1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lý thuyết nữ quyền hiện đại

26 57 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 850,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý thuyết nữ quyền được đưa ra từ cơ sở của chủ nghĩa nữ quyền. Chủ nghĩa nữ quyền phát triển từ chỗ thực tiễn đấu tranh đòi cải thiện pháp luật, bình đẳng nam nữ về pháp luật trong xã hội bao gồm quyền được giáo dục, bình đẳng trong vấn đề việc làm, quyền bầu cử, quyền sở hữu tài sản, quyền ly dị,…hướng đến việc chấm dứt mọi hình thức phân biệt với nữ giới. Có thể nói, lý thuyết nữ quyền không xuất phát từ một hệ thống lý thuyết trừu tượng mà hình thành trên nền tảng của một chủ thuyết về giải phóng phụ nữ. Trên phạm vi của bài viết “Lược khảo về phong trào nữ quyền và một số lý thuyết nữ quyền đương đại” này. Nhóm chúng tôi chỉ sơ lược về lịch sử và một số vấn đề căn bản của lý thuyết xã hội học giới nói chung và nữ quyền nói riêng, nhằm để độc giả có một cái nhìn tổng quát về thuyết nữ quyền chứ không xoáy sâu vào việc phân tích những tác động của nó đối với xã hội.

Trang 1

Vào năm 1989, một nhóm phụ nữ tranh đấu có tên là Những cô gái du kích đã kêu gọi sự quan tâm đến chủ nghĩa phân biệt giới tính trong thế giới nghệ thuật qua tấm bích chương này, một bích chương phản đối sự tiêu biểu chưa đúng mức các nghệ sĩ nữ trong Viện bảo tàng nghệ thuật Metropolitan lừng danh thế giới tại thành phố New York Có thể xem tấm bích chương này cùng với những tấm khác nữa có liên quan đến chủ nghĩa kỳ thị phụ nữ tại địa chỉ www.guerrillagirls.com

PHỤ NỮ PHẢI KHỎA THÂN MỚI BƯỚC CHÂN VÀO VIỆN BẢO TÀNG MET SAO?

Trong các trường phải nghệ thuật hiện đại

có chưa đầy 5% nghệ sĩ là phụ nữ, nhưng

có đến 85% người thỏa thân lại là phụ nữ

Trang 2

DANH MỤC HÌNH VÀ BẢNG

1 Danh mục hình

Hình 2.1.1 Các phương diện định nghĩa khái niệm “nữ quyền” (Trang 8)

Hình 2.3.1 Các đặc điểm thuyết “nữ quyền” (Trang 14)

