Tiểu luận Kinh tế vĩ mô về lạm phát chi tiết với 3 nội dung về cơ sở lý thuyết của lạm phát, tình hình lạm phát cở nước ta những năm gần đây và những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội.
Trang 1Trong đời sống hằng ngày, lạm phát là một trong những vấn đề kinh tế vĩ mô, nó trở
thành mối bận tâm lớn của các nhà chính trị, kinh tế Bây giờ, lạm phát trở thành vấn đềtoàn cầu chứ không phải của riêng nước nào Hoa Kỳ, Anh, Đức, Nhật Bản… hay ViệtNam đều gặp vấn đề lạm phát ở mức độ khác nhau và đang dùng nhiều biện pháp đểchống lại lạm phát Lạm phát như là một căn bệnh của nền kinh tế thị trường, nó là vấn
đề hết sức phức tạp đòi hỏi mỗi quốc gia đều phải bỏ thời gian, trí tuệ mới có thể khắcphục được vấn đề lạm phát Kiểm soát lạm phát là nhiệm vụ hàng đầu của Chính phủ
Ở Việt Nam, sau khi giành lại độc lập, thống nhất đất nước, nền kinh tế Việt Nam đãtrải qua nhiều thăng trầm: từ khủng hoảng nghiêm trọng với mức độ lạm phát lên đến 3con số, tăng trưởng thấp, đời sống của nhân dân khó khăn đến tỷ lệ lạm phát ổn định, đờisống nhân dân được cải thiện, rồi lại đứng trước thách thức và nguy cơ tác động của cáccuộc khủng hoảng kinh tế trên thế giới Ở nước ta một số năm trước có tỷ lệ lạm phátthấp nhưng đến nay lạm phát có nguy cơ tiềm ẩn và tái phát cao Nhất là trong thời điểmhiện tại tình hình dịch bệnh vẫn diễn biến phức tạp cả trong nước và nước ngoài Giá củamột số hàng thiết yếu nhập khẩu như xăng, dầu, sắt thép, phân bón tăng lên Đặc biệttrong thời gian gần đây giá vàng và xăng tăng đột biến thì một câu hỏi đặt ra: liệu đó cóphải là dấu hiệu báo trước của việc lạm phát tăng cao? Trong tình hình đó đòi hỏi nhànước phải có giải pháp cấp vĩ mô để kiềm chế cũng như khắc phục hậu quả của lạm phát Chúng ta đang trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tếthị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Khi nói đến nền kinh tế thị trường thì lạmphát là một vấn đề mang tính tất yếu và muốn được hưởng những lợi ích về vật chất mànền kinh tế thị trường có thể mang lại thì chúng ta phải khắc phục và giải quyết cho đượcvấn để lạm phát
Lạm phát gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng như công nhân đình công đòi tănglương, chi phí sản xuất tăng, giá nguyên liệu tăng đột biến,
Trong sự nghiệp phát triển kinh tế, lạm phát nổi lên là một vấn đề đáng quan tâm.Cùng với sự phát triển kinh tế đa dạng, phong phú thì nguyên nhân dẫn đến lạm phátcũng phức tạp hơn Trong nền kinh tế tăng trưởng nhanh của nước ta, nguy cơ tái lạmphát cao luôn thường trực, mà nước ta phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng
Trang 2xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết của nhà nước thì việc nghiên cứu, tìm hiểu nguyên nhân
và đưa ra các biện pháp khắc phục lạm phát có đóng góp to lớn trong sự nghiệp phát triểncủa đất nước
Trong giai đoạn 2010 – 2020, tỷ lệ lạm phát của Việt Nam có sự thay đổi mạnh mẽ
từ 2 con số trong năm 2011 xuống lạm phát của 1 con số và giữ ổn định ở mức 4% tronggiai đoạn 2016 – 2020 Tuy nhiên tình hình dịch bệnh diễn ra nghiêm trọng trong năm
2021 – 2022 nên giá nguyên liệu đầu vào cho sản xuất, giá cước vận chuyển tăng cao.Điều đó khiến cho áp lực lạm phát tăng cao Tình hình lạm phát năm 2021 và nhữngtháng đầu năm 2022 đã và đang có nhiều diễn biến phức tạp với sự dự đoán khác nhau và
có nhiều biến động do ảnh hưởng của tình hình dịch bệnh
Tình hình lạm phát ở Việt Nam hiện nay là một chủ đề cần phải đưa ra bàn luận ,nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn, từ đó có những giải pháp can thiệp một cách linhhoạt, hiệu quả ổn định vi mô nền kinh tế nước ta trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế
Vì vậy nghiên cứu lạm phát ở nước ta đang là một vấn để cấp thiết hiện nay
Từ những lí do trên nên em chọn đề tài: “Tình hình lạm phát ở Việt Nam hiện nay.Thực trạng và giải pháp chính sách”
2. Mục đích nghiên cứu:
