuyên) có cao độ 4,8 – 5,8m

Hiện trạng thoát nước: Chưa có hệ thống cống thoát nước đô thị Nước mưa tự chảy theo địa hình xuống

khu trũng rồi theo các kênh tiêu chảy ra sông Nhuệ, sông Hồng

Các thị trấn , thị tứ, các làng :

Hiện trạng nền: đều được xây dựng trên nền cao hơn mực nước lũ hàng năm theo kinh nghiệm thực tế từ

lịch sử để lại, chỉ những khu vực dân cư sống ngoài đê ven các bãi sông là hàng năm phải chịu ảnh

hưởng của lũ sông Nền các điểm dân cư khu vực đồng bằng thường cao hơn nền ruộng ít nhất là 0,5m,

trung bình là cao hơn > 0,7m

Hiện trạng thoát nước: tại một vài các thị trấn có một số tuyến cống qua khu vực trung tâm Còn lại đều

chưa có hệ thống thoát nước đô thị Nước mưa, nước sinh hoạt đều thoát tự do theo địa hình, tiêu vào các

trục tiêu hoặc chỗ trũng

b4 Nhận xét hiện trạng chuẩn bị kỹ thuật:

Về nền:

- Khu vực đô thị, các đô thị mới, các khu công nghiệp tập trung phần lớn nền xây dựng đều đã được quản

lý theo cao độ khống chế xây dựng

- Các khu vực ngoại thị, thị trấn, làng xóm trong đô thị …công tác quản lý cao độ chưa được kiểm soát

Về hệ thống thoát nước mưa đô thị:

- Khu vực đô thị phía Nam sông Hồng của Hà Nội cũ có hệ thống thoát nước mưa đô thị và có trạm bơm

tiêu đô thị, tuy nhiên các tuyến cống xây dựng trong nhiều thời ky Do vậy không đồng bộ và vẫn còn

nhiều tuyến cống không đủ năng lực thoát Có những khu vực cống cao hơn cao độ nền xây dựng do vậy

có cống nhưng không tiêu được nước Quản lý về cấp phép đấu nối hệ thống thoát nước cục bộ vào hệ

thống chung của thành phố chưa tốt dẫn đến năng lực của cống không được phát huy và thậm chí gây

úng cục bộ

- Các khu vực còn lại của Hà Nội có thể nói là chưa có hệ thống thoát nước đô thị, chủ yếu theo địa hình

ra khu trũng và tiêu theo chế độ tiêu thoát của thuỷ lợi

- Hệ thống hồ tương đối nhiều nhưng phân bố không đồng đều Phần lớn các hồ có xuất xứ hình thành

chủ yếu tự nhiên, hiện nay đang bị san lấp thu hẹp và không được cải tạo nạo vét nên hạn chế khả năng

tham gia điều hòa thoát nước cho thành phố và khu vực Công tác quản lý hệ thống hồ có nhiều hạn chế

Về tình trạng úng ngập:

- Tình hình úng ngập tại đô thị vẫn xảy ra thường xuyên khi có mưa lớn do công trình đầu mối có năng

lực kém hoặc chưa có công trình tiêu chủ động

- Hệ số tiêu quá thấp so với yêu cầu

- Hệ thống công trình đầu mối và công trình nội đồng chưa đồng bộ Nhiều kênh tiêu bị xâm hại, lấn

chiếm nghiêm trọng đặc biệt là các kênh mương nội đồng đi qua khu vực đô thị mới và khu công nghiệp

Có những khu vực các công trình đầu mối đã được đầu tư nhưng hệ thống kênh mương chưa đảm bảo để

tiêu thoát về trạm bơm

c.2/ Đánh giá đất xây dựng

Căn cứ vào QCXDVN 2008 về Quy hoạch xây dựng , bản đồ địa hình, các yếu tố thuỷ văn, địa chất côngtrình của thủ đô Hà Nội đánh giá đất xây dựng và phân thành các loại sau :

- Đất đã xây dựng : các loại đất ở, đất chuyên dùng ( trừ đất thuỷ lợi, đất bãi thải) và đất tôn giáo tínngưỡng

- Đất loại I : là loại đất thuận lợi cho xây dựng, đầu tư vào nền ít Độ dốc địa hình thuận lợi cho xây dựng

0 ≤ i ≤ 10%, cường độ chịu tải của đất tốt R ≥ 1,5 kg/cm2, bị ngập úng ít H < 0,5m

- Đất loại II do ngập : là loại đất phải đầu tư vào nền tương đối do cường độ chịu tải của đất yếu R <1,0kg/cm2 ; bị ngập úng từ 0,5m ≤ H ≤ 1,0m

- Đất loại II do độ dốc: là loại đất có độ dốc nền tự nhiên lớn 8% ≤i ≤ 15% Đây là loại đất tốt R >1,5kg/cm2, khi xây dựng nên xây theo thềm bậc và phải gia cố mái dốc

- Đất loại III do ngập: là loại đất ngập nước >1,0m và quanh năm có nước như sông suối, ao hồ

- Đất loại III do địa hình: là đất núi đá, đất có i>15%

- Đất cấm xây dựng: là đất rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và đất quân sự

Bản g 8: tổng hợp đất xây dựng

Các nhà máy nước chủ yếu tập trung tại Hà Nội cũ, Sơn Tây và Hà Đông Khu vực Hà Nội cũ Nam sôngHồng có 11 NMN chính với tổng công suất 555.000 m3/ngđ, Bắc sông Hồng có 2 NMN với công suất37.000 m3/ngđ, Sơn Tây có 2 NMN với tổng công suất 20.000 m3/ngđ, Hà Đông có 2 NMN với tổngcông suất 36.000 m3/ngđ Nhà máy nước sông Đà công suất giai đoạn 1 là: 300.000m3/ngđ là nguồn cấp

Trang 22

nước chính cho Hà Nội, đến nay công suất khai thác sử dụng thấp do mạng lưới cấp nước chưa được xây

dựng

Tỷ lệ dân số thủ đô Hà Nội được cấp nước máy chiếm tỷ lệ 46%, 54% dân số còn lại sử dụng nước giếng

khoan, giếng đào, nước mưa và ao hồ Tại Hà Nội cũ, Hà Đông và Sơn Tây tỷ lê cấp nước đạt 68% với

tiêu chuẩn cấp nước 100-120 l/ng.ngđ Tại khu vực nông thôn phần lớn dân cư sử dụng nước giếng

khoan chiếm 57,2%, sử dụng nước giếng đào 24,6%, sử dụng nước từ các trạm cấp nước tập trung chiếm

15,1% và từ hệ thống cấp nước đô thị là 1,4%

d Thoát nước thải, quản lý chất thải rắn và nghĩa trang

d1 Thoát nước thải

Nước thải sinh hoạt khu vực đô thị

- Các đô thị đang sử dụng hệ thống thoát nước chung

- Các khu đô thị mới có thiết kế cống thoát nước riêng nhưng chưa xây dựng các công trình trên tuyến

- Tỷ lệ dân đô thi sử dụng bể tự hoại < 80%

- Toàn thành phố có 4 trạm XLNT sinh hoạt đô thị với tổng công suất thiết kế 46.000÷50.000 m3/ngđ

Bảng 9: Thống kê các trạm XLNT tập trung trên địa bàn Hà Nội

- Thị trấn các huyện, các điểm dân cư nông thôn: Lượng nước thải nhỏ, chủ yếu là xả phân tán, tự thấm

và chảy ra các nơi đất trũng

- Nước thải các làng nghề: Toàn TP có khoảng 300 làng nghề phát sinh nước thải, hầu hết là chưa xử lý

Nước thải công nghiệp:

- Hiện đã xây dựng được 7 trạm XLNT công nghiệp, chiếm 5/17 KCN đã hoạt động và đang xây dựng,

đạt tỷ lệ 29,5% số khu công nghiệp

- Có 21/100 cơ sở công nghiệp có nguồn thải ra lưu vực sông Nhuệ - Đáy có công trình xử lý nước thải,

đạt tỷ lệ 21%

Nước thải y tế:

- Toàn thành phố có 22/80 bệnh viện chính có trạm XLNT, đạt tỷ lệ 27 % Một số trạm XLNT bệnh viện

hoạt động không thường xuyên do yếu kém trong quản lý và thiếu kinh phí vận hành, bảo dưỡng

Nhận xét:

- Mương cống thoát nước chung có kích thước nhỏ, chất lượng kém, thường bị lắng đọng đất cát do xây

dựng, quản lý, không nạo vét thường xuyên, làm giảm khả năng tiêu thoát

- Lượng nước thải sinh hoạt qua xử lý tập trung đạt tiêu chuẩn còn nhỏ so với yêu cầu (khoảng 10%)

Các trạm XLNT đã xây dựng có công suất nhỏ, hoạt động không ổn định

- Hầu hết nước thải công nghiệp và làng nghề chưa xử lý

- Nước thải y tế chưa xử lý xả ra môi trường còn chiếm tỷ lệ lớn (hơn 67%)

- Chưa huy động được các thành phần kinh tế, cộng đồng tham gia đầu tư cho thoát nước

- Các dự án thoát nước thực hiện chậm, do khó khăn trong giải phóng mặt bằng, thiếu vốn đầu tư, thời

gian xét duyệt kéo dài…

- Đầu tư, xây dựng, thu gom, xử lý nước thải chưa đạt so với định hướng phát triển thoát nước đô thị đến

năm 2020

- Ý thức của người dân đô thị chấp hành các quy định của pháp luật về thoát nước còn thấp…, xử phạt vi

phạm về thoát nước còn chưa nghiêm

- Thiếu quỹ đất xây dựng cho các trạm XLNT tập trung trong nội thành

d2 Chất thải rắn

Thu gom CTR:

- Toàn thành phố đã thu gom được 1.079.115 tấn/năm đạt 83,2% tổng lượng CTR phát sinh

Bảng 10: Tổng hợp khối lượng và tỷ lệ thu gom, xử lý CTR năm 2008 (tấn/năm)

Bảng 11: Tổng hợp các khu xử lý CTR hiện trạng thành phố Hà Nội.

1 Khu liên hiệp xử lý chất thải Nam Sơn, (huyện Sóc Sơn) 83,5 ha Cấp Vùng Đang hoạt động

2 Nhà máy xử lý rác - Bãi chôn lấp Kiêu Kỵ (huyện Gia Lâm) 10 ha Cấp Huyện Đang hoạt động

3 Khu xử lý chất thải xây dựng Vân Nội - Đông Anh 10 ha Cấp Huyện Đang hoạt động

5 Nhà máy sản xuất phân hữu cơ Cầu Diễn ( C/S: 30000m3/năm), huyệnTừ Liêm 2,2 ha Cấp Vùng Đang hoạt động

8 Khu xử lý chất thải Công nghiệp (trong khu xử lý CTR Nam Sơn) 5,5 ha Cấp Vùng Đang hoạt động

9 Trạm xử lý nước rác số 1 (trong khu xử lý CTR Nam Sơn) 0,36 ha Đang hoạt động

Bảng 12: Một số nghĩa trang lớn trên địa bàn thành phố

e Cấp điện

Trang 23

- Nguồn điện

Thủ đô Hà Nội được cấp điện từ hệ thống điện quốc gia khu vực miền Bắc Trực tiếp là 2 nhà máy điện

lớn cấp vùng: thủy điện Hòa Bình (1.920 MW); nhiệt điện Phả Lại (1.040 MW) Ngoài ra còn có các nhà

máy nhiệt điện, thủy điện cỡ vừa khác như: Tuyên Quang (342MW) và Thác Bà (120MW), Uông Bí

(105MW), Ninh Bình (100MW), Cao Ngạn (100MW), Na Dương (100MW) và mới đây là Cẩm Phả,

Quảng Ninh, Hải Phòng (3x300MW) và Sơn Động (220MW)

Hà Nội cũng được cấp điện qua hệ thống điện quốc gia từ đường dây 500kV Bắc – Nam, vị trí đầu tại

trạm 500kV Thường Tín với công suất máy biến áp chính là 1x450MVA (năm 2009)

- Hiện trạng lưới truyền tải và trạm điện 220kV đến 500kV

Lưới điện truyền tải 500kV: Từ trạm 500kV Thường Tín có 2 tuyến đường dây 500kV là đường dây Nho

Quan – Thường Tín hiện có và đường dây Quảng Ninh - Thường Tín (mới xây dựng, chuẩn bị đưa vào

vận hành)

Lưới truyền tải và trạm 220KV phát triển mạnh trên địa bàn Hà nội Hiện có 5 trạm 220kV là Sóc Sơn,

Mai Động, Chèm, Hà Đông, Xuân Mai với tổng công suất 1.875MVA Đến năm 2009, có 4/5 trạm

220kV kể trên đã xảy ra quá tải Có 11 tuyến đường dây 220kV cấp điện cho Hà Nội, cơ bản đã tạo thành

vành đai khép kín Do phụ tải tăng cao trong những năm gần đây, chất lượng lưới 220kV không còn đảm

bảo Các tuyến 220kV từ Hòa Bình đi Hà Đông và từ Thường Tín đi Phố Nối đã xảy ra quá tải nặng, khi

sự cố 1 đường dây, lưới 220kV mất tin cậy dẫn đến phải sa thải phụ tải

- Lưới điện 110kV và các trạm 110kV khu vực

Toàn thành phố được cấp điện từ 31 trạm 110KV với tổng công suất 2.632MVA Có 15/31 trạm 110kV

đã xảy ra quá tải, đặc biệt là các trạm 110kV Hà Đông, Gia Lâm, Chèm, Tía, Nghĩa Đô, Thành Công

Hầu hết các trạm đều có gam máy biến áp chính nhỏ (25-40MVA), khả năng mở rộng hạn chế do thiếu

quỹ đất

Tổng chiều dài các tuyến 110kV đến cuối năm 2009 đạt 607km, trong đó có 7,8km là cáp ngầm Có đến

80% các đường dây tiết diện nhỏ (từ 120-185mm2), 14 tuyến (chiếm tỷ lệ 22%) đã xảy ra quá tải thường

xuyên, 9 tuyến vận hành đầy tải Phần lớn các tuyến đường dây 110kV trong nội thành đều gặp trở ngại

về việc giữ gìn hành lang an toàn vận hành Khả năng hạ ngầm hoặc cải tạo lưới 110KV rất khó khăn do

hệ thống đường giao thông ách tắc, cản trở lớn cho công tác thi công

g Chiếu sáng đô thị

- Lưới điện chiếu sáng đô thị Hà nội phần lớn thuộc sự quản lý và vận hành của công ty chiếu sáng đô thị

Hà nội (Hapulico) Lưới điện chiếu sáng các khu vực đô thị mới sát nhập sau khi mở rộng thủ đô hiện

vẫn được phân cấp cho công ty công trình đô thị hoặc phòng chức năng đô thị quản lý

- Theo số liệu thống kê tính đến thời điểm 01/01/2009, tổng công suất quản lý của hệ thống chiếu sáng

công cộng các quận nội thành, đường quốc lộ Hà Nội đã đạt đến 10.102KW; tổng chiều dài tuyến chiếu

sáng 1.838 km trong đó chiếu sáng ngõ xóm đạt 889km; chiếu sáng đèn đường, cảnh quan đạt 949km

Các tuyến chiếu sáng mới đầu tư được lắp đặt các loại đèn chất lượng cao, đẹp, như đèn Rainbow đèn

Masteur, đèn Maccot; Tổng số đèn chất lượng thấp đang sử dụng khoảng 13.000 bộ, chiếm đến 25% tổng

số đèn trên lưới13

- Chiếu sáng cảnh quan công trình kiến trúc đã được đầu tư xây dựng ở một số công trình trọng điểm như

Lăng chủ tịch Hồ Chí Minh, khu vực Hồ Hoàn Kiếm, nhà hát Lớn Tuy nhiên so với nhu cầu và số

lượng di tích cần thiết thì khối lượng đã làm được còn ít, chưa tạo thành điểm nhấn không gian về đêm

Chiếu sáng cảnh quan và lễ hội đã được đầu tư trên các trục chính vào trung tâm thành phố cũ như Phố

Huế, Hàng Bài, Nguyễn Văn Cừ, Hàng Đào – Hàng Gai Hình thức chiếu sáng nhìn chung còn đơn điệu,

chế độ vận hành chưa thường xuyên

h Thông tin liên lạc

13 Báo cáo của Sở XD Hà nội – 2009

- Viễn thông và công nghệ thông tinChuyển mạch: bao gồm hệ thống các tổng đài điều khiển (Host); tổng đài vệ tinh (tổng đài hữu tuyến và

vô tuyến cố định); Tandem Ngoài ra, thành phố Hà Nội còn có trung tâm thông tin-liên lạc quốc tế sửdụng tổng đài TDX và AXE Hệ thống truyền dẫn cho các tổng đài hiện tại đang sử dụng cáp sợi quangvà viba, trong đó khoảng 70% cáp quang đã được ngầm hoá Về cơ bản các mạch vòng (Ring) đã đượckhép kín Cáp đồng có tỷ lệ ngầm hoá khoảng 20%

Mạng thông tin di động Hà Nội đang sử dụng công nghệ GSM và CDMA, với 7 nhà cung cấp dịch vụ làVinaphone, Mobiphone, Viettel, EVN, Beeline, Vietnammoblie, G-Phone Vùng phủ sóng của 7 nhàcung cấp này đã phủ hầu hết địa bàn của thành phố Công nghệ thông tin di động thế hệ thứ 3 (3G) đãđược ứng dụng rộng rãi ở các mạng có thị phần lớn như Vinaphone, Mobiphone, Viettel, EVN

Hiện Hà nội có 5 doanh nghiệp chính thức cung cấp dịch vụ kết nối Internet, 9 doanh nghiệp cung cấpdịch vụ truy nhập Internet và 11 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ ứng dụng Internet Tăng trưởng thuê baotăng Internet bình quân trên 30%/năm Tỷ lệ kết nối băng thông rộng là 22% số hộ gia đình, trung bình 2thuê bao/1.000 dân Tỷ lệ người dùng internet đạt khá cao so với các địa bàn khác trên toàn quốc

- Hiện trạng bưu chínhMạng lưới bưu cục, điểm phục vụ bưu chính: 280 bưu cục, 25 kiốt, 108 điểm bưu điện văn hoá xã, 657đại lý bưu điện và 3226 đại lý điện thoại công cộng Bán kính phục vụ bình quân 1 km/điểm với phân bốtrung bình 3.660 người/điểm Mạng vận chuyển bưu chính: 1 Trung tâm bưu chính liên tỉnh và quốc tếkhu vực 1 và các doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nước ngoài cung cấp đầyđủ các dịch vụ bưu chính sẵn có trên mạng

2.2.6 Hiện trạng môi trường 2.2.6.1 Đô thị hóa

Trong 10 năm (từ 1999-2009) mật độ dân số Hà Nội tăng từ 1.296 người/km2 đến 1.926 người/km2, trong

đó mật độ dân số 9 quận Hà Nội cũ lên đến 11.759 người/km2, đồng thời tỷ lệ dân số đô thị cũng tăng từ34,2% đến 40,5% Dân số đô thị tăng nhanh đang gây áp lực lớn đến tài nguyên và môi trường

Nhu cầu nước cho đô thị ngày càng tăng Hiện nay thành phố Hà Nội có 26 nhà máy cấp nước với tổngcông suất là 672.000 m3/ngđ gấp gần 27 lần năm 1954 Toàn bộ lượng nước cấp cho sinh hoạt và côngnghiệp được lấy từ nước dưới đất Mặc dù nhà máy nước sông Đà 300.000 m3/ngày đã đưa vào sử dụngnăm 2008 nhưng công suất mới đạt 50.000 m3/ngày và cấp cho khu vực phía Tây Các giếng khoan nước

bị suy thoái, có khoảng 20% số giếng khoan bị giảm lưu lượng và cần cải tạo hoặc thay thế Khai thácnước dưới đất đã gây hiện tượng sụt lún mặt đất tại Hà Nội, tuy chỉ có tính chất khu vực Khu vực có độsụt lún nhỏ hơn 10 mm/năm có diện tích khoảng 140 km2, chiếm hầu hết phần phía Nam sông Hồng.Khu vực có độ sụt lún lớn nhất (khoảng 30 mm/năm) rộng khoảng 2 km2, bao quanh khu vực nhà máynước Pháp Vân

