Đối với kiểm toán nhà nước: Thực hiện chức năng kiểm tra, xác nhận tính đúng đắn, hợp pháp của tài liệu và số liệu kế toán, báo cáo quyết toán của cơ quan nhà nước, các đơn vị sự nghiệp
Trang 1B Ộ GIAO THÔNG VẬN TẢI TRƯỜNG CAO ĐẲNG GIAO THÔNG VẬN TẢI TRUNG ƯƠNG I
TRÌNH ĐỘ CAO ĐẲNG
Ban hành theo Quyết định số 1661/QĐ-CĐGTVTTWI ngày 31/10/2017 của Hiệu trưởng Trường
Cao đẳng GTVT Trung ương I
Trang 3BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI
TRƯỜNG CAO ĐẲNG GIAO THÔNG VẬN TẢI TRUNG ƯƠNG I
Trang 4M ỤC LỤC
L ời nói đầu……… 4
Chương 1: Tổng quan về kiểm toán 1 Khái niệm kiểm toán……….5
2 Các chức năng của kiểm toán………6
3 Ý nghĩa và tác dụng của kiểm toán……… 7
4 Mục đích và phạm vi của kiểm toán……… 8
5 Các loại kiểm toán……….9
6 Kiểm toán viên………11
Chương 2: Đối tượng và các khái niệm cơ bản sử dụng trong kiểm toán 1 Đối tượng kiểm toán………14
2 Cơ sở dẫn liệu, bằng chứng kiểm toán và hồ sơ kiểm toán……….20
3 Gian lận và sai sót………26
4 Trọng yếu và rủi ro……… 27
5 Khái niệm về hoạt động liên tục……… 30
6 Hệ thống kiểm soát nội bộ……… 33
7 Chuẩn mực kế toán……… 37
Chương 3: Hệ thống các phương pháp kiểm toán 1 Khái quát hệ thống phương pháp kiểm toán………43
2 Phương pháp kiểm toán chứng từ………45
3 Phương pháp kiểm toán ngoài chứng từ……… 50
4 Kỹ thuật lấy mẫu kiểm toán……….53
Chương 4: Trình tự các bước kiểm toán 1 Mục tiêu và trình tự tổ chức công tác kiểm toán………55
2 Chuẩn mực kế toán……… 56
3 Thực hành kiểm toán……… 60
4 Kết thúc kiểm toán……… 67
Tài li ệu tham khảo……….79
Trang 5L ời nói đầu
Kiểm toán là một môn khoa học thuộc khối kiến thức chuyên ngành trong chương trình đào tạo của trường CĐ GTVTTW1 Môn học cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản mang tính lý luận, mà còn giúp sinh viên nắm được phương pháp,
thủ tục …của kiểm toán cụ thể.Giáo trình kiểm toán được xuất bản năm 1996 đã
thực sự hữu ích không những đối với sinh viên trong quá trình đổi mới nội dung chương trình đào tạo cán bộ tài chính nói chung, cán bộ kiểm toán nói riêng, mà còn thiết thực đối với cán bộ quản lý kinh tế, đặc biệt là đối với kiểm toán viên trong điều kiện hiện nay Trường CĐ GTVTTW1 đã soạn thảo giáo trình kiểm toán nhằm đáp ứng nhu cầu giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học của cán bộ giáo viên trong trường đồng thời thỏa mãn kịp thời nhu cầu của xã hội
Giáo trình bao gồm 4 chương
Chương 1: Tổng quan về kiểm toán
Chương 2: Đối tượng và các khái niệm cơ bản sử dụng trong kiểm toán
Chương 3: Hệ thống các phương pháp kiểm toán
Chương 4: Trình tự các bước kiểm toán
Trong quá trình biên soạn giáo trình không tránh được những sai sót mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp chân thành của bạn đọc để giáo trình được hoàn thiện hơn
Xin chân thành c ảm ơn
Trang 6Chương I: T ỔNG QUAN VỀ KIỂM TOÁN
1 Khái ni ệm kiểm toán
1.1 S ự cần thiết khách quan của hoạt động kiểm toán
- Hệ thống kế toán: thu thập, xử lý và cung cấp thông tin làm cơ sở cho các quyết định kinh tế
- Đối tượng sử dụng thông tin kế toán:
+ Các đối tượng bên trong doanh nghiệp
+ Các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp
Các đối tượng sử dụng thông tin, nhất là các đối tượng ở bên ngoài doanh nghiệp, có thể gặp phải những rủi ro liên quan đến thông tin, chẳng hạn nhận được thông tin sai do mâu thuẫn quyền lợi, do sự phức tạp của nghiệp vụ, do số lượng nghiệp vụ phát sinh nhiều và đa dạng
Để giải quyết vấn đề trên, cách tốt nhất là phải kiểm tra xác nhận về tính trung
thực và sự đáng tin cậy của thông tin trước khi cung cấp đến người sử dụng thông tin Việc tồn tại các cơ quan độc lập với cả ngừơi cung cấp thông tin và người sử dụng thông tin thực hiện việc kiểm tra và xác nhận về sự trung thực hợp lý, sự đáng tin cậy của thông tin kế toán là tất yếu trong nền kinh tế thị trường
1.2 Khái ni ệm về kiểm toán
Ki ểm toán là việc thu thập và đánh giá các bằng chứng về một thông tin
nh ằm xác định và báo cáo về sự phù hợp của các thông tin này với các tiêu chu ẩn được thiết lập Việc kiểm toán cần được thực hiện bởi các kiểm toán viên
đủ năng lực và độc lập
Giải thích:
- Thông tin và các tiêu chu ẩn: kiểm toán được thực hiện nhằm đi đến việc
xác định sự phù hợp giữa thông tin được kiểm toán với những tiêu chuẩn đã được thiết lập cho thông tin đó Các tiêu chuẩn được sử dụng trong kiểm toán rất đa
dạng, tùy theo thông tin cần kiểm toán Tiêu chuẩn càng rõ ràng, chặt chẽ thì việc kiểm toán càng thuận lợi và cho kết quả khách quan
- Thu th ập và đánh giá bằng chứng: Bằng chứng kiểm toán là những “chứng
Trang 7thông tin được kiểm toán KTV phải đánh giá về sự thích hợp và đầy đủ của bằng
chứng kiểm toán trước khi đưa ra ý kiến kiểm toán
- Ki ểm toán viên: KTV phải có đủ năng lực nghề nghiệp để có thể thiết kế và
thực hiện quá trình kiểm toán (chính là quá trình thu thập và đánh giá bằng chứng nói trên); KTV cần phải độc lập để các xét đoán và ý kiến kiểm toán được khách quan, không thiên lệch
2 Các ch ức năng của kiểm toán
2.1 Ch ức năng xác minh
Chức năng xác minh nhằm khẳng định mức độ trung thực của tài liệu, tính pháp lí của việc thực hiện các nghiệp vụ hay việc lập các báo cáo tài chính Xác minh là chức năng cơ bản nhất gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của hoạt động kiểm toán Bản thân chức năng này không ngừng phát triển và được thể hiện khác nhau tuỳ đối tượng cụ thể của kiểm toán
Đối với kiểm toán báo cáo tài chính, việc xác minh được thực hiện theo 2 mặt: + Tính trung thực của các con số
+ Tính hợp thức của các biểu mẫu phản ánh tình hình tài chính
Đối với các thông tin đã được lượng hoá: Thông thường, việc xác minh được
thực hiện trước hết qua hệ thống kiểm soát nội bộ có hệ thống thông tin tin cậy và
lập các bảng kê khai tài chính
Đối với các nghiệp vụ (hoạt động), chức năng xác minh của kiểm toán có thể được thực hiện bởi hệ thống ngoại kiểm hay nội kiểm Sản phẩm của hoạt động xác minh này thường là những biên bản Ở lĩnh vực này, kiểm toán hướng vào việc
thực hiện chức năng thứ hai là bày tỏ ý kiến
2.2 Ch ức năng bày tỏ ý kiến
Bày tỏ ý kiến là đưa ra ý kiến nhận xét của kiểm toán viên về tính trung thực,
mức độ hợp lí của các thông tin tài chính kế toán Chức năng bày tỏ ý kiến có thể được hiểu rộng với ý nghĩa cả kết luận về chất lượng thông tin và cả pháp lí, tư vấn qua xác minh:
Trang 8Tư vấn cho quản lí nhà nước trong việc phát hiện sự bất cập của chế độ tài chính kế toán, qua đó kiến nghị với các cơ quan quản lí nhà nước xem xét, nghiên
cứu, hoàn thiện cho phù hợp
Tư vấn cho việc quản lí của các đơn vị được kiểm toán Thông qua việc chỉ ra
những sai sót, yếu kém của hệ thống kiểm soát nội bộ, công tác quản lí tài chính,
kiểm toán viên gợi mở, đề xuất các biện pháp khắc phục hoàn thiện đối với đơn vị Trong nhiều trường hợp, thông qua kiểm toán, các tổ chức đơn vị doanh nghiệp đã
kịp thời chấn chỉnh hệ thống kiểm soát nội bộ, chế độ quản lí tài chính ở đơn vị mình Qua đó khai thác có hiệu quả hơn năng lực tài chính phát triển đơn vị
3 Ý nghĩa và tác dụng của kiểm toán
3.1 Ki ểm toán góp phần tạo niềm tin cho những người quan tâm
Kiểm toán không phải là hoạt động “tự thân” và “vị thân” Kiểm toán sinh ra từ yêu cầu của quản lí và phục vụ cho yêu cầu của quản lí Từ đó có thể thấy rõ ý nghĩa, tác dụng của kiểm toán trên nhiều mặt:
Thứ nhất, kiểm toán tạo niềm tin cho “những người quan tâm” Trong cơ chế thị trường, có nhiều người quan tâm tới tình hình tài chính và sự phản ánh của nó trong tài liệu kế toán, bao gồm:
Các cơ quan nhà nước
Các nhà đầu tư
Các nhà quản trị doanh nghiệp và các nhà quản lí khác
Người lao động
Khách hàng, nhà cung cấp và những người quan tâm khác
Có thể nói việc tạo ra niểm tin cho những người quan tâm là yếu tố quyết định
sự ra đời và phát triển của kiểm toán với tư cách là một hoạt động độc lập
3.2 Ki ểm toán góp phần hướng nghiệp vụ