Trang 3

MỤC LỤC I ĐẶT VẤN ĐỀ 4

II NỘI DUNG 5

1 Lý thuyết về xã hội học về giới từ năm 1960 – nay 5

1.1 Các lý thuyết vĩ mô về giới 5

1.2 Các lý thuyết vi mô về giới 7

2 Các vấn đề chung của lý thuyết nữ quyền 7

2.1 Khái niệm nữ quyền và phong trào nữ quyền 7

2.2 Sơ lược về lịch sử phong trào nữ quyền 9

2.3 Các câu hỏi và đặc điểm cơ bản của thuyết nữ quyền 13

3 Các thể loại khác nhau của thuyết nữ quyền 15

3.1 Sự khác biệt về giới 16

3.2 Sự bất bình đẳng giới 17

3.3 Sự áp bức giới 17

3.4 Thuyết nữ quyền tự do (liberal feminism) 18

3.5 Thuyết nữ quyền mácxít (Marxist) 19

3.6 Thuyết nữ quyền triệt để (cấp tiến) (radical feminism) 20

3.7 Thuyết nữ quyền phân tâm học (psychoanalytic feminism) 21

3.8 Thuyết nữ quyền hiện sinh (existentialist feminism) 21

3.9 Thuyết nữ quyền hậu hiện đại (post-inodem feminism) 22

3.10 Nữ quyền da đen 22

4 Những mặt hạn chế trong lý thuyết nữ quyền 23

III KẾT LUẬN 25

IV TÀI LIỆU THAM KHẢO 25

V PHÂN CHIA CÔNG VIỆC 26

Trang 4

LƯỢC KHẢO VỀ PHONG TRÀO NỮ QUYỀN VÀ MỘT SỐ

LÝ THUYẾT NỮ QUYỀN ĐƯƠNG ĐẠI

Việc tìm hiểu và nghiên cứu về thuyết nữ quyền không phải là một điều dễ dàng Bởi từ khi ra đời cho đến này, lý thuyết nữ quyền đã không ngừng vận động và thay đổi cùng với sự phát triển của phong trào phụ nữ (phong trào nữ quyền) đấu tranh đòi công bằng và bình đẳng Trong lịch sử các lý luận khoa học xã hội, có lẽ không một lý thuyết nào phát triển nhanh chóng và hoàn thiện không ngừng như thuyết nữ quyền Tính đa khuynh hướng trong tư tưởng nữ quyền trên khắp các quốc gia và vùng lãnh thổ đã hình thành nên nhiều trường phái lý thuyết khác nhau Các trường phái lý thuyết này thể hiện quan điểm, nhận thức và các giải pháp riêng biệt của các nhà nữ quyền trong cuộc đấu tranh đi tới sự bình đẳng giới Đồng thời nó cũng phản ánh mức độ, tính chất và quy mô phát triển của phong trào đấu tranh đòi bình đẳng

Lý thuyết nữ quyền được đưa ra từ cơ sở của chủ nghĩa nữ quyền Chủ nghĩa nữ quyền phát triển từ chỗ thực tiễn đấu tranh đòi cải thiện pháp luật, bình đẳng nam nữ

về pháp luật trong xã hội bao gồm quyền được giáo dục, bình đẳng trong vấn đề việc làm, quyền bầu cử, quyền sở hữu tài sản, quyền ly dị,…hướng đến việc chấm dứt mọi hình thức phân biệt với nữ giới Có thể nói, lý thuyết nữ quyền không xuất phát từ một

hệ thống lý thuyết trừu tượng mà hình thành trên nền tảng của một chủ thuyết về giải phóng phụ nữ

Trên phạm vi của bài viết “Lược khảo về phong trào nữ quyền và một số lý

thuyết nữ quyền đương đại” này Nhóm chúng tôi chỉ sơ lược về lịch sử và một số vấn

Trang 5

đề căn bản của lý thuyết xã hội học giới nói chung và nữ quyền nói riêng, nhằm để độc giả có một cái nhìn tổng quát về thuyết nữ quyền chứ không xoáy sâu vào việc phân tích những tác động của nó đối với xã hội

II NỘI DUNG

1 Lý thuyết về xã hội học về giới từ năm 1960 – nay

1.1 Các lý thuyết vĩ mô về giới

❖ Thuyết chức năng: Đại biểu là Miriam Johnson, với cách xác định nguồn gốc của bất bình đẳng giới trong cấu trúc của gia đình gia trường, được biết đến trong hầu hết các xã hội Gia đình có những chức năng phân biệt với những chức năng của thiết chế kinh tế và các thiết chế xã hội khác: xã hội hoá trẻ em và thực hiện chức năng tình cảm của gia đình Tuy nhiên, những bài viết xã hội học có ảnh hưởng hơn cả về nghiên cứu phụ nữ lại từ một quan điểm chức năng nghiên cứu của Talcott Parsons Ông xem gia đình hạt nhân như là tiến trình không thể đảo ngược trong xã hội công nghiệp dẫn đến những khác biệt xã hội tăng lên từ sự cô lập, di động địa lý và những nhu cầu của một quốc gia công nghiệp hoá đối với lực lượng lao động được đào tạo, T.Parsons đã

mở đường cho những tranh luận về sự phân công lao động theo giới trong thuật ngữ về các vai trò, Arlie Hochschild (1973) đã xác định 4 kiểu nghiên cứu trong xã hội học về các vai trò giới:

• Thứ nhất, nghiên cứu tập trung vào những khác biệt giới tính, phân tích những khác biệt về tình cảm và nhận thức giữa nam và nữ Thường là những nhà tâm

lý học thực hiện các nghiên cứu này, và sau đó các nhà xã hội học sử dụng kết quả này

• Thứ hai, nghiên cứu phân tích sự căng thẳng vai trò Ví dụ T.Parsons với công trình nghiên cứu về những khác biệt vai trò giới tính và sau đó phác hoạt những chuẩn mực để xác định những vai trò này Ông quan niệm vai trò như một đơn

vị cơ bản trong hệ thống xã hội, sự định hướng vai trò tình cảm và vai trò công cụ; gia đình như một thiết chế trong quan hệ với các thiết chế khác, những chức năng tiên quyết của hệ thống xã hội (thích nghi, đạt mục tiêu, hội nhập và duy trì kiểu mẫu), sự phân tích các cấp độ của hành động xã hội (xã hội, văn hoá, nhân cách và hành vi), các bước của những biến đổi xã hội (sự khác biệt, hướng đến thích nghi, hội nhập và hình thành giá trị) (Parsons, 1949)

Trang 6

→ Cả hai mô hình nghiên cứu này đều thừa nhận rằng sự phân công giữa nam và phụ

nữ là chức năng và tìm kiếm sự giải thích những khác biệt từ một quan điểm cân bằng

• Thứ ba, nghiên cứu vai trò giới tính phân tích phụ nữ như là một nhóm thiểu số, đặc biệt trong thuật ngữ về sự phân biệt đối xử, sự thiên kiến và phụ nữ ở bên lề kinh tế và xã hội (Hacker, 1951)

• Thứ tư, nghiên cứu quan điểm “đẳng cấp chính trị” Quan điểm này cũng tương

tự như quan điểm thiểu số những tập trung vào những khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong điều kiện lợi ích và đấu tranh quyền lực

→ Hai kiểu nghiên cứu này lấy những khác biệt giữa nam và nữ như là một vấn đề để giải thích

❖ Thuyết phân tích xung đột: Đại biểu là Janet Chafetz, với cách tiếp cận liên văn hoá và xuyên lịch sử và tìm kiếm lý thuyết giới trong tất cả các hình mẫu xã hội cụ thể của nó Cụ thể hơn, Chafetz tập trung vào bất bình đẳng giới hay như bà gọi nó là

sự phân tầng giới tính Quan điểm của Chafetz là phụ nữ sẽ ít bất lợi khi họ có thể cân bằng các trách nhiệm của chủ hộ gia đình với một vai trò độc lập và có ý nghĩa trong thị trường sản xuất Hộ gia đình hoặc gia đình được nhìn không chỉ như là một lĩnh vực bên ngoài công việc, một lĩnh vực thuộc về tình cảm và nuôi dưỡng, mà còn được xem như một lĩnh vực trong đó xuất hiện lao động chăm sóc trẻ em, nội trợ)

❖ Lý thuyết hệ thống thế giới: Đại biểu là Kathryn B Ward, đã tranh luận rằng: (1) Lý thuyết này sẽ không thể hiểu được trừ khi lao động của hộ gia đình và lao động của nền kinh tế phi chính thức được công nhận

(2) Bởi vì phụ nữ chiếm tỷ lệ lớn trong những lao động như vậy, nên phụ nữ phải được đặc biệt quan tâm trong lý thuyết hệ thống thế giới và không chỉ đơn giản xếp họ vào dưới cái tên gọi “người lao động” Hộ gia đình tạo nên tất cả các công việc được thực hiện ở nhà để duy trì và tái tạo người lao động; nền kinh tế không chính thức do vậy được tổ chức để trong đó không có sự tách biệt rõ ràng giữa lao động và tư bản và không có sự điều chỉnh lao động bằng luật pháp hoặc tổ chức tư bản Ward tranh luận rằng những đóng góp đặc biệt về lao động không được trả lương của phụ nữ đối với nền kinh tế của thế giới và sự thống trị của nam giới đối với phụ nữ phải được hiểu và được giải thích không chỉ đơn giản như là những sản phẩm của chủ nghĩa tư bản mà phải “phân biệt những thuộc tính của hiện tượng với logic riêng của chúng”