Tổng lượng nước thải khu vực trung tâm Hà Nội hiện nay vào khoảng 600.000-700.000 m3/ngày đêmtrong đó sinh hoạt khoảng 400.000 m3/ngày và công nghiệp khoảng 200.000-263.000 m3/ngày, xả ra 4con sông thoát nước chính là sông Tô lịch, sông Kim Ngưu, sông Lừ, sông Sét và hồ Tây

Cùng với nước thải, tổng lượng rác thải sinh hoạt đô thị của thành phố hiện nay khoảng trên 3.000tấn/ngày, trong đó lượng rác thải tập trung ở khu vực Hà Nội cũ khoảng 2800 tấn/ngày và Hà Tây cũkhoảng 300 tấn/ngày Thành phố Hà Nội hiện có 5 khu xử lý chất thải rắn tập trung đang hoạt động,trong đó có tới 3/5 khu sắp lấp đầy

Trên địa bàn thành phố có 110 bệnh viện và trung tâm y tế quận, huyện Với số giường bệnh lên đến12.000 giường bệnh, hiện nay lượng nước thải các bệnh viện Hà Nội phát sinh khoảng 6.000m3/ngày Có

15 bệnh viện quy mô lớn có hệ thống xử lý nước thải, tương đương với lượng nước thải được xử lý trướckhi thoát ra hệ thống thoát nước chung của thành phố là 3754,4m3/ngày (chiếm 61,7%) Lượng chất thảirắn tại các bệnh viện khoảng 25 tấn/ngày, trong đó chất thải rắn y tế nguy hại khoảng 5 tấn/ngày

Trang 24

2.2.6.2 Phát triển công nghiệp

Hà Nội hiện có 8 khu công nghiệp tập trung với tổng diện tích 1.018ha (Nội Bài, Hà Nội - Đài Tư, Bắc

Thăng Long, Nam Thăng Long, Sài Đồng B, Phụng Hiệp, Quốc Oai, Phú Nghĩa) đã cơ bản hoàn thiện hạ

tầng kỹ thuật và thu hút được nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước, chưa kể khu công nghệ cao Hòa Lạc

1500ha

Bên cạnh đó Hà Nội đã phát triển 20 dự án khu, cụm công nghiệp vừa và nhỏ với tổng diện tích đất hơn

800 ha Đến nay đã có 8 cụm đang hoạt động Trong khu vực Hà Tây (cũ) hiện có 17 CCN đã đi vào hoạt

động với tổng diện tích 635ha Tuy nhiên các cụm công nghiệp chưa xây dựng hệ thống xử lý nước thải

tập trung, mặc dù đã có trong hồ sơ thiết kế phê duyệt

Đặc biệt Hà Nội hiện đang tồn tại 9 khu công nghiệp cũ với tổng diện tích 387ha: Minh Khai - Vĩnh Tuy,

Trương Định - Đuôi Cá, Văn Điển - Pháp Vân, Thượng Đình, Cầu Diễn - Nghĩa Đô, Gia Lâm - Yên

Viên, Đông Anh, Chèm, Cầu Bươu Đây là các khu công nghiệp trước đây nằm ở ngoại thành nhưng

trong quá trình mở rộng đô thị đến nay đã nằm trong nội thành với khoảng 200 cơ sở sản xuất phân tán

và công nghệ lạc hậu Đến nay Hà Nội đã di chuyển được 10 cơ sở sản xuất gây ô nhiễm nặng và đang di

chuyển 6 công ty là Công ty Nhựa Hà Nội, Dệt kim Hà Nội, Xe đạp xe máy Đống Đa, Kỹ thuật Điện

thông, Dệt kim Thăng Long

Lưu lượng nước thải từ các khu công nghiệp chiếm hơn 55% tổng lượng nước thải của Hà Nội, khoảng

4,4%) được xử lý

Mỗi ngày Hà Nội thải ra khoảng 750 tấn chất thải rắn công nghiệp, mới thu gom khoảng 637-675

tấn/ngày (85-90%) và mới xử lý khoảng 382-405 tấn/ngày Trong số đó, chất thải công nghiệp nguy hại

khoảng 97-112 tấn/ngày (chiếm 13-5%), mới thu gom khoảng 58-78,4 tấn/ngày (chiếm 60 -70%)

2.2.6.3 Xây dựng

- Thay đổi sử dụng đất

Quá trình đô thị hóa nhanh nên diện tích đất dành cho sản xuất nông lâm nghiệp và thủy sản giảm đi

đáng kể Năm 2000 diện tích đất nông nghiệp là 40.152ha, đến năm 2007 giảm đi còn có 37.857ha

Diện tích đất lâm nghiệp cũng giảm Rừng và đất lâm nghiệp năm 1998 huyện Sóc Sơn là: 6.630 ha, năm

2007 là: 4557,0 ha (-2073 ha), trên địa bàn tỉnh Hà Tây năm 1998 là 24.650 ha, năm 2007 là: 20.566,7 ha

(-4.083,3 ha) Nguyên nhân là do chuyển đổi từ đất lâm nghiệp sang các loại sử dụng khác

Trong khi đó đất xây dựng đô thị tăng lên, cụ thể trong địa bàn Hà Nội cũ năm 1997 đất xây dựng đô thị

4.654ha, năm 2009 tăng lên 17.940ha

Như vậy quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa đồng thời là quá trình thu hẹp diện tích đất đai vùng nông

nghiệp, lâm nghiệp Việc chuyển đổi đất nông nghiệp, lâm nghiệp khiến cho sinh cảnh địa lý bị thay đổi

và xâm hại như: thảm thực vật, đồng ruộng, hệ sinh thái ao hồ, chế độ thủy văn cũng thay đổi

- Tái định cư và các khu ở cũ

Khu vực ven đô thị là một trong những khu vực chịu ảnh hưởng mạnh của quá trình đô thị hóa Quá trình

xây dựng và mở rộng không gian đô thị đòi hỏi chiếm dụng một diện tích đất nông nghiệp khá lớn Đây

là nguồn thu nhập duy nhất, ổn định cuộc sống cho đa số hộ nông nghiệp vùng ven đô

Trong nội đô Hà Nội còn tại 12 khu chung cư cũ (Thanh Xuân, Kim Liên, Nam Đồng, Nguyễn Công

Trứ, Trung Tự, Giảng Võ, Thành Công, Nghĩa Tân, Tân Mai, Tương Mai, Quynh Mai, Văn Chương) và

các khu nghèo (Thanh Nhàn, Thanh Lương, Phúc Tân) đã và đang xuống cấp nghiêm trọng, gây nên ô

nhiễm môi trường

- Sức ép xây dựng lên di sản và không gian xanh

Trên địa bàn Hà Nội cũ hiện có khoảng 1.744 di tích lịch sử văn hóa với 544 chùa chiền, đình làng, 253

đền thờ, 69 di tích cách mạng, 365 di tích khác (văn miếu, văn chỉ, di tích khảo cổ ) Trong đó, 499 di

tích đã được Nhà nước xếp hạng và 308 di tích đang được đề nghị xếp hạng, cùng hàng ngàn di vật khảocổ có giá trị về văn hóa, lịch sử, khoa học, mỹ thuật của các nền văn hóa cổ đại, trung đại và cận đại ViệtNam

Bảng 13 Số lượng di sản được xếp hạng trên địa bàn Hà NộiTỉnh, thành phố Di tích lịch sử văn hóacấp quốc gia Di tích lịch sử văn hóacấp tỉnh Mật độ di tích (số ditích trên 100km2)

Hà Nội là nơi gắn liền với những địa danh nổi tiếng về cảnh quan thiên nhiên như: Hồ Tây, hồ HoànKiếm, hồ Yên Sở, vườn Bách thảo hay những làng hoa, cây cảnh truyền thống, lâu đời Tuy nhiên, trongcác năm qua, Hồ Tây, hồ Trúc Bạch bị đổ đất lấn chiếm Năm 1984 Hồ Tây rộng 566 ha đến năm 2001chỉ còn 446 ha Hồ Trúc Bạch rộng khoảng 30 ha, đến năm 2001 còn 19 ha Nhiều hồ như Văn Chương,Ngọc Hà, Thanh Nhàn, trở thành ao tù, nuớc cạn

Tình trạng phổ biến ở các đình làng trong nội thành là đất đai bị lấn chiếm như đình Trung Tả, đình ThổQuan, đình Thiên Tiên Điển hình như đình Trung Tả diện tích là 1218m2 (năm 1988) nhưng đến năm

1991 thì chỉ còn 525 m2 Nhiều nơi cửa chùa biến thành nơi buôn bán, tụ điểm ăn uống, chùa Bích Câu,chùa Huy Văn, chùa Bộc, chùa Ngũ Xã, chùa Thiền Quang bị mất dần đất vườn

- Chất thải xây dựng

Các hoạt động xây dựng tại trung tâm Hà Nội mỗi ngày phát sinh khoảng 1000 tấn chất thải Hiện toànthành phố có khoảng 410 điểm xây dựng có nguồn phế thải với trên 100 điểm tập kết phế thải xây dựng.Phế thải xây dựng thiếu nơi đổ nên người dân thường đổ ở bờ sông và khu vực đất trống, làm cho hầu hếtcác con sông trên địa bàn Hà Nội đều bị ô nhiễm và thu hẹp dần Những khu vực mới phát triển nhưThanh Xuân, Cầu Giấy, Từ Liêm, Long Biên là những tụ điểm đổ phế thải xây dựng gây ô nhiễm môitrường nghiêm trọng

- Nghĩa trang, mai táng

Hệ thống nghĩa trang đô thị được xây dựng thiếu quy hoạch, thiếu cơ chế quản lý dẫn đến tình trạng xâydựng nghĩa trang thiếu đồng bộ, đặc biệt nhiều nghĩa trang đã nằm lọt vào các khu đô thị mới (ĐịnhCông, Linh Đàm, Pháp Vân, Nam Thang Long đều nằm sát nghĩa trang) Nghĩa trang Văn Điển, MaiDịch cũng nằm sát đô thị

Hiện tượng lấn chiếm đất nghĩa trang diễn ra khá phổ biến Việc lấn chiếm đất và chôn cất lộn xộn đãdẫn đến tình trạng lãng phí quỹ đất rất lớn và nan giải trong giải phóng mặt bằng khi phát triển đô thị.Tình hình xử lý ô nhiễm môi trường trong các nghĩa trang chưa được chú ý nhiều đã dẫn đến các hiệntượng ô nhiễm nước mặt, nước ngầm, ô nhiễm đất tại các khu vực xung quanh các nghĩa trang, nhưnghĩa trang Văn Điển

2.2.6.4 Giao thông

Hiện nay tỷ lệ sử dụng xe ôtô con ở Hà Nội đạt 43 xe/1000 dân, tỷ lệ này còn thấp so với các nước củakhu vực châu á (từ 90-100 xe/1.000 dân) Trong 10 năm qua số ôtô tăng gấp 2,5 lần và số xe máy tănggấp 3,5 lần Tỷ lệ tăng 13%/năm cho xe máy và 10%/năm cho xe ôtô con Có thể nói rằng, xe gắn máy lànguồn phát thải chính gây ô nhiễm trực tiếp và gián tiếp đến môi trường không khí

Ngoài ra, mật độ phương tiện tham gia giao thông đang tăng đến mức báo động, cứ 1 km đường phảichứa đến 500 ôtô và 5.500 xe máy Hiện tại diện tích đường của Hà Nội chỉ đáp ứng 40% lượng phươngtiện giao thông đã đăng ký (bao gồm khoảng 200.000 ôtô và hơn 2 triệu xe máy), chưa kể đến lượngphương tiện giao thông từ ngoại tỉnh đổ về Hà Nội mỗi ngày

Hà Nội là một trong những đô thị có tình trạng ùn tắc giao thông nghiêm trọng nhất nước ta, có nhiềunguyên nhân dẫn đến UTGT ở hà Nội: (1) có 107 nút cắt giữa đường sắt và đường bộ, trong đó chỉ có 2

Trang 25

nút được xem là giao cắt khác mức, còn lại là giao cắt cùng mức với 40 điểm có gác chắn; (2) Số lượng

và mật độ các trường tiểu học, trung học, đại học, cao đẳng, dạy nghề, bệnh viện trên địa bàn Hà Nội

rất lớn và đại bộ phận tập trung trong trung tâm thành phố; (3) Lấn chiếm vỉa hè lòng đường tại Hà Nội

rất phổ biến và bức xúc do họp chợ di động, do lấn chiếm của rác, phế thải, vật liệu xây dựng; (4) Giao

thông quá cảnh qua thành phố Hà Nội rất lớn

Với cơ sở hạ tầng và sự phát triển phương tiện như trên, vấn đề ô nhiễm không khí do khí thải giao thông

đang là một thách thức lớn ở Hà Nội Lượng khí CO do các phương tiện giao thông thải ra chiếm gần

60% tổng lượng khí CO gây ô nhiễm và lượng khí NOx chiếm gần 40%

2.2.6.5 Nông thôn và làng nghề

Hà Nội hiện có gần 300 làng nghề được công nhận (trong đó Hà Nội cũ có 55 làng, Hà Tây cũ có 240

làng) Các làng nghề phân bố không đều, tập trung chủ yếu ở phía Nam theo lưu vực Nhuệ Đáy Các làng

nghề phát triển manh mún, thiếu đầu tư, thiếu quy hoạch đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật, thiếu các hệ thống

xử lý chất thải

Ô nhiễm môi trường mang đặc trưng của các ngành nghề, gồm nhiều nguồn ô nhiễm dạng điểm, tập

trung trong khu vực theo thôn, làng và phân bố rộng trêm phạm vi huyện, lưu vực, tác động trực tiếp đến

môi trường và sức khỏe cộng đồng dân cư khu vực

- Nước mặt, nước ngầm đều có dấu nhiễm ô nhiễm tại các làng nghề chế biến nông sản, dệt nhuộm, đồ

gỗ mỹ nghệ như Cát Quế, Dương Liễu, Minh Khai, Dương Nội-Hoài Đức, Vạn Phúc-Hà Đông, Chuyên

Mỹ-Phú Xuyên, Hữu Bằng-Thạch Thất…

- Môi trường không khí bị ô nhiễm cục bộ, đặc biệt là ô nhiễm do sử dụng than, hóa chất như Bát

Tràng-Gia Lâm, Khai Thái-Phú Xuyên, Phùng Xá-Thạch Thất, rèn Xuân Phương-Từ Liêm…

- Môi trường đất: Một số làng nghề bị ô nhiễm bởi chất thải rắn phát sinh do các hoạt động sản xuất, như

các làng nghề vật liệu xây dựng, chế biến thực phẩm, tái chế kim loại

Trong số 256 làng nghề được kiểm tra, 100% hộ sản xuất trong các làng nghề không chấp hành các qui

định Luật Bảo vệ môi trường, Luật Tài nguyên nước

2.2.7 Hiện trạng công tác lập và triển khai thực hiện quy hoạch

a Khu vực đô thị

Hà Nội hiện nay có 10 quận nội thành, 1 thị xã/ đô thị loại 3 và 20 thị trấn/đô thị loại 5 Các quận nội

thành tập trung hầu hết ở phía Nam sông Hồng Các thị trấn thị tứ hầu hết nằm trên các tuyến giao thông

liên quốc gia, liên tỉnh và liên huyện kết nối với khu vực nội thành

Toàn bộ khu vực nội thành hiện nay đều đã được lập quy hoạch chung xây dựng và đều có những kế

hoạch phát triển kinh tế xã hội cho từng giai đoạn Cơ sở hạ tầng đã được đầu tư Các thị trấn huyện lỵ

và thuộc huyện cũng đã được lập quy hoạch, tuy nhiên thời hạn lập quy hoạch đã không còn phù hợp do

các tác động đô thị hóa diễn ra trong những năm gần đây

b Khu vực nông thôn:

Khu vực nông thôn Hà Nội có diện tích khoảng 299.845,08ha chiếm 89,6% diện tích tự nhiên và chiếm

59,2% dân số toàn thành phố Lao động khu vực nông thôn chiếm trên 60% lực lượng lao động toàn

thành phố Cơ cấu kinh tế nông thôn đã dịch chuyển theo hướng tích cực, năm 2007 giá trị sản xuất

CN-XD là 52,9%, dịch vụ là 26,2% và nông nghiệp là 20,9% Thu nhập bình quân 8,2 triệu đồng/người/năm

Tỷ lệ hộ nghèo hiện còn dưới 5% (theo tiêu chí cũ) Tỷ lệ lao động nông nghiệp tuy cao hơn 1 triệu lao

động nhưng chỉ tạo ra 7% GDP, thu nhập từ nông nghiệp thấp Đất nông nghiệp có xu hướng thu hẹp

diện tích dẫn đến tình trạng thất nghiệp ở khu vực nông thôn ngày một lớn và tình trạng tiếp tục di cư

vào nội thành để tìm việc làm Hiện có khu vực nông thôn Hà Nội có 248 làng nghề với hơn 64.000 hộ

gia đình và 164.000 người lao động thường xuyên

Điều kiện sống ở khu vực đô thị tốt hơn nhiều so với nông thôn Khả năng tiếp cận các dịch vụ tiện ích

công cộng như cấp nước sạch, cấp điện, giao thông, dịch vụ xe bus, bến xe, nhà ga, thu gom rác, trường

học, y tế, chợ, các dịch vụ về văn hóa ở nông thôn là thấp Về môi trường: Ô nhiễm môi trường nôngthôn đang ngày một gia tăng do sự phát triển của các làng nghề, KCN và đô thị

Cảnh quan tự nhiên của Hà Nội khá đa dạng, trong đó không gian mặt nước chiếm 8,12% diện tích tựnhiên Hà Nội có rừng quốc gia Ba Vì, Sóc Sơn, Hương Tích và có nhiều di sản, di tích và văn hóa đã tạonên đặc điểm đặc trưng cho Hà Nội Cảnh quan kiến trúc tại các vùng làng xóm, khu đô thị cũ, các khucửa ngõ, các tuyến trục đường lớn hiện nay đang bị ảnh hưởng bởi tốc độ đô thị hóa Các khu pháttriển mới chưa được quan tâm nhiều, cảnh quan làng xóm truyền thống đang bị mai một do đô thị hóa và

ô nhiễm môi trường

c Liên kết đô thị - nông thôn

Các quận nội thành tập trung hầu hết ở phía Nam sông Hồng Nếu lấy quận Hoàn Kiếm và Ba Đình làtrung tâm Thành phố hiện nay và lấy Sơn Tây là đô thị vệ tinh của Hà Nội về phía Tây, có tác động lantỏa đến các huyện phía Tây Bắc Hà Nội, thì khu vực ít có khả năng kết nối với các dịch vụ đô thị nhất HàNội hiện nay là các huyện thuộc phía Nam Hà Nội: Mỹ Đức, Phú Xuyên, Ứng Hòa Đây cũng là khu vựcchịu các ảnh hưởng nặng về ngập lũ và kinh tế khó khăn

Các thị trấn phần lớn được phân bố nằm trên các giao thông hướng tâm Hà Nội có liên kết thuận lợi vềhạ tầng kinh tế - xã hội Còn lại là những vùng sâu, vùng xa, kinh tế khó khăn, phát triển nông nghiệp làchủ yếu, mật độ di dân tìm công ăn việc làm tại các trung tâm đô thị rất lớn

2.2.8 Hiện trạng quản lý đô thị

Về quy hoạch và tăng trưởng đô thị

Hệ thống văn bản pháp quy về quản lý, phát triển đô thị hiện còn thiếu, chưa đồng bộ, nên hiệu lựckhông đủ mạnh để quản lý đô thị theo quy hoạch cũng như mọi mặt hoạt động của thành phố Công tácquản lý nhà nước theo chậm hơn nhu cầu phát triển của thị trường Áp lực dân số tiếp tục đè nặng cơ sởhạ tầng của thành phố

Về đất đai: Các chính sách chưa được cụ thể hoá để giải quyết hài hòa quyền lợi giữa Nhà nước với

người có quyền sử dụng đất Việc quản lý sử dụng đất theo quy hoạch chưa chặt chẽ Thủ tục hành chínhrờm rà, phức tạp đã cản trở việc luân chuyển đất đai phục vụ đầu tư phát triển

Về công nghiệp: Nhiều CCN& ĐCN có trong danh mục quy hoạch gặp khó khăn trong công tác triển

khai, tiến độ chậm liên quan đến vấn đề giải phóng mặt bằng và kinh phí thực hiện Hệ thống cơ chếchính sách liên quan đến xây dựng và phát triển các CCN, ĐCN còn chưa thống nhất về việc xác địnhchủ thể quản lý nhà nước

Về nhà ở: Các hoạt động xây dựng trái phép về nhà ở vẫn diễn ra khá phổ biến trên địa bàn thành phố.