Thứ hai, kiểm toán góp phần hướng dẫn nghiệp vụ và củng cố nề nếp hoạt động tài chính kế toán nói riêng và hoạt động của đơn vị kiểm toán nói chung Mọi hoạt động, đặc biệt là hoạt động tài chính, đều bao gồm những mối quan hệ đa dạng, luôn biến đổi và được cấu thành bởi hàng loạt nghiệp vụ cụ thể Tính phức
Trang 9chính với lợi ích con người Trong khi đó, thông tin kế toán là sự phản ánh của
hoạt động tài chính Ngoài việc chứa đựng những phức tạp của các quan hệ tài chính, thông tin kế toán còn là sản phẩm của quá trình xử lí thông tin bằng phương pháp kĩ thuật rất đặc thù Do đó, nhu cầu hướng dẫn nghiệp vụ và củng cố nề nếp trong quản lí tài chính càng có đòi hỏi thường xuyên và ở mức độ cao hơn
3.3 Ki ểm toán góp phần nâng cao hiệu quả và hiệu năng quản lý
Thứ ba, kiểm toán góp phần nâng cao hiệu quả và năng lực quản lí Kiểm toán không chỉ xác minh rõ độ tin cậy của thông tin mà còn tư vấn về quản lí Vai trò tư
vấn này được thấy rõ trong kiểm toán hiệu năng và hiệu quả quản lí
4 M ục đích và phạm vi của kiểm toán
4.1 M ục đích của kiểm toán
4.1.1 Đối với kiểm toán nhà nước:
Thực hiện chức năng kiểm tra, xác nhận tính đúng đắn, hợp pháp của tài liệu và
số liệu kế toán, báo cáo quyết toán của cơ quan nhà nước, các đơn vị sự nghiệp, đơn vị kinh tế nhà nước và các đoàn thể quần chúng, các tổ chức xã hội sử dụng kinh phí do ngân sách nhà nước cấp
4.1.2 Đối với kiểm toán độc lập:
Là báo cáo tài chính của doanh nghiệp Kiểm toán độc lập là người thứ ba độc
lập khách quan sẽ đưa ra lời kết luận là báo cáo tài chính của doanh nghiệp lập ra
có trung thực và hợp lý không ? Kiểm toán độc lập còn giúp các đơn vị kế toán phát hiện và chấn chỉnh kịp thời các gian lận và sai sót, phòng ngừa các sai phạm
và thiệt hại có thể xảy ra
4.1.3 Đối với kiểm toán nội bộ:
- Kiểm tra tính phù hợp, hiệu lực và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ
- Kiểm tra sự tuân thủ các nguyên tắc hoạt động, quản lý kinh doanh, chính sách chế độ tài chính, kế toán, chính sách, nghị quyết, quyết định của hội đồng
quản trị, của ban giám đốc doanh nghiệp
- Phát hiện những sơ hở, yếu kém, gian lận trong quản lý ; đề xuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống quản lý điều hành của doanh nghiệp
4.2 Phạm vi của kiểm toán
Trang 104 2.1 Đối với kiểm toán nhà nước
- Tài liệu kế toán và báo cáo quyết toán ngân sách của các đơn vị thụ hưởng ngân quỹ nhà nước hoặc ngân quỹ công
- Kiểm toán báo cáo quyết toán các công trình đầu tư XDCB thuộc vốn ngân sách cấp, các dự án, chương trình tài trợ, vay nợ thuộc chính phủ
- Kiểm toán báo cáo tài chính các doanh nghiệp nhà nước
- Kiểm toán báo cáo quyết toán các chương trình an ninh, quốc phòng, dự trữ
quốc gia
- Kiểm toán nhà nước chỉ kiểm toán theo chương trình kế hoạch kiểm toán được chính phủ phê duyệt
4.2.2 Đối với kiểm toán độc lập:
- Cung cấp dịch vụ kiểm toán theo yêu cầu của khách hàng, chủ yếu là kiểm toán báo cáo tài chính cho các công ty cổ phần và nhiều loại hình DN khác, có thể
là đối tượng kiểm toán theo luật định hoặc tự nguyện
- Thực hiện kiểm toán theo yêu cầu cho các đơn vị hành chính sự nghiệp, các đoàn thể quần chúng, các tổ chức xã hội và tổ chức quốc tế
- Cung cấp dịch vụ kế toán, tư vấn và nhiều dịch vụ khác
4.2.3 Đối với kiểm toán nội bộ:
- Kiểm toán hoạt động
- Kiểm toán tính tuân thủ
- Kiểm toán báo cáo tài chính và báo cáo kế toán quản trị
Kiểm tóan nội bộ chỉ thực hiện việc kiểm toán trong phạm vi DN và các đơn vị nội
bộ DN
5 Các lo ại kiểm toán
5.1 Phân lo ại kiểm toán theo chức năng
a Ki ểm toán báo cáo tài chính
- Là sự kiểm tra và trình bày ý kiến nhận xét về tính trung thực hợp lý của các báo cáo tài chính của một đơn vị: Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh
doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và thuyết minh BCTC
Trang 11- Tiêu huẩn để đánh giá: là các chuẩn mực, nguyên tắc kế toán, chế độ kế toán
hiện hành
- Thường được thực hiện bởi các kiểm toán viên độc lập, phục vụ cho nhà quản
lý, Nhà nước và chủ yếu là các đối tượng sử dụng thông tin ở bên ngoài đơn vị như nhà đầu tư, chủ nợ, nhà cung cấp
b Kiểm toán tuân thủ
- Là việc kiểm tra nhằm đánh giá mức độ chấp hành luật pháp hay một văn
- Là tiến trình kiểm tra và đánh giá về sự hữu hiệu và tính hiệu quả của một
hoạt động Có thể là đánh giá về một phương án sản xuất kinh doanh, một quy trình công nghệ, một cơ cấu tổ chức
- Thường được thực hiện bởi các kiểm toán viên nội bộ nhưng cũng có thể do
kiểm toán viên Nhà nước hay kiểm toán viên độc lập tiến hành
- Kết quả kiểm toán hoạt động chủ yếu phục vụ cho lợi ích của bản thân doanh nghiệp
5.2 Phân lo ại kiểm toán theo chủ đề kiểm toán
a Ki ểm toán độc lập
- Được tiến hành bởi các doanh nghiệp kiểm toán (các công ty kiểm toán độc
lập)
- Thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính, ngoài ra, cũng thực hiện kiểm toán
hoạt động hay kiểm toán tuân thủ và các dịch vụ tư vấn tài chính theo yêu cầu của khách hàng
- Báo cáo kiểm toán độc lập có tính pháp lý cao và được sử dụng chủ yếu bởi các “đệ tam nhân”
b Ki ểm toán nội bộ
Trang 12- Do các kiểm toán viên nội bộ thực hiện (đây là 1 bộ phận trong đơn vị được
tổ chức để thực hiện chuyên về nghiệp vụ này)
- Chủ yếu là thực hiện kiểm toán hoạt động và kiểm toán tuân thủ, phục vụ cho các nhà quản lý trong doanh nghiệp
- Tính độc lập không cao, kết quả kiểm toán nội bộ khó được sự tin cậy của người ngoài doanh nghiệp
c Ki ểm toán của nhà nước
- Là các loại hình kiểm toán được các kiểm toán viên của các cơ quan Nhà nước tiến hành, ví dụ: kiểm toán thuế, kiểm toán ngân sách
- Thực hiện kiểm toán tuân thủ đối với mọi đơn vị và cả kiểm toán hoạt động
đối với các đơn vị sử dụng vốn và kinh phí Nhà nước
6 Ki ểm toán viên
6.1 Khái ni ệm
Kiểm toán viên là người được cấp chứng chỉ kiểm toán viên theo quy định của pháp luật hoặc người có chứng chỉ của nước ngoài được Bộ Tài chính công nhận
và đạt kỳ thi sát hạch về pháp luật Việt Nam
Đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên bao gồm những quy tắc đạo đức để hướng dẫn cho các thành viên của một nghề nghiệp nào đó ứng xử và hoạt động
một cách trung thực, phục vụ cho lợi ích chung của nghề nghiệp và xã hội
Đạo đức nghề nghiệp của Kiểm toán viên độc lập thường bao gồm các nội
dung sau: (Theo VSA 200)
- Độc lập: Là nguyên tắc hành nghề cơ bản của kiểm toán viên Trong quá trình
kiểm toán, kiểm toán viên phải thực sự không bị chi phối hoặc tác động bởi bất kỳ
lợi ích vật chất hoặc tinh thần nào làm ảnh hưởng đến sự trung thực, khách quan và độc lập nghề nghiệp của mình
- Khách quan: kiểm toán viên phải công bằng, tôn trọng sự thật và không được thành kiến, thiên vị
- Năng lực chuyên môn và tính thận trọng: kiểm toán viên phải thực hiện
công việc kiểm toán với đầy đủ năng lực chuyên môn cần thiết, với sự thận trọng
Trang 13nhật và nâng cao kiến thức trong hoạt động thực tiễn, trong môi trường pháp lý và các tiến bộ kỹ thuật để đáp ứng yêu cầu công việc
- Tính bí m ật: kiểm toán viên phải bảo mật các thông tin có được trong quá
trình kiểm toán, không được tiết lộ cho bất cứ một thông tin nào khi chưa được phép của người có thẩm quyền, trừ khi có nghĩa vụ phải công khai theo yêu cầu
của pháp luật hoặc trong phạm vi quyền hạn nghề nghiệp của mình
- Tư cách nghề nghiệp: kiểm toán viên phải trau dồi và bảo vệ uy tín nghề
nghiệp, không được gây ra những hành vi làm giảm uy tín nghề nghiệp
- Tuân th ủ chuẩn mực chuyên môn: kiểm toán viên phải thực hiện công việc
kiểm toán theo những kỹ thuật và chuẩn mực chuyên môn đã quy định trong chuẩn
mực kiểm toán Việt Nam (hoặc chuẩn mực kiểm toán quốc tế được VN chấp nhận)
và các quy định pháp luật hiện hành
6.2 Trách nhi ệm - quyền hạn của kiểm toán viên độc lập
Theo đoạn 11 VSA 200, mục tiêu của kiểm toán báo cáo tài chính được xác
định là "… giúp cho kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến xác
nhận rằng báo cáo tài chính có được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận), có tuân thủ pháp luật liên quan và có phản ảnh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không ?"