Đề tài này nhằm mục đích phân tích những nguyên nhân và diễn biến thực tiễn vềlạm phát của Việt Nam giai đoạn năm 2020 - 2022, những tác động của lam phát đến nềnkinh tế xã hội, những giải pháp kiểm chế lạm phát ổn định và phát triển kinh tế quốc gia,đồng thời đưa ra những dự báo về tình hình lạm phát trong thời gian tới
3. Đối tượng nghiên cứu:
Xuất phát từ lý do trên, để tài tập trung nghiên cứu các vấn để sau:
- Tìm hiểu một số lý luận chung về lạm phát như khái niệm, phân loại, nguyênnhân, các tác động củalạm phát,
- Khái quát thực trạng lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2020 - 2022
- Dựa trên tình hình lạm phát trong giai đoạn này đưa ra những nguyên nhân, cácgiải pháp kiểm chế đồng thời xem xét hiệu quå của chính sách kiếm chế lạm pháttác động như thế nào đối với nền kinh tế
4. Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng, nguyên nhân và tác động lạm phát ở ViệtNam giai đoạn 2020 – 2022 và hiệu quả của chính sách kiềm chế lạm phát của chính phů
Trang 35. Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng các phương pháp sau để nghiên cứu về lạm phát:
- Phương pháp tổng hợp
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp đối chiếu
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Phương pháp thống kê
6. Tình hình nghiên cứu:
Trong thời gian gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thế giới thì lạmphát đã và đang trở thành một vấn đề mang tính thời sự cấp bách đối với nhiều quốc gia.Lạm phát trong thời kì nào thì cũng luôn mang cùng một bản chất tuy nhiên trong mỗimột thời kì khác nhau của nền kinh tế thì lạm phát lại có những biểu hiện mới và cónhững nguyên nhân mới cần phải được xem xét Vì vậy tuy đã có rất nhiều công trìnhnghiên cứu khoa học về lạm phát nhưng tôi nghĩ việc tiếp tục nghiên cứu về vấn đề "lạmphát ở Việt Nam" là rất cần thiết và mang tính cấp thiết hiện nay, từ đó giúp đưa ra đượcnhững giải pháp nhằm giải quyết tình trạng lạm phát, giúp cho nền kinh tế phát triển vàtăng trưởng một cách bền vững
7. Hướng đóng góp của đề tài:
Từ việc nghiên cứu các giai đoạn lạm phát từ 2020 đến nay để có cái nhìn tổng quáthơn về lạm phát ở Việt Nam qua đó đánh giá hiệu quả của các chính sách mà chính phủđưa ra từ đó những đề xuất những giải pháp nhằm kiểm soát và kiềm chế sự gia tăng tỷ lệlạm phát trong thời gian tới
Trang 4CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ LẠM PHÁT
1 Khái niệm:
Lạm phát được định nghĩa là sự gia tăng liên tục trong mức giá chung Điều nàykhông nhất thiết có nghĩa giá cả của mọi hàng hóa và dịch vụ đồng thời phải tăng lên theocùng một tỷ lệ, mà chỉ cần mức giá trung bình tăng lên Một nền kinh tế vẫn có thể trảiquan lạm phát khi giá của một số hàng hóa giảm ,nếu như giá cả của các hàng hóa và dịch
vụ khác tăng đủ mạnh
Lạm phát cũng có thể được định nghĩa là sự suy giảm sức mua trong nước của đồngnội tệ Trong bối cảnh lạm phát, thì một đơn vị tiền tệ chỉ có thể mua được ngày càng íthàng hóa và dịch vụ hơn Hay nói cách khác, khi có lạm phát, chúng ta sẽ phải chi ngàycàng nhiều đồng nội tệ hơn để mua một lượng hàng hóa và dịch vụ cố định
Nếu thu nhập bằng tiền không theo kịp tốc độ trượt giá, thì thu nhập thực tế, tức làsức mua của thu nhập bằng tiền sẽ giảm Một điều quan trọng mà chúng ta cần nhận thức
là lạm phát không chỉ đơn thuần là sự gia tăng của mức giá mà đó phải là sự gia tăng liêntục trong mức giá Nếu như chỉ có một cú sốc xuất hiện làm tăng mức giá, thì dường nhưgiá cả chỉ đột ngột bùng lên rồi lại giảm trở lại mức ban đầu ngay sau đó Hiện tượngtăng giá tạm thời như vậy không được gọi là lạm phát
8. Đặc điểm của lạm phát
Lạm phát không phải một sự kiện ngẫu nhiên Sự tăng giá cả của hiện tượng này bắtđầu và tăng liên tục, đột ngột Tuy nhiên cũng có một vài trường hợp sự tăng giá đột ngộtkhông phải là lạm phát mà là sự biến động giá tương đối Hiện tượng này chỉ xảy ra khivấn đề cung, cầu không ổn định trong một thời gian ngắn Lạm phát là sự ảnh hưởngchung của tất cả các hàng hóa và dịch vụ của một nền kinh tế chứ không phải riêng mộtmặt hàng nào cả Biến động giá tương đối chỉ là một hoặc hai hàng hóa cố định Lạmphát là hiện tượng lâu dài, ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế của một quốc giahoặc khu vực trong vài năm liền Điều này khiến các quốc gia tiến hành các vấn đề đolường hằng năm để có thể hạn chế lạm phát thấp nhất có thể