Chưa có chính sách kiểm soát về nhà ở dân tự xây trong khi việc phát triển nhà ở tại TP Hà Nội lại dựatrên nguồn lực chủ yếu là nhà ở nhân dân tự cải tạo và xây dựng mái nhà riêng Thiếu các quy định kiểmsoát phát triển để tạo mỹ quan thành phố

Về cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội: Nguy cơ mất cân bằng giữa dân số với kết cấu hạ tầng là rất lớn; tình

trạng tắc nghẽn giao thông đang đe doạ sự phát triển ổn định của Thành phố, Hệ thống cấp điện chưa ổnđịnh, hiện tượng mất điện còn xảy ra Hệ thống hạ tầng xã hội còn thiếu nghiêm trọng, đặc biệt là hệthống bệnh viện (đang phục vụ cho cả các tỉnh lân cận) Số dự án đầu tư được lập nhiều và có nhu cầuđầu tư lớn nhưng triển khai còn rất chậm và giá cước các dịch vụ còn cao

Về tài chính đô thị: Những năm trước 1990-1995, nguồn vốn dành cho xây dựng đô thị chủ yếu dựa vào

ngân sách Nhà nước Sau năm 1995 nguồn vốn này được mở rộng cho các nguồn khác (như ODA, FDI,các nhà đầu tư trong và ngoài nước, của nhân dân) Tuy nhiên, thủ tục xây dựng còn phức tạp, chưa chủđộng nguồn vốn xây dựng các trọng điểm của Thành phố, nhiều dự án qua nhiều năm không triển khaiđược Chưa có chính sách tài chính thu trên sự phát triển đất đai và khai thác hạ tầng thành phố vì vậythành phố thất thu và không tạo sự công bằng giữa người được hưởng lợi và người bị giải toả khi pháttriển đô thị

Về kiến trúc – Quy hoạch xây dựng đô thi: Đến nay thành phố đã hoàn tất quy hoạch 1/2000, 1/5000

nhưng còn thiếu quy hoạch 1/500 và thiết kế đô thị, quy định quản lý kiến trúc quy hoạch các quận

Trang 26

huyện Bộ mặt khu trung tâm thành phố và các quận nội thành đã cải thiện rõ nét Mặc dù vấn đề môi

tr-ường đã được quan tâm giải quyết từ khâu quy hoạch đến xử lý, nhưng chưa được cải thiện Tình trạng

xây dựng trái phép còn phổ biến, bộ mặt kiến trúc nhiều khu vực còn manh mún, lộn xộn

2.3 Rà soát các dự án, đồ án.

a Rà soát của Bộ xây dựng:

Sau khi có Chỉ thị số 260/CT-TTg ngày 04/3/2008 về việc thực hiện chủ trương mở rộng địa giới hành

chính Thủ đô Hà Nội Bộ Xây dựng đã xây dựng 4 tiêu chí để đánh giá các quy hoạch và dự án (1) Cơ sở

pháp lý, (2) Sự phù hợp với Quy hoạch xây dựng vùng Thủ đô Hà Nội được Chính phủ phê duyệt tại

Quyết định số 490/QĐ-TTg ngày 5/5/2008 và Đề án định hướng Quy hoạch Thủ đô Hà Nội mở rộng đến

năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (báo cáo Quốc hội tháng 5/2008 theo Tờ trình số 60/TTr-CP ngày

29/4/2008 của Chính phủ), (3) Tuân thủ Quy chuẩn, tiêu chuẩn QHXD, (4) Sự phù hợp nguyên lý tổ

chức không gian đô thị và hạ tầng kỹ thuật Kết quả rà soát được Bộ Xây dựng tổng hợp trình TTCP, Trong

đó, gồm 4 nhóm đồ án, dự án QHXD: Nhóm Ia: Các đồ án quy hoạch, dự án tiếp tục được triển khai thực

hiện Nhóm Ib: Các đồ án quy hoạch, dự án tiếp tục được triển khai nhưng cần điều chỉnh về nội dung Nhóm

IIa: Các đồ án quy hoạch, dự án tạm dừng triển khai chờ quy hoạch chung Hà Nội mở rộng Nhóm IIb: Các

đồ án tạm dừng triển khai

b Rà soát của UBND TP Hà Nội

(theo văn bản số 240/TB-VPCP ngày 05/9/2008, của Chính phủ: Có tổng số trên 750 các đồ án quy

hoạch, dự án đầu tư xây dựng trên địa bàn thành phố)

Kết quả rà soát Giai đoạn I cho thấy các đồ án quy hoạch và dự án đầu tư xây dựng được phân bố trên tất

cả 29 quận, huyện và thị xã Tuy nhiên, do chức năng, tính chất, vị trí, diện tích tự nhiên, quỹ đất (đặc

biệt là đất nông, lâm nghiệp) có khả năng chuyển đổi, trình độ phát triển của hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ

thuật, tiềm năng và lợi thế phát triển…của các quận, huyện, thị xã có nhiều sự khác biệt; nên sự phân bố

về số lượng, quy mô chiếm đất của các đồ án quy hoạch, dự án đầu tư, lĩnh vực đầu tư…trên các đơn vị

hành chính có sự khác nhau khá lớn Về lĩnh vực đầu tư, kết quả rà soát cho thấy phần lớn các đồ án quy

hoạch và dự án đầu tư thuộc lĩnh vực: các khu đô thị mới, khu nhà ở, khu du lịch sinh thái, khu giáo dục

- đào tạo, y tế, khu đa năng…tập trung tại khu vực phía Bắc, Đông Bắc, Tây và Tây Bắc thành phố; trong

khi đó, các Khu, Cụm công nghiệp lại tập trung tại khu vực phía Nam và Tây Nam của thành phố; phần

lớn các dự án bất động sản có quy mô lớn(khu đô thị mới, khu nhà ở, khu hỗn hợp ) tập trung tại các

khu vực ven đô theo các hướng: Tây, Tây Bắc, Bắc, Đông và Đông Bắc( Hà Đông, Đông Anh, Gia Lâm,

Từ Liêm, Hoài Đức, Đan phượng, Mê Linh… và dọc hai bên đường Láng - Hoà Lạc (bao gồm cả khu

vực kéo dài) và dọc các trục đường giao thông đầu tư theo hình thức BT Trên cơ sở đánh giá các dự án

đã hoàn thành đầy đủ các thủ tục, được giao đất hoặc đang làm thủ tục giao đất, đã công bố công khai và

chủ trương của cấp có thẩm quyền, Thủ tướng Chính phủ đã cho phép 244 dự án (lần 1 là 240 dự án, tiếp

theo cho phép 4 dự án) được tiếp tục triển khai Tuy nhiên việc triển khai dự án này phải tuân thủ theo

các ý tưởng quy hoạch được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt

c Rà soát dự án, đồ án trong quá trình lập Quy hoạch chung

Quá trình lập Quy hoạch chung cần phải nhìn nhận lại tất cả các dự án đã có về các vấn đề yếu tố không

gian, kết nối hạ tầng, tác động môi trường, kế hoạch triển khai, nguồn lực thực hiện và các hiệu quả đầu

tư để kế thừa và xác định phù hợp với các định hướng phát triển chiến lược trong tương lai

Trong đó những dự án như: nhà cao tầng trong khu vực nội đô, phá dỡ biệt thự cũ, cải tạo các khu tập thể

cũ, cải tạo hệ thống sông hồ, các dự án đô thị, các dự án hạ tầng kỹ thuật, các dự án hạ tầng sản xuất, hạ

tầng xã hội đã và đang triển khai với nhiều mức độ khác nhau

Theo đó những dự án phù hợp với định hướng chung sẽ tiếp tục được triển khai và xem đó là một yêucầu của thực tiễn phát triển, đối với các dự án không phù hợp cần phải điều chỉnh về tính chất, quy mô,giải pháp không gian, giải pháp kỹ thuật, hình thức đầu tư theo ý tưởng định hướng trong quy hoạchchung hoặc thay đổi vị trí thực hiện dự án vào các khu vực cho phép phát triển đô thị

2.4 Đánh giá hiện trạng phát triển đô thị Hà Nội 2.4.1 Những ưu thế và tồn tại chính

a Các lợi thế cần khai thác:

- Vị thế và vị trí trong mối quan hệ với vùng và cả nước:

Hà Nội là thủ đô của cả nước; là trung tâm về chính trị, văn hóa, kinh tế, y tế, giáo dục, khoa học của

cả nước đóng vai trò là cực phát triển chính thúc đẩy kinh tế vùng và cả nước;

Hà Nội hiện nay là trung tâm của cả vùng, có khả năng kết nối và chia sẻ chức năng vùng thông qua

hệ thống giao thông đường sắt, đường bộ, đường thủy và đường không

- Về nhân lực và dân trí: Hà Nội có hàng trăm trường đại học, viện nghiên cứu lớn của cả nước, cónhiều khu công nghiệp kỹ thuật cao, công nghệ cao; có tỷ lệ đào tạo qua lao động năm 2008 đạt 45%(ở mức cao so với cả nước)

- Về văn hóa, lịch sử và du lịch, cảnh quan:

Hà Nội là vùng văn hóa đặc trưng giao thoa giữa các nền văn hóa có mối liên hệ mật thiết với vănhóa xứ Đoài( Hà Tây) văn hóa Hòa Bình, Văn hóa xứ Nam ( Nam Định, Hà Nam), Văn Hóa ThăngLong( Hà Nội)

Hà Nội có lịch sử 1000 năm văn hiến, giàu văn hóa phi vật thể và vật thể Hiện nay Hà Nội có 5100

di tích lịch sử văn hóa, trong đó có trên 700 di tích được xếp hạng cấp Quốc Gia

Hà Nội có nhiều công trình văn hóa như hệ thống các công trình bảo tàng, nhà hát, triển lãm tiêubiểu của cả nước

Hà Nội đa dạng về hệ sinh thái: Mặt nước-đồi núi-thảm thực vật Cảnh quan nổi tiếng là Ba vì,Hương tích, Sóc Sơn, Tây Hồ, sông Hồng Có nhiều sông hồ để tạo lập nên đô thị đặc thù về sôngnước

- Thu hút đầu tư: Hiện nay Hà Nội có >750 đồ án, dự án đang triển khai, đây là thế mạnh rất lớn so vớicác tỉnh thành phố khác trong cả nước về nguồn lực đầu tư; giúp cho Hà Nội có nhiều cơ hội xâydựng và phát triển Thủ đô dựa tiềm lực sẵn có của mình

b Các tồn tại chính cần khắc phục

- Về kết cấu hạ tầng hiện nay của Hà Nội chưa đồng bộ, giao thông quá tải, khó kiểm soát các phươngtiện tham gia giao thông Thiếu kiểm soát xây dựng chức năng công cộng đô thị, hành chính, nhà ở,công nghiệp, y tế, giáo dục

- Về dân số: Không kiểm soát được gia tăng dân số tập trung mật độ cao vào đô thị trung tâm gây nên

Trang 27

- Về chính sách phát triển đô thị và kinh tế-xã hội chưa đồng bộ giữa các bộ ngành Chưa đề xuất giải

quyết lao động chuyển đổi cơ cấu từ nông nghiệp sang công nghiệp dịch vụ, chưa có chính sách kiểm

soát dịch cư giữa thành thị và nông thôn

2.4.2 Cơ hội và thách thức

a Cơ hội

- Sự hội nhập kinh tế toàn cầu sẽ là các cơ hội lớn để Hà Nội phát triển kinh tế Đặc biệt hiện nay, Hà

Nội có các hành lang kinh tế quốc tế đi qua là Côn Minh-Hải Phòng, hành lang Lạng Sơn-Hà Nội đi

qua

- Chính sách của Đảng và Nhà nước luôn tạo cơ chế chính sách thuận lợi để phát triển Thủ đô

- Việc mở rộng Thủ đô Hà Nội sẽ có thêm nhiều quỹ đất để phát triển các chức năng quan trọng cho

Thủ đô và là cơ hội để thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia

b Thách thức

- Về văn hóa và bản sắc: Giải quyết các mâu thuẫn giữa bảo tồn các di tích, di sản đặc sắc của Hà nội

hiện nay với phát triển kinh tế và đô thị mới Duy trì bản sắc văn hóa truyền thống trong các cấu trúc

và không gian đô thị

- Về môi trường: Giải quyết sự mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường Ứng xử với

vùng chậm lũ sông Đáy và sông Tích Duy trì các hoạt động làng nghề với bảo vệ môi trường nông

thôn

- Về kinh tế: Quy mô kinh tế của Hà Nội còn nhỏ bé so với nhiều Thủ đô khác trong khu vực và thế

giới; Chính sách về quản lý đất đai đối với các đô thị đặc biệt; Chuyển đổi cơ cấu đất đai và cơ cấu

ngành nghề trong quá trình đô thị hóa

- Nhân lực để phát triển nền kinh tế dựa trên tri thức

- Quản lý đô thị trong khi năng lực quản lý đô thị còn thấp và các dự án đầu tư còn chưa đồng bộ

- Về phát triển nông thôn, mối liên kết đô thị-nông thôn trong quá trình phát triển Thủ đô Duy trì sản

phẩm làng nghề truyền thống;

- Về hạ tầng xã hội: Sắp xếp lại, di dời các cơ sở CN và TTCN, y tế, trường học, công sở ra khỏi nội

đô Dành quỹ đất trong khu vực nội đô xây dựng cơ sở vật chất ngành du lịch; Bố trí nhà ở và các

tiện ích công cộng cho người dân thuộc khu vực giãn dân trong nội đô thành phố

2.5 Các vấn đề cần giải quyết trong Quy hoạch chung.

Quá trình triển khai và thực hiện quy hoạch Hà Nội đến nay có các vấn đề tồn tại chính cần tiếp tục

nghiên cứu để giải quyết, đó là:

1 Cấu trúc không gian quy hoạch và kiến trúc được nghiên cứu phù hợp với đặc thù của Thủ đô Hà Nội

sau khi mở rộng

2 Hệ thống giao thông đô thị cần được tiếp tục xây mới và nâng cấp, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế

xã hội của thành phố

3 Các vấn đề về nâng cấp hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội đô thị như: sự quá tải về dịch vụ y tế, giáo

dục, nhà ở công sở làm việc, các công trình văn hóa, TDTT, vui chơi giải trí, công viên cây xanh; đặc

biệt tại khu vực nội đô

4 Dự báo quy mô dân số và phân bố dân cư hợp lý cho Hà Nội vào năm 2030 và tầm nhìn đến năm

2050 Đề xuất các chương trình kiểm soát sự gia tăng dân số của Thủ đô, đặc biệt bên trong các khu

vực nội đô

5 Bảo tồn và tôn tạo các Khu phố cổ, phố cũ và các di sản và di tích khác như di sản văn hóa và cảnh

quan, làng nghề của Hà Nội…

6 Định hướng giải quyết những tồn tại cho sự phân bố của các dự án đầu tư xây dựng, cho phù hợp vớiphát triển kinh tế xã hội của thành phố (giải pháp cụ thể cho trên 750 dự án đầu tư xây dựng đangđược rà soát và cập nhật theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ tại Chỉ thị số 260/CT-TTg ngày04/3/2008 và Văn bản số 240/TB-VPCP ngày 05/9/2008)

7 Khai thác nguồn tài nguyên sông, hồ để phát triển đô thị, tạo dựng nét đặc thù riêng cho Hà Nội làthành phố có nhiều hồ nước; kiểm soát việc thoát nước tránh ngập úng khi có mưa lớn dài ngày;phòng chống thiên tai, lũ lụt và biến đổi khí hậu

8 Xác định vị trí xây dựng các Khu công nghiệp tập trung của Thủ đô ở các địa điểm bên ngoài trungtâm thành phố, phù hợp với phát triển kinh tế và phục vụ công tác di dời các cụm, điểm công nghiệpđang gây ô nhiễm từ nội đô ra bên ngoài

9 Đề xuất định hướng về nguồn kinh phí đầu tư xây dựng Thiết lập quy chế quản lý đô thị

III KINH NGHIỆM QUỐC TẾ

3.1 Giới thiệu:

Quy hoạch chung Hà Nội được nghiên cứu dựa trên các kinh nghiệm quy hoạch và thiết kế của mười sáuthành phố lớn trên thế giới, thuộc các khu vực Châu Á, Châu Âu, Trung Mỹ, Nam Mỹ và Hoa Ky, có cácđặc điểm tương đồng với Vùng Thủ đô Hà Nội, là: Bangkok - Thái Lan, Manila – Philippines, Bắc Kinh,Hàng Châu, Nam Kinh, Thượng Hải - Trung Quốc, Kuala Lumpur – Malaysia, Seoul, Hàn Quốc,Barcelona - Tây Ban Nha, Thành phố Mê-hi-cô – Mexico, Brasilia – Brazil, Chicago, New York, Thủ đôWashington - Hoa Ky, Luân Đôn – Anh, Paris - Pháp

3.2 Kinh nghiệm quốc tế:

Các chuyên gia tư vấn nước ngoài đã tổng kết có 17 kinh nghiệm quy hoạch có thể áp dụng cho Hà Nộiđược chia thành bốn loại như sau:

- Tầm nhìn (các vấn đề phát triển đô thị):

(1) Tầm quan trọng của quy hoạch chung

(2) Lựa chọn và thực thi quy mô và mật độ xây dựng phù hợp

(3) Tạo dựng hình ảnh của một thủ đô quốc gia với thiết kế đô thị mang dấu ấn đặc trưng

(5) Phối hợp hài hòa các mô hình thiết kế đảm bảo phát triển bền vững

(6) Tạo dựng hình ảnh đô thị và thực hiện tầm nhìn

- Cơ sở vật chất đô thị hiện hữu (các vấn đề cơ sở hạ tầng).

(7) Xây dựng cơ sở hạ tầng dịch vụ xã hội hiện đại

(8) Phát triển một hệ thống giao thông công cộng và đường cao tốc

(9) Hợp nhất thành phố bị chia cắt bởi một dòng sông

(10) Kết nối đô thị với vùng

- Tăng trưởng thông minh (các vấn đề không gian và môi trường).

(11) Khai thác không gian mặt nước đô thị thành tiện ích quan trọng

(12) Xây dựng các trung tâm có chức năng nổi trội phù hợp với đô thị gắn bảo tồn với phát triển hiệnđại

(13) Nhà ở xã hội

(14) Khuyến khích phát triển kinh tế theo định hướng chiến lược

(15) Bảo vệ di sản văn hóa, kiến trúc, thiên nhiên và môi trường

- Đặc trưng đô thị.

(16) Chọn địa điểm cho các cơ quan Chính phủ phù hợp vai trò, chức năng chính của đô thị

(17) Thiết lập hệ thống công viên công cộng hấp dẫn và dễ tiếp cận

Trang 28

Việc quy hoạch và phát triển những thành phố toàn cầu này là minh chứng cho một số bài học quy hoạch

cụ thể cũng như các mốc quy hoạch quan trọng mà xét ở một góc độ nào đó phù hợp với quy hoạch

chung của Thủ đô Hà Nội

IV LIÊN KẾT VÙNG

4.1 Bối cảnh vùng:

Thủ đô Hà Nội có nhiều lợi thế về vị trí địa lý- chính trị, lịch sử phát triển lâu đời và là đô thị trung tâm

quan trọng của Việt Nam, có sức hút và tác động rộng lớn đối với quốc gia trong khu vực và quốc tế

Việc sáp nhập mở rộng địa giới hành chính, mang lại cho Hà Nội một vùng sinh thái rộng lớn, phong phú

về tài nguyên văn hóa và cảnh quan Tạo nên những lợi thế cạnh tranh đáng kể so với các vùng đô thị lớn

trong khu vực như vùng Nam Trung Hoa, vùng Thủ đô Băng Cốc, vùng Thủ đô Gia Các ta … khi đặt

vấn đề về phát triển Hà Nội theo hướng thủ đô Xanh - Văn hiến - Văn minh- hiện đại.