Trang 7

1.2 Các lý thuyết vi mô về giới

Các nhà lý thuyết xã hội học vi mô ít tập trung vào giải thích sự bất lợi xã hội của phụ nữ mà tập trung nhiều hơn vào việc chỉ ra giới như một hiện tượng xã hội được tồn tại trong sự tương tác Họ đặt câu hỏi: Giới hiện diện như thế nào trong sự tương tác và những tương tác đó tạo nên giới ra sao? Hai lý thuyết chủ yếu của xã hội học vi

mô về giới là thuyết tương tác biểu tượng và phương pháp luận dân tộc học

2 Các vấn đề chung của lý thuyết nữ quyền

2.1 Khái niệm nữ quyền và phong trào nữ quyền

Không giống như những lý thuyết về giới khác, nền tảng xây dựng khái niệm của thuyết nữ quyền không bắt nguồn từ một công thức đơn lẻ nào cả Lý thuyết nữ quyền có sự thay đổi và cập nhật liên tục dựa trên thực trạng (tình hình thực tế) và mức

độ ý thức, nhận thức về văn hóa, lịch sử,… Chính vì thế mà thuyết nữ quyền được sử dụng ở thế kỷ XXI sẽ có sự khác biệt so với thuyết nữ quyền được sử dụng vào đầu thế

kỷ XVII Do vậy, không một người nào có thể đưa ra được một định nghĩa chung, thống nhất về thuyết nữ quyền Có rất nhiều quan điểm, ý kiến về thuật ngữ “nữ quyền”

Theo từ điển Oxford thì khái niệm “nữ quyền” được định nghĩa như sau “The

advocacy of women's rights on the basis of the equality of the sexes.” [4] Dịch ra nghĩa

Tiếng Việt, chúng ta có thể hiểu “nữ quyền” là “Sự ủng hộ quyền lợi của người phụ nữ dựa trên cơ sở của bình đẳng giới”

Hay theo định nghĩa của từ điển Cambridge “An organized effort to give women

the same economic, social, and political rights as men” [3] Tức có nghĩa là “Một nỗ

lực có tổ chức nhằm đem lại cho phụ nữ các quyền lợi về kinh tế, xã hội và chính trị như người nam giới”

Một định nghĩa khác của Kamla Bhasin (2000)

An awareness of women’s oppression and explotiation in society, at work and within the family, and conscious action by women and men to change this situation

([2], tr3) Thuyết nữ quyền là sự nhận thức về sự thống trị gia trưởng, sự bốc lột, sự áp bức đối với phụ nữ trong gia đình, ở nơi làm việc và trong xã hội nói chung,

là hành động có ý thức của phụ nữ và nam giới làm thay đổi tình trạng đó

Trang 8

Theo Hoàng Bá Thịnh (2008), thì nữ quyền được hiểu

Nếu hiểu một cách nôm na nhất, thì thuyết “nữ quyền” – một từ Hán Việt – là quyền của phụ nữ, còn hiểu đầy đủ thì đó là “đấu tranh cho quyền bình đẳng của phụ nữ” với niềm tin dựa trên nguyên tắc cho rằng phụ nữ phải có quyền

và cơ may trong cuộc sống như nam giới (về chính trị, kinh tế, luật pháp,…) Cũng theo Hoàng Bá Thịnh, thuật ngữ “nữ quyền” có thể hiểu theo các cấp độ

Hình 2.1.1 Các phương diện định nghĩa khái niệm “nữ quyền”