9. Phân loại lạm phát
3.1 Căn cứ theo định lượng
Lạm phát được chia thành 3 loại :
- Lạm phát vừa phải: được đặc trưng bằng giá cả tăng chậm và có thể dự đoán được
Tỷ lệ lạm phát hàng năm là một chữ số Khi giá tương đối ổn định, mọi người tin
Trang 5tưởng vào đồng tiền, họ sẵn sàng giữ tiền vì nó hầu như giữ nguyên giá trị trongvòng một tháng hay một năm
- Lạm phát phi mã: tỷ lệ tăng giá trên 10% đến < 100% được gọi là lạm phát 2 hoặc
3 con số Đồng tiền mất giá nhiều, lãi suất thực tế thường âm, không ai muốn giữtiền mặt mọi người chỉ giữ lượng tiền tối thiểu vừa đủ cần thiết cho việc thanhtoán hằng ngày
- Siêu lạm phát : tỷ lệ tăng giá khoảng trên 1000% /năm Đồng tiền gần như mất giáhoàn toàn Các giao dịch diễn ra trên cơ sở hàng đổi hàng tiền không còn làm đượcchức năng trao đổi
3.2 Căn cứ theo định tính
Lạm phát có 2 loại:
- Lạm phát dự kiến: Là loại lạm phát xuất hiện do yếu tố tâm lý, dự đoán của các cánhân về tốc độ tăng giá trong tương lai và lạm phát trong quá khứ Lạm phát dựkiến ảnh hưởng không lớn và chỉ tác động điều chỉnh chi phí sản xuất
- Lạm phát không dự kiến: Là loại lạm phát xuất hiện do các cú sốc từ bên ngoài vàcác tác nhân trong nền kinh tế không dự kiến được dẫn đến bị bất ngờ
3.3 Nguyên nhân gây ra lạm phát
Có rất nhiều nguyên nhân gây ra lạm phát, trong đó cơ bản có các nguyên nhân sauđây:
- Lạm phát do cầu kéo
Lạm phát do cầu kéo có nghĩa là khi nhu cầu của thị trường về một mặt hàng nào đótăng lên, sẽ kéo theo giá cả của mặt hàng đó cũng tăng theo Điều này khiến giá cả củanhiều mặt hàng khác cũng “leo thang” Giá trị của đồng tiền vì thế bị mất giá, người tiêudùng phải chi nhiều tiền hơn để mua một hàng hóa hoặc sử dụng một dịch vụ Ở ViệtNam ví dụ điển hình cho tình trạng lạm phát do cầu kéo có thể kể đến như giá xăng tănglên kéo theo giá cước taxi tăng lên, giá thịt lợn tăng, giá nông sản tăng
- Lạm phát do chi phí đẩy
Chi phí đẩy của các doanh nghiệp bao gồm tiền lương, giá cả nguyên liệu đầu vào,máy móc, thuế… Khi giá cả của một hoặc vài yếu tố này tăng lên thì tổng chi phí sảnxuất của các xí nghiệp cũng tăng lên, điều này khiến doanh nghiệp buộc phải tăng giáthành sản phẩm nhằm bảo toàn lợi nhuận Và cuối cùng dẫn đến mức giá chung của toànthể nền kinh tế tăng lên
- Lạm phát do cơ cấu
Trang 6Với các ngành kinh doanh có hiệu quả, doanh nghiệp tăng dần tiền công “danhnghĩa” cho người lao động Còn có những nhóm ngành kinh doanh không hiệu quả nhưngdoanh nghiệp vẫn buộc phải tăng tiền công cho người lao động.
Tuy nhiên, vì những doanh nghiệp này kinh doanh kém hiệu quả nên khi phải tăngtiền công cho người lao động, các doanh nghiệp này buộc phải tăng giá thành sản phẩm
để đảm bảo mức lợi nhuận và làm phát sinh lạm phát
- Lạm phát do cầu thay đổi
Khi thị trường giảm nhu cầu tiêu thụ về một mặt hàng nào đó, trong khi lượng cầu vềmột mặt hàng khác lại tăng lên Nếu thị trường có người cung cấp độc quyền và giá cả cótính chất cứng nhắc, thì mặt hàng mà lượng cầu giảm vẫn không giảm giá Trong khi đómặt hàng có lượng cầu tăng thì lại tăng giá Kết quả là mức giá chung tăng lên, dẫn đếnlạm phát
- Lạm phát do xuất khẩu
Khi xuất khẩu tăng, dẫn tới tổng cầu tăng cao hơn tổng cung, khi đó sản phẩm đượcthu gom cho xuất khẩu khiến lượng hàng cung cho thị trường trong nước giảm khiến tổngcung trong nước thấp hơn tổng cầu Khi tổng cung và tổng cầu mất cân bằng sẽ nảy sinhlạm phát
10. Lạm phát trong ngắn hạn
Trong ngắn hạn, các nhân tố tiền tệ, lạm phát trong quá khứ, thâm hụt ngân sách, tỷgiá, tín dụng là những nhân tố góp phần gây sức ép lạm phát Các biến động tách rời mốiquan hệ PPP khỏi xu hướng dài hạn có ý nghĩa thống kê nhưng giá trị vẫn rất nhỏ chứng