4.2 Các mối quan hệ vùng:

Các tác động tương hỗ giữa Vùng và Thủ đô Hà Nội: Phát triển không gian Hà Nội đặt trong mối

quan hệ vùng của Thủ đô Hà Nội phải thể hiện rõ sự gắn kết phát triển giữa Hà Nội và Vùng Thủ đô Hà

Nội, đây là mối quan hệ tương hỗ hai chiều trong đó Thủ đô Hà Nội tác động đến Vùng bằng việc thể

hiện vai trò trung tâm tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy toàn vùng phát triển thông qua sự mở rộng, lan toả

các hoạt động kinh tế, đô thị hóa ra các tỉnh xung quanh thủ đô Vùng tác động đến Thủ đô Hà Nội bằng

việc cung cấp cho Hà Nội nguồn thực phẩm, nguồn lao động, quĩ đất phát triển cho các trung tâm công

nghiệp, khu đô thị, các công trình đầu mối hạ tầng, kho tàng, cảng

Không gian vùng Thủ đô Hà Nội được phân thành hai phân vùng chính, cụ thể: (1) Vùng đô thị trung

tâm và phụ cận (vùng đô thị trung tâm là Thủ đô Hà Nội mở rộng, vùng phụ cận trong phạm vi 25-30

km) (2) Vùng phát triển đối trọng trong phạm vi 30-60 km, hình thành theo 3 phân vùng lớn là: Vùng

đối trọng phía Tây (Hoà Bình); Vùng đối trọng phía Đông và Đông Nam (Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng

Yên và Hà Nam) và Vùng đối trọng phía Bắc-Đông Bắc (Vĩnh Phúc, hành lang cao tốc QL18)

Vùng Thủ đô Hà Nội phát triển theo hướng vùng đô thị hoá đa cực tập trung: liên kết không gian thành

phố Hà Nội (đô thị trung tâm của vùng) và các tỉnh xung quanh (vùng phát triển đối trọng), trong đó các

đô thị tỉnh lị là các hạt nhân của vùng phát triển đối trọng

Liên kết và chia sẻ các chức năng Vùng: Trong Vùng Hà Nội và Thủ đô Hà Nội cần có sự phân công,

chia sẻ các chức năng vùng để đảm đương và phát huy các thế mạnh của từng tỉnh để giảm sự phát triển

dàn trải Các định hướng chính như các vùng công nghiệp lớn sử dụng quĩ đất trống vùng gò đồi, các

trung tâm du lịch nghỉ dưỡng, nghiên cứu phát triển…chủ yếu về phía Tây, các trung tâm dịch vụ đô thị,

công nghiệp, nông nghiệp…tại khu vực phía Đông Các trung tâm du lịch nghỉ dưỡng, giải trí theo

hướng cao cấp có tầm quốc gia quốc tế gắn các vùng cảnh quan và văn hoá cảnh quan lịch sử có giá trị

Về phát triển hợp tác khai thác các công trình HTKT đầu mối mang tính liên Vùng: Hà Nội là trung tâm

đầu mối giao thông đối ngoại đường bộ, đường sắt, đường hàng không quốc gia, quốc tế Vùng Hà Nội –

Hòa Bình xây dựng Nghĩa trang liên Vùng và bảo vệ nguồn nước sông Đà Vùng Hà Nội – Thái Nguyên

– Vĩnh Phúc – Bắc Ninh - Hưng Yên khai thác và quản lý khu xử lý CTR liên vùng Vùng Hà Nội – Vĩnh

Phúc – Hưng Yên khai thác sông Hồng Vùng Hà Nội - Hà Nam giải quyết tiêu thoát nước mặt và các

giải pháp bảo vệ môi trường sông Đáy

Về Y tế: Phát triển các trung tâm y tế chuyên sâu và chất lượng cao hỗ trợ cho các cơ sở y tế đã quá tải

trong nội đô Hà Nội cũ Tập trung phát triển các trung tâm y tế khám chữa bệnh tại các đô thị lớn lân cận

Hà Nội như Thái Nguyên, Phủ Lý, Vĩnh Yên

Về Giáo dục: Phát triển các trung tâm giáo dục đào tạo theo hướng ưu tiên phát triển hệ thống các trường

giáo dục chuyên nghiệp, dạy nghề gắn với phát triển các KCN như TP Hưng Yên, TP Phủ Lý, Khu Xuân

Hòa, TP Thái Nguyên, TX Từ Sơn Dự kiến phát triển qui mô đào tạo Hà Nội khoảng 600.000-700.000

sinh viên (chiếm 35%-40% qui mô đào tạo của Vùng)

Về thương mại: Phát triển các Trung tâm thương mại lớn, các chợ đầu mối các trung tâm trung chuyển

hàng hóa lớn (ICD) với các tỉnh có kết nối với Hà Nội qua các tuyến cao tốc cụ thể như Khu vực PhốNối, Văn Lâm, Văn Giang (Hưng Yên), Phúc Yên – Xuân Hòa, khu vực Phổ Yên (Thái Nguyên), khuvực Từ Sơn (Bắc Ninh); khu vực Đồng Văn (Hà Nam) gắn với cao tốc Bắc Nam;

Về du lịch: Kết nối các hoạt động du lịch trong thành phố với các Trung tâm du lịch lớn của Vùng như

Khu vực phía Bắc, Tây Bắc (Vùng ATK, Vùng Núi Cốc, Vùng Tam Đảo, Tây Thiên), phía Đông, ĐôngBắc (Đền Hùng, Thanh Thủy, hồ sông Đà, Mai Châu), phía Nam (Hương Sơn, Tam Chúc Phố Hiến),phía Đông (Tiên Sơn)

Về Công nghiệp: Hạn chế phát triển các khu công nghiệp lớn và chuyển dần các khu công nghiệp ra

ngoại thị Trong TP ưu tiên các loại hình các khu công công nghệ cao và các tổ hợp Đô thị- công nghiệp-Thương mại tiên tiến Vùng phía Tây Bắc (Khu vực Vĩnh Yên, Phúc Yên), phiá Bắc (Phổ Yên, SôngCông) phía Đông (Phố Nối, Từ Sơn, Quế Võ), phía Nam (Đồng Văn) Phát triển công nghiệp Hà Nội ởngưỡng 6000-8000 ha (gần 30% công nghiệp Vùng) và ưu tiên phát triển công nghệ cao

Về Phân bố dân cư trong Vùng:

Trong những năm trước, xu hướngdân cư thu hút vào Thủ đô Hà Nộilà chủ yếu Trong định hướng pháttriển Vùng Thủ đô, việc phân bố lạivùng sản xuất (công nghiệp và khotàng), giãn các khu đại học và y tế

ra các đô thị Đối trong ở các Tỉnh

xung quanh sẽ hình thành các khu

đô thị mới ở các đô thị tỉnh lị, giảmbớt lượng nhập cư vào Thủ đô

Sơ đồ mối liên kết về phân bố dân cư-đô thị trong vùng Thủ đô Hà Nội (Nguồn:QHXD vùng Thủ đô Hà Nội)

Việc hình thành mới cấu trúc của đô thị Hà Nội gồm đô thị trung tâm và 5 đô thị vệ tinh sẽ giảmbớt sự phát triển quá mức của nội thành Hà Nội hiện hữu; tạo điều kiện thuận lợi về phát triển kinh tế-xãhội và cơ hội về công ăn việc làm cho các khu vực nông thôn ngoại thành Các đô thị khác trong vùngnhư: Bắc Ninh, Vĩnh Yên, Hòa Bình, Phủ Lý, Hưng Yên, Hải Dương là các đô thị đối trọng, thu hút cácngành công nghiệp, các trung tâm giáo dục đại học cao đẳng, các khu đô thị chất lượng cao Khi các đôthị đối trọng phát triển sẽ thu hút dân cư và giảm bớt nhập cư về đô thị trung tâm Với hệ thống hạ tầngđược kết nối sẽ tạo động lực cho Thủ đô Hà Nội và các đô thị đối trọng trong vùng được phát triển và cótính cạnh tranh cao Về mối quan hệ giữa đô thị của Thủ đô với các đô thị khác trong vùng Thủ đô cũngcần tiếp tục nghiên cứu, cập nhật ở giai đoạn điều chỉnh Quy hoạch xây dựng vùng Thủ đô sau khi quyhoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội được Chính phủ thông qua

5.1.1 Dự báo phát triển kinh tế-xã hội

Quy hoạch tổng thể KT-XH Thủ đô Hà Nội đã được Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội thông qua,khẳng định:

Trang 29

Để Hà Nội tiếp tục là trung tâm kinh tế lớn của vùng và cả nước, đồng thời cải thiện chất lượng cuộc

sống của người dân

Kinh tế Thủ đô tiếp tục dịch chuyển cơ cấu theo hướng dịch vụ-công nghiệp-nông nghiệp ở trình độ tiên

tiến Thành phố Hà Nội sẽ phát triển nền kinh tế tri thức, với đặc trưng là các sản phẩm chất lượng cao,

sử dụng nguồn nhân lực trình độ cao, phương thức quản lý kinh tế hiện đại, tiên tiến Phát triển các

ngành dịch vụ cao cấp đặc biệt là các dịch vụ thương mại, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, thị trường

chứng khoáng, dịch vụ du lịch; công nghiệp và nông nghiệp công nghệ cao

Đồng thời thành phố cần phải tiếp tục tập trung nâng cấp hạ tầng đô thị, tăng cường nâng cao chất lượng

đào tạo nguồn nhân lực Giảm sự chênh lệch về thu nhập giữa người dân đô thị và nông thôn

5.1.2 Định hướng phát triển kinh tế

- Về lĩnh vực dịch vụ:

Phát triển Hà Nội thành trung tâm dịch vụ chất lượng cao của vùng, cả nước và khu vực

Phát triển các ngành dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán; Dịch vụ bưu chính-viễn

thông và công nghệ thông tin (CNTT); Dịch vụ khoa học-công nghệ; Dịch vụ y tế; Dịch vụ giáo

dục-đào tạo; Dịch vụ tư vấn; Dịch vụ vận tải công cộng; Dịch vụ xuất khẩu…Phát triển thị trường hàng

hóa bán buôn; thiết lập, củng cố và mở rộng các dịch vụ thương mại, các kênh phân phối hàng hóa

phục vụ nhu cầu thiết yếu cho Hà Nội

Phát triển du lịch trở thành một ngành kinh tế trọng điểm của Hà Nội, trung tâm du lịch cả nước và

khu vực Nâng cao chất lượng chất lượng dịch vụ du lịch văn hóa-lịch sử, du lịch sinh thái-nghỉ

dưỡng, dịch vụ văn hóa-giải trí-thể thao, phát triển du lịch MICE (hội nghị, hội thảo, triển lãm, sự

kiện), sản phẩm du lịch sử dụng công nghệ cao, du lịch mua sắm, du lịch sự kiện Tôn tạo các di tích

văn hóa-lịch sử và phát triển các lễ hội truyền thống phục vụ du lịch, hệ thống các làng nghề truyền

thống ven đô thị Đa dạng hóa các hình thức du lịch để kéo dài thời gian lưu trú của khách du lịch

đến Hà Nội

- Về lĩnh vực công nghiệp:

Phát triển một số ngành công nghiệp có giá trị gia tăng lớn, sử dụng công nghệ cao

Xây dựng ngành công nghiệp công nghệ thông tin (CNTT) trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có tỷ

trọng cao trong cơ cấu kinh tế Thủ đô Hà Nội sẽ trở thành trung tâm công nghiệp CNTT của cả

nước, trung tâm công nghệ phần mềm, nội dung số và công nghiệp phần cứng trong khu vực Phát

triển các ngành công nghiệp phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu như: Công nghiệp cơ khí, vật

liệu mới, hóa dược và mỹ phẩm, chế biến thực phẩm và đồ uống, dệt may, vật liệu xây dựng và trang

trí nội thất cao cấp

Đối với làng nghề: Khôi phục và phát triển những nghề, những cơ sở sản xuất thủ công nghiệp có sản

phẩm được thị trường chấp nhận Phát triển các nghề thủ công mới gắn với bản sắc dân tộc, tiến bộ

khoa học công nghệ và du lịch

- Về lĩnh vực nông lâm nghiệp:

Phát triển nền nông nghiệp đô thị sinh thái gắn với nông thôn mới

Nông nghiệp Thủ đô phát triển theo hướng nông nghiệp đô thị sinh thái, sản xuất hàng hóa lớn, có

năng suất cao, chất lượng, hiệu quả, có khả năng cạnh tranh cao, hài hòa và bền vững với môi trường

Phát triển nông nghiệp công nghệ cao phục vụ cho đô thị, du lịch, khu công nghiệp Phát triển nông

nghiệp gắn với ngành nghề khác (thủ công nghiệp, du lịch nông thôn, du lịch sinh thái, du lịch làng

nghề ) và góp phần bảo vệ môi trường

5.1.3 Định hướng các lĩnh vực xã hội

Phát triển văn hóa Thủ đô xứng tầm với truyền thống ngàn năm văn hiến, với danh hiệu Thủ đô anh

hùng, thành phố vì Hòa Bình, tiêu biểu của cả nước

Gắn kết chặt chẽ phát triển văn hóa với kinh tế, chính trị; đưa văn hóa thực sự trở thành động lựcquan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá tiêu biểu củaThủ đô; thiết lập các trung tâm văn hoá mới đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa ngày càng cao củangười dân Thủ đô Phát triển mạng lưới công trình văn hóa gắn với phát triển du lịch và hướng tới xãhội hóa

- Về giáo dục đào tạo

Giữ vững và nâng cao vị thế Hà Nội đi đầu trong lĩnh vực giáo dục đào tạo của cả nước

Tạo tiền đề phát triển nền kinh tế tri thức, Hà Nội sẽ tiếp tục nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồidưỡng nhân tài, nhất là đào tạo nhân lực chất lượng cao Hà Nội ưu tiên phát triển các lĩnh vực đàotạo theo hướng nghiên cứu; đào các các ngành khoa học cơ bản; các ngành mũi nhọn trong lĩnh vựcgiáo dục và y tế, công nghiệp và xây dựng, kinh tế, thương mại, dịch vụ và quản lý, văn hóa nghệthuật Khai thác các nguồn lực xã hội cho phát triển giáo dục đào tạo Khuyến kích các thành phầnkinh tế trong và ngoài nước tham gia đầu tư xây dựng các cơ sở giáo dục đào tạo đạt trình độ khu vựcvà quốc tế

Phát triển ngành y tế Thủ đô trở thành trung tâm công nghệ cao về y học của cả nước, phấn đấu bằngvà vượt các nước tiên tiến trong khu vực về chất lượng, trình độ kỹ thuật; một số lĩnh vực đạt trìnhđộ các nước tiên tiến trên thế giới

Phát triển hệ thống y tế hoàn chỉnh, vừa phổ cập vừa chuyên sâu đáp ứng tốt nhất yêu cầu chăm sócvà bảo vệ sức khỏe nhân dân Thủ đô và các vùng phụ cận Phấn đấu 100% người dân Hà Nội đượchưởng các dịch vụ y tế chất lượng cao, công bằng, hiệu quả và thuận tiện

- Về thể dục thể thao

Xây dựng Hà Nội trở thành thành phố hàng đầu có nền TDTT tiên tiến

Phát triển các loại hình thể thao thành tích cao đạt trình độ cao trong khu vực và tiếp cận trình độchâu lục và thế giới; đồng thời phát triển triển TDTT quần chúng Phát triển mạnh các môn thể thaotruyền thống gắn với mở rộng các loại hình thể thao của khu vực

Xây dựng đô thị gắn với an ninh quốc phòng Xây dựng thành phố Hà Nội thành khu vực phòng thủvững chắc trong tình hình mới Bảo vệ tuyệt đối an toàn các cơ quan Trung ương, thành phố, các sựkiện chính trị quan trọng trên địa bàn Thủ đô

5.1.4 Các chỉ số phát triển kinh tế-xã hội

a Các chỉ tiêu phát triển kinh tế

- Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân thời ky 2001-2009 là >11%/năm Phấn đầu đạt khoảng 13%/năm thời ky 2011-2015; đạt 11-12%/năm thời ky 2016-2020 và khoảng 9,5-10% thời ky 2021-

12-2030 GDP bình quân đầu người của Hà Nội hiện nay đạt khoảng 2.000 USD, phấn đấu năm 2020 đạtkhoảng 7.100-7.500 USD, năm 2030 đạt khoảng 16.000-17.000 USD Đóng góp GDP của Hà Nội

Trang 30

cho cả nước năm 2020 khoảng 16% và năm 2030 hơn 18%.

- Về cơ cấu kinh tế GDP hiện nay của Hà nội, khu vực dịch vụ có tỷ trọng cao nhất là 52, 5%, công

nghiệp xây dựng là 41,4% và nông lâm thủy sản là 6,1% Phấn đấu đến năm 2020, tỷ trọng dịch vụ

đạt 55,5-56,5% công nghiệp – xây dựng đạt 41-42% và nông nghiệp 2-2,5% Đến năm 2030, tỷ trọng

dịch vụ đạt 58,5-59,4%, công nghiệp – xây dựng đạt 39,6-40,3% và nông nghiệp đạt 1,0-1,2%

b Các chỉ tiêu phát triển xã hội và hạ tầng đô thị

- Tỷ lệ đô thị hóa đến năm 2030 đạt 65-68%

- Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng >55 % vào năm 2015 và 70-75 % vào năm 2020

- Việc làm: Giải quyết cho 15,5-16 vạn lao động mỗi năm

- Giáo dục phổ thông: Đến năm 2020 có trên 65-70% số trường học phổ thông đạt chuẩn Quốc gia

- Y tế: Năm 2012 đạt 100% xã, phường đạt chuẩn quốc gia về y tế Năm 2015 đạt tỷ lệ 35 giường

bệnh/1 vạn dân và năm 2020 đạt khoảng 42 giường bệnh/1 vạn dân

- TDTT: Tỷ lệ dân số tham gia luyện tập TTT thường xuyên tăng đạt 37-38% năm 2020

- Giao thông công cộng đến năm 2020 đạt 35-45% nhu cầu đi lại của người dân

- Phát triển hệ thống cấp nước, đảm bảo 100% các hộ gia đình (cả đô thị và nông thôn) sử dụng nước

sạch

- Phát triển hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt đạt 80%, hệ thống xử lý và thu gom nước thải các khu

cụm công nghiệp, làng nghề đạt 100% đến năm 2020

- Nâng diện tích nhà ở khu vực thành thị lên > 30m2/người vào năm 2030

- Nâng chỉ tiêu đất cây xanh công viên đạt 10-15m2/người vào năm 2030

5.2 Dự báo phát triển dân số, phân bố dân cư và lao động

5.2.1 Căn cứ dự báo dân số:

Dân số Thủ đô được dự báo dựa trên các cơ sở về:

- Xu thế gia tăng dân số chuỗi thời gian 1994-2009 của toàn thành phố, quận, huyện… Hà Nội để rút

ra quy luật phát triển và đề xuất phương hướng 10-20 năm tới

- Quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH thành phố Hà Nội và các ngành

- Kinh nghiệm của các nước trên thế giới trong việc kiểm soát phát triển các đô thị lớn

- Dự báo dân số trong Quy hoạch xây dựng vùng Thủ đô Hà Nội

- Khả năng quỹ đất có thể dung nạp

- Vốn đầu tư phát triển đô thị

- Dựa vào quy luật phát triển dân số hàng chục năm qua như phân tích trên (có tác động kinh tế của 20

năm thời ky “đổi mới”) và những đặc thù của Thủ đô như:

- Hà Nội hiện đang hấp dẫn các công ty, các ngân hàng quốc tế và trong nước, các công ty đa quốc

gia, các công ty dịch vụ tài chính với trình độ công nghệ hiện đại

- Lập các viện nghiên cứu quan trọng và xây dựng mạng lưới các trường đại học bằng cách di

chuyển từ nội thành ra để giảm tải dân cư nội đô và sẽ được phân bổ tại các đô thị mới

- Xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật hiện đại, xứng tầm một Thủ đô văn minh, hiện đại, có thể sánh

vai với các nước trên thế giới (metro, các trục đường lớn, các tuy nen…)

Để phù hợp với từng tính chất, chức năng, kịch bản phát triển kinh tế và vốn đầu tư phát triển hạ tầng đôthị, tăng trưởng cơ học trong từng giai đoạn của mỗi khu vực đô thị sẽ quyết định tăng trưởng dân số

khác nhau, quyết định khả năng thu hút dân, thu hút lực lượng lao động cũng như tốc độ đô thị hóa trên

địa bàn Thủ đô đến năm 2030 và tầm nhìn 2050 Tuy nhiên, việc xác định quy mô dân số tại Hà nội còn

được xem xét trên cơ sở khả năng quỹ đất có thể dung nạp và tính khả thi của nguồn vốn đầu tư pháttriển đô thị để đảm bảo phát triển thành phố bền vững, lâu dài