Trên cơ sở mục tiêu đó, trách nhiệm của kiểm toán viên được xác định là "… kiểm tra, chuẩn bị và trình bày ý kiến của mình về báo cáo tài chính" và "… việc kiểm toán báo cáo tài chính không làm giảm nhẹ trách nhiệm của Giám đốc (hoặc người đứng đầu) đơn vị được kiểm toán đối với báo cáo tài chính"
Như vậy, kiểm toán viên không chịu trách nhiệm về việc phát hiện và ngăn chặn các sai phạm ở đơn vị, điều này chủ yếu thuộc trách nhiệm người quản lý đơn
vị như đã trình bày trong phần trên Trách nhiệm của kiểm toán viên chủ yếu liên quan đến việc diễn đạt ý kiến của mình trên báo cáo kiểm toán và để đưa ra ý kiến
đó, kiểm toán viên cần thiết kế và thực hiện một cuộc kiểm toán để bảo đảm hợp lý rằng báo cáo tài chính không có sai lệch trọng yếu
Ngoài ra trên góc độ pháp lý, kiểm toán viên còn có các trách nhiệm dân sự và trách nhiệm hình sự như sau:
Trang 14a) Trách nhiệm dân sự của kiểm toán viên:
- Chịu trách nhiệm đối với khách hàng
- Chịu trách nhiệm đối với các bên thứ ba có liên quan
- Chịu trách nhiệm đối với những người sở hữu chứng khoán của các công ty
cổ phần có yết giá ở thị trường chứng khoán
Do trách nhiệm dân sự thuộc phạm vi điều chỉnh của Dân luật, và thường bao gồm trách nhiệm dân sự trong hợp đồng và trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng + Trách nhiệm dân sự trong hợp đồng được hình thành do quan hệ hợp đồng
giữa kiểm toán viên và khách hàng, kể cả các bên được ràng buộc trong hợp đồng, như:
- Phát hành báo cáo kiểm toán không đúng thời hạn theo hợp đồng
- Không bảo mật những thông tin của khách hàng
- Nhận xét không xác đáng về báo cáo tài chính, nên gây thiệt hại cho khách hàng
+ Trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng là loại trách nhiệm phát sinh không do
quan hệ hợp đồng
Hiện nay, quan niệm phổ biến về trách nhiệm ngoài hợp đồng là chỉ áp dụng đối với các cổ đông và các chủ nợ, đó là những người sử dụng có thể thấy trước trong hiện tại và tương lai
b) Trách nhiệm hình sự của kiểm toán viên:
Ngoài trách nhiệm dân sự, nếu do gian lận, kiểm toán viên còn phải chịu trách nhiệm hình sự về những sai phạm của mình Tại nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, kiểm toán viên sẽ bị truy tố và Tòa Hình sự sẽ xét xử theo Luật Hình sự Hay tại Mỹ, kiểm toán viên có thể bị truy tố theo Luật Chứng khoán năm 1933, hay Luật Giao dịch chứng khoán năm 1934
* Các biện pháp để hạn chế trách nhiệm pháp lý
Để tránh hay giảm thiểu các hậu quả do kiện tụng, kiểm toán viên và tổ chức kiểm toán nên chú ý các biện pháp sau đây :
Trang 15+ Ký hợp đồng trong tất cả các dịch vụ nghề nghiệp, và có các ràng buộc rõ ràng về nghĩa vụ của từng bên để tránh mọi sự hiểu lầm có thể xảy ra, đặc biệt là trong việc khám phá những sai phạm
+ Vì các tranh chấp thường sẽ xảy ra sau khi khách hàng bị phá sản, nên phải thận trọng khi tiếp nhận khách hàng Điều này có thể hạn chế thông qua việc không tiếp nhận các khách hàng có tình hình tài chính không lành mạnh, hay được lãnh đạo bởi ban giám đốc đang có vấn đề về năng lực, hay đạo đức
+ Thực hiện đầy đủ các yêu cầu và hướng dẫn của nghề nghiệp, nhất là phải tuân thủ nghiêm ngặt các chuẩn mực kiểm toán
+ Mua đầy đủ các khoản bảo hiểm nghề nghiệp
+ Tôn trọng các chuẩn mực về kiểm tra chất lượng nghề nghiệp
Chương 2: Đối tượng và các khái niệm cuối cùng trong kiểm toán
1 Đối tượng kiểm toán
1.1 Khái quát chung về đối tượng và khách thể
Phù hợp với tính tất yếu của lịch sử và logic biện chứng, kiểm toán phải được hình thành một khoa học độc lập, kiểm toán cần phải có đối tượng riêng và hệ thống những thông tin phản ánh thực chất hoạt động và phương pháp riêng
Đối tượng kiểm toán là thực trạng tài chính cùng hiệu quả hiệu năng của các nghiệp vụ hay dự án cụ thể Cả thực trạng hoạt động tài chính cũng như hiệu năng, hiệu quả phải được thể hiện trong một đơn vi cụ thể (doanh nghiệp, xí nghiệp công cộng, đơn vị sự nghiệp, cơ quan kinh tế và hành chính) hoặc một dự án một công trình cụ thể
Trong quan hệ chủ sở hữu, các đơn vị đó thuộc sở hữu nhà nước, sở hữu tư nhân hoặc hỗn hợp Trong quan hệ phạm vi một quốc gia, các đơn vị này có thể hình thành từ nguồn đầu tư trong nước, đầu tư nước ngoài hoặc liên doanh trong và ngoài nước… Tổng hợp các tiêu thức trên có thể phân chia các đơn vị thành các khách thể kiểm toán trong quan hệ với chủ thể kiểm toán
Trang 16Thông thường, khách thể kiểm toán được phân chia trong quan hệ với chủ thể kiểm toán như sau:
+ Khách thể kiểm toán nhà nước thường bao gồm tất cả các đơn vị, cá nhân có
sử dụng nguồn ngân sách nhà nước như:
Các dự án, công trình do ngân sách đầu tư
Các doanh nghiệp nhà nước có 100% vốn ngân sách nhà nước
Các xí nghiệp công cộng thuộc sở hữu nhà nước( 100% vốn NSNN)
Các cơ quan kinh tế, quản lý của nhà nước và các đoàn thể xã hội
Các cá nhân (tài khoản cá nhân) có nguồn từ NSNN…
+ Khách thể của kiểm toán độc lập thường bao gồm:
Các doanh nghiệp và xí nghiệp tư (kể cả các công ty trách nhiệm hữu hạn) Các doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư nước ngoài
Các liên doanh các tổ chức trong và ngoài nước
Các hoạt động, các chương trình, dự án cụ thể trong đơn vị
Các cá nhân trong đơn vị
Như vậy, khách thể của kiểm toán có thể là đơn vị kế toán như các xí nghiệp,
các đơn vị sự nghiệp hoặc quản lý hay cá nhân… Song khách thể của kiểm toán cũng có thể là một công trình hay dự án… với sự tham gia của nhiều đơn vị kế toán hoặc một bộ phận của một đơn vị nào đó
Việc phân chia các khách thể trong quan hệ với chủ thể kiểm toán chỉ là những nguyên tắc và nghệ thuật tổ chức kiểm toán Trong khi đó, đối tượng kiểm toán lại không thể phân cho từng khách thể riêng biệt Đó là đối tượng chung của kiểm toán Tuỳ thuộc mục tiêu đặt ra cho từng cuộc kiểm toán của từng khách thể để xác định đối tượng trực tiếp và gián tiếp cho cuộc kiểm toán đó
Trang 17Ngoài ra khách thể được pháp luật quy định thuộc chủ thể kiểm toán này cũng
có thể tự nguyện mời chủ thể kiểm toán khác song không thay thế cho kiểm toán
đã được luật pháp quy định
Ở nước ta, khách thể kiểm toán nhà nước được quy định cụ thể trong điều 2 của “ Điều lệ tổ chức và hoạt động của kiểm toán nhà nước” (Ban hành theo Quyết định 61/TTG ngày 24/1/1995 của Thủ tướng Chính phủ) Trong quy định này, giữa khách thể và đối tượng cụ thể của kiểm toán đã được gắn chặt với nhau để đảm bảo tính chặt chẽ của văn bản quy định
Trong mỗi lần kiểm toán, một chủ thể kiểm toán được gắn với một khách thể kiểm toán để thực hiện một nhiệm vụ xác định được gọi là một cuộc kiểm toán Như vậy, khái niệm “Cuộc kiểm toán” trong thực tế đã bao gồm các yếu tố xác định:
Đối tượng kiểm toán cụ thể
Chủ thể kiểm toán xác định
Khách thể kiểm toán tương ứng
Thời hạn kiểm toán cụ thể
Cơ sở pháp lý thực hiện kiểm toán
1.2 Thực trạng hoạt động tài chính - đối tượng chung của kiểm toán
1.2.1 Khái niệm hoạt động tài chính
Hoạt động tài chính là hoạt động dùng tiền để giải quyết các mối quan hệ kinh
tế trong đầu tư, trong thanh toán trong sản xuất, trong kinh doanh và trong phân phối nhằm đạt được một lợi ích nhất định
Tiền là biểu hiện bên ngoài của hoạt động tào chính còn nội dung bên trong là các mối quan hệ kinh tế
1.2.2 Các nguyên tắc khi tiến hành hoạt động tài chính
Hoạt động tài chính phải có mục tiêu phương án kế hoạch cụ thể
Trong việc giải quyết các mối quan hệ kinh tế có liên quan đến nhiều chủ thể khác nhau, mỗi cân đối cụ thể giữa các khâu, các giai đoạn khác nhau của hoạt động này đều có những hiệu quả khác nhau về kinh tế và về xã hội Do đó, trong hoạt động tài chính phải có định hướng và cụ thể hoá bằng các mục tiêu cho từng
Trang 18thời kỳ cụ thể, ở từng công việc cụ thể Hơn nữa những định hướng này cần được lượng hoá thành những cân đối khác nhau thành những phương án cụ thể khác nhau và lựa chọn phương án tốt nhất Trong đó đặc biệt lưu ý các tương quan giữa tiền – hiện vật, giữa mục tiêu và chi phí cho việc thực hiện, giữa đầu vào và đầu ra
Hoạt động tài chính phải đảm bảo có lợi và trên cơ sở tiết kiệm