tỏ tác động của nó đối với lạm phát là rất nhỏ Tuy nhiên, những thay đổi trong tốc độtăng của chỉ số giá bán của người sản xuất PPI không có tác động tới lạm phát trong ngắnhạn Mặt khác, lạm phát của ba tháng trước lại có tác động mạnh tới PPI chứng tỏ rằngsau một độ trễ nhất định các doanh nghiệp điều chỉnh lại giá bán khi thấy CPI tăng lên.Trong ngắn hạn, tốc độ tăng cung tiền có tác động lớn hơn và dài hơn (nhưng vẫn là tác
Trang 7động nhỏ) lên PPI hơn là lên lạm phát và điều tương tự cũng đúng đối với tín dụng Điềunày ngụ ý rằng các chính sách tiền tệ và tín dụng có tác động lớn hơn đối với nền kinh tếthực hơn là đối với lạm phát Lạm phát chủ yếu phụ thuộc vào kỳ vọng của người dân.Đồng thời, những biến động ngắn hạn trong lãi suất cũng có tác động nhanh hơn, nhưngnhỏ hơn đối với lạm phát hơn so với tác động của cung tiền Tỷ giá cũng có tác động lênlạm phát Khi tỷ giá tăng, đồng nội tệ thấp giá thì có lợi cho xuất khẩu, có tác động làmgia tăng lạm phát Khi tỷ giá giảm, đồng nội tệ lên giá thì có lợi cho nhập khẩu, có tácđộng làm giảm lạm phát Do đó, tỷ giá có biến động cùng chiều với lạm phát điều này là
dễ hiểu vì hành vi định giá của doanh nghiệp thường cứng nhắc hơn do cần phải có thờigian từ khi đầu vào được nhập khẩu cho đến khi sản phẩm được sản xuất và bán ra trênthị trường Những thay đổi trong thâm hụt ngân sách cộng dồn không có tác động đếnlạm phát trong ngắn hạn Phân rã phương sai để phân biệt tác động của các giá trị trongquá khứ của mỗi biến với tác động của các biến khác đến biến động của từng biến chúngtôi tiến hành phân rã phương sai theo phương pháp Recursive Choleski của tiến Kết quảcho thấy trong ngắn hạn (3 tháng) các giá trị trong quá khứ chiếm hơn 80% biến độngcủa lạm phát cũng như hầu hết các biến khác Khi xem xét riêng trường hợp của lạmphát, chúng tôi có thể thấy rằng các cú sốc đối trong quá khứ của hầu hết các biến (trừlạm phát) có vai trò rất nhỏ đối với lạm phát hiện tại trong ngắn hạn Sốc của PPI chỉchiếm trên 5% dao động trong lạm phát sau 4 tháng và sốc của tín dụng sau 5 tháng Tácđộng của sốc đến cung tiền cũng như lãi suất giữ ở mức thấp trong vòng ít nhất 6 thángchứng tỏ chính sách tiền tệ phải mất khá nhiều thời gian để có tác động đến lạm phát.Đồng thời lạm phát cũng phản ứng mạnh hơn vài lần đối với sự thay đổi trong lãi suất sovới thay đổi trong cung tiền
Hàm phản ứng đo mức độ nhạy cảm của lạm phát với các cú sốc từ các biến trong
mô hình sử dụng phương pháp phân rã Choleski Cho thấy các cú sốc làm tăng cung tiềnthường phải mất 5-6 tháng mới có tác dụng đáng kể đến lạm phát Sốc vào tỷ giá và lãisuất không có nhiều tác động đến lạm phát trong ngắn hạn Lạm phát bất ngờ tăng lên sẽdẫn đến PPI và lãi suất ngắn hạn tăng lên, cung tiền và thâm hụt ngân sách tạm thời giảmxuống và VND cũng có sức ép mất giá Trong khi tác động của lạm phát lên PPI kéo dàihơn một năm thì sự giảm sút của cung tiền và thâm hụt ngân sách chỉ kéo dài từ 6-8tháng Những phản ứng chúng tôi thấy được từ cú sốc lạm phát là sự thắt chặt cung tiền
và giảm chi tiêu chính phủ trong vòng 6-8 tháng Mức chuyển tỷ giá vào lạm phát là đáng
kể trong ngắn hạn với việc phá giá dẫn đến giá cả tăng lên trong khi thâm hụt ngân sáchcộng dồn không có ảnh hưởng nhiều đến lạm phát Điều này không có nghĩa là thâm hụtngân sách hoàn toàn không có ảnh hưởng đến lạm phát Nguyên nhân của điều này là doviệc tài trợ ngân sách thường có hai tác ñộng trái chiều Một mặt, tài trợ ngân sách bằngviệc gia tăng vay nợ của Chính phủ làm tăng lãi suất do nhu cầu vay cao hơn Điều nàycũng tương tự như chính sách tiền tệ thắt chặt và do đó góp phần giảm phần nào lạmphát Mặt khác, tài trợ ngân sách thông qua việc tăng cung tiền (nếu có) cũng tương tự
Trang 8như chính sách tiền tệ mở rộng và gây áp lực lạm phát Hai tác động trái chiều này làmgiảm thậm chí xóa bỏ ảnh hưởng của nhau đối với lạm phát.