* Về “Phong trào nữ quyền”, các nhà xã hội học định nghĩa phong trào xã hội như là những nhóm hành động để ủng hộ hoặc đấu tranh chống lại những thay đổi trong xã hội Các phong trào thường nổi lên do sự nhận thức của các thành viên về sự bất công hoặc mong muốn tạo nên những thay đổi để sửa đổi những bất công như vậy của họ (Turner và Kilian, 1972) Các phong trào xã hội liên quan tới hoạt động bền vững của những nhóm có tổ chức, và họ thường bao gồm một mạng lưới các tổ chức mặc dầu họ

Trang 9

Có thể có những mục tiêu hay thành viên khác, nhưng có một cách hiểu như nhau về những gì thuộc về phong trào Các nhà xã hội học nghiên cứu về phong trào xã hội cũng thử phân biệt các điều kiện xã hội thúc đẩy sự phát triển của phong trào đó Trong trường hợp phong trào nữ quyền đương đại, sự phát triển của thuyết nữ quyền có thể được coi xuất phát từ sự phát triển của phong trào phụ nữ thế kỉ XIX

2.2 Sơ lược về lịch sử phong trào nữ quyền

Vào năm 1840, một hội nghị thế giới về chống chế độ nô lệ được tổ chức ở London Sự đại diện của đoàn phụ nữ trong hội nghị làm nảy sinh, khơi dậy tiềm lực cho phụ nữ, mặc dầu phụ nữ đã bị loại bỏ khỏi các nhà trưng bày và bị cấm tham gia vào các hoạt động tiếp theo Sự loại trừ họ đối với những chương trình tiếp theo dấy lên sự nhận thức của những người phụ nữ này về sự cần thiết phải có một phong trào cho phụ nữ

Năm 1848 Ủy ban quyền của phụ nữ ở Selenca Falls (New York), thông qua 12 nghị quyết, một trong số đó là quyết tâm đấu tranh cho quyền bầu cử của phụ nữ Năm 1890 Các hiệp hội Mỹ và quốc gia vì quyền bầu cử của phụ nữ đã kết hợp

để trở thành hiệp hội quốc gia Mỹ vì quyền bầu cử của phụ nữ (NAWSA)

Ngày 26/8/1920 trong Luật sửa đổi lần thứ 19 của Mỹ về việc đảm bảo cho phụ

nữ quyền được bầu cử đã được nhà nước chấp thuận

Sau chiến tranh thế giới thứ 2, Đảng phụ nữ quốc gia, do Alice Paul thành lập, tiếp tục đấu tranh để cải thiện địa vị của phụ nữ

* Các làn sóng nữ quyền

Khi nhận xét và phân chia thời gian về phong trào nữ quyền, một vài tác giả khẳng định cho đến nay mới có hai làn sóng nữ quyền, ví dụ trong cuốn sách xuất bản gần đây, một tác giả viết

Trên thế giới, phong trào đấu tranh cho quyền bình đẳng của nữ giới đã có từ lâu, nhưng căn cứ vào tính chất, đặc điểm và mức độ đấu tranh mà người ta chia cuộc đấu tranh ấy ra làm hai giai đoạn và mỗi giai đoạn ấy là một “làn sóng” Cho tới nay, có thể tổng kết thành hai “làn sóng” như vậy “Làn sóng” thứ nhất là trước thập niên 1970 và “làn sóng” thứ hai được đánh dấu khoảng

từ cuối thập niên 1960 đầu thập niên 1970 cho đến nay

(Trần Xuân Điệp, 2005)

Trang 10

Đoạn trích dẫn này từ cuốn sách là Công trình nghiên cứu của một luận án tiến sĩ Nhưng có thể nói rằng, tác giả đã viết chưa đúng về các làn sóng nữ quyền Trong nhiều công trình của các nhà xã hội học Mỹ, đã đề cập đến làn sóng nữ quyền thứ ba