5.2.2 Dự báo dân số

Dựa vào cơ sở động lực phát triển thành phố đã phân tích và áp dụng phương pháp tính hàm số ngoại suytheo mô hình xu thế (hàm toán học) cho toàn thành phố, 5 đô thị vệ tinh, thị trấn và các huyện nông thôn.Căn cứ vào hệ thống thống kê Việt nam với thông tin/dữ liệu đầu vào đã có chúng tôi sử dụng phươngpháp tính theo hàm trên:

P(t)= P(o) x (1+ r)t

Trong đó:

P(t) : dân số năm dự báo

P(o): dân số năm gốc

r : tỉ lệ tăng trưởng dân số, gồm tăng tự nhiên và tăng cơ học (thu hút lao động có trình độ cao )

t : số năm dự báo

Số liệu có thể thu thập được gồm:

Dân số trung bình hiện trạng (tức tại thời điểm mồng 1/tháng 7 hàng năm) của toàn thành phố,toàn quận/huyện

Tỉ suất (‰) tăng tự nhiên hàng năm của toàn thành phố, toàn quận/huyện

- Dân số hiện nay trên 6,4 triệu người (tính đến 2009), tỷ lệ đô thị hóa đạt gần 40,8% Dự báo đến năm

2020 dân số khoảng 7,3-7,9riệu người, tỷ lệ đô thị hóa đạt 58-60% Đến năm 2030, khoảng 9-9,2triệu người, tỷ lệ đô thị hóa đạt khoảng 65-68% Đến năm 2050 đạt ngưỡng dân số tối đa khoảng10,8 triệu người, tỷ lệ đô thị hóa đạt khoảng 70%-80% (dự báo tầm nhìn quy hoạch chung xây dựngsau năm 2030 sẽ có nhiều vùng nông thôn được đô thị hóa thành các thị trấn, thị tứ)

- Từ nay đến năm 2030, tốc độ tăng trưởng dân toàn thành phố không tăng quá 1,4-2%/năm Tốc độtăng tự nhiên trong khoảng 0,8-1%/năm Tốc độ tăng cơ học 2010-2020 (do lực hút đô thị) của toànthành phố khoảng 1%/năm (0,4%/năm 2007) và giai doạn 2021-2030 khoảng 0,4%; của riêng thànhthị là 4,1% và 2%/năm Khu vực nông thôn mức tăng chung sẽ giảm từ dưới -1,1% đến 0,5%/năm dothu hẹp ranh giới và hạn chế di dân từ nông thôn vào thành thị, chủ yếu tăng tự nhiên

Phát triển dân số của Hà Nội sẽ chia ra làm 3 giai đoạn:

Hà Nội sẽ hạn chế và kiểm soát nhập cư vào thành phố, dân số chủ yếu dịch chuyển trong thành phố, chỉthay đổi ranh giới thành thị-nông thôn Tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng khung, các khu đô thịmới thuộc đô thị trung tâm và các cơ sở kinh tế động lực như khu công nghiệp, trường đại học, cơ sở y tếcấp khu vực ở đô thị vệ tinh thành phố để tạo điều kiện giãn mật độ trong khu vực nội đô cũ

Hà Nội kiểm sóat tăng dân số cơ học, cho phép nhập cư (lao động có chất xám cao) đến các khu đô thịmới và các đô thị vệ tinh Thành phố tiếp tục triển khai xây dựng hoàn thiện các đô thị vệ tinh

- Giai đoạn ngoài 2030:

Hà Nội kiểm soát và đạt ngưỡng dân số ổn định tối đa <11 triệu dân và dòng người di dần về các tỉnhtrong vùng Hà Nội do các tỉnh đã phát huy được tiềm năng-chia sẻ chức năng trong vùng

Trang 31

5.2.3 Dự báo phân bố dân cư các khu vực

a Nguyên tắc, quan điểm

Việc phân bố dân cư đô thị thực hiện trên quan điểm không tập trung quá lớn vào đô thị trung tâm, giảm

mật độ dân cư trong khu vực nội đô hiện nay theo lộ trình từ nay đến năm 2030 Phân bố dân số tại các

đô thị vệ tinh tùy thuộc vào điều kiện về quỹ đất, tính chất đô thị, động lực phát triển và các yếu tố tạo

lập không gian đô thị, khả năng đáp ứng về hạ tầng, nhu cầu về lao động, việc làm…

b Phân bố dân số trong các khu vực đô thị (Giai đoạn đến năm 2030)

- Dự báo giai đoạn năm 2020-2030, dân số thành thị khoảng 6-6,2 triệu người, nông thôn khoảng

2,8-2,9 triệu người, tỉ lệ đô thị hóa khoảng 65-68% Khống chế mật độ dân số tại 9 quận hiện nay(trừ

Long Biên) 13.836 người/km2, giảm dần trong tương lai đến năm 2050 xuống còn khoảng 11.000

người/km2; các đô thị khác dự kiến sẽ dưới 10.000 người/km2 Cần có biện pháp, giải pháp để khống

chế quy mô dân số trong khu vực nội đô là cần thiết và đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững, tạo

môi trường sống tốt và bảo vệ di sản văn hóa Thăng Long Trong đó:

 Phân bổ dân cư đô thị trung tâm khoảng 4,6 triệu người

 5 đô thị vệ tinh khoảng 1,38 triệu người;

Đô thị Hòa Lạc có chức năng chính về khoa học công nghệ và đào tạo; đến năm 2030 dân số đô

thị khoảng 60 vạn người Đô thị vệ tinh Hòa Lạc có quy mô dân số lớn nhất trong 5 đô thị vệ

tinh, được phát triển trên vùng đồi gò bán sơn địa rộng lớn và ổn định địa chất, kết nối thuận lợi

với đô thị trung tâm qua đại lộ Thăng Long và các đô thị xung quanh qua quốc lộ 21, đường Hồ

Chí Minh, tuyến cao tốc Hòa Lạc - Hòa Bình Hơn 10 năm nay, ở Hòa Lạc đã và đang triển khai

các dự án lớn của quốc gia, như: Khu công nghệ cao Hòa Lạc hơn 1.600 ha có khoảng 25 vạn

người làm việc và sinh sống, Đại học quốc gia Hà Nội khoảng 1000 ha dự kiến thu hút khoảng 15

vạn sinh viên, giảng viên và cán bộ; Làng văn hóa du lịch các dân tộc Việt Nam trên 1.000 ha,

khu du lịch Đồng Mô cùng với vùng du lịch Ba Vì - Viên Nam sẽ hấp dẫn hàng vạn du khách vào

cuối tuần và nhiều dự án hạ tầng xã hội khác như: Trung tâm y tế, các cơ sở giáo dục đại học, cácdự án về đô thị mới như Tiến Xuân - Phú Mãn, Đông Xuân đang chuẩn bị đầu tư xây dựng Vớinhững tiềm năng và thực tế, đô thị Hòa Lạc sẽ sớm trở thành trung tâm khoa học công nghệ lớncủa Hà Nội và cả nước Tư vấn phản biện quốc tế Pháp và Úc cũng ủng hộ quan điểm này vàkhuyến nghị Hà Nội cần tiếp tục tập trung đầu tư trong giai đoạn trước mắt

Sơn Tây là đô thị văn hóa lịch sử, du lịch nghỉ dưỡng; đến năm 2030 phát triển từ 10 vạn ngườilên 18 vạn người

Xuân Mai là đô thị dịch vụ - công nghiệp hỗ trợ phát triển tiểu thủ công nghiệp, hệ thống làngnghề; đến năm 2030 khoảng 22 vạn người

Sóc Sơn là đô thị phát triển về dịch vụ, khai thác tiềm năng Cảng Hàng không quốc tế Nội Bài,hành lang kinh tế xuyên Á Côn Minh - Hà Nội - Quảng Ninh và vùng cảnh quan núi Sóc; đếnnăm 2030 phát triển từ 6,6 vạn người lên 25 vạn người

Phú Xuyên là đô thị công nghiệp phục vụ nông nghiệp, đầu mối giao thông, trung chuyển hànghóa; đến năm 2030 tăng từ khoảng 7,5 vạn người lên 12,7 - 15,5 vạn người

Đô thị vệ tinh Phú Xuyên, là cửa ngõ phía Nam Hà Nội, tập trung nhiều đầu mối giao thông quốcgia như: Quốc lộ 1A, cao tốc Bắc Nam, đường sắt Bắc Nam; cao tốc Tây Bắc - quốc lộ 5 và cảngsông Vạn Điểm Ở Phú Xuyên đã có các khu công nghiệp Đại Xuyên, Quất Động, Phú Xuyên,đây là nơi thuận lợi để di dời công nghiệp từ các khu vực nội đô, khu vực Hà Tây (cũ), trên đại lộThăng Long tới và phù hợp phát triển dịch vụ trung chuyển hàng hóa Các khu công nghiệp nàyliên kết với các khu công nghiệp Đồng Văn (Hà Nam) sẽ tạo điều kiện hỗ trợ phát triển nôngnghiệp cho vùng đồng bằng phía Nam sông Hồng Việc hình thành các khu công nghiệp luônluôn kéo theo sự ra đời của các khu ở cho công nhân và các dịch vụ ở kèm theo tạo thành điểm đôthị Bài học của các khu công nghiệp không tính đến khu nhà ở kèm theo như: Bình Dương,Hưng Yên đã tạo ra hình ảnh các khu nhà ở tự phát kém chất lượng cho công nhân bám theocác khu công nghiệp cần phải rút kinh nghiệm Hơn nữa ở Phú Xuyên đã có hơn 7 vạn dân đangsinh sống, có thể tham gia ngay vào khu công nghiệp để chuyển đổi cơ cấu ngành nghề Họ chínhlà cư dân đô thị Phú Xuyên trong tương lai Đây cũng là đô thị có quy mô dân số thấp nhất trongcác đô thị vệ tinh (12 vạn người), được sống trong không gian đô thị gắn với hệ thống hồ ao nhântạo lớn để tránh vùng thấp trũng vốn là đặc điểm kém lợi thế như nhiều nhà khoa học đã phântích Diện tích đất dành cho đô thị này chỉ chiếm 21% diện tích đất tự nhiên của huyện PhúXuyên Việc chuyển đổi một phần đất lúa sang đất công nghiệp là tất yếu trong quá trình đô thịhóacủa một đô thị lớn, không ảnh hưởng đến chiến lược an ninh lương thực quốc gia

 Các thị trấn hiện có và mới lập khoảng 0,24 triệu người

c Phân bố dân cư tại đô thị trung tâm (Giai đoạn đến năm 2030)

c1/ Khu vực nội đô từ phía Nam sông Hồng đến sông Nhuệ có quy mô dân số dự kiến khoảng 1,656 triệungười, được phân làm 2 khu vực kiểm soát phát triển dân số

- Khu vực nội đô lịch sử gồm 4 quận Hoàn Kiếm, Ba Đình, Hai Bà Trưng, Đống Đa và 1 phần thuộcquận Tây Hồ: hạn chế phát triển, đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững, tạo môi trường sống tốt vàbảo vệ di sản văn hóa Cần phải có các biện pháp giảm dân số từ 1,2 triệu dân hiện nay xuống tối đa

80 vạn người Quyết định 108/1998/QĐ-TTg ngày 20/6/1998 đã đề cập đến việc khống chế quy mô dân số trongkhu vực nội đô lịch sử tối đa khoảng 80 vạn người Tuy nhiên, sau 10 năm thực hiện (Năm 2000-2010) lộ trình giảm dân số không những không giảm mà tăng Một trong những nguyên nhân cơ bảndẫn tới tình trạng này là việc tăng dân số cơ học, thiếu kiểm soát vào thành phố và chưa có biện pháphữu hiệu để giải quyết vấn đề này Do vậy, trong giai đoạn tới cần tiếp tục có những cơ chế chínhsách hợp lý, cũng như tạo quỹ đất giãn dân ở nơi ở mới, với môi trường sống tốt để tạo điều kiệnkiểm soát dân số trong khu vực một cách có hiệu quả Trong thời gian tới Luật Thủ đô được thôngqua sẽ là công cụ kiểm soát dân số trong khu nội đô một cách có hiệu quả

Trang 32

Nhiều thành phố lớn trên thế giới đã giải quyết thành công việc kiểm soát dân số không cần dựa vào biện

pháp hành chính mà sử dụng quy luật của kinh tế thị trường (cung-cầu), tạo dựng môi trường sống tốt để

thu hút cư dân tới sinh sống Ở Hà Nội, phát triển các đô thị vệ tinh hoặc các khu đô thị mới phía Bắc

sông Hồng và phía Đông đường vành đai 4 với hệ thống hạ tầng đồng bộ, tiện ích đô thị thuận lợi và hiện

đại sẽ tạo lực hút giảm dần mật độ dân cư trong khu vực trung tâm Ngoài ra, Chính phủ có thể áp dụng

chính sách đánh thuế cao đối với nhà ở và hạn chế không xây dựng nhiều các công trình cao tầng trong

nội đô

Các biện pháp hành chính chỉ tập trung vào khối hành chính công và dịch vụ công, chịu sự điều tiết và

chi phối trực tiếp từ Chính phủ Ví dụ, việc di dời các công sở, bệnh viện và trường học, các khu công

nghiệp ô nhiễm ra khỏi nội đô là những biện pháp hành chính khá thành công của các nước trên thế giới

Dự kiến giai đoạn 2010-2020, cương quyết thực hiện đồng bộ di dời các công sở hành chính ra ngoài

vành đai 3, giảm quy mô đào tạo (khoảng trên 40 vạn sinh viên), di dời các cơ sở y tế (giảm nhu cầu khám

chữa bệnh), di dời các cơ sở công nghiệp (giảm khoảng 100.000 lao động), di chuyển các hoạt động quá

cảnh ra ngoài nội đô thông qua tuyến vành đai 4, dãn dân tại khu phố cổ, các khu vực chung cư cũ ra

các khu đô thị mới Đồng thời phát triển song song các đô thị vệ tinh để tạo sự hấp dẫn thu hút dân cư, lao

động, bệnh viện, trường học ra khỏi khu vực đô thị trung tâm

c2/ Khu vực nội đô mở rộng (gồm 4 quận mới và mở rộng sang huyện Từ Liêm, Thanh Trì) thuộc phía

Nam sông Hồng khoảng 0,856 triệu người

c3/ Chuỗi khu đô thị phía đông đường vành đai 4 (bao gồm các khu vực Đan Phượng, Hoài Đức, An

Khánh, Hà Đông, Thanh Trì ) khoảng 1,25 triệu người

c4/ Chuỗi đô thị phía Bắc sông Hồng ( bao gồm các khu vực Mê Linh-Đông Anh, Đông Anh, Yên

Viên-Long Biên-Gia Lâm ) khoảng 1,7 triệu người

Bảng 13: Dự báo dân số đô thị Thủ đô Hà Nội

II (*)Phân bố dân cư thành thị

A Khu nội đô Hà nội ( 9 quận hiện có, trừ Long Biên+mởrộng) 2.167,8 1.727,8 1.656,0 1.790,5

a1 Nội đô lịch sử (4 quận nội thành cũ-Hoàn Kiếm, 3/4 Hai Bà Trưng, Ba Đình, Đống Đa,một phần Tây Hồ) 1.203,3 919,3 800,0 800,0

a2 Nội đô mở rộng (từ vành đai 2 đến sông Nhuệ: 4 quận nội thành mới, trừ Long Biên) 964,5 808,5 856,0 990,5

B Khu phát triển mới của đô thị trung tâm 1.369 2.020,5 2.950 3.655

b1 Chuỗi khu đô thị phía Đông vành đai 4(từ sông Nhuệđến vành đai 4 ) 678 743,6 1.250 1.685

- Khu đô thị thuộc toàn H.Từ liêm, toàn H.Thanh Trì,Hoài Đức, Đan Phượng, Thanh Oai, Thường Tín 534,7 598,1 900,0 1100,0

Chú thích: (*) Dân số thành thị hiện trạng 2008 bao gồm các xã lấy vào khu vực thành thị.

5.2.4 Dự báo lao động, việc làm

Tính toán dân số lao động không gồm lao động thời vụ và ngắn ngày từ nơi khác đến và trên cơ sởchuyển dịch cơ cấu lao động phù hợp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế Giảm dần sự bất hợp lý và lãng phítrong sử dụng nguồn lực lao dộng mất cân đối giữa cung và cầu

Thành phố Hà Nội luôn có lực lượng lao động trẻ, dân số trong độ tuổi lao động chiếm tỉ lệ rất cao, trên67%, do số lượng sinh viên dồi dào, lao động kỹ thuật trẻ tập trung vào các khu công nghiệp, khu dịch

vụ …và được duy trì suốt đến sau này Năm 2008, lao động trong ngành công nghiệp-xây dựng có gần 1triệu người, chiếm trên 31% số lao động đang tham gia trong các ngành kinh tế

Trang 33

Dự báo nhu cầu lao động xây dựng, các khu công nghiệp-công nghệ cao hình thành cần khoảng

7.000-8.000 ha đất dành cho xây dựng các khu-cụm công nghiệp sẽ tạo công ăn việc làm cho rất nhiều lao

động Tỉ lệ cơ cấu trong mỗi ngành kinh tế tăng vừa phải nhưng số lao động tuyệt đối tăng hơn xấp xỉ 2

lần, tức thêm khoảng 2 triệu người năm 2030 so với năm 2008 Lao động trong khu công nghệ cao và

dịch vụ tài chính, ngân hàng cũng như các ngành dịch vụ cao cấp sẽ chiếm tỉ trọng áp đảo, 46% năm

2030 và 52% năm 2050, sẽ rất đúng với quy luật phát triển thị trường của các nước trên thế giới Dịch vụ

phụ trợ cho khu vực công nghiệp là nhờ luân chuyển hàng hóa và nó sẽ thúc đẩy việc mở cửa thị trường

các ngành ngân hàng, bảo hiểm, năng lượng và bưu chính viễn thông Ngoài ra, sẽ thiết lập được mối

quan hệ giữa nơi sản xuất với các viện đào tạo kỹ thuật và các tổ chức giáo dục, cung cấp nguồn nhân

lực có trình độ kỹ thuật tiên tiến và là nơi có khả năng ứng dụng kỹ nghệ mới-hiện đại

Về lao động nông nghiệp, dự kiến đến năm 2020 còn khoảng 15% Đảm bảo cung cấp nhân lực cho việc

duy trì phát triển nông nghiệp-nông thôn Tuy tốc độ đô thị hóa sẽ càng gia tăng, đất nông nghiệp sẽ

giảm, nhu cầu lao động nông nghiệp giảm theo nhưng nhờ vào tiến bộ khoa học kỹ thuật vẫn có thể duy

trì giá trị sản lượng nông nghiệp như trước

5.3 Các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật chính

5.3.1 Các căn cứ để xác định các chỉ tiêu

- Căn cứ xác định chỉ tiêu sử dụng đất: chức năng của Hà Nội, quy mô dân số, hiện trạng sử dụng đất

tại thời điểm 1/1/2009 Hà Nội-Thủ đô là đô thị đặc biệt Các quận nội thành theo tiêu chuẩn đô thị

loại đặc biệt, các đô thị thuộc thành phố được quản lý phát triển và phân loại theo tiêu chuẩn khu vực

nội thành, có cân đối với quỹ đất thực tế

- Các chỉ tiêu đất bình quân đầu người chỉ đề xuất cho phần đất dân dụng, đất không thuộc khu dân

dụng không tính chỉ tiêu do công trình không chỉ phục vụ cho thành phố mà còn cho toàn quốc,

vùng, quốc tế

- Theo quyết định số 445/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 07/04/2009 chỉ tiêu đất xây dựng đô

thị tính cho cả nước trung bình 95 m2/người năm 2015, 90 m2/người năm 2020, 85 m2/người năm

2025; diện tích sàn nhà ở bình quân 15 m2/người năm 2015, 20 m2/người năm 2025 Đối với Thủ đô

các chỉ tiêu sử dụng đất cần ở mức lớn hơn QĐ 445

xanh đường phố và cây xanh chuyên dụng(cách ly, vườn ươm, công viên rừng, nghiên cứu thực vật

học ) Đối với các khu vực mặt nước, 30-35% diện tích hồ điều hòa được quy đổi sử dụng cho chỉ

tiêu cây xanh

5.3.2 Các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật chính

Bảng 14: Bảng tổng hợp các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật chính

2010-2020 2020-2030

I Dân số

Tỷ lệ tăng dân số trung bình toàn

thành phố % 3,1% (so năm2007) 1,9% (giai đoạn 12năm) 1,4% (giai đoạn 10năm)