Thị trường không hoàn hảo do các cứng nhắc, do quyền lực/cấu trúc thị trường (nhưđộc quyền ñơn và độc quyền nhóm) và do đầu cơ có thể làm tăng chi phí giao dịch, đẩygiá lên cao, giữ chúng ở mức cao và thay đổi kỳ vọng về lạm phát, từ đó tăng cầu về tiền
Do đó, thị trường không hoàn hảo mặc dù là một yếu tố phía cung cũng có thể tác độngđến phía cầu Những méo mó của thị trường dưới dạng sự cứng nhắc danh nghĩa của giáđôi khi có thể giúp làm giảm sự biến động của giá trong ngắn hạn Những méo mó của thịtrường dưới dạng cấu trúc thị trường độc quyền với độc quyền nhóm có thể gây ra việcđôn giá lên mức cao và chuyển thành lạm phát cao hơn
Trong ngắn hạn tín dụng cũng có vai trò nhất định đối với tăng trưởng kinh tế,nhưng ảnh hưởng của tín dụng đối với lạm phát là lớn hơn Một số nghiên cứu gần đây vềvai trò của tín dụng ngân hàng đối với nền kinh tế và ảnh hưởng của nó đến CPI nhữngnghiên cứu này chỉ ra rằng, cũng với sự phát triển của thị trường vốn, sự giao lưu kinh tếquốc tế ngày càng gia tăng thì vai trò của tín dụng ngân hàng đối với tăng trưởng kinh tế
sẽ giảm dần Mặt khác, theo kết quả của mô hình SVAR đánh giá tác động của cú sốc tíndụng đến sản lượng , lạm phát cho thấy, tín dụng tăng 1,6% sẽ làm tăng mức sản lượng là0,24% , lạm phát là 0,35% với độ chễ là 24 tháng (Việt Hà 2006) Như vậy, có thể thấyvai trò của tín dụng đối với tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam vẫn quan trọng, nhưng đang
có xu hướng giảm dần và ảnh hưởng của tín dụng đến lạm phát là lớn hơn đến tăngtrưởng
Để tăng trưởng kinh tế bền vững, kiểm soát lạm phát ở mức sát mục tiêu và ổn định
là rất cần thiết Vì vậy, trong bối cảnh hiện nay, khi mà CPI còn chưa ổn định, để hỗ trợtăng trưởng kinh tế, CSTT hướng vào mục tiêu kiểm soát lạm phát sẽ hữu hiệu hơn làthông qua tăng trưởng tín dụng để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn Hạ thấpmức lạm phát và duy trì ổn định là điều kiện quan trọng để ổn định lãi suất thị trường ởmức thấp, qua đó kích thích đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng
11. Lạm phát trong dài hạn
Trong dài hạn mức giá chung sẽ điều chỉnh về mức mà tại đó cầu tiền bằng cungtiền Nếu mức giá cao hơn mức cân bằng mọi người sẽ muốn nắm giữ nhiều tiền hơn vìthế mức giá cân bằng sẽ giảm để cân bằng cung và cầu tiền Nếu mức giá thấp hơn mứcgiá cân bằng mọi người sẽ muốn nắm giữ ít tiền hơn và mức giá phải tăng để cân bằngcung và cầu tiền Điểm cân bằng cung và cầu tiền quyết định giá trị của tiền và mức giá Khi một nền kinh tế gia tăng lượng tiền tức là cung tiền tăng lên, lượng tiền mà mọingười có vượt mức cầu tiền của họ nên xảy ra tình trạng dư cung tiền Mọi người sẽ cốgắng giải quyết tình trạng này bằng nhiều cách khác nhau Họ có thể sử dụng tiền đó đểmua hàng hóa dịch vụ, cho người khác vay bằng cách mua trái phiếu hay gửi tiết kiệm
Trang 9ngân hàng dẫn đến tiền dự trữ tăng lên nên làm giảm lãi suất Khi lãi suất thấp người ta
có xu hướng nắm trong tay nhiều tiền hơn khuyến khiến các hộ gia đình tiêu dùng nhiềuhàng hóa dịch vụ hơn , khuyến khích các công ty, doanh nghiệp các nhà đầu tư đầu tưnhiều hơn, Khi đó giá của các loại hàng hóa dịch vụ tăng lên làm giá trị của tiền giảmxuống gây ra lạm phát
Nếu lượng cung tiền không tiếp tục tăng và giữ ở mức ổn định thì tỷ lệ lạm phátcũng sẽ không tiếp tục tăng do có sự điều chỉnh lượng cung và cầu tiền về trạng thái cânbằng và tất nhiên tỷ lệ lạm phát và điểm cân bằng sẽ không quay trở lại vị trí cũ
Trong kinh tế, vòng quay của tiền nói đến tốc độ mà một tờ tiền di chuyển quayvòng trong nền kinh tế từ ví của người này sang ví của người khác và phương trình sốlượng cho ta biết khi có sự gai tăng lượng tiền trong nền kinh tế thì phải được phản ánhbằng một trong ba biến số là mức gia phải tăng, lượng sản lượng phải tăng và vòng quaycủa tiền phải giảm Nhưng trong nhiều trường hợp vòng quay của tiền tương đối ổn địnhnên nó chỉ tạo ra sự thay đổi cùng tỷ lệ trong giá trị sản lượng danh nghĩa Sản lượnghàng hóa và dịch vụ của nền kinh tế được quyết định bởi cung của các yếu tố sản xuấtnhư lao động, vốn vật chất, vốn nhân lực, nguồn lực tự nhiên và công nghệ sản xuất, nênsản lượng là không thay đổi bởi vì tiền có tính trung lập Nên khi cung tiền tăng thì sẽ tạo