Lợi ích là mục tiêu của hoạt động tài chính Trong kinh doanh, lợi ích này là lợi nhuận thực hiện Trong lĩnh vực xã hội, lợi ích này là hiệu quả kinh tế, xã hội, là kết quả thực hiện mục tiêu của chương trình, dự án cụ thể Tronh mọi trường hợp phải đảm bảo việc tiết kiệm trên từng công việc, từng khoản chi, là nhằm hướng tới lợi ích cuối cùng, lợi ích toàn cục
Hoạt động tài chính phải đảm bảo tuân thủ pháp luật thể lệ chế độ tài chính
Giải quyết các mối quan hệ kinh tế có liên quan đến nhiều khách thể khác nhau
là nội dung của hoạt động tài chính Mặt khác, các mối quan hệ giữa các bên có liên quan đã được xác định trong pháp luật và đã được cụ thể hoá trong các chế độ tài chính cụ thể Để giải quyết tốt các mối quan hệ kinh tế, nhất thiết phải tuân thủ các chuẩn mực đã được xác định trong hệ thống pháp lý trong từng thời kỳ cụ thể Hoạt động tài chính với nội dung nêu trên là đối tượng của nhiều môn học Kiểm toán chỉ quan tâm tới thực trạng của hoạt động này, tức là xét trên bình diện hiện thực việc xử lý các quan hệ tài chính, việc bố trí, sử dụng và quản lý các nguồn lực, là hiệu quả của hoạt động tài chính, là việc tuân thủ các chế định về tài chính
1.2.3 Đặc điểm của hoạt động tài chính:
Hoạt động tài chính có 2 đặc điểm:
Một là: Thực trạng hoạt động tài chính một phần được phản ánh trên các tài
liệu kế toán và một phần chưa được phản ánh trên các tài liệu kế toán, dựa vào phần được phản ánh trên tài liệu kế toán kiểm toán xây dựng ra phân hệ phương pháp kiểm toán chứng từ để thu thập bằng chứng kiểm toán, còn phần chưa được phản ánh kiểm toán phải xây dựng ra một phân hệ (hệ thống) phương pháp kiểm toán để thu thập các chứng từ, đó là hệ thống phương pháp kiểm toán ngoài chứng
Trang 19Hai là: Do trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp bao gồm nhiều loại tài sản diễn ra nhiều nghiệp vụ kinh tế khác nhau biến đổi liên tục các tài sản được hình thành từ nhiều nguồn vốn khác nhau, do đó trong kiểm toán, kiểm toán viên không thể tiến hành kiểm toán toàn bộ tất cả các tài sản các nghiệp vụ, hơn nữa kiểm toán viên cũng không nhất thiết phải kiểm toán toàn bộ vì vậy kiểm toán đã xây dựng phương pháp kiểm toán chọn điểm hay trọng điểm hay chọn mẫu
1.3 Tài liệu kế toán - đối tượng cụ thể của kiểm toán
Tài liệu kế toán là toàn bộ các chứng từ sổ sách kế toán, báo cáo kế toán, bảng biểu kế toán
Tài liệu kế toán, trước hết là báo cáo tài chính là đối tượng trực tiếp được mọi người quan tâm, nên tài liệu này là đối tượng trực tiếp và thường xuyên của mọi cuộc kiểm toán
Điều đó được lý giải trước hết ở tài liệu kế toán, đặc biệt là báo cáo tài chính vì trong cơ chế thị trường, có nhiều người quan tâm đến thông tin tổng hợp và thực trạng tài chính của đơn vị Trong cơ chế này, tài liệu kế toán không chỉ là cơ sở để tổng hợp các chỉ tiêu ở phạm vi rộng hơn, cũng không chỉ để kiểm tra, lưu trữ tài liệu và bảo quản tài sản mà là cơ sở cho mọi người quan tâm ra quyết định về quản
lý, về đầu tư, về thanh toán, về phân phối,
Ngoài ra, do tính phức tạp của quá trình xử lý thông tin kế toán cũng như kết cấu của các báo cáo tài chính dẫn đến không phải mọi người quan tâm đều am hiểu được tài liệu đó và đôi khi chính kế toán viên cũng gặp khó khăn trong việc phản ánh các quan hệ phức tạp, đặc biệt là những quan hệ mới phát sinh Ngay cả nội dung và phương pháp tính một khoản mục trên các bảng cân đối kế toán cũng có thể rất nhiều quan niệm khác nhau và mang lại kết quả khác nhau Tính phức tạp này ngày càng tăng lên do quy mô của các khách thể kiểm tóan không ngừng mở rộng và do tính phức tạp của đối tượng kế toán, các hoạt động tài chính ngày càng tăng lên, nhiều bên tham gia với các phương thức khác nhau, nhiều quan hệ kinh tế mới phát sinh thâm nhập vào hoạt động tài chính
Ngoài ra cũng phải kể đến sự cách biệt về chuẩn mực kế toán và các điều kiện thực hiện nó giữa các nước, các thời kỳ dẫn tới sự nhận thức khác nhau và tổ
Trang 20chức khác nhau, nhất là sự thay đổi của chế độ kế toán Tất cả những thực tế đó đòi hỏi kiểm toán để tạo niềm tin cho mọi người quan tâm và thường xuyên hướng dẫn nghiệp vụ, củng cố nề nếp và cải tiến tổ chức để nâng cao chất lượng của tài liệu kế toán
1.4 Thực trạng tài sản, nghiệp vụ tài chính, đối tượng cụ thể của kiểm toán
1.4.1 Khái niệm
Thực trạng tài sản trong mỗi đơn vị kinh doanh hay hành chính sự nghiệp đều được biểu hiện dưới nhiều hình thái vật chất khác nhau, với yêu cầu về quy cách, phẩm chất, bảo quản, bảo dưỡng khác nhau, và được lưu giữ trên nhiều kho, nhiều bãi khác nhau và những người quản lý khác nhau
1.4.2 Nội dung
Tài sản của Nhà nước, của các doanh nghiệp trong kinh doanh cũng như trong mọi lĩnh vực hoạt động khác thường xuyên vận động Quá trình vận động này được cấu thành bởi các nghiệp vụ cụ thể Các nghiệp vụ cụ thể này có thể quy về các nghiệp vụ cơ bản như: cấp vốn - nhận vốn, vay - cho vay, cấp phát - thụ hưởng, xuất - nhập - tồn kho hoặc mua - bán - sản xuất (hoặc dịch vụ) Tuy nhiên, do đặc tính của từng loại tài sản cũng như mối quan hệ kinh tế của mỗi loại tài sản cũng khac nhau, sự đa dạng về chủng loại nghiệp vụ cũng như đặc tính của tài sản chứa đựng trong nghiệp vụ đòi hỏi phải chia công tác kiểm toán các nghiệp vụ này thành những phần hành kiểm toán khác nhau Khác với các phần hành kế toán, phần hành kiểm toán trước hết được phân chia trên cơ sở đầu mối quan hệ tài chính và sau nữa là vị trí và đặc điểm của từng loại nghiệp vụ Trên cơ sở đó, các phần hành kiểm toán cơ bản có thể gồm:
Các nghiệp vụ về tiền mặt (thu - chi - tồn quỹ)
Các nghiệp vụ về thanh toán (không phân biệt vay, nợ, phải thu, phải trả)
Các nghiệp vụ về tài sản cố định (đầu tư, xây dựng, mua sắm, sử dụng, khấu hao, tăng giảm tài sản cố định)
Các nghiệp vụ về hàng hoá (bảo quản, sử dụng)
Trang 21Các nghiệp vụ về kinh doanh (mua, bán, sản xuất hoặc dịch vụ) hoặc các
nghiệp vụ sự nghiệp, xã hội đối với các đơn vị kinh doanh
Các nghiệp vụ tài chính (tạo vốn, liên doanh, liên kết, kết quả tài chính)
Tuỳ theo đặc điểm của mỗi đơn vị về quy mô, về phương hướng hoạt động, về
tổ chức kinh doanh và tổ chức quản lý, và tuỳ thuộc loại hình cũng như yêu cầu kiểm toán cụ thể, có thể lược bỏ, tách riêng hay sát nhập, các loại nghiệp vụ cơ bản trên để có những phần hành kiểm toán phù hợp với đơn vị cụ thể và mục tiêu kiểm toán cụ thể Tuy nhiên trong bất kỳ điều kiện nào, các nghiệp vụ tài chính vẫn là đối tượng kiểm toán
1.5 Hiệu quả, hiệu năng, đối tượng cụ thể của kiểm toán
1.5.1 N ội dung
Tài liệu kế toán, thực trạng tài sản và nghiệp vụ tài chính là những đối tượng
gắn liền với sự phát sinh phát triển của kiểm toán Song theo quan điểm hiện đại đối tượng kiểm toán còn bao gồm hiệu quả và hiệu năng quản lý Việc mở rộng đối tượng kiểm toán như vậy xuất phát từ những đòi hỏi thực tế cuẩ hoạt động quản lý trong điều kiện quy mô kinh doanh ngày càng mở rộng trong khi nguồn lực xã hội ngày càng khan hiếm, đặc biệt trong quá trình cạnh tranh ngày càng được thể hiện
tiết kiệm và dành được lợi thế trong cạnh tranh thì vấn đề hiệu quả và hiệu năng
cần được đặt ra đối với từng nhiệm vụ cụ thể
Đối với việc đặt ra các chuẩn mực cho tính hiệu quả thường được xác định bởi mối quan hệ giữa chi phí đầu vào và kết quả đầu ra, còn đối với hiệu năng thì luôn bao gồm các mục tiêu cụ thể của từng nghiệp vụ, từng hoạt động
Trang 22Tóm lại: Từ những nghiên cứu cụ thể về đối tượng kiểm toán có thể thấy, đối tượng kiểm toán là thực trạng hoạt động tài chính và hiệu quả thực hiện các hoạt động, chương trình hay dự án Có thể phân chia đối tượng đó thành các đối tượng
cụ thể hoàn toàn khác nhau như tài liệu kế toán, thực trạng tài sản và nghiệp vụ tài chính, cùng hiệu quả, hiệu năng của các nghiệp vụ, các chương trình, các dự án
Tuỳ theo tính trọn vẹn của sự thể hiện đối tượng đó trong một hay nhiều đơn vị kế toán để xác định khách thể kiểm toán là một xí nghiệp, một đơn vị sự nghiệp hay
một công trình, một dự án cụ thể Từ đó, có thể thấy đối tượng kiểm toán rất rộng