Tỷ lệ tăng dân số trung bình nông

II Diện tích đất tự nhiên toàn thành phố Km 2 3.344,6 3.344,6 3.344,6 II.1 Diện tích đất tự nhiên thành thị Km 2 346,15 1.287,84 1.287,84

Trong đó:Diện tích đất XD đô thị

1.2 Diện tích đất không thuộc khudân dụng(ngoài cấp đô thị quản lý: cấp vùng, cấp quốc gia…) Km

II.2 Diện tích đất tự nhiên nông thôn Km 2 2.998,5 2.056,77 2.056,77

Trong đó:

1 Diện tích đất xây dựng phục vụđô thị tại khu vực nông thôn Km 2 - 117,3 181,4

III Hạ tầng kỹ thuật III.1 Hạ tầng kỹ thuật đô thị

1 Mật độ đường chính thành phốvà khu vực km/km2 2,0 – 2,5 2,5 – 3,0 3,5 – 4,0

3 Cao độ xây dựng Chọn theo H(P%) Quản lý theo caođộ khống chế

III.2 Hạ tầng kỹ thuật nông thôn

3 Cao độ xây dựng Chọn theo H(P%) > H max hàng năm+ (0,3 – 0,5)m

Trang 34

TT Hạng mục Đơn vị tính Hiện trạng 2008 Quy hoạch

2010-2020 2020-2030

VI ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KHÔNG GIAN

6.1 Định hướng phát triển tổng thể không gian đô thị

6.1.1 Chiến lược phát triển không gian Thủ đô Hà Nội

Một loạt các chiến lược phát triển Thủ đô Hà Nội được đặt ra để đưa Hà Nội trở thành thành phố

Xanh-Văn hiến-Xanh-Văn minh-Hiện đại và đạt được các mục tiêu xây dựng Thủ đô theo Pháp lệnh Thủ đô

Chiến lược 1: Thiết lập lại cấu trúc đô thị

Phát triển hệ thống đô thị vệ tinh và các thị trấn sinh thái có ranh giới rõ ràng nhằm đáp ứng sự tăng

trưởng dân số và việc làm trong thời gian tới của Hà Nội Bằng mọi cách hạn chế sự phát triển lan rộng

và thiếu kiểm soát thông qua việc xây dựng các vành đai xanh có ranh giới rõ ràng xung quanh khu vực

thành phố

Chiến lược 2: Tăng cường phát triển hệ thống giao thông

Phát triển cơ sở hạ tầng đồng bộ, trong đó sử dụng giao thông công cộng là phương tiện chủ yếu để kết

nối đô thị trung tâm với các đô thị vệ tinh nhằm đảm bảo hoạt động kinh tế - xã hội thuận lợi, tính cạnh

tranh cũng như bảo vệ môi trường

Chiến lược 3: Phát triển hệ thống trung tâm đô thị hiện đại, năng động và hiệu quả

Phát triển hệ thống các trung tâm đô thị hiện đại, có tính cạnh tranh để thu hút đầu tư đa dạng và chất

lượng là động lực chính cho các đô thị vệ tinh Đồng thời đây cũng là nơi tạo thêm nhiều cơ hội việc làm

cho Thành phố và hạn chế tốc độ di dân tới đô thị trung tâm

Chiến lược 4: Tăng cường bản sắc, hình ảnh riêng về Thành phố

Tăng cường bản sắc, hình ảnh riêng về bằng cách thiết lập trục không gian gồm “mặt nước”, “cây xanh”

và “văn hoá”, phấn đấu 70% diện tích mở rộng của Thành phố được dành cho không gian xanh kết hợp

phát triển nông lâm nghiệp theo hướng chất lượng cao và công nghiệp hóa

Chiến lược 5: Nâng cấp khu vực đô thị cũ

Nâng cấp và khôi phục khu vực đô thị trung tâm (nội đô) và cả những khu vực ngoại vi Tăng cường

kiểm soát phát triển dân số và xây dựng khu vực này

Chiến lược 6: Ngăn ngừa, giảm thiểu nguy cơ thiên tai và các thảm hoạ khác do con người gây ra.

Chiến lược 7: Bảo tồn và phát huy giá trị các di sản

Chiến lược 8: Tăng cường thể chế quản lý đô thị và xây dựng năng lực quản lý đô thị hiệu quả.

Chiến lược 9: Tạo dựng và tăng cường nguồn lực phát triển đô thị.

Các chiến lược sẽ được cụ thể hóa bằng các giải pháp về: Phân bố các không gian đô thị , nông thôn; giải

pháp về hệ thống hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội, bảo tồn di sản, kiểm soát môi trường sau đây:

6.1.2 Hà Nội trong mô hình cấu trúc phát triển không gian Vùng Thủ đô Hà Nội

Vùng Thủ đô Hà Nội đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 490/QĐ-TTg ngày

05/5/2008 là vùng đô thị đa cực tập trung: liên kết không gian giữa thành phố Hà Nội (đô thị trung tâm)

với các vùng, các tỉnh xung quanh (vùng phát triển đối trọng), trong đó các đô thị tỉnh lỵ (đô thị đối

trọng) là các hạt nhân của vùng phát triển đối trọng

Đô thị trung tâm14 đóng vai trò chủ đạo của vùng, chủ yếu tập trung các trung tâm chính quan trọng nhưTrung tâm chính trị, hành chính, văn hoá, thương mại, tài chính, dịch vụ, công nghệ cao, các cơ quannghiên cứu và là một trung tâm du lịch của toàn vùng và quốc gia

Vùng phụ cận đô thị trung tâm trong phạm vi 25 - 30 km có chức năng hỗ trợ phát triển và mở rộng đôthị trung tâm, là các vùng giao thoa, lan toả sự phát triển giữa Thủ đô Hà Nội và các tỉnh lân cận Vai tròcủa khu vực này là hình thành vành đai xanh, duy trì vùng nông nghiệp-nông thôn, cung cấp các sảnphẩm nông nghiệp, thực phẩm cho Thủ đô, phát triển các ngành tiểu thủ công nghiệp, làng nghề truyềnthống và dịch vụ du lịch văn hoá, sinh thái v.v , phát triển các đô thị vệ tinh nhằm chia sẻ với đô thịtrung tâm các chức năng về dịch vụ, giáo dục, y tế, nhà ở …

Đô thị đối trọng là thủ phủ của các tỉnh liền kề xung quanh Hà Nội (như Hải Dương, Bắc Ninh, VĩnhYên, Phủ lý, Hòa Bình) sẽ cạnh tranh phát triển với đô thị trung tâm và hoạt động theo mô hình độc lậpnhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh nhằm phát huy vai trò, tiềm năng, thông quaviệc phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật và xã hội, giảm sự tập trung quá tải vào thành phố Hà Nội Phía Đông và Bắc Hà Nội hướng cảng Hải Phòng (Lạch Huyện), cảng Cái Lân và chùm cảng lân cận(Quảng Ninh) phát triển công nghiệp sản xuất hàng hóa xuất khẩu khối lượng lớn gắn với hệ thống quốclộ 2, xa lộ xuyên Á và sân bay quốc tế Nội Bài Phía Tây Hà Nội là vùng địa hình bán sơn địa dọc trêntuyến đường Hồ Chí Minh, QL21, có rừng Quốc gia Ba Vì, Hương Tích phát triển du lịch nghỉ dưỡng,khu công nghệ cao, 1 số công trình đầu mối hạ tầng kĩ thuật lớn; Phía Nam Hà Nội đảm nhận các chứcnăng về dịch vụ chuyển tải hàng hóa của vùng phía Tây và Tây Bắc với 1 số khu vực phía Nam Bắc Bộvới hệ thống cảng, thông qua tuyến đường 5 – đường Đỗ Xá, Quan Sơn dự kiến mới

6.1.3 Mô hình phát triển không gian Thủ đô Hà Nội

Thủ đô Hà Nội phát triển theo mô hình chùm đô thị, gồm đô thị trung tâm và các đô thị vệ tinh, được liênkết bằng hệ thống giao thông vành đai kết hợp các trục hướng tâm, có mối liên kết với mạng lưới giaothông vùng Thủ đô và Quốc gia Đây là mô hình phù hợp với xu hướng chung của các nước đang pháttriển, phù hợp với thực tế phát triển của Thủ đô Hà Nội hiện nay và tương lai, đó là:

a Đổi mới cấu trúc đô thị từ "Đơn cực" sang "Đa cực", Thủ đô Hà Nội - mô hình chùm đô thịKế thừa các mô hình đã nghiên cứu đề xuất tại đồ án Quy hoạch xây dựng vùng Thủ đô đã được Thủtướng Chính phủ phê duyệt Tạo ra cơ hội đổi mới cấu trúc đô thị từ: “Đơn cực” sang “Đa cực”; đảmbảo cho đô thị trung tâm sẽ được giảm tải căn bản với một số chức năng đang bị dồn nén quá mứcnhư công nghiệp, dịch vụ, thương mại, giáo dục, đào tạo, y tế, văn hóa, thể dục thể thao khi cácchức năng này được phân bớt, hoặc chuyển hẳn vào các đô thị vệ tinh và tạo nên các trung tâm mới Hình thành mới hệ thống đô thị trung tâm và các thành phố vệ tinh được gắn kết với nhau và với đôthị trung tâm bằng các kết nối nhanh thông qua hệ thống giao thông công cộng mạnh, viễn thông vàcác hạ tầng kỹ thuật khác Đảm bảo tính hoạt động độc lập của các đô thị trong mạng lưới

Xác định rõ ranh giới các đô thị (còn gọi là ranh giới phát triển đô thị) trong mạng lưới, khoảng cách

ly giữa các đô thị là các khoảng không gian đệm gắn vùng cảnh quan sinh thái nông nghiệp, khônggian văn hóa, giải trí v.v…

14 Quyết định số 490/QĐ-TTg ngày 05/5/2008

Trang 35

Hình Cấu trúc đô thị

Hình : Ý tưởng phát triển chiến lược

Hệ thống các đô thị và nông thôn của Hà Nội sẽ phát triển dựa trên các phân vùng phát triển như sau:

- Khu vực đô thị hiện hữu chủ yếu thực hiện công tác bảo tồn đối với khu phố cổ, phố cũ thời Pháp

thuôc; cải tạo, nâng cấp hệ thống hạ tầng kỹ thuật, là khu vực có ý nghĩa về văn hóa-lịch sử và đóng

vai trò là trung tâm hành chính - chính trị của quốc gia và của thủ đô Hà Nội Hình thành hệ thống đa

trung tâm về văn hóa, kinh tế, khoa học công nghệ gắn với các không gian chức năng khác trong đô

thị

- Phía Bắc sông Hồng gắn với sân bay quốc tế Nội Bài, hành lang kinh tế dọc quốc lộ 18A, quốc lộ 3

được phát triển công nghiệp, dịch vụ thương mại tài chính, dịch vụ du lịch với hạt nhận dịch vụ là

khu đô thị Mê Linh-Đông Anh, Khu đô thị Đông Anh và Đô thị vệ tinh Sóc Sơn Các không gian

xanh bao gồm khu vực bảo tồn núi Sóc, đầm Vân Trì, sông Cà Lồ, vùng bảo vệ thành Cổ Loa, các

khu vực bảo tồn vùng nông nghiệp nông thôn sẽ đóng vai là các không gian đệm, giới hạn sự phát

triển của các khu vực đô thị

- Phía Đông gắn với khu vực Gia Lâm – Long Biên được tiếp tục phát triển các công nghiệp, dịch vụ

hỗ trợ phát triển hành lang kinh tế Hà Nội – Hải Phòng với các dịch vụ logictic, dịch vụ thương mại,

dịch vụ đào tạo, tiện ích công cộng, công nghệ cao Tại khu vực này cần phải tăng cường cải tạo

đô thị hiện hữu và nhu cầu phát triển mới trở thành không gian đô thị thống nhất

- Phía Nam gắn với hành lang kinh tế Bắc Nam dọc trục quốc lộ 1A được phát triển công nghiệp và

các dịch vụ hỗ trợ gắn với vùng nông nghiệp phía nam Thủ đô với trung tâm dịch vụ là đô thị vệ tinh

Phú Xuyên – Phú Minh

- Phía Tây là vùng phát triển gắn với bảo tồn, được phát triển các loại hình công nghệ cao, đào tạo chất

lượng cao, dịch vụ y tế và sản xuất nông nghiệp công nghệ cao Tại đây hình thành chuỗi đô thị vệ

tinh phía Tây ( Sơn Tây – Hòa Lạc – Xuân Mai ), hành lang xanh để bảo tồn vùng nông thôn và giới

hạn sự phát triển của đô thị trung tâm

- Kết nối các vùng chức năng bằng hệ thống giao thông liên kết đường bộ, đường sắt và đường thủy

theo mạng hướng tâm và đường vành đai Trong đó việc tăng cường hệ thống giao thông công cộng

hiện đại và cấu trúc lại đô thị sẽ đảm bảo sự liên kết trong tương lai được thuận lợi, dễ dàng, góp

phần thúc đẩy sự phát triển bền vững

- Khu vực núi Sóc, rừng quốc gia Ba Vì và vùng Quan Sơn – Hương Tích là 3 vùng cảnh quan tựnhiên rất có giá trị của thủ đô được bảo vệ thành các vùng du lịch sinh thái kết hợp với văn hóa tínngưỡng phục vụ nhu cầu vui chơi giải trí, nghỉ ngơi của nhân dân thủ đô và nhân dân cả nước

Dựa trên các cơ sở về phân vùng chức năng nêu trên, dự kiến phân bố mạng lưới đô thị - nông thôn vàphân vùng kiến trúc cảnh quan như sau:

- Đô thị trung tâm

 Khu vực nội đô (từ bờ Nam sông Hồng đến vành đai xanh dọc sông Nhuệ), gồm 2 khu vực chính:Khu vực nội đô lịch sử ( 4 quận nội thành, từ bờ Nam sông Hồng đến đường vành đai 2)

Khu vực nội đô mở rộng ( từ đường vành đai 2 đến vành đai xanh dọc sông Nhuệ)

 Chuỗi khu đô thị phía đông đường vành đai 4 ( Đan Phượng, Hoài Đức, Hà Đông , Thường Tín )

 Chuỗi khu đô thị phía bắc sông Hồng ( Mê Linh-Đông Anh, Đông Anh, Yên Viên, Long Biên,Gia Lâm)

 Trục cảnh quan sông Hồng ( đoạn qua đô thị trung tâm)

 Vành đai xanh dọc sông Nhuệ, các nêm xanh

- 5 đô thị vệ tinh

 Đô thị vệ tinh Sóc Sơn

 Đô thị vệ tinh Sơn Tây

 Đô thị vệ tinh Hòa Lạc

 Đô thị vệ tinh Xuân Mai

 Đô thị vệ tinh Phú Xuyên

- Khu vực nông thôn (hành lang xanh):

 3 Thị trấn sinh thái: Phúc Thọ, Quốc Oai, Chúc Sơn

 8 Thị trấn huyện lỵ: Tây Đằng, Phúc Thọ, Liên Quan, Phùng, Kim Bài, Vân Đình, Đại Nghĩa,Thường Tín

 Các thị trấn, thị tứ khác, dự án sinh thái, các khu vực chức năng đặc thù

 Làng xóm, điểm dân cư nông thôn, công nghiệp, làng nghề, di tích

 Công viên cây xanh, sông hồ, khu vực sản xuất nông nghiệp, rừng quốc gia, đồi núi

 Các yếu tố khác

- Định hướng tầng cao, mật độ công trình

 Khu vực nội đô lịch sử là khu vực bảo tồn các giá trị truyền thống cần hạn chế các công trình xâydựng cao tầng và hạn chế gia tăng mật độ xây dựng Các dự án cải tạo các khu tập thể cũ, các khucông nghiệp sau khi di dời được chuyển đổi sang chức năng đô thị sẽ khống chế tầng cao và mậtđộ xây dựng phù hợp với từng khu vực cụ thể

 Khu vực nội đô mở rộng cho phép phát triển tầng cao gắn với các tuyến giao thông hướng tâm vàcác tuyến đường vành đai để tạo điểm nhấn không gian đô thị Các khu vực còn lại cần phải kiểmsoát tầng cao trung bình theo từng khu vực, hạn chế tối đa các công trình cao tầng xen cấy trongcác khu dân cư hiện hữu Tại các khu vực này hiện có mật độ xây dựng rất cao, nhiều khu vựcthiếu hẳn các không gian xanh, không gian mở và đặc biệt là hệ thống bến bãi đỗ xe Trong quá

Trang 36

trình cải tạo đô thị cần hạn chế phát triển các dự án tiếp tục chất tải về mật độ và hạ tầng cho khu

vực này

 Khu vực chuỗi khu đô thị mở rộng phía đông đường vành đai 4 và phía bắc sông Hồng khuyến

khích phát triển nhà cao tầng để giảm mật độ xây dựng chung phục vụ cho các dịch vụ tiện ích,

không gian xanh, không gian mở Tại các khu vực các trục hướng tâm, các điểm giao cắt được

xác định đô thị phát triển theo mô hình TOD sẽ phát triển các công trình cao tầng, tạo điểm nhấn

về không gian đô thị và giảm dần tầng cao về các khu vực không gian xanh, vành đai xanh và

nêm xanh Hạn chế việc phát triển tầng cao tạo thành bức tường công trình cao tầng vây quanh

khu vực nội đô Các khu vực cao tầng và thấp tầng cần được kiểm soát theo diện rộng, cần khắc

phục tình trạng phát triển các dự án đơn lẻ đan xen giữa công trình cao tầng và thấp tầng như hiện

nay

 Khu vực các đô thị vệ tinh được quản lý tầng cao và mật độ theo từng khu vực chuyên biệt Tại

các khu vực này khuyến khích phát triển tầng cao công trình để nâng cao hiệu quả sử dụng đất

 Trong khu vực hành lang xanh sẽ hạn chế mật độ xây dựng và tầng cao công trình để phù hợp với

đặc điểm sinh thái tại khu vực hành lang xanh

b Mô hình "Hành lang xanh" và "vành đai xanh"

Phát triển không gian dựa trên kết nối các yếu tố tự nhiên và văn hóa truyền thống (hệ thống sông hồ, đa

dạng sinh học, làng mạc hiện hữu, giữ gìn các bản sắc văn hóa và làng nghề …) Phát triển mô hình

"Hành lang xanh" và "vành đai xanh" trong cấu trúc không gian Thủ đô Hà Nội:

* Hành lang xanh

Thiết lập “Hành lang xanh” làm trung gian giữa bảo

tồn và phát triển Hành lang xanh sẽ là không gian

bảo tồn vùng nông nghiệp – nông thôn và hạn chế sự

phát triển lan tỏa của đô thị trung tâm, các đô thị vệ

tinh và các thị trấn sinh thái nhằm đảm bảo phát triển

Thủ đô trên cơ sở bảo tồn, cân bằng và bền vững

Dành 70% tổng diện tích Thủ đô để phát triển hành

lang xanh, đây là yếu tố then chốt đối với sự phát

triển bền vững trong tương lai của Hà Nội là đảm

bảo phát triển “cân bằng” dựa trên bảo tồn

Dành 30% tổng diện tích Thủ đô Hà Nội mở rộng

cho các khu vực phát triển đô thị, là động lực tiên

quyết cho sự phát triển kinh tế đô thị vĩ mô của Hà

Nội

Hành lang xanh chiếm 70 % diện tích đất tự nhiên, bao gồm các khu vực bảo tồn và các khu vực phát

triển dựa trên bảo tồn Có khoảng 55-60% diện tích bảo tồn là các vùng đất nông nghiệp ổn định, vùng

đa dạng sinh học, di tích tôn giáo và quần thể di tích, hệ thống sông hồ, mặt nước, hệ thống công viên

cây xanh ven đô… Khoảng 10-15% quỹ đất còn lại là các làng xóm, làng nghề được duy trì và bảo tồn

Sự phát triển này được kiểm soát và quản lý, khuyến khích phát triển các hoạt động xanh thân thiện với

môi trường như nông nghiệp công nghệ cao và du lịch sinh thái Trong các bước triển khai tiếp theo ở đồ

án quy hoạch phân khu và quy hoạch chi tiết sẽ có quy chế quản lý cụ thể cho từng khu vực trong hành

lang xanh

Hành lang xanh có diện tích khoảng 2.341km2 trong đó:

 Diện tích nông nghiệp (đất lúa năng suất cao, trồng hoa…)

 Đa dạng sinh học (vùng núi, vùng ngập thoát lũ…)

 Di sản văn hóa (Khu du lịch, công trình văn hóa tín ngưỡng )

- Diện tích phát triển dựa trên bảo tồn khoảng 1.003km2 chiếm 10-15%

 Khu vực nông thôn (làng nông nghiệp, làng nghề, )

Hành lang xanh bao gồm các khu vực:

 Hành lang xanh nằm dọc theo sông Đáy và sông Tích, giữa đường Vành đai 4 và các đô thị

vệ tinh ở phía Tây; Mục đích cân bằng giữa phát triển và bảo tồn các giá trị văn hóa truyềnthống, môi trường sinh thái nhân văn, cảnh quan thiên nhiên, bảo vệ môi trường đa dạng sinhhọc kết hợp với vùng chậm lũ và không gian mặt nước cây xanh sông Hồng, sông Nhuệ,sông Tích, sông Đuống Đặc biệt coi trọng bảo tồn, bảo vệ và phát huy giá trị cảnh quanthiên nhiên dọc theo tuyến phía Tây từ Ba Vì đến Hương Tích

Tam Đảo- Sóc Sơn;

 Làng thủ công truyền thống và các di sản văn hóa (các điểm văn hóa, lịch sử)Hàng lang xanh không bao gồm:

Đông đường vành đai 4

Xác định rõ ranh giới phát triển đô thị và hành lang xanh trong quy định quản lý xây dựng Khu vựcngoài hành lang xanh cho phép tập trung phát triển đảm bảo các hoạt động trong Thành phố, trọng tâmđầu tư vào cơ sở hạ tầng đô thị

Hành lang xanh có ý nghĩa lớn, cho phép nhiều làng nghề thủ công không gây ô nhiễm môi trường tiếptục tồn tại và phát triển như những đặc trưng riêng trong các khu vực, phù hợp với khả năng phát triểnbền vững của toàn bộ thủ đô Hà Nội gắn kết với không gian bảo tồn các di sản văn hóa Đồng thời:

Trang 37

- Bảo vệ các vùng nông nghiệp năng suất cao.