ra nhưng thay đổi trong giá trị sản lượng danh nghĩa và được phản ánh trong mức giá Khi nói đến tính trung lập của tiền ( hay còn được gọi là tính trung tính của tiền lệthì ta biết nó được định nghĩa là trong dài hạn sự thay đổi lượng cung tiền chỉ ảnh hưởngđến các biến số danh nghĩa và không ảnh hưởng đến các biến số thực Biến danh nghĩa làcác biến được đo lường bằng đơn vị tiền tệ và biến thực được đo lường bằng các đơn vịvật chất Với chức năng đơn vị tính toán tiền là thước đo chúng ta sử dụng để đo lườngcác giao dịch kinh tế Khi ngân hàng trung ương tăng gấp đôi lượng tiền , mức giá cũngtăng gấp đôi và giá trị của đơn vị tính toán giảm còn một nửa, tiền đơn thuần chỉ là thước
đo nên thay đổi gía trị của nó sẽ không có tác động thực Các biến thực như sản lượng ,việc làm , tiền lượng thực và lãi suất thực không đổi
Tiền có tính trung lập trong dài hạn nên một sự thay đổi trong tăng trưởng lượngtiền sẽ không ảnh hưởng đến lãi suất thực Hơn hết lãi suất thực là một biến số thực nên
nó không bị ảnh hưởng vì thế lãi suất danh nghĩa sẽ phải điều chỉnh theo tỷ lệ 1:1 với tỷ
lệ lạm phát Khi đó ta nói khi ngân hàng trung ương tăng lượng tiền thì cả tỷ lệ lạm phát
và lãi suất danh nghĩa tăng cùng tỷ lệ trong dài hạn và được gọi là hiệu ứng Fisher Hiệuứng này được áp dụng trong dài hạn và không nhất thiết phải đúng trong ngắn hạn, đượcđiều chỉnh theo lạm phát kỳ vọng biến động theo tỷ lệ lạm phát thực tế trong dài hạn Mặt khác, tốc độ điều chỉnh từ các biến động phía cung có tác động lớn hơn (dù vẫnnhỏ) lên lạm phát Mặc dù cần có những kiểm định thực nghiệm cụ thể hơn với các sốliệu như tiền lương và chi phí sản xuất nhưng việc khuyến khích tăng trưởng kinh tế
Trang 10thông qua gia tăng năng suất lao động và tăng sản lượng có tác động tích cực hơn trongviệc kiểm soát lạm phát trong dài hạn so với các biện pháp tiền tệ và phi tiền tệ.
CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1. Thực trạng lạm phát của Việt Nam năm 2020:
Năm 2020 là một năm biến động khó lường, lạm phát tăng cao ở những tháng đầunăm, việc nguồn cung một số mặt hàng thực phẩm thiết yếu, đặc biệt là nguồn cung thịtlợn giảm do dịch bệnh tả lợn Châu Phi đã đẩy giá nhóm thực phẩm tăng cao; ở chiềungược lại, do ảnh hưởng của dịch Covid-19, nhu cầu tiêu dùng nhiên liệu giảm nên giáxăng dầu năm 2020 giảm khá sâu Cùng với việc phối hợp chặt chẽ và linh hoạt trongcông tác điều hành giá các mặt hàng do nhà nước quản lý và việc chỉ đạo triển khai tốtcông tác bình ổn thị trường hàng hóa nên về cơ bản diễn biến lạm phát năm 2020 tươngđối sát với dự báo từ đầu năm, nằm trong kịch bản CPI tăng thấp.Lạm phát năm 2020chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi dịch bệnh Đà tăng cao chỉ số giá tiêu dùng (CPI) hằngtháng bắt đầu từ tháng 10/2019 (nguy cơ lạm phát cao quay trở lại) chỉ kéo dài đến tháng01/2020, mà chủ yếu do nhu cầu tăng cao dịp Tết đã bị chặn đứng từ tháng 02/2020 cùngthời điểm làn sóng thứ nhất dịch bệnh Covid-19 bùng phát ở Việt Nam Thị trường tiêudùng gần như đóng băng khiến cho CPI hằng tháng sụt giảm liên tiếp 4 tháng (từ tháng
02 đến tháng 5/2020), thậm chí sụt giảm kỷ lục tới 1,54% vào tháng 4/2020 Tổng mứcbán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 4/2020 giảm 20,5% so với thángtrước và giảm 26% so với cùng kỳ năm 2019 CPI tháng 6/2020 đột ngột tăng cao 0,66%
do giai đoạn cách ly xã hội chấm dứt và thị trường bắt đầu có dấu hiệu phục hồi Tổngmức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 6/2020 đã tăng 6,2% so vớitháng trước và tăng 5,3% so với cùng kỳ năm trước
Tuy nhiên, làn sóng Covid thứ hai bùng nổ đã khiến cho thị trường một lần nữa hạnhiệt, theo đó, CPI hằng tháng gần như không thay đổi suốt từ tháng 8/2020 đến tận cuốinăm Nói cách khác, giá cả đã đóng băng suốt cả năm 2020 ngoại trừ đột biến tháng6/2020 mà nguyên nhân chủ yếu được cho là do giá xăng dầu tăng cao 3 đợt liên tiếp sauchuỗi giảm kéo dài kể từ Tết và giá thịt lợn tiếp tục tăng trong những ngày đầu tháng 6 CPI tháng 12/2020 chỉ tăng 0,19% so với cùng kỳ năm 2019 chứng tỏ mặt bằng giá
cả và lạm phát năm 2020 hầu như không có biến động nào đáng kể, thậm chí tương tựtrạng thái suy trầm giai đoạn 1999-2000 khi tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp kỷ lục (năm1999) đi đôi với lạm phát thấp (0,1% so cuối kỳ) Lạm phát năm 2020 thể hiện rõ rệt yếu
tố cầu kéo và thực tế năm 2020, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùngchỉ tăng 2,6% so với năm 2019 và nếu loại trừ yếu tố giá thì giảm tới 1,2%, trong khinăm 2019 tăng 9,5% Vai trò dẫn dắt lạm phát của yếu tố cầu kéo càng mạnh khi chỉ sốgiá sản xuất công nghiệp năm 2020 giảm 0,6% còn dịch vụ giảm 0,73%, chỉ có giá sản
Trang 11xuất nông nghiệp tăng 8,24% trong khi chỉ số giá xuất khẩu giảm 1,32% và chỉ số giánhập khẩu cũng giảm 0,59%.