lại được thể hiện trên rất nhiều khách thể Để thực hiện tốt chức năng kiểm toán rõ ràng phải có nghệ thuật trong tổ chức kiểm toán: Lý luận kiểm toán cũng không
thể né tránh những vẫn đề cơ bản nảy sinh từ đối tượng kiểm toán và liên quan đến thực hiện các chức năng của kiểm toán như gian lận và sai sót, trọng yếu và rủi ro,
cơ sở dẫn liệu và bằng chứng kiểm toán
2 Cơ sở dẫn liệu, bằng chứng kiểm toán và hồ sơ kiểm toán
2.1 Cơ sở dẫn liệu
a Khái ni ệm:
Cơ sở dẫn liệu: Là những khẳng định của nhà quản lý về các khía cạnh của các
dữ liệu được trình bày trên báo cáo tài chính Hay nói cách khác, là căn cứ của các khoản mục và thông tin trình bày trong báo cáo tài chính do Giám đốc (hoặc người đứng đầu) đơn vị chịu trách nhiệm lập trên cơ sở các chuẩn mực và chế độ kế toán qui định phải được thể hiện rõ ràng hoặc có cơ sở đối với từng chỉ tiêu trong báo cáo tài chính
Cơ sở dẫn liệu được hình thành xuất phát từ trách nhiệm của các nhà quản lý trong việc soạn thảo, trình bày và công bố báo cáo tài chính theo đúng với các chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành
Các cơ sở dẫn liệu được nhà quản lý sử dụng như một phần của các chuẩn mực trong việc trình bày báo cáo tài chính, do vậy kiểm tóan viên cần phải hiểu được các cơ sở dẫn liệu đó để thực hiện cuộc kiểm tóan một cách thích đáng
b Các cơ sở dẫn liệu:
Trang 23Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 500 (VSA 500), có các cơ sở dẫn liệu sau:
a/ Hi ện hữu: Một tài sản hay một khoản nợ phản ánh trên báo cáo tài chính
thực tế phải tồn tại (có thực) vào thời điểm lập báo cáo;
b/ Quyền và nghĩa vụ: Một tài sản hay một khoản nợ phản ánh trên báo cáo tài
chính đơn vị phải có quyền sở hữu hoặc có trách nhiệm hoàn trả tại thời điểm lập báo cáo;
c/ Phát sinh: Một nghiệp vụ hay một sự kiện đã ghi chép thì phải đã xảy ra và
có liên quan đến đơn vị trong thời kỳ xem xét;
d/ Đầy đủ: Toàn bộ tài sản, các khoản nợ, nghiệp vụ hay giao dịch đã xảy ra có
liên quan đến báo cáo tài chính phải đƣợc ghi chép hết các sự kiện liên quan;
e/ Đánh giá: Một tài sản hay một khoản nợ đƣợc ghi chép theo giá trị thích hợp
trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc đƣợc thừa nhận);
f/ Chính xác: Một nghiệp vụ hay một sự kiện đƣợc ghi chép theo đúng giá trị của nó, doanh thu hay chi phí đƣợc ghi nhận đúng kỳ, đúng khoản mục và đúng về toán học
g/ Trình bày và công b ố: Các khoản mục đƣợc phân loại, diễn đạt và công bố
phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc đƣợc chấp nhận)
2.2 B ằng chứng kiểm toán
2.2.1 Khái ni ệm
“Bằng chứng kiểm toán là tất cả các tài liệu, thông tin do KTV thu thập được liên quan đến cuộc kiểm toán và dựa trên các thông tin này KTV hình thành nên ý
ki ến của mình” (theo VSA 500)
Bằng chứng kiểm toán bao gồm:
Các tài liệu
Các chứng từ, các sổ sách kế toán
Các báo cáo tài chính
Các tài liệu, thông tin từ các nguồn khác
2.2.2 Phân l ọai bằng chứng kiểm toán:
Trang 24Có hai cách phân loại bằng chứng kiểm toán:
a Phân lo ại bằng chứng kiểm toán theo nguồn gốc:
- Bằng chứng kiểm toán do kiểm toán viên tự khai thác và phát hiện được bằng cách: kiểm kê tài sản thực tế, tính toán lại các biểu tính toán của DN, quan sát hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ
- Bằng chứng kiểm toán là các chứng từ, sổ sách, báo cáo và các tài liệu khác
do đối tượng kiểm toán cung cấp cho kiểm toán viên
- Bằng chứng kiểm toán do bên thứ ba cung cấp từ các nguồn khác nhau: + Các bằng chứng do những người bên ngoài đơn vị cung cấp trực tiếp cho
những kiểm toán viên như các bảng xác nhận nợ phải trả của các chủ nợ hay các số
dư tiền gửi ngân hàng đã được ngân hàng xác nhận,…
+ Các bằng chứng do những người bên ngoài đơn vị có liên quan đến báo cáo tài chính của đơn vị lập như: hoá đơn bán hàng, sổ phụ ngân hàng,…
+ Các ghi chép độc lập hoặc các báo cáo thống kê tổng hợp theo chuyên ngành
có liên quan đến DN
b Phân lo ại bằng chứng kiểm toán theo loại hình:
- Các bằng chứng vật chất: là các bằng chứng mà kiểm toán viên thu thập được trong quá trình kiểm tra hoặc kiểm kê các tài sản hữu hình, nó bao gồm: biên bản
kê khai hàng tồn kho, biên bản kê khai quỹ tiền mặt, biên bản kê khai TSCĐ hữu hình, các dẫn liệu xác minh sự tồn tại thật sự của tài sản vô hình,… Các bằng
chứng vật chất có độ tin cậy cao nhất, vì bằng chứng vật chất được đưa ra từ việc
kiểm tra trực tiếp để xác minh tài sản có thực hay không
- Các bằng chứng tài liệu: là các bằng chứng mà kiểm toán viên thu thập được qua việc cung cấp tài liệu, thông tin của các bên liên quan theo yêu cầu của kiểm toán viên Gồm có:
+ Các chứng từ, tài liệu do các đối tượng bên ngoài DN cung cấp như: các giấy xác nhận, bằng chứng của bên thứ ba có liên quan đến bằng chứng tài chính của
DN như cơ quan thuế, hải quan, bên bán, bên mua,…
+ Các tài liệu tính toán lại của kiểm toán viên về trích khấu hao TSCĐ, tính giá
Trang 25Các bằng chứng tài liệu cũng có tính thuyết phục nhưng độ tin cậy không cao
bằng những bằng chứng vật chất
- Các bằng chứng thu thập qua phỏng vấn: là các bằng chứng kiểm toán viên thu thập được thông qua xác minh, điều tra bằng cách phỏng vấn những người có liên quan đến nội dung kiểm toán và Báo cáo tài chính cuả DN Nó là những ghi chép của kiểm toán viên hoặc băng ghi âm mà kiểm toán viên có được thông qua những cuộc phỏng vấn người quản lý, người thứ ba như khách hàng, nhà đầu tư…
2.2.3 Yêu c ầu của bằng chứng kiểm toán:
a B ằng chứng kiểm toán thu thập được phải đúng đắn (có giá trị)
Bằng chứng kiểm toán được xem là có giá trị khi nó mang các đặc điểm chủ
- Bằng chứng do kiểm toán viên thu thập trực tiếp hoặc gián tiếp: những bằng chứng đưa ra do kiểm toán viên trực tiếp thu nhận được thông qua việc xem xét, quan sát, tính toán, điều tra thực tế sẽ có giá trị lớn hơn nếu chỉ dựa vào tài liệu, thông tin do DN hoặc người khác cung cấp một cách trung thực không vụ lợi
- Bằng chứng thu nhận trong DN có hệ thống kiểm toán nội bộ có hiệu quả sẽ
có độ tin cậy hơn trong DN có hệ thống kiểm toán nội bộ yếu kém
- Bằng chứng được cung cấp do các cá nhân có trách nhiệm, lương tri, có đủ trình độ chuyên môn sẽ được đánh giá có giá trị hơn so với bằng chứng do cá nhân
hoặc kiểm toán viên thiếu trách nhiệm và trình độ chuyên môn thấp
b B ằng chứng thu thập được phải bảo đảm tính đầy đủ
Yêu cầu đầy đủ là biểu thị số lượng bằng chứng kiểm toán mà kiểm toán viên thu nhận được đủ cung cấp những cứ liệu thích đáng cho đánh giá, nhận xét và có
Trang 26thể dựa vào đó để đưa ra những kết luận thích đáng suốt thời kỳ kiểm toán so với
mẫu được lấy từ một phần của cả kỳ Bằng chứng chỉ có giá trị khi nó được cung
cấp kịp thời cho nhu cầu kiểm toán
c B ằng chứng thu thập được phải kịp thời, đúng lúc
Tính đúng lúc của chứng cứ kiểm toán có thể dựa vào thời gian chứng cứ được thu thập hoặc thời kỳ được kiểm toán Đối với các tài khoản trên bảng cân đối tài sản, chứng cứ thường có tính thuyết phục hơn khi nó được thu thập càng gần ngày
lập báo cáo tài sản Đối với các tài khoản trên báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh,
chứng cứ có tính thuyết phục hơn nếu mẫu được lấy trong suốt thời kỳ kiểm toán
so với mẫu được lấy từ một phần của cả kỳ Bằng chứng chỉ có giá trị khi nó được cung cấp kịp thời cho nhu cầu kiểm toán
c B ằng chứng thu thập được phải là sự tổng hoà các khía cạnh cần xem xét
Sức thuyết phục của chứng cứ chỉ có thể được đánh giá sau khi xem xét tổng
hợp tính có giá trị, tính đầy đủ và tính đúng lúc Một mẫu gồm chứng cứ có giá trị cao chỉ có tính thuyết phục khi đồng thời nó cũng đúng lúc
2.3 H ồ sơ kiểm toán
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 230, hồ sơ kiểm toán là các tài liệu do
kiểm toán viên lập, phân loại, sử dụng, và lưu trữ trong một cuộc kiểm toán Hồ sơ kiểm toán bao gồm mọi thông tin cần thiết liên quan đến cuộc kiểm toán đủ làm cơ
sở cho việc hình thành ý kiến của kiểm toán viên và chứng minh rằng cuộc kiểm toán đã được thực hiện theo đúng chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (hoăc các chuẩn mực quốc tế được chấp nhận)