Khi nhìn vào lịch sử phong trào nữ quyền, với các mốc thời gian cụ và những mục tiêu đấu tranh trong các giai đoạn khác nhau, kể cả sự thăng trầm của phong trào

nữ quyền ở Mỹ, người ta chia ra cho đến nay - có ba làn sóng nữ quyền Làn sóng thứ

nhất trước thập niên 1790, làn sóng thứ hai bắt đầu từ cuối thập niên 60 đầu thập niên

70 của thế kỷ XX, làn sóng thứ ba ra đời vào những năm 1990

2.2.1 Làn sóng thứ nhất

Làn sóng thứ nhất diễn ra từ khoảng năm 1848 đến 1918 Đây là thời kỳ đấu tranh đầu tiên của phong trào, bắt đầu từ cuộc cách mạng Pháp, đánh dấu bằng việc xuất bản cuốn: “Biện minh cho quyền phụ nữ” của Mary Wollstonecraft (1792) Chủ yếu quan tâm đến bình đẳng trong giáo dục và nghề nghiệp Trong khi đó, ở Mỹ làn sóng nữ quyền thứ nhất tập trung vào sự đấu tranh cho quyền phụ nữ về chính trị, đặc biệt là quyền bầu cử, làn sóng nữ quyền này còn được chú ý tới bởi hai điểm quan trọng:

• Hội nghị lần thứ nhất về các quyền phụ nữ (1848) tại Seneca Falls, New York;

• Năm 1920 với phê chuẩn Tu chính án Hiến pháp lần thứ 19 cho phép phụ nữ được đi bầu cử Quốc hội kể từ năm 1920

Ưu điểm

Thông qua làn sóng thứ nhất ở Pháp và ở Mỹ thì các quyền của phụ

nữ đã được chú trọng: Quyền được quan tâm, giáo dục (ở Pháp), quyền bầu cử (ở Mỹ) quyền được tham gia vào các công việc, nghề nghiệp đặc thù cho nam giới ở Pháp,…

Nhược điểm

1 Quyền đầu phiếu đã không dẫn đến những cải cách khác cho địa

vị kinh tế và xã hội của phụ nữ

2 Phong trào nữ quyền chưa phải là một lực lượng đủ mạnh cho thay đổi xã hôi vào đầu và giữa thế kỷ 20

Bảng 2.2.1.1 Nhận xét về làn sóng nữ quyền thứ nhất 2.2.2 Làn sóng thứ hai

Xuất hiện 1918 – 1968 ở các nước phương Tây, thời kỳ này hầu hết phụ nữ phưng Tây được hưởng quyền bầu cử và ứng cử do đấu tranh

Trang 11

Sau khi có được quyền công dân, họ nhận ra rằng họ vẫn bị đối xử bất bình đẳng

về đời sống, xã hội, mức lương, phân công lao động và vấn đề tình dục…Do đó phong trào phụ nữ chuyển hướng vào các vấn đề liên quan đến cải cách xã hội như cải cách vấn đề thực phẩm, tự do ở trường học cho trẻ em, chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ nghèo…và trong lĩnh vực riêng tư như quyền tránh thai, chấm dứt áp bức tình dục

Do ảnh hưởng của các phong trào phương Tây nên các phụ nữ ở các nước Xã hội chủ nghĩa cũng được hưởng nhiều chính sách bình đẳng giữa Nam và Nữ

Làn sóng nữ quyền thứ hai tồn tại hai nhóm lớn:

• Nhóm nữ quyền Xã hội chủ nghĩa, nữ quyền Marxist Canada;

• Nhóm nữ quyền tự do, nữ quyền cấp tiến

Đến thập niên 1970 làn sóng nữ quyền phát triển đến đỉnh cao, phong trào được thúc đẩy bởi 3 cuốn sách tiên phong luận [1] Giới tính thứ 2 (Simonede Beauvoie); [2] Huyền thoại phụ nữ (Betty Friedan); [3] Chính trị học giới tính (Kate Millett)