Nếu chỉ nhìn vào con số CPI bình quân năm 2020 tăng 3,23% so với bình quân năm
2019 để cho rằng lạm phát năm 2020 cao hơn so với con số tương ứng 2,79% của năm
2019 là sai lầm, vì mặt bằng giá cao năm 2020 được thiết lập trên nền giá tăng vọt đã tạo
ra trong giai đoạn từ tháng 10/2019 đến tháng 01/2020 nhưng hầu như đứng yên suốt 11tháng còn lại của năm 2020 do yếu tố tăng mạnh giá thực phẩm nói chung, giá thịt lợnnói riêng không còn, trong khi giá hàng loạt hàng hóa và dịch vụ khác không nhữngkhông tăng mà còn giảm, thậm chí giảm mạnh dưới tác động của Covid-19 Nói cáchkhác, lạm phát cao biểu hiện bởi CPI bình quân kỳ năm 2020 là hệ quả của CPI tăng vọt
3 tháng cuối năm 2019 và tháng đầu tiên năm 2020, còn thực tế 2020 là năm thiểu phátchứ không phải lạm phát
Lạm phát cao cục bộ 4 tháng như đã nói ở trên không bắt nguồn từ nguyên nhân tiền
tệ Đến lượt mình, tiền tệ cũng không phải là nguyên nhân gây ra tình trạng thiểu phátnăm 2020 khi tính đến ngày 21/12/2020, tổng phương tiện thanh toán tăng 12,56% so vớicuối năm 2019 (năm 2019 tăng 12,1%) và huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng12,87% (năm 2019 tăng 12,48%), còn tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 10,14%(năm 2019 tăng 12,14%) trong khi tốc độ tăng GDP năm 2020 chỉ có 2,91% (năm 2019tới 7,02%) Lạm phát cơ bản tháng 12/2020 tăng 0,99% so với cùng kỳ năm 2019 và lạmphát cơ bản bình quân năm 2020 tăng 2,31% so với bình quân năm trước (trong khi lạmphát cơ bản tháng 12/2019 tăng 2,78% so với cùng kỳ năm 2018, bình quân năm 2019tăng 2,01% so với bình quân năm trước) Hơn nữa, chỉ số giá USD tháng 12/2020 cũnghầu như không thay đổi cả tính theo cùng kỳ hay bình quân cả năm trong khi dự trữ ngoạihối tăng mạnh và thặng dư cán cân thương mại tới 19,1 tỷ USD, điều này càng chứng tỏhiện tượng thiểu phát là có thật và có thể song hành với dịch bệnh Covid-19 trong cả năm
2021 nếu không có những biện pháp kích thích lạm phát hợp lý
2. Thực trạng lạm phát của Việt Nam năm 2021:
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê:
- So với cùng kỳ năm trước, CPI tháng 9 tăng 2,06%; CPI bình quân 9 tháng năm
2021 tăng 1,82% so với cùng kỳ năm trước, mức tăng thấp nhất kể từ năm 2016.Lạm phát cơ bản 9 tháng tăng 0,88%
- CPI tháng 10/2021 ước giảm 0,1%-0,15%; bình quân 10 tháng ước tăng 1,83% so cùng kỳ năm trước, lạm phát cơ bản 10 tháng ước tăng 0,82%-0,86%
1,81% CPI tháng 12/2021 so với tháng 12/2020 tăng khoảng 3,02%1,81% 3,28%
- Trong năm 2021, trên cơ sở đánh giá dự báo xu hướng các mặt hàng quan trọngthiết yếu, kết hợp với đánh giá về lạm phát cơ bản của Ngân hàng Nhà nước, BộTài chính đưa ra dự báo về lạm phát cả năm 2021 cơ bản được kiểm soát ở mức
Trang 12thấp, đảm bảo chỉ tiêu do Quốc hội đề ra Theo đó, dự báo CPI bình quân năm
2021 so với năm 2020 tăng khoảng 2,07%-2,18%
Chỉ số giá nhóm lương thực tháng 12/2021 tăng 0,36% so với tháng trước, trong đóchỉ số giá nhóm gạo tăng 0,39% (khu vực thành thị tăng 0,29%; khu vực nông thôn tăng0,46%)
Giá thực phẩm tháng 12/2021 tăng 0,15% so với tháng trước do một số mặt hàngsau:
- Giá thịt gia cầm tươi sống tăng 0,27% so với tháng trước, trong đó giá thịt gà tăng0,29%; thịt gia cầm khác tăng 0,24%;
- Giá thịt hộp và thịt chế biến khác lần lượt tăng 0,6% và 0,11% do ảnh hưởng dịchCovid-19 kéo dài, các cơ sở chế biến thực phẩm bị thiếu hụt nhân công lao động
và nguyên liệu sản xuất nên tăng giá bán
- Dầu mỡ ăn và chất béo khác tăng 1,48%, trong đó dầu thực vật và mỡ động vậttăng lần lượt 1,55% và 1,21% so với tháng trước
- Giá thủy sản tươi sống tăng 0,45% và thủy sản chế biến tăng 0,28% so với thángtrước do hoạt động đánh bắt thủy hải sản gặp khó khăn trong mùa mưa bão dẫnđến nguồn cung hạn chế
- Chỉ số giá nhóm đồ uống và thuốc lá tháng 12/2021 tăng 0,2% so với tháng trước,trong đó giá thuốc lá tăng 0,03%; giá rượu các loại tăng 0,39%; giá bia tăng 0,26%