Hồ sơ kiểm toán được chia làm hai loại:
Trang 27Hồ sơ kiểm toán chung
2.3.1 H ồ sơ kiểm toán chung
Là hồ sơ kiểm toán chứa đựng các thông tin chung vể khách hàng liên quan tới hai hay nhiều cuộc kiểm toan trong nhiều năm tài chính của một khách hàng Hồ
sơ kiểm toán chung do đó thường mang tính lịch sử hay mang tính liên tục qua các năm tài chính Cụ thể hồ sơ kiểm toán chung bao gồm:
+ Tên và số hiệu hồ sơ; ngày, tháng lập và ngày, tháng lưu trữ
+ Các thông tin chung về khách hàng: Các ghi chép hoặc bản sao các tài liệu pháp lý, thoả thuận và biên bản quan trọng: Quyết định thành lập, Điều lệ công ty,
Giấy phép thành lập (Giấy phép đầu tư, Hợp đồng liên doanh), đăng ký kinh
doanh, bố cáo, biên bản hội đồng quản trị, họp Ban Giám Đốc… (Tên, địa chỉ, chức năng và phạm vi hoạt động, cơ cấu tổ chức…);
+ Các tài liệu về kế toán: Văn bản chấp thuận chế độ kế toán được áp dụng (nếu có ); Các nguyên tắc kế toán áp dụng: Phương pháp xác định giá trị hàng tồn kho, phương pháp tính dự phòng… Các hợp đồng thoả thuận với bên thú ba có hiệu lực trong thời gian dài (ít nhất hai năm tài chính) Hợp đồng kiểm toán, hợp đồng cho thuê, hợp đông bảo hiểm, thoả thuận vay…
+ Các tài liệu khác: Hồ sơ kiểm toán chung cập nhật hàng năm khi có sự thay đổi liên quan đến các tài liệu đề cập trên đây
2.3.2 H ồ sơ kiểm toán năm
Là hồ sơ kiểm toán chưa đựng thông tin khách hàng chỉ liên quan đến một năm tài chính Hồ sơ kiểm toán năm bao gồm các dư liệu áp dụng cho năm kiểm toán:
- Các thông tin về người lập, người kiểm tra (soát sét) hồ sơ kiểm toán;
- Các văn bản về tài chính, kế toán, thuế… của cơ quan Nhà nước và cấp trên liên quan đến một năm tài chính;
- Các báo cáo kiểm toán, thư quản lý, Báo cáo tài chính và các báo cáo
khác,… (bản dự thảo và bản chính thức);
- Hợp đồng kiểm toán, thư hẹn kiểm toán, phục lục hợp đông (nếu có) và bản thanh lý hợp đồng;
Trang 28- Những bằng chứng về kế hoạch chiến lược, kế hoạch kiểm toán chi tiết, chương trình làm việc và những thay đổi của kế hoạch đó;
- Những bằng chứng và kết luận trong việc đánh giá rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và những đánh giá khác;
- Những bằng chứng đánh giá của kiểm toán viên về những công việc và kết
luận của kiểm toán viên nội bộ;
- Các sự kiện phát sinh sau khi kết thúc nên độ;
- Những ghi chép về nội dung, chương trình và phạm vi của nhưng thủ tục được thực hiện và kết quả thu được;
- Những phân tích của kiểm toán viên về các nghiệp vụ kinh tế phát sinh và số
dư tài khoản;
- Những phân tích về tỷ lệ, xu hướng quan trọng đối với tình hình hoạt động
của khách hàng;
- Những thông tin chung về doanh nghiệp;
- Bảng cân đối thử tạp thời;
- Các bút toán điều chỉnh và các bút toán phân loại;
- Các bảng kê chi tiết;
- Bản giải trình của giám đốc (hoặc người đứng đầu) đơn vị;
- Các bằng chứng về sự kiểm tra soát xét của kiểm toán viên và ngưòi có thẩm quyền đối với những công việc do kiểm toán viên, trợ lý kiểm toán hay các chuyên gia thực hiên;
- Các tài liệu liên quan khác;
3 Gian l ận và sai sót
3.1 Khái ni ệm gian lận và sai sót, mối quan hệ giữa gian lận và sai sót
* Sai sót: “Sai sót là những lỗi không cố ý có ảnh hưởng đến Báo cáo tài chính” (VSA 240)
- Lỗi về tính toán số học hay ghi chép sai
- Áp dụng sai các nguyên tắc, phương pháp và chế độ kế toán
- Bỏ sót hoặc hiểu sai các khoản mục, các nghiệp vụ
Trang 29* Gian l ận: “Gian lận là những hành vi cố ý làm sai lệch thông tin kinh tế, tài
chính do một hay nhiều người trong Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, các nhân viên hoặc bên thứ ba thực hiện làm ảnh hưởng đến Báo cáo tài chính” (VSA 240) Gian lận có thể biểu hiện:
- Xử lý chứng từ theo ý muốn chủ quan, sửa đổi, xuyên tạc, làm giả các chứng
3.2 Các nhân t ố ảnh hưởng đến mức độ gian lận và sai sót
- Tính chính trực, năng lực, và trình độ của các nhà quản lý đơn vị
- Các sức ép bất thường trong đơn vị (như ngành nghề kinh doanh đang suy
sụp, khó khăn gia tăng,…)
- Các nghiệp vụ bất thường, có nhiều tình trạng bất khả kháng mà nhà quản lý
và kế toán trưởng dù bất lực nhưng không báo cáo, cố tình che dấu, phản ánh sai sự thật
- Các vấn đề có liên quan đến thu thập chứng cứ hạch toán như ghi chép không phù hợp, các chứng từ hoặc nghiệp vụ không phù hợp, không trung thực và thiếu, làm cho sai sót và gian lận khó được phát hiện và xử lý kịp thời
3.3 Trách nhi ệm của kiểm toán viên đối với gian lận và sai sót
+ Người quản lý chịu trách nhiệm về việc:
- Lập và trình bày Báo cáo tài chính
- Tổ chức và duy trì một hệ thống KSNB hữu hiệu nhằm đảm bảo một cách hợp lý về việc ngăn chặn và phát hiện sai sót và gian lận; sự tuân thủ luật pháp và các quy định
+ Ki ểm toán viên không có trách nhiệm phát hiện mọi sai phạm, thế nhưng
kiểm toán viên không được bỏ qua các sai phạm trọng yếu Khi nhận thấy có biểu hiện về các sai phạm và có thể là sai phạm trọng yếu, kiểm toán viên bắt buộc phải
Trang 30tăng cường kiểm tra để xác minh để có ý kiến nhận xét thích hợp về báo cáo tài chính
- Nếu kiểm toán viên phát hiện được gian lận và sai sót thì cần thông báo cho lãnh đạo doanh nghiệp biết
- Nếu kiểm toán viên phát hiện sự gian lận của chính nhà quản lý thì tùy từng trường hợp, kiểm toán viên sẽ có những ý kiến nhận xét khác nhau trong báo cáo kiểm toán sau này
Như vậy, trọng yếu là khái niệm về tầm cỡ (độ lớn), bản chất của sai phạm (kể
cả bỏ sót) thông tin tài chính, hoặc là đơn lẻ hoặc là từng nhóm, mà trong kiểm toán nếu dựa vào các thông tin này để xét đoán, đánh giá, xác nhận thì sẽ không chính xác, hoặc sẽ rút ra các kết luận sai lầm
Tính trọng yếu được kiểm toán viên quan tâm xem xét khi xác định nội dung,
thời gian và phạm vi của các phương pháp kiểm toán cũng như khi xác định mức
độ trung thực và hợp lý của các thông tin trong báo cáo tài chính
Mục đích của kiểm toán là xác nhận độ tin cậy của các thông tin, trước hết là
của báo cáo tài chính, xem xét báo cáo tài chính liệu đã được trình bày trung thực
và hợp lý trên mọi khía cạnh trọng yếu
Trách nhiệm của kiểm toán viên là xác định xem các thông tin và báo cáo tài chính có bị sai phạm trọng yếu hay không? Nếu kiểm toán viên xác định có một sai
phạm trọng yếu, anh ta sẽ thông báo và đề nghị người cung cấp thông tin phải sửa
lại Nếu kiểm toán viên cho là cần thiết nhưng đơn vị từ chối sửa lại báo cáo tài chính thì một báo cáo kiểm toán “chấp nhận từng phần” hoặc “bác bỏ từng phần”
sẽ được kiểm toán viên đưa ra tuỳ theo mức độ trọng yếu của sai phạm Vì vậy
Trang 314.2 R ủi ro
4.2.1 Khái ni ệm:
Rủi ro kiểm toán: “… rủi ro do kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến nhận xét không thích hợp khi báo cáo tài chính đã được kiểm toán còn có
những sai sót trọng yếu.” (VSA 400)
Khi lập kế hoạch kiểm toán cho một đối tượng cụ thể, kiểm toán viên phải dự kiến các trường hợp rủi ro và những trình tự, những thủ pháp kiểm toán nhằm phát
hiện những sai lầm nghiêm trọng trong các thông tin và báo cáo tài chính, mà nguồn gốc của nó là các sai sót và gian lận
4.2.2 Các b ộ phận hợp thành rủi ro kiểm toán:
a R ủi ro tiềm tàng: là rủi ro tiềm ẩn, vốn có do khả năng từng nghiệp vụ, từng
khoản mục trong báo cáo tài chính chứa đựng sai sót trọng yếu khi tính riêng rẻ
hoặc tính gộp, mặc dù có hay không có hệ thống kiểm soát nội bộ Mức độ rủi ro
tiềm tàng là cơ sở để lựa chọn các thủ pháp kiểm toán, xác định khối lượng công việc, thời gian, biên chế và chi phí cần thiết cho một cuộc kiểm toán
Để phân tích và đánh giá rủi ro tiềm tàng bất kỳ, các thông tin sau cần được thu thập và chứng từ hoá:
- Bản chất hoạt động của đối tượng: tổ chức và hoạt động của đơn vị, công việc
sản xuất kinh doanh của một DN, các nhân tố như điều kiện kinh tế, chính sách,… ảnh hưởng đến hoạt động của đơn vị
- Bản chất của các bộ phận, khoản mục được kiểm toán: các khoản mục và loại nghiệp vụ, cách hạch toán của hệ thống kế toán đối với từng loại nghiệp vụ, khoản
mục của báo cáo tài chính và các yếu tố cấu thành hệ thống thông tin đã cung cấp cho kiểm toán