Trong giai đoạn này tinh thần tích cực chính trị nói chung đã dẫn phụ nữ và nhiều người trong số đó đấu tranh vì danh quyền của người da đen và chống chiến tranh Việt Nam, đi đến việc xem xét lại tình trạng không có địa vị và quyền lực của người phụ

nữ Theo nhận xét của nhà Xã hội người Mỹ, G.Ritzer thì “Làn sóng thứ hai” là “của giới học giả”

Trang 12

2.2.3 Làn sóng thứ ba

Từ năm 1968 đến nay, phát triển mạnh chủ yếu vào năm 1990, thuật ngữ “Làn sóng nữ quyền thứ ba” được dùng để xác định một giai đoạn mới trong lịch sử của thuyết nữ quyền, một giai đoạn tương phản với “ làn sóng thứ nhất” Tầm quan trọng của một làn sóng thứ ba làm lý thuyết nữ quyền trở nên rõ ràng hơn trong những năm

1990 và hiện đang tạo thành một trong lĩnh vực trung tâm và năng động nhất của sự tăng trưởng tri thức trong chủ nghĩa nữ quyền

Làn sóng nữ quyền thứ ba tập trung mối quan tâm vào những khác biệt trong phụ

nữ, theo đó các nhà nữ quyền của làn sóng thứ ba đánh giá lại giá trị và mở rộng thêm các vấn đề mà làn sóng thứ hai đã mở ra Đồng thời đánh giá lại có sự phê phán các chủ đề và những khái niệm của các lý thuyết ở làn sóng thứ hai Các lý thuyết thuộc làn sóng thứ ba bao gồm: Lý thuyết nữ quyền và phát triển, lý thuyết giới và phát triển,

lý thuyết nữ quyền các nước đang phát triển và lý thuyết về nữ quyền phụ nữ da đen

Trong cuốn sách Lý thuyết xã hội học hiện đại của G.Ritzer (in lần thứ 4, 1996)

([6], tr.332) Trong lần xuất bản thứ năm khi đề cập đến làn sóng nữ quyền thứ ba tác giả cuốn lý thuyết xã hội học cho thấy rõ hơn tầm quan trọng của làn sóng nữ quyền thứ

ba vì nó: “mô tả những tư tưởng nữ quyền về một thế hệ mới của những phụ nữ trẻ tuổi, những người sẽ dẫn dắt cuộc sống của hầu hết thanh niên của thế kỷ XXI” Chủ thể của làn sóng nữ quyền thứ ba là những nhà nữ quyền trẻ không chỉ tăng lên sự cam kết cá nhân họ với chủ nghĩa nữ quyền mà họ còn cho thấy mức độ tình nguyện rất cao

để thực hiện những hành động tập thể nhằm tạo nên những biến đổi có hiệu quả

Các nhà nữ quyền làn sóng thứ ba tập trung vào các vấn đề như nhận thức và giáo dục AIDS, các quyền sinh sản, không bị lạm dụng tình dục, bạo lực và cưỡng hiếp, nghèo đói và vô da cư trong thanh niên…

Trang 13

2 Sự khác biệt chính giữa làn sóng thứ nhất và thứ ba là sự liên quan

đặc biệt với xã hội học: Từ thái độ đến kiến thức

Nhược điểm Bởi phát triển rầm rộ và đại trà, nên nhiều thuyết có tính cực đoan

Bảng 2.2.3.1 Nhận xét về làn sóng nữ quyền thứ ba 2.3 Các câu hỏi và đặc điểm cơ bản của thuyết nữ quyền

Sự thúc đẩy đối với thuyết nữ quyền đương đại bắt đầu trong một câu hỏi tưởng chừng như đơn giản: “Thế còn phụ nữ thì sao?” Nói cách khác, những người phụ nữ

ở chỗ nào, trong bất cứ hoàn cảnh nào được khám phá, tìm hiểu? Nếu họ không hiện diện, thì tại sao? Nếu họ hiện diện, chính xác là họ đang làm gì? Họ trải nghiệm hoàn cảnh như thế nào? Họ đóng góp gì cho nó? Nó có ý nghĩa gì đối với họ?