do nhu cầu tiêu dùng của người dân tăng vào thời điểm cuối năm và giá đô la Mỹtăng
- Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,57% so với tháng trước, làm CPI chung tăng0,01 điểm phần trăm, do giá sắt thép, xi măng tăng và nhu cầu sửa chữa, bảodưỡng nhà ở tăng vào dịp cuối năm
- Chỉ số giá nhóm giáo dục tháng 12/2021 giảm 0,43% so với tháng trước, tác độnglàm CPI chung giảm 0,03 điểm phần trăm, trong đó dịch vụ giáo dục giảm 0,5%
do một số địa phương thực hiện miễn, giảm học phí năm học 2021-2022
- Giá vàng trong nước biến động trái chiều với giá vàng thế giới Tính đến ngày25/12/2021, bình quân giá vàng thế giới ở mức 1.787,64 USD/ounce, giảm 1,8%
so với tháng 11/2021 do đồng đô la và lợi suất trái phiếu Mỹ tăng theo kỳ vọng lãisuất Mỹ năm sau tăng lên
- Trong nước, chỉ số giá vàng tháng 12/2021 tăng 0,25% so với tháng trước; tăng1% so với tháng 12/2020; bình quân năm 2021 tăng 8,67% so với năm trước
- Đồng đô la Mỹ trên thị trường thế giới tăng trong bối cảnh lạm phát Mỹ tăng cao.Trong nước, chỉ số giá đô la Mỹ tháng 12/2021 tăng 0,84% so với tháng trước;giảm 0,58% so với tháng 12/2020; bình quân năm 2021 giảm 0,97% so với nămtrước
Trang 13CPI bình quân năm 2021 tăng do một số nguyên nhân chủ yếu sau:
- Giá xăng dầu trong nước tăng 31,74% so với năm trước (làm CPI chung tăng 1,14điểm phần trăm), giá gas tăng 25,89% (làm CPI chung tăng 0,38 điểm phần trăm);
- Giá gạo tăng 5,79% so với năm trước (làm CPI chung tăng 0,15 điểm phần trăm)
do giá gạo trong nước tăng theo giá gạo xuất khẩu, nhu cầu tiêu dùng gạo nếp vàgạo tẻ ngon tăng trong dịp Lễ, Tết và nhu cầu tích lũy của người dân trong thờigian giãn cách xã hội;
- Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 7,03% so với năm trước do giá xi măng, sắt,thép, cát tăng theo giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào (làm CPI chung tăng 0,14điểm phần trăm);
- Giá dịch vụ giáo dục tăng 1,87% so với năm trước (làm CPI chung tăng 0,1 điểmphần trăm) do ảnh hưởng từ đợt tăng học phí năm học mới 2020-2021 theo lộ trìnhcủa Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 của Chính phủ
Để đạt được kết quả trên trong khi đất nước đang hết sức khó khăn bởi tác động củadịch Covid-19 là nhờ sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ, các ngành, các cấp đã tích cựctriển khai thực hiện những giải pháp đồng bộ để ngăn chặn dịch bệnh và ổn định giá cảthị trường
3 Thực trạng lạm phát của Việt Nam những tháng đầu năm 2022 và dự đoán
tình hình lạm phát năm 2022:
Năm 2021, các yếu tố làm gia tăng áp lực lên mặt bằng giá chủ yếu là do biến độngtăng giá nguyên, vật liệu trên thế giới, chi phí vận chuyển logistics tăng cao đã tác độngđến giá thức ăn chăn nuôi, phân bón, vật liệu xây dựng; nhất là các mặt hàng nhiên liệunhư xăng dầu, khí hóa lỏng do chịu tác động từ giá thế giới tăng cao khi nhu cầu chungtrên thế giới tăng
Tuy nhiên, nhờ việc chủ động trong công tác dự báo, đánh giá tác động, xây dựngkịch bản điều hành giá và tăng cường sự phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương đãgiúp cho CPI bình quân cả năm 2021 ở mức 1,84%, tiếp tục đạt mục tiêu Quốc hội vàChính phủ đặt ra
Tháng 01/2022 là tháng giáp Tết Nguyên đán Nhâm Dần nên nhu cầu mua sắm củangười dân tăng cao, giá hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thiết yếu tăng theo quy luật tiêudùng vào dịp Tết; giá xăng dầu trong nước tăng theo giá nhiên liệu thế giới là những yếu
tố làm cho chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 01/2022 tăng 0,19% so với tháng trước (khuvực thành thị tăng 0,2%; khu vực nông thôn tăng 0,19%) Trong 11 nhóm hàng hóa vàdịch vụ tiêu dùng chính, có 9 nhóm hàng tăng giá so với tháng trước; 1 nhóm hàng giảmgiá; riêng nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giữ giá ổn định So với cùng kỳ năm trước,CPI tháng 01/2022 tăng 1,94% Trong 11 nhóm hàng tiêu dùng chính có 7 nhóm tăng giá