- Bảo vệ các vùng có nguy cơ bị tai biến môi trường

- Bảo tồn văn hóa và di sản

- Khuyến khích các hoạt động thân thiện môi trường và phát triển bền vững

- Thiết lập ranh giới quản lý kiểm soát của đô thị

- Tạo kết nối mạnh mẽ hơn giữa các vùng nông thôn, ven đô thị và đô thị

- Cho phép duy trì, nâng cấp tính ổn định của các làng truyền thống, làng nghề và thúc đẩy du lịch sinh

thái

- Thúc đẩy hình thành các trung tâm đô thị nén mới

- Tạo thuận tiện giao thông công cộng giữa trung tâm đô thị mới và nội đô Hà Nội

* Vành đai xanh

Thiết lập vành đai xanh hạn chế và ngăn chặn phát triển đô thị lan tỏa, tự phát từ nội đô lịch sử ra bên

ngoài như hiện nay Lấy sông Nhuệ, nhánh sông Tô Lịch và vùng cảnh quan lân cận làm vành đai xanh

(Gọi tắt là vành đai xanh sông Nhuệ), đây là khu vực được bảo vệ và kiểm soát phát triển nghiêm ngặt,

để làm vùng đệm tách biệt khu vực nội đô với vùng đô thị mở rộng phía Nam của đô thị trung tâm (chuỗi

khu đô thị phía Đông đường vành đai 4) Ý tưởng này tiếp thu từ Quyết định số 108/1998/QĐ-TTg phê

duyệt Điều chỉnh quy hoạch chung Thủ đô Hà nội đến năm 2020 : "Tại vùng ven đô, hình thành vành đai

xanh rộng từ 1 đến 4 km, tạo thành bộ khung bảo vệ thiên nhiên, giữ gìn cân bằng sinh thái thành phố"

Phát triển vành đai xanh chạy ven bên sông, là yếu tố then chốt đối với sự phát triển bền vững trong

tương lai của Hà Nội, duy trì và bảo vệ đặc trưng văn hóa của Hà nội cổ Góp phần quan trọng xây dựng

Thủ đô Hà Nội trở thành: Thủ đô Xanh-Văn Minh-Văn Hiến- Hiện đại

Cũng giống như hành lang xanh, vành đai xanh cho phép tồn tại các làng xóm, làng nghề thủ công truyền

thống không gây ô nhiễm môi trường Khác với hành lang xanh, vành đai xanh cho phép chuyển đổi đất

nông nghiệp thành các công viên đô thị hoặc công viên chuyên đề phù hợp với nhu cầu phát triển của đô

thị và đặc trưng văn hóa riêng trong các khu vực Ngoài ý nghĩa làm vùng đệm ngăn cách giữa 2 vùng

Kiểm soát phát triển và vùng xây dựng mới, vành đai xanh còn có ý nghĩa to lớn:

- Là lá phổi xanh của đô thị trung tâm

- Hỗ trợ khu vực nội đô lịch sử trong việc tạo lập không gian xanh và không gian công cộng lớn

Ngoài vành đai xanh, sẽ hình thành nhiều nêm xanh tại chuỗi khu đô thị phía Đông đường vành đai 4

nhằm tạo nên các liên kết giữa hành lang xanh và vành đai xanh Trong vành đai xanh và các nêm xanh

có nhiều công viên, cây xanh, mặt nước, thể dục thể thao, vui chơi giải trí, làng xóm khu ở hiện hữu, các

công trình công cộng, sinh thái, tiện ích đô thị và các hoạt động gắn với đi bộ Cần có giải pháp kiểm

soát phát triển nhằm cải thiện môi trường, giao thông và chất lượng cuộc sống cũng như bảo tồn các giá

trị văn hóa, lịch sử cảnh quan của vùng đất Thăng Long

6.1.4 Định hướng phát triển không gian tổng thể.

6.1.4.1 Phân bố mạng lưới không gian đô thị-nông thôn

Thủ đô Hà Nội được xây dựng phát triển theo mô hình chùm đô thị, gồm: Đô thị trung tâm kết nối với 5

đô thị vệ tinh và các thị trấn sinh thái khác thuộc khu vực nông thôn Trong nội dung nghiên cứu Quy

hoạch chung, ngoài việc bố trí đất xây dựng cho các khu chức năng, cũng đã đề xuất bố trí đất dự trữ

phát triển đô thị phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong tương lai theo các lĩnh vực như: trường

học, bệnh viện, dịch vụ công cộng

- Đô thị trung tâm:

Đô thị trung tâm bao gồm khu vực nội đô, các khu vực mở rộng, được giới hạn từ phía Nam sông Hồngđến đường vành đai 4 và phía Bắc sông Hồng có khu vực Mê Linh-Đông Anh, Đông Anh, Gia Lâm-YênViên và Long Biên Là trung tâm chính trị, văn hóa, lịch sử, dịch vụ, y tế, đào tạo chất lượng cao củaThành phố Hà Nội và cả nước Dự báo đến năm 2030 có dân số khoảng 4-4,6 triệu người Đô thị trungtâm sẽ không phát triển liền mạch trên toàn bộ vùng đất đã xác định như trên, mà phải có vành đai xanhsông Nhuệ và các nêm xanh phân tách để giới hạn các khu vực đã xây dựng, khu vực cần bảo tồn và khuvực xây dựng phát triển mới Trong đô thị trung tâm có:

Khu vực nội đô: từ Hữu ngạn sông Hồng đến vành đai xanh sông Nhuệ, kiểm soát gia tăng dân số; đặc

biệt là khu vực từ đường vành đai 2 trở vào có nhiều di sản, di tích của vùng văn hóa Thăng Long cổ vàvăn hóa Tràng An cần thiết phải bảo tồn Khu vực này cải thiện về hạ tầng; chỉnh trang kiến trúc, cảnhquan, bảo vệ môi trường sinh thái

Khu vực mở rộng phía Nam sông Hồng là chuỗi khu đô thị phía Đông đường vành đai 4: Đan

Phượng-Hoài Đức-An Khánh-Hà Đông-Thường Tín phát triển các khu đô thị mới, các trung tâm văn hóa, thươngmại, tài chính cấp vùng và quốc gia với mật độ cao Chuỗi khu đô thị mới này sẽ có dân số khoảng 1,2-1,3 triệu người, được ngăn cách với khu vực nội đô bằng vùng đệm vành đai xanh sông Nhuệ Đồng thờigóp phần thu hút rất lớn dân số dịch chuyển từ trong nội đô thành phố ra ngoài và tiếp nhận nhiều dự án

từ hơn 750 đồ án, dự án đang được rà soát, cập nhật

Khu vực mở rộng phía Bắc sông Hồng, là một bộ phận thiết lập đô thị trung tâm đảm bảo ý tưởng chủ đạo

của đô thị Hà Nội là thành phố hai bên sông Hình thành các không gian về cây xanh, mặt nước, văn hóa;với hành lang xanh: Đền Hai Bà Trưng (Mê Linh) - Đầm Vân Trì - Sông Thiếp - Cổ Loa - Đền Đô - LàngPhù Đổng và các nêm xanh nối từ sông Hồng tới sông Cà Lồ; Trục động lực kinh tế Nhật Tân-Nội Bàigắn với trung tâm tài chính, thương mại, dịch vụ, du lịch, triển lãm,… Đây là một bộ phận của đô thị trungtâm và sẽ là nội thành trong tương lai, gồm các khu vực Yên Viên-Gia Lâm-Long Biên, Yên Viên, ĐôngAnh, Mê Linh-Đông Anh:

Khu vực Yên Viên, Gia Lâm-Long Biên phát triển đô thị dịch vụ thương mại, giáo dục, trung tâm y tế

gắn với các ngành công nghiệp dọc quốc lộ 5, dân số khoảng 70 vạn người

Khu vực Đông Anh phát triển thương mại giao dịch quốc tế, công nghiệp kỹ thuật cao, du lịch sinh thái,

du lịch vui chơi giải trí gắn với bảo tồn di tích Cổ Loa và đầm Vân Trì, hình thành khu thể thao mớithành phố Hà Nội (ASIAD) kết hợp với trung tâm triển lãm, thương mại Hà Nội (EXPO) và vui chơi giảitrí của Thành phố Dân số khoảng 55 vạn người

Khu vực Mê Linh-Đông Anh phát triển dịch vụ và các ngành công nghiệp sạch, kỹ thuật cao kết nối với

sân bay Nội Bài, trung tâm trưng bày, hội chợ hoa Thăng Long-Mê Linh kết hợp trung tâm khoa họccông nghệ chuyên ngành hoa và cây Dân số khoảng 45 vạn người

đô thị vệ tinh và ngược lại

Dự báo dân số cho 5 đô thị vệ tinh đến năm 2030 khoảng 1,3-1,4 triệu người Mỗi đô thị vệ tinh có mộthoặc nhiều chức năng đặc thù riêng để hỗ trợ, chia sẻ với đô thị trung tâm về nhà ở, đào tạo chất lượngcao, công nghiệp, dịch vụ ; được xây dựng sẽ tạo ra nhiều công ăn, việc làm cho dân cư tại chỗ và dânnhập cư Các đô thị vệ tinh này phải đạt được về quy chuẩn quy hoạch xây dựng Việt Nam, tiếp cận trìnhđộ xây dựng và quản lý đô thị tiên tiến, trở thành các đô thị văn minh, hiện đại Tại các đô thị này,

Trang 38

khuyến khích xây dựng cao tầng, dành quỹ đất để bố trí các tiện nghi đô thị như bãi đỗ xe, cây xanh, sân

bãi thể dục thể thao (TDTT) và sân chơi cho trẻ em… Các đô thị vệ tinh được quy hoạch phát triển

tương đối độc lập với đô thị trung tâm, kết nối với đô thị trung tâm bằng các khu trung tâm thương mại

(CBD) quy mô nhỏ và tuyến giao thông công cộng tốc độ cao Tính chất các đô thị vệ tinh được thiết lập

tùy thuộc vào vị trí, điều kiện tự nhiên và các mối quan hệ với vùng xung quanh

Đô thị Hòa Lạc, động lực chủ đạo là phát triển khoa học công nghệ và đào tạo, trọng tâm là khu công

nghệ cao Hòa Lạc và Đại học quốc gia Hà Nội, dân số dự kiến khoảng 60 vạn người Ngoài ra, tại đô thị

Hòa Lạc sẽ tiếp tục triển khai dự án trọng điểm Quốc gia Làng văn hóa du lịch các dân tộc Việt Nam trên

1000 ha xây dựng từ năm 1995 đến nay đã vận hành và tiếp tục hoàn thiện và nhiều dự án hạ tầng xã hội

khác như trung tâm y tế, các cơ sở giáo dục đại học khác, các dự án về đô thị đã được các cơ quan có

thẩm quyền cho phép đầu tư xây dựng

Đô thị Hòa Lạc nằm ở vị trí quan trọng phía Tây thành phố, là điểm kết nối giữa đô thị trung tâm Hà Nội

với vùng phát triển phía Bắc là hướng tuyến đường Hồ Chí Minh với đô thị Sơn Tây, các huyện Ba Vì và

Phúc Thọ; phía Tây kết nối vùng tỉnh Hòa Bình, phía Nam kết nối với đô thị Xuân Mai, các huyện

Chương Mỹ, Thanh Oai, Mỹ Đức thông qua hệ thống giao thông kết nối: đại lộ Thăng Long, đường Hồ

Tây- Ba Vì, quốc lộ 21 và đường Hồ Chí Minh

Đô thị Sơn Tây, động lực chủ đạo là phát triển văn hóa lịch sử, du lịch nghỉ dưỡng Với đặc thù cảnh

quan cây xanh, hồ nước chiếm diện tích lớn như hồ Suối Hai, hồ Xuân Khanh và hệ thống di sản, di

tích như thành cổ Sơn Tây, làng cổ Đường Lâm, nhiều công trình tôn giáo tín ngưỡng Sơn Tây hiện nay

đang là nơi thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế Ngoài ra, đô thị Sơn Tây có nhiều điều kiện về

quỹ đất và cảnh quan để hình thành các cơ sở đạo tạo hỗ trợ cho đô thị Hòa Lạc, các cơ sở y tế hỗ trợ

phát triển du lịch và các vùng lân cận phía Tây Nam Hà nội Dự kiến phát triển từ 10 vạn người hiện nay

lên 18 vạn người vào năm 2030

Đô thị Sơn Tây là cửa ngõ phía Tây Bắc Thủ đô Hà Nội, có ý nghĩa quan trọng về an ninh quốc phòng,

hỗ trợ khu vực Ba Vì, Việt Trì và Nam Vĩnh Phúc phát triển, kết nối với đô thị trung tâm thông qua tuyến

quốc lộ 32 và tuyến Bắc đường 32

Đô thị Xuân Mai động lực chủ đạo là dịch vụ-công nghiệp hỗ trợ phát triển tiểu thủ công nghiệp, hệ

thống làng nghề Dân số dự kiến khoảng 22 vạn người Đô thị Xuân Mai là cửa ngõ phía Tây Nam của

Hà Nội kết nối với các tỉnh miền núi Tây Bắc thông qua hành lang quốc lộ 6 Hiện tại Xuân Mai là thị

trấn phát triển chủ yếu bám theo các trục lộ giao thông, chưa khai thác hết thế mạnh về vị trí và cảnh

quan Xuân Mai có tiềm năng và đủ điều kiện để phát triển về nhà ở, dịch vụ cấp vùng, công nghiệp nhẹ

kết hợp phát triển làng nghề và hỗ trợ phát triển giáo dục đào tạo cho đô thị Hòa Lạc

Đô thị Phú Xuyên động lực chủ đạo là phát triển công nghiệp, đầu mối giao thông, trung chuyển hàng

hóa Đô thị Phú Xuyên có quy mô dân số ở mức thấp so với các đô thị vệ tinh khác, với quy mô khoảng

12,7 - 15,5 vạn người (hiện nay tổng dân số thị trấn Phú Xuyên và các xã nằm trong ranh giới của đô thị

Phú Xuyên khoảng 7,5 vạn người)

Đô thị Phú Xuyên là cửa ngõ phía Nam của Hà Nội thông qua tuyến hành lang kinh tế Bắc Nam-quốc lộ

1A Hiện nay ở Phú Xuyên đã có các khu công nghiệp Đại Xuyên, Khuất động, Phú Xuyên để đón nhận

toàn bộ công nghiệp ô nhiễm tại Hà Tây cũ và nội thành Hà Nội, liên kết với hệ thống khu cụm công

nghiệp Đồng Văn (Hà Nam) tiếp giáp với Thủ đô Hà Nội Ngoài ra, đô thị Phú Xuyên sẽ hình thành các

cơ sở giáo dục đào tạo các ngành nghề hỗ trợ công nghiệp

Đô thị Sóc Sơn động lực chủ đạo là phát triển dịch vụ, khai thác tiềm năng cảng hàng không Nội Bài và

hành lang kinh tế xuyên Á Côn Minh-Lào Cai-Phú Thọ-Vĩnh Phúc-Hà Nội-Hải phòng-Quảng Ninh Dân

số dự kiến tăng từ 6,6 vạn người hiện nay lên 25 vạn người vào năm 2030 Là cửa ngõ phía Bắc của Hà

Nội, nối kết đô thị trung tâm với các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc bằng hành lang quốc lộ 3 Hiện

nay, thị trấn Sóc Sơn chưa khai thác hết thế mạnh về vị trí và cảnh quan Sóc Sơn có tiềm năng và đủ

điều kiện để phát triển đô thị và dịch vụ cấp vùng gắn với bảo tồn khu vực núi Sóc, hình thành các cơ sở

sản xuất hỗ trợ dịch vụ cảng hàng không và hành lang kinh tế xuyên Á, phát triển giáo dục đào tạo để

giảm tải cho nội đô

6.1.4.2 Phát triển hệ thống giao thông đô thị đồng bộ và hiện đại

- Dành quỹ đất hợp lý để phát triển hệ thống giao thôngPhát triển giao thông Thủ đô Hà Nội phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội của Thủ đô và điềutiết tốt đối với các vùng xung quanh, là tiền đề và động lực phát triển kinh tế-xã hội và đô thị Giải quyếtách tắc giao thông với xây dựng cở sở hạ tầng đồng bộ, bền vững lâu dài, để Hà Nội nhanh chóng đạtđược trình độ văn minh, hiện đại như Thủ đô các nước trong khu vực Phát huy hiệu quả của giao thôngvận tải để thực hiện sự liên kết kinh tế giữa Hà Nội với vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, đặc biệt là vớivùng đô thị Thủ đô và các trung tâm thương mại, du lịch, giao lưu Quốc tế, kết nối tốt đô thị trung tâmvà các đô thị vệ tinh Quỹ đất dành cho giao thông đô thị chiếm 18-20% diện tích đất đô thị (trong đógiao thông tĩnh là 4-6%), riêng ở các quận nội thành đạt khoảng 10-12% Chú trọng phát triển các côngtrình ngầm, hệ thống đường trên cao, tăng diện tích giao thông tĩnh

- Thiết lập mạng lưới giao thông đô thị đa dạng, hiện đại và đồng bộ kết nối với hệ thống giao thôngQuốc gia và giao thông vùng

Phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đồng bộ, hợp lý, đi vào hiện đại, tạo nên mạng lưới hoàn chỉnh, liênhoàn, liên kết giữa các phương thức vận tải, giữa các vùng lãnh thổ, giữa đô thị và nông thôn trên phạm

vi Thủ đô và toàn quốc Mạng lưới giao thông đường bộ (đường vành đai và hướng tâm) gắn kết vớimạng lưới giao thông đô thị và các loại hình chuyên chở quy mô lớn như đường sắt đô thị, tàu điệnngầm , kết nối ngoại vùng, nội đô thuận lợi Để khắc phục tình trạng ùn tắc giao thông hiện nay, phảithực hiện đồng bộ, đa ngành, từ quy hoạch đến cơ chế chính sách và nhận thức của người dân Hoànthiện hệ thống các tuyến đường vành đai đô thị; cải tạo nâng cấp, xây dựng mới các trục chính đô thị khuvực trung tâm và tại các đô thị vệ tinh; các trục đường hướng tâm chính (quốc lộ và cao tốc); các tuyếnđường liên kết đô thị trung tâm và đô thị vệ tinh; các tuyến cao tốc cấp vùng đi Tây Bắc và đường HồChí Minh Ưu tiên xây dựng các nút giao thông cho các hướng có mật độ giao thông cao như hướng Bắc– Nam qua Quốc lộ 1, đường Bắc Thăng Long-Nội Bài, hướng Đông Tây qua đường 32 Quy hoạchthêm các cầu mới trên sông Hồng, sông Đuống và sông Đà để khép kín hệ thống đường vành đai và kếtnối hệ thống đường xuyên tâm Các loại đường trong mạng lưới bao gồm đường cao tốc và các đườngcảnh quan, sẽ được kết nối với nhau thông qua việc sử dụng các điểm giao cắt có rào chắn cũng như sửdụng thêm các bùng binh hiện đại Dọc theo đường cảnh quan trong hành lang xanh, hay còn gọi là trụcBắc – Nam, có 3 điểm giao cắt với Quốc lộ 6, Đại lộ Thăng Long và Quốc lộ 32 nối với 3 đô thị vệ tinhphía Tây hành lang xanh: Sơn Tây, Hòa Lạc và Xuân Mai Khu vực này rất dễ có nguy cơ bị đô thị hóa,phá hỏng ý tưởng hành lang xanh Đường cảnh quan đề xuất sẽ không cho phép phát triển dọc theo hànhlàng xanh và sẽ duy trì kiểm soát toàn bộ các tiếp cận Đường cảnh quan sẽ có 2 hoặc 3 làn đường mỗihướng, duy trì dải phân cách cây xanh và phù hợp với môi trường tự nhiên và xây dựng hiện có