b R ủi ro kiểm soát: là rủi ro sai sót trọng yếu trong từng nghiệp vụ, từng khoản
mục trong báo cáo tài chính khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp mà hệ thống kế toán và
hệ thống kiểm soát nội bộ không ngăn ngừa hết hoặc không phát hiện và sửa chữa kịp thời Kiểm toán viên cần có hiểu biết đầy đủ về hệ thống kiểm soát nội bộ đơn
vị, đánh giá chính xác mức độ rủi ro kiểm soát để vạch kế hoạch kiểm toán và xây dựng trình tự, phương pháp kiểm toán thích hợp
Trang 32Sự đánh giá xác đáng các rủi ro kiểm soát, rủi ro tiềm tàng giúp kiểm toán viên:
- Xác định được loại thông tin sai sót nghiêm trọng có thể xảy ra trong báo cáo tài chính
- Xem xét nhân tố tác động đến khả năng để xảy ra các sai sót nghiêm trọng
- Thiết kế phương pháp kiểm toán cơ bản thích hợp
c R ủi ro phát hiện: Là rủi ro sai sót trọng yếu trong từng nghiệp vụ, từng
khoản mục trong báo cáo tài chính khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp mà trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên và công ty kiểm toán không phát hiện được
d R ủi ro kiểm toán: Nếu trong báo cáo tài chính còn tồn tại những sai sót và
gian lận nghiêm trọng mà kiểm toán viên không nhận ra, do đó đưa ra các ý kiến nhận xét không thích hợp về các loại thông tin và về báo cáo tài chính, thì lúc đó sẽ
có rủi ro kiểm toán Nghĩa là rủi ro kiểm toán là khả năng mà một báo cáo kiểm toán không chuẩn xác, không thích hợp có thể được kiểm toán viên đưa ra do trình
độ, năng lực yếu hoặc do thiếu trách nhiệm nghề nghiệp
4.3 M ối quan hệ giữa trọng yếu và rủi ro
Qua nghiên cứu, ta nhận thấy trọng yếu và rủi ro kiểm toán có mối quan hệ
chặt chẽ với nhau Nếu mức sai sót có thể chấp nhận được tăng lên, rõ ràng là rủi
ro kiểm toán sẽ giảm xuống ; nói cách khác, khi nào kiểm toán viên tăng giá trị sai sót có thể bỏ qua, lúc đó khả năng có sai sót trọng yếu sẽ giảm Ngược lại, nếu
giảm mức sai sót có thể chấp nhận được, lúc đó rủi ro kiểm toán sẽ tăng lên
Việc nắm vững các mối quan hệ trên rất hữu ích, vì nó sẽ giúp cho kiểm toán viên xác định nội dung, phạm vi, và thời gian của các thủ tục kiểm toán, cũng như giúp kiểm toán viên điều chỉnh kế hoạch và chương trình làm việc
5 Khái ni ệm về hoạt động liên tục
Trang 335.2 Trách nhiệm của kiểm toán viên
Căn cứ Chuẩn mực kế toán VN, Chuẩn mực kiểm toán số 570:
Chuẩn mực kiểm toán này quy định và hướng dẫn trách nhiệm của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán (sau đây gọi là “kiểm toán viên”) trong việc xét đoán giả định hoạt động liên tục mà Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán đã sử
dụng để lập và trình bày báo cáo tài chính được kiểm toán
Giả định hoạt động liên tục
2 Theo giả định hoạt động liên tục, một đơn vị được xem là hoạt động liên tục trong tương lai có thể dự đoán được Báo cáo tài chính cho mục đích chung được lập trên cơ sở hoạt động liên tục, trừ khi Ban Giám đốc có ý định hoặc do nguyên nhân khác buộc phải ngừng hoạt động hoặc giải thể đơn vị Báo cáo tài chính cho mục đích đặc biệt có thể được lập theo khuôn khổ hoặc không theo khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính có quy định về cơ sở hoạt động liên tục (ví dụ, cơ
sở hoạt động liên tục có thể không phù hợp với báo cáo tài chính được lập cho mục đích thuế) Khi sử dụng giả định hoạt động liên tục để lập và trình bày báo cáo tài chính là phù hợp, tài sản và nợ phải trả được ghi nhận dựa trên cơ sở là đơn vị có thể thực hiện được giá trị tài sản và thanh toán được các khoản nợ phải trả của mình trong điều kiện kinh doanh bình thường (xem hướng dẫn tại đoạn A1 Chuẩn mực này)
Trách nhiệm trong việc đánh giá khả năng hoạt động liên tục của đơn vị
Khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính có thể quy định rõ về việc Ban Giám đốc phải thực hiện đánh giá cụ thể về khả năng hoạt động liên tục của đơn vị
và các chuẩn mực liên quan cần xem xét và các thông tin thuyết minh phải trình
Trang 34bày liên quan đến hoạt động liên tục Ví dụ, đoạn 15 Chuẩn mực kế toán Việt Nam
số 21 (năm 2003) yêu cầu Ban Giám đốc phải đánh giá khả năng hoạt động liên tục của đơn vị Pháp luật và các quy định cũng có thể đưa ra các yêu cầu cụ thể về trách nhiệm của Ban Giám đốc trong việc đánh giá khả năng hoạt động liên tục của đơn vị và các thuyết minh báo cáo tài chính có liên quan
Khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính có thể không quy định rõ về việc Ban Giám đốc phải thực hiện đánh giá cụ thể về khả năng hoạt động liên tục của đơn vị Tuy nhiên, do giả định hoạt động liên tục là một nguyên tắc cơ bản trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính (như quy định tại đoạn 02 Chuẩn mực này), việc lập và trình bày báo cáo tài chính yêu cầu Ban Giám đốc phải đánh giá khả năng hoạt động liên tục của đơn vị ngay cả khi khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính không quy định rõ về việc này
Đánh giá của Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán về khả năng hoạt động liên tục của đơn vị liên quan đến việc thực hiện xét đoán tại một thời điểm nhất định về kết quả không chắc chắn trong tương lai của các sự kiện hoặc điều kiện Các yếu tố liên quan đến xét đoán đó bao gồm:
- Sự kiện, điều kiện hoặc kết quả diễn ra tại một thời điểm càng xa trong tương lai thì mức độ không chắc chắn về kết quả của sự kiện hay điều kiện đó càng tăng lên đáng kể Vì vậy, hầu hết các khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính có quy định về việc đánh giá của Ban Giám đốc đều chỉ rõ giai đoạn mà Ban Giám đốc phải xem xét tất cả các thông tin sẵn có trong giai đoạn đó;
- Quy mô và tính chất phức tạp, đặc điểm và điều kiện hoạt động của đơn vị cũng như mức độ đơn vị bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài đều có thể ảnh hưởng đến xét đoán liên quan tới kết quả của các sự kiện hoặc điều kiện;
- Bất kỳ xét đoán nào về tương lai đều dựa trên các thông tin sẵn có tại thời điểm xét đoán Các sự kiện phát sinh sau đó có thể đem lại những kết quả khác biệt với các xét đoán đã được coi là hợp lý tại thời điểm xét đoán
Trách nhiệm của kiểm toán viên
- Kiểm toán viên có trách nhiệm thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích
Trang 35kiểm toán đã sử dụng khi lập và trình bày báo cáo tài chính và kết luận liệu còn có yếu tố không chắc chắn trọng yếu nào liên quan tới khả năng hoạt động liên tục của đơn vị hay không Kiểm toán viên vẫn có trách nhiệm này ngay cả khi khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được sử dụng để lập báo cáo không quy định rõ về việc Ban Giám đốc phải thực hiện đánh giá cụ thể về khả năng hoạt động liên tục của đơn vị
- Tuy nhiên, như đã đề cập trong Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200, khả năng phát hiện sai sót trọng yếu của kiểm toán viên có những hạn chế vốn có mà ảnh hưởng tiềm tàng của các hạn chế này là lớn hơn đối với các sự kiện hoặc điều kiện trong tương lai có thể dẫn đến khả năng đơn vị không thể hoạt động liên tục Kiểm toán viên không thể dự đoán được các sự kiện hoặc điều kiện này Do đó, khi báo cáo kiểm toán không đề cập đến tính không chắc chắn về khả năng hoạt động liên tục của đơn vị được kiểm toán, điều đó không có nghĩa là khả năng hoạt động liên tục của đơn vị được kiểm toán đã được đảm bảo
- Kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán phải tuân thủ các quy định và hướng dẫn của Chuẩn mực này trong quá trình kiểm toán báo cáo tài chính
6 Hệ thống kiểm soát nội bộ
6.1 Khái ni ệm
Quá trình nhận thức từng bước về kiểm soát nội bộ đã dẫn đến các định nghĩa khác nhau từ giản đơn đến phức tạp về hoạt động này Đến nay, định nghĩa về hệ
thống kiểm soát nội bộ được chấp nhận khá rộng rãi là:
“ Kiểm soát nội bộ là một quá trình do Ban giám đốc, nhà quản lý và các nhân viên của đơn vị chi phối, được thiết lập để cung cấp một sự bảo đảm hợp lý nhằm
thực hiện ba mục tiêu dưới đây:
- Báo cáo tài chính đáng tin cậy
- Các luật lệ và quy định được tuân thủ
- Hoạt động hữu hiệu và có hiệu quả.”