Câu hỏi cơ bản thứ hai của thuyết nữ quyền là “Vậy thì tại sao tất cả những chuyện này lại là như vậy?” Trong khi câu hỏi đầu tiên thể hiện một sự mô tả thế giới xã hội, câu hỏi này đòi hỏi một sự lý giải về thế giới đó Sự mô tả và sự lý giải về thế giới xã hội là hai mặt của bất kỳ lý thuyết xã hội học nào Các nỗ lực của thuyết nữ quyền để trả lời các câu hỏi này do đó đã tạo ra một lý thuyết phổ quát cho xã hội học

Câu hỏi cơ bản thứ ba cho các nhà lý thuyết nữ quyền là “Chúng ta có thể thay đổi và cải thiện thế giới như thế nào để nó có thể tạo ra sự công bằng nhiều hơn cho phụ nữ và cho tất cả mọi người ?” Điều này dẫn đến sự chuyển đổi xã hội trong sự quan tâm về công bằng, công lý Đó là đặc điểm phân biệt của thuyết xã hội phê phán, một sự cam kết được chia sẻ trong xã hội học bởi thuyết nữ quyền, thuyết Mác xít và tân Mác xít cũng như các lý thuyết xã hội đang được phát triển bởi các nhóm thiểu số chủng tộc và dân tộc và trong các xã hội hậu đế quốc [7]

Các câu hỏi lý thuyết cơ bản của thuyết nữ quyền tương tự, cũng tạo ra một cuộc cách mạng trong nhận thức của chúng ta về thế giới Các câu hỏi này cũng dẫn chúng

ta tới việc khám phá ra rằng cái chúng ta xem là kiến thức tuyệt đối và phổ quát về thế

Ngày đăng: 05/04/2022, 15:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Vũ Quang Hà, Các lí thuyết Xã Hội Học tập 1 (2001), NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội, trang 459 – 542 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các lí thuyết Xã Hội Học tập 1 (2001)
Tác giả: Vũ Quang Hà, Các lí thuyết Xã Hội Học tập 1
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2001
[5] Hoàng Bá Thịnh, Giáo trình Xã hội học về giới (2001), NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội, trang 90 – 118 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Xã hội học về giới (2001)
Tác giả: Hoàng Bá Thịnh, Giáo trình Xã hội học về giới
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2001
[6] George Ritzer, Modern Sociological Theory (1996), Seventh Edition, McGraw- Hill Sách, tạp chí
Tiêu đề: Modern Sociological Theory (1996)
Tác giả: George Ritzer, Modern Sociological Theory
Năm: 1996
[7] George Ritzer, Sociological Theory (2000), 5th Edition, McGraw-Hill Higher Education Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sociological Theory (2000)
Tác giả: George Ritzer, Sociological Theory
Năm: 2000
[9] Mai Bích Huy, Giới và lý thuyết nữ quyền Phương Tây (2006) (trích Nghiên cứu gia đình: Lý thuyết nữ quyền và quan điểm giới, Lê Ngọc Văn), NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới và lý thuyết nữ quyền Phương Tây (2006)
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
[10] Link: https://spiderum.com/bai-dang/Chuyen-ve-Nu-quyen-va-Nam-tinh-doc-hai-ua5, ntc: 10/05/2021 Link
[8] Wallace, R.A. Feminism and Sociological Theory (1989) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1.1 Các phương diện định nghĩa khái niệm “nữ quyền” - Lý thuyết nữ quyền hiện đại
Hình 2.1.1 Các phương diện định nghĩa khái niệm “nữ quyền” (Trang 8)
Bởi hình thành trên nhiều cơ sở khác nhau, thuyết nữ quyền có 4 đặc điểm sau - Lý thuyết nữ quyền hiện đại
i hình thành trên nhiều cơ sở khác nhau, thuyết nữ quyền có 4 đặc điểm sau (Trang 14)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w