- Tăng cường giao thông công cộng

Trang 39

Sử dụng giao thông công cộng là phương tiện chủ yếu để kết nối đô thị trung tâm với các đô thị vệ tinh

nhằm đảm bảo hoạt động kinh tế - xã hội thuận lợi, tính cạnh tranh cũng như bảo vệ môi trường Đáp

ứng nhu cầu đi lại bằng phương tiện GT cộng cộng và phương tiện phi động cơ với tỷ lệ cao trên 70%

với chi phí thấp Phát triển các loại phương tiện giao thông công cộng chất lượng cao đường sắt đô thị:

tàu điện ngầm; đường sắt nhẹ, đường sắt một ray, hạn chế phương tiện cá nhân có động cơ, khuyến

khích sử dụng phương tiện không sử dụng năng lượng hoá thạch GTCC hướng tới sư liên kết đô thị đa

cực, phát triển Mô hình TOD

Thiết lập hệ thống giao thông thông minh: Các trung tâm quản lý và điều hành hệ thống giao thông;

Thông tin cho hành khách, lái xe; Hệ thống thanh toán chung

6.1.4.3 Phân bố hệ thống trung tâm đô thị

(1) Mục tiêu phát triển

Một trong những chiến lược quan trọng trong Định hướng phát triển Thủ đô Hà Nội là thiết lập hệ thống

trung tâm đô thị hiện đại, đa dạng, năng động và hiệu quả, có tính cạnh tranh cao để thu hút đầu tư, tạo vị

thế và hình ảnh mới cho đô thị trung tâm, là động lực hình thành các đô thị vệ tinh Đồng thời, hệ thống

trung tâm cũng là nơi tạo thêm nhiều cơ hội việc làm cho Thành phố và hạn chế tốc độ di dân tới đô thị

trung tâm

(2) Các định hướng phân bố hệ thống trung tâm đô thị của Hà Nội

Thủ đô Hà Nội mở rộng có quy mô dân số dự báo trên 10 triệu dân, trải rộng trên diện tích 3344km2,

việc phân bố không gian hệ thống trung tâm đô thị của Hà Nội phải đảm bảo mối tương tác với hệ thống

các đô thị trong và ngoài ranh giới Thủ đô Hà nội và các vùng động lực kinh tế lớn; không những đáp

ứng các nhu cầu dịch vụ công cộng xã hội, các hoạt động đời sống-văn hoá-tinh thần của nhân dân, mà

còn là không gian hoạt động chính trị- xã hội, thúc đẩy kinh tế đô thị, cung cấp các dịch vụ sản xuất công

nghiệp-dịch vụ theo nhu cầu thị trường và tạo nền tảng phát triển kinh tế tri thức; phù hợp vào điều kiện

tự nhiên, vị trí địa lý và mối liên kế vùng

(3) Dự kiến hình thành các loại hình trung tâm công cộng sau:

Các trung tâm công cộng phục vụ đời sống thiết yếu xã hội (thường ngày): được bố trí trong các nhóm

nhà ở và khu đô thị, trong bán kính 400m và 5- 10 phút đi bộ, gồm các loại hình công trình như: Chợ khu

vực, nhà văn hóa, dịch vụ tiện ích công cộng, Giáo dục phổ thông (trường cấp I, II, nhà trẻ, mẫu giáo),

DV hành chính phường, tài chính, tín dụng

Các trung tâm công cộng định ky (theo chu ky tuần hoặc tháng): được bố trí theo cấp công trình quốc gia

và thành phố, nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu tinh thần của người dân thành phố, khách trong và ngoài

nước đến công tác và du lịch, trong thời gian tự do theo chu ky tuần hoặc tháng, gồm: các loại hình công

trình văn hoá và nghệ thuật, thể thao, vui chơi giải trí, du lịch, giao tiếp cộng đồng

Các trung tâm công cộng theo chuyên ngành: được bố trí theo cấp công trình quốc gia và thành phố,

được bố trí tại nhiều địa điểm khác nhau trong thành phố, thực hiện sự cân bằng xã hội hoặc cân bằng

sinh học, hồi phục thể chất cho con người, gồm các công trình như: các công trình hoạt động chính

trị-xã hội, các công trình y tế và chăm sóc sức khỏe, các nuôi dưỡng trị-xã hội, giáo dục cao đẳng, đại học, thể

thao, giải trí và du lịch , các hoạt động xã hội dân sự

- Các loại hình trung tâm công cộng nêu trên được bố trí gắn kết trong không gian đô thị tạo nên cấu

trúc đô thị hiện đại, năng động và hiệu quả, hợp lý đảm bảo tính bền vững, cạnh tranh lâu dài cho Hà

Nội, bao gồm:

Không gian sản xuất và dịch vụKhông gian cộng đồng và giao tiếp đô thịKhông gian khu ở đô thị

Không gian hỗn hợp, đa chức năng(4) Phân tầng hệ thống trung tâm theo các vùng đô thị:

+ Đô thị trung tâm: Phát triển mô hình đa trung tâm sử dụng hiệu quả quỹ đất, theo các cấp độ Quốc tế,Quốc gia, Thành phố, khu thành phố Tập trung xây dựng cải tạo chỉnh trang và xây mới các trung tâmlớn về hành chính, chính trị, đối ngoại, văn hóa, thương mại và dịch vụ, duc lịch, đào tạo chất lượng cao,

y tế chuyên sâu Cụ thể như sau:

Tại khu vực Ba Đình: sẽ là nơi tập trung chủ yếu trụ sở chính trị - hành chính đầu não của Đảng, Nhà

nước, Quốc hội, Chính phủ

Tại khu vực Hồ Gươm là nơi tập trung trụ sở chính trị và hành chính đầu não của thành phố như: UBNDthành phố, Thành ủy và 1 số cơ quan khác của Thành phố

Trung tâm văn hóa cấp Quốc gia dự kiến trên trục Hồ Tây- Ba Vì; Trung tâm văn hóa cấp thành phố gắnvới trục Hồ Tây- Cổ Loa

Trung tâm thương mại tài chính và dịch vụ: Sử dụng mô hình trung tâm hỗn hợp văn phòng gắn với dịch

vụ thương mại, giải trí, tài chính, ngân hàng Khai thác mô hình buôn bán truyền thống trong khu vực nội

đô lịch sử, hình thành mới các mô hình hiện đại quy mô lớn gắn với các khu đô thị mới, các tuyến giaothông chính đô thị, các nhà ga và trung tâm đầu mối giao thông Cải tạo và nâng cấp các trung tâm cũhiện nay tại khu vực nội đô lịch sử Xây dựng mới tại các trung tâm hỗn hợp gắn thương mại với cácdịch vụ văn phòng tại khu vực đường Phạm Hùng, Tây Hồ tây, khu vực Đông Anh-trung tâm triển lãmEXPOR; khu vực Gia Lâm dọc quốc lộ 5, khu vực Vĩnh Tuy và Thượng Đình (chuyển đổi được chuyểnđổi từ cụm nhà máy xí nghiệp dệp Minh Khai và Thượng Đình) Xây dựng mới các trung tâm giaothông hàng hóa cấp vùng và quốc gia tại khu vực ga đầu mối Ngọc Hồi, cảng hàng không Quốc tế Nộibài

Trung tâm TDTT cấp Quốc gia: Hoàn thiện tại khu vực Mỹ Đình; Trung tâm TDTT cấp Thành phố dựkiến tại khu vực Đông Anh

Hình thành các khu công viên, vui chơi giải trí cấp thành phố gắn với vành đai xanh sông Nhuệ, dọchành lang xanh sông Hồng, khu vực đầm Vân trì

Liên kết các trung tâm công cộng, hình thành các không gian cộng đồng và giao tiếp đô thị gắn kết với

hệ thống quảng trường lớn đô thị và các trục không gian đô thị trong các khu đô thị

+ Các đô thị vệ tinh, xây dựng mới các trung tâm phục vụ trực tiếp đô thị và hình thành những trung tâmchuyên ngành cấp quốc gia và cấp thành phố nhằm giảm tải cho đô thị trung tâm

+ Các thị trấn sinh thái, cải tạo chỉnh trang và xây dựng mới các trung tâm công cộng phục vụ dân cư thịtrấn và các vùng nông thôn liền kề về hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, cung cấp các dịch vụ phát triểnnông nghiệp và nông thôn

6.1.4.4 Liên kết các không gian xanh

a Khái quát chung.

Không gian xanh của Hà Nội chiếm tỷ trọng lớn trong tổng diện tích tự nhiên toàn thành phố, gồm đấtnông nghiệp, lâm nghiệp, sông hồ ao, không gian mở ven mặt nước và các công viên trong đô thị

Diện tích đất nông nghiệp trong những năm gần đây ngày một giảm và chuyển thành đất xây dựng đôthị Tuy nhiên, đến nay tỷ trọng đất nông lâm nghiệp tại địa bàn Hà Nội nhưng vẫn còn khá lớn, nằm tạikhu vực ngoại ô, góp phần tạo nên các đặc trưng riêng biệt cho Hà Nội Khu vực nội đô Hà Nội, cáckhông gian cây xanh lớn điều hòa khí hậu rất thiếu Các quận nội thành cũ do các điều kiện lịch sử nênviệc bố trí hệ thống công viên cấp quận chưa hợp lý Một số vùng cảnh quan đẹp không bố trí công viênmà chỉ chú trọng đến phát triển các công năng khác phục vụ đô thị như khu vực Hồ Tây, Linh Đàm Thủ đô Hà Nội hiện nay, thiếu quy hoạch đồng bộ về hệ thống cây xanh đô thị và mặt nước cấp Vùng,câp Thành phố, cấp Quận, Huyện và các phường xã đến các đơn vị ở theo quy chuẩn quy phạm đô thị.Cần rà soát lại các hệ thống ao hồ với các chức năng sử dụng chính cho mục đích công cộng Trong quyhoạch năm 1998, đã đề xuất một số chỉ tiêu để phát triển mạng lưới công viên đô thị (15m2/người và sựcần thiết hình thành vành đai xanh), tuy nhiên sau 10 năm triển khai xây dựng theo quy hoạch, các chỉtiêu này chưa thực hiện được

Trang 40

b Quan điểm

Để hướng đến tầm nhìn xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành thành phố Xanh, quy hoạch đã đưa ý tưởng

70% hành lang xanh và 30% không gian đô thị, vành đai xanh và công viên, cây xanh nhằm bảo tồn và

tận dụng các nguồn cảnh quan để làm đẹp thành phố; tạo dựng nhiều không gian xanh, sạch, đẹp; nâng

cao chất lượng cuộc sống cho người dân, cải thiện môi trường tự nhiên, thúc đẩy phát triển bền vững,

bảo tồn tài nguyên thiên nhiên

Quy hoạch phải gắn liền với thực tế, vấn đề quản lý hành lang xanh, vành đai xanh và các nêm xanh là

công việc rất khó khăn, nhưng rất cần thiết phải làm vì đây là vùng đệm xanh ngăn cách giữa khu vực

phát triển nội đô với chuỗi khu đô thị mới dọc phía Đông tuyến vành đai 4 Vành đai xanh sông Nhuệ

cũng là lá phổi xanh của Thành phố Để nội dung nêu trên trở thành hiện thực đòi hỏi sự quyết tâm cao

của hệ thống chính trị và chính quyền thành phố, ý thức tự giác của người dân và nhiều chế tài cần thiết

khác

c Mục tiêu

- Phát triển và bảo vệ khu vực nông thôn và rừng tự nhiên

- Quản lý, khống chế khu vực vành đai xanh và nêm xanh, ngăn chặn bê tông hoá lan toả khu vực nội

đô, vành đai 3 và vành đai 4

- Tăng cường diện tích công viên và không gian xanh trong khu vực nội thành trên cơ sở tái cải tạo

quỹ đất di dời từ các khu cụm công nghiệp ô nhiễm, trường đại học, công sở… Phấn đấu chỉ tiêu như

QHC 108 đặt ra 10-15m2/người

- Xây dựng và bảo vệ các công viên chức năng đặc biệt là khu vực nội đô

- Bảo tồn mặt nước hiện có để giữ được cấu trúc đặc trưng của Hà Nội

d Định hướng về không gian xanh

Thiết lập mạng lưới không gian xanh Thủ đô Hà Nội: hành lang xanh, vành đai xanh, nêm xanh, công

viên chuyên đề, và các không gian xanh khác (trục xanh, cây xanh công viên đô thị và công viên vườn

hoa, vùng trồng hoa, cây cảnh, cây xanh bảo tồn tự nhiên, công trình công cộng, không gian mặt nước…)

Trong cấu trúc phát triển Thủ đô Hà Nội, hành lang xanh chiếm 70% đất tự nhiên gồm toàn bộ khu vực

nông thôn Hà Nội Hành lang xanh chạy dọc sông Đáy, sông Tích, vùng núi Ba Vì và Hương Tích, theo

đường vành đai 4 vượt qua sông Hồng kết nối với khu vực xanh quanh Đền Sóc Hành lang xanh có ý

nghĩa phân tách và giới hạn ngưỡng phát triển của đô thị trung tâm với các đô thị vệ tinh

Các thành phần chủ yếu trong hành lang xanh:

- Khu vực bảo tồn tự nhiên

Khu vực bảo tồn nguồn cảnh quan tự nhiên như rừng (rừng tự nhiên Ba Vì và đồi núi phía Tây tiếp giáp

với Hoà Bình, Sóc Sơn, Quan Sơn, Hương Sơn), trồng rừng tại những khu vực đã bị phá hoại hoặc chưa

sử dụng (cây bụi) Khu vực bảo tồn môi trường thiên nhiên (không gian trong lòng hồ, dọc bờ sông )

Khu vực nằm trong vùng kiểm soát phát triển (hồ Hoàn Kiếm, đầm Vân Trì…) Hình thành môi trường

bán tự nhiên (Khu Sóc Sơn, Gia Lâm, Đan Phượng, Hoài Đức, Thanh Oai…) Khu vực này, khuyến

khích phát triển loại hình du lịch sinh thái, tham quan dã ngoại, vui chơi giải trí mât độ thấp Hạn chế

xây dựng công trình có quy mô lớn, phá vỡ cảnh quan tự nhiên Nghiêm cấm phát triển đô thị tại khu vực

này

- Khu vực phát triển nông nghiệp

Duy trì các khu vực trồng lúa, hoa màu, khu làng nghề trồng hoa cây cảnh và cây ăn quả, đặc biệt là

những khu vực năng suất cao dựa trên mô hình khu nông nghiệp công nghệ cao, kết hợp diện tích canh

tác hiện có và môi trường tự nhiên Khuyến khích các mô hình trang trại, nghiên cứu khoa học phục vụ

nông nghiệp Hạn chế chuyển đổi mục đích nhà vườn kết hợp du lịch Nghiêm cấm phát triển đô thị, sângolf hoặc các hoạt động gây ô nhiễm môi trường

- Khu vực làng xóm và các di sản văn hoáDuy trì các không gian xanh trong các làng xóm, làng nghề truyền thống và khu vực xung quanh di tích

để hạn chế các tác động của đô thị hóa Khuyến khích các hoạt động dành cho du lịch như du lịch nôngthôn, làng nghề truyền thống, du lịch thăm quan các điểm di tích văn hoá lịch sử Hạn chế tăng mật độxây dựng, tách hộ nhỏ trong các làng xóm Nghiêm cấm bê tông hoá và xâm chiếm các khu vực di tích,

di sản

- Vai trò và tính chất của vành đai xanh

 Trong đô thị trung tâm Hà Nội, cần thiết hình thành không gian đệm xanh phân tách khu vực nội đôHà Nội với khu vực phát triển mới phía Nam sông Hồng, không để Hà Nội phát triển theo "vết dầuloang" như hiện nay

Ý tưởng vành đai xanh được nghiên cứu dựa trên việc kế thừa từ Quy hoạch trước đây Điều chỉnhquy hoạch chung Thủ đô Hà nội đến năm 2020, tại Quyết định số 108/1998/QĐ-TTg đã nêu: "Tạivùng ven đô, hình thành vành đai xanh rộng từ 1 đến 4 km, tạo thành bộ khung bảo vệ thiên nhiên,giữ gìn cân bằng sinh thái thành phố" Đánh giá thực tiễn trong 10 năm thực hiện quy hoạch này, vìnhiều lý do khách quan và chủ quan, Hà Nội đang có nguy cơ làm mất đi vành đai xanh ven đô vàthay vào đó là những dự án phát triển đô thị Tình trạng xây dựng đô thị lan rộng thiếu kiểm soát nàynếu tiếp tục được thực hiện sẽ làm cho Hà Nội phát triển thiếu bền vững, các di sản Thăng Long cổnằm trong khu vực nội đô lịch sử sẽ bị đe dọa dưới sức ép của đô thị hóa; điều kiện sống của ngườidân nội đô khó có thể cải thiện về hạ tầng đô thị, cảnh quan và môi trường

 Vành đai xanh sẽ nằm trong vùng phát triển đô thị, tạo nên "Lá phổi xanh" cải thiện điều kiện vi khíhậu đồng thời bổ xung hạ tầng đô thị cho khu vực nội đô lịch sử Trong vành đai xanh sẽ tạo lập cáckhông gian mở gắn với các hoạt động công cộng, vui chơi giải trí, công viên chuyên đề, công viêncây xanh thể dục thể thao và không gian công cộng lớn khác cho đô thị trung tâm

Đến nay, khi ranh giới Thủ đô Hà Nội được mở rộng về phía Tây, sẽ là cơ hội lớn để chúng ta táithiết lập lại vành đai xanh đã đề xuất trong Quy hoạch 108 Việc phát triển vành đai xanh có ý nghĩaquan trọng trong phát triển đô thị bền vững của Thủ đô Hà Nội, duy trì và bảo vệ đặc trưng văn hóacủa Hà nội cổ, cân bằng lại các nhu cầu về tiện ích hạ tầng đô thị cho khu vực nội đô lịch sử Để việcquản lý vành đai xanh có tính khả thi, chính quyền Hà Nội cần có biện pháp kiểm soát và quản lý cácdự án , các công trình xây dựng trong khu này theo thông báo 202/TB - VPCP

- Nguyên tắc phát triển vành đai xanh

 Kế thừa các quy định đã nêu trong Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2020 (QĐ108/1998/QĐ-TTg): Tại vùng ven đô, hình thành vành đai tạo thành bộ khung bảo vệ thiên nhiên,giữ gìn cân bằng sinh thái thành phố

 Các chức năng trong vành đai xanh: Ưu tiên phát triển hệ thống công viên cây xanh phục vụ côngcộng, duy trì các dải cây xanh ven sông, vùng trồng hoa và cây ăn quả đặc trưng của Thủ đô gắn vớicông trình dịch vụ công cộng (giải trí, TDTT) phục vụ các hoạt động trong vành đai xanh, các côngtrình hỗ trợ giao thông và sử dụng hỗn hợp

 Kiểm soát phát triển phải đảm bảo tính liên tục của không gian cây xanh, mặt nước hiện có gắn vớiquy hoạch công viên cây xanh và hệ thống hồ nước 2 bên sông Nhuệ và sông Tô Lịch

- Phạm vi ranh giới

Ngày đăng: 28/12/2017, 16:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w