Trong định nghĩa trên, bốn khái niệm nền tảng được nhấn mạnh là quá trình, con người, đảm bảo hợp lý và các mục tiêu
6.2 Các yếu tố cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ
Trang 366.2.1 Môi trường kiểm soát:
Tạo ra sắc thái chung trong đơn vị - nơi mỗi người tiến hành các hoạt động và
thực hiện nghĩa vụ kiểm soát của mình Chính môi trường kiểm soát làm nền tảng cho các thành phần khác của HTKSNB Các nhân tố chính của môi trường kiểm soát là:
Quan điểm, phong cách điều hành và tư cách của nhà quản lý: có năng lực không, có tôn trọng đạo đức kinh doanh không, có thận trọng không, có chủ động
và độc lập không, có duy trì mối quan hệ thường xuyên với cấp dưới?
Cơ cấu tổ chức: cơ cấu tổ chức có hợp lý không, việc phân công phân nhiệm như thế nào, có giúp nhà quản lý thu thập và truyền đạt thông tin một cách chính xác và nhanh chóng không?
Chính sách nhân sự: chính sách tuyển dụng, đào tạo, thưởng phạt, trình độ, năng lực và không khí làm việc giữa các nhân viên Chính sách nhân sự tốt, đội ngũ nhân viên tốt sẽ làm giảm những yếu kém của kiểm soát nội bộ và ngược lại
Công tác kế hoạch và dự toán: việc lập và thực hiện kế hoạch một cách khoa
học và nghiêm túc là một công cụ kiểm soát hữu hiệu, giúp phát hiện và xử lý kịp
thời những vấn đề bất thừơng và đánh giá kết quả thực hiện hoạt động
Kiểm toán nội bộ: bộ phận kiểm toán nội bộ thực hiện việc giám sát thường xuyên đối với hoạt động của đơn vị, trong đó có cả Hệ thống kiểm soát nội bộ, do
đó, nếu doanh nghiệp có một bộ phận kiểm toán nội bộ hữu hiệu có thể nâng cao chất lượng của kiểm soát nội bộ
Các nhân tố bên ngoài: trong việc thiết kế và vận hành Hệ thống kiểm soát
nội bộ, các nhà quản lý còn chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố bên ngoài như luật pháp, sự kiểm soát của các cơ quan Nhà nước, ảnh hưởng củc các chủ nợ
6.2.2 Đánh giá rủi ro:
Mỗi đơn vị phải ý thức được và đối phó với rủi ro mà mình gặp phải Tiền đề cho việc đánh giá rủi ro là việc đặt ra mục tiêu (bao gồm mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể cho từng hoạt động của doanh nghiệp
Đánh giá rủi ro là việc nhận dạng và phân tích các rủi ro đe dọa các mục tiêu
Trang 37Các hoạt động kiểm soát chủ yếu trong đơn vị:
- Phân chia trách nhi ệm đầy đủ: Không cho phép một thành viên nào được giải
quyết mọi mặt của nghiệp vụ từ khi hình thành cho đến khi kết thúc
Mục đích: để các nhân viên kiểm soát lẫn nhau; nếu có sai sót xảy ra sẽ được phát hiện nhanh chóng,…
- Ki ểm soát quá trình xử lý thông tin và các nghiệp vụ:
+ Ki ểm soát chặt chẽ hệ thống chứng từ, sổ sách: chứng từ phải được đánh số
liên tục; chứng từ cần được lập ngay khi nghiệp vụ vừa xảy ra, hoặc càng sớm càng tốt; thiết kế đơn giản, rõ ràng dễ hiểu,…; tổ chức luân chuyển chứng từ khoa học, kịp thời; sổ sách phải đóng chắc chắn, đánh số trang, quy định nguyên tắc ghi chép, có chữ ký xét duyệt của người kiểm soát; tổ chức lưu trữ, bảo quản tài liệu kế toán khoa học, an toàn,…
+ Phê chuẩn đúng đắn các nghiệp vụ hoặc hoạt động: Phải đảm bảo tất cả các
nghiệp vụ hoặc hoạt động phải được phê chuẩn bởi một nhân viên quản lý trong phạm vi quyền hạn cho phép Bao gồm phê chuẩn chung, phê chuẩn cụ thể
- Ki ểm soát vật chất: được thực hiện cho các loại sổ sách và tài sản Việc so
sánh đối chiếu giữa sổ sách kế toán và tài sản hiện có trên thực tế phải bắt buộc được thực hiện định kỳ
- Ki ểm tra độc lập việc thực hiện: là việc kiểm tra được tiến hành bởi các cá
nhân (bộ phận) khác với cá nhân (bộ phận) đang thực hiện nghiệp vụ Thành viên
thực hiện kiểm tra phải độc lập với đối tượng được kiểm tra
- Phân tích soát xét l ại việc thực hiện: Xem xét lại những việc đã được thực
hiện bằng cách so sánh số thực tế với số liệu kế hoạch, dự toán, kỳ trước, các dữ liệu khác có liên quan
6.2.4 Thông tin và truy ền thông:
Trang 38Các thông tin cần thiết phải được nhận dạng, thu thập và trao đổi trong đơn vị dưới hình thức và thời gian thích hợp sao cho nó giúp mọi người trong đơn vị thực
hiện được nhiệm vụ của mình Thông tin và truyền thông tạo ra báo cáo, chứa đựng các thông tin cần thiết cho việc quản lý và kiểm soát đơn vị
Trong hệ thống thông tin, hệ thống thông tin kế toán là một phân hệ quan
trọng Đầu vào của hệ thống là các sự kiện kinh tế được biểu hiện dưới dạng các nghiệp vụ kế toán, đầu ra của hệ thống là các báo cáo kế toán
Quá trình vận hành là quá trình ghi nhận, phân loại, xử lý và tổng hợp Ngoài
những yêu cầu thông thường của bất kỳ hệ thống thông tin nào (như tính kịp thời,
hiệu quả,…), các mục tiêu chủ yếu mà hệ thống thông tin kế toán tài chính phải đạt được:
- Xác định và ghi chép tất cả các nghiệp vụ có thật
- Diễn giải nghiệp vụ một cách chi tiết, đầy đủ, cho phép phân loại đúng đắn các nghiệp vụ
- Đo lường giá trị của các nghiệp vụ để ghi chép đúng giá trị
- Xác định đúng kỳ hạn của các nghiệp vụ kinh tế đã xảy ra để ghi chép đúng
+ Giám sát thường xuyên: thực hiện thông qua việc tiếp nhận các ý kiến góp ý
của khách hàng, nhà cung cấp,…; xem xét các báo cáo hoạt động và phát hiện các biến động thất thường
+ Giám sát định kỳ: thực hiện các cuộc kiểm toán định kỳ do kiểm toán viên
Trang 39Mô t ả tóm tắt về các bộ phận hợp thành hệ thống kiểm soát nội bộ
đánh giá rủi ro liên quan
- Xác định mục tiêu của đơn vị
thiết đối với các rủi ro nhằm
thực hiện các mục tiêu của đơn
vị
- Phân chia trách nhiệm đầy đủ
- Kiểm soát quá trình xử lý thông tin
- Kiểm soát vật chất
- Kiểm tra độc lập việc thực hiện
- Truyền thông bảo đảm các kênh thông tin bên trong và bên ngoài đều hoạt động hữu hiệu
mọi thành viên trong đơn vị có
khả năng nắm bắt và trao đổi
thông tin cần thiết cho việc điều
hành, quản trị và kiểm soát các
- Hệ thống thông tin, bao gồm cả hệ
thống thông tin kế toán phải bảo đảm
chất lƣợng thông tin
- Truyền thông bảo đảm các kênh thông tin bên trong và bên ngoài đều
Trang 40hoạt động hoạt động hữu hiệu
Giám
sát
Toàn bộ quy trình hoạt động
phải được giám sát và điều
chỉnh khi cần thiết Hệ thống
phải có khả năng phản ứng
năng động, thay đổi theo yêu
cầu của môi trường bên trong
Chuẩn mực kế toán là bản mô tả báo cáo tài chính của một công ty
được chuẩn bị và trình bày dựa trên một số tiêu chuẩn cụ thể được hướng dẫn, các tiêu chuẩn này không giống nhau và được kiểm soát bởi luật pháp của một quốc gia cụ thể và các nhà quản lý chính phủ khác nhau
Chuẩn mực kế toán (Accounting Standards) là những quy định về cách thức ban hành trong việc lập cũng như giải thích các thông tin trình bày trên các báo cáo tài chính Đây là quy định được các tổ chức có trách nhiệm nghiên cứu và ban hành mà cụ thể như ở Việt Nam thì nó là Bộ Tài Chính
Chuẩn mực kế toán tại Việt Nam có nhiều nét tương đồng so với Quốc tế, mà nét tương đồng cũng rất lớn nha các bạn Các chuẩn mực này bao gồm nhiều
nguyên tắc khác nhau, người ta gọi đó là nguyên tắc trong kế toán, có tên tiếng Anh là Generally Accepted Accounting Principles, gọi tắt là GAAP
Nguyên t ắc chuẩn mực kế toán
Các chuẩn mực này cũng bao gồm nguyên tác chung và nguyên tắc cụ thể Nói về nguyên tắc chung thì nó chỉ là những giả thiết, khái niệm cũng như là
những hướng dẫn khi mà bạn lập BCTC Nguyên tắc này được hình thành trong quá trình thực hành kế toán Khi làm sẽ có những phát sinh chung vì vậy mà nó sẽ
tự được hình thành
Còn những nguyên tắc cụ thể thì đó là những quy định chi tiết khi thực hiện