Quang Dũng là Đại đội trưởng của binh đoàn Tây Tiến nên cảm hứng của bài thơ là cảm hướng của người trong cuộc – hào hoa, lãng mạn, lịch thiệp.. + Trong bài thơ, có bốn lần chữ “nhớ” đượ
Trang 1PHÂN TÍCH BÀI TÂY TIẾN
(Quang Dũng)
I.Tìm hiểu chung
1 Tên gọi Tây Tiến
- Tây Tiến là tên đơn vị bộ đội – binh đoàn được thành lập từ những ngày đầu cuộc kháng chiến chống Pháp – đầu năm 1947
- Địa bàn hoạt động của đoàn quân Tây Tiến là vùng rừng núi rộng lớn, hiểm trở từ miền Tây Bắc của Tổ quốc kéo dài đến tận vùng biên giới Thượng Lào xa xôi
- Nhiệm vụ của đoàn quân Tây Tiến là vũ trang tuyên tuyền, vừa đánh tiêu hao lực lượng địch, vừa tuyên truyền, vận động nhân dân kháng chiến
- Thành phần xuất thân của lính Tây Tiến: Chiến sĩ Tây Tiến phần đông là những thanh niên trí thức Hà Nội vừa mới rời sách vở học đường “xếp bút nghiêng theo nghiệp binh đao” Họ lên đường theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, một phần cũng vì bị hấp dẫn bởi hình tương những trang tráng sĩ lung linh trang sách
vở học đường, nên cảm nhận về cuộc kháng chiến vẫn còn “thơm mùi sách vở” Quang Dũng là Đại đội trưởng của binh đoàn Tây Tiến nên cảm hứng của bài thơ
là cảm hướng của người trong cuộc – hào hoa, lãng mạn, lịch thiệp
2 Hoàn cảnh ra đời
- Năm 1947, binh đoàn Tây Tiến được thành lập Một năm sau đó đơn vị chuyển địa bàn hoạt động Quang Dũng được điều về Phòng chính trị Liên khu III
- Một thời Tây Tiến đã trở thành quá vãng, ngồi ở Phù Lưu Chanh (tỉnh Hà
Đông cũ) bồi hồi nhớ lại, Quang Dũng viết Nhớ Tây Tiến Khi in lại, Quang Dũng lượt bớt chữ “nhớ”, chỉ còn lại Tây Tiến So sánh hai nhan đề, ta thấy:
+ Nhan đề Tây Tiến kín đáo hơn, khơi gợi hơn (bởi lẽ trong thơ ý kị nông,
mạch kị lộ”)
+ Trong bài thơ, có bốn lần chữ “nhớ” được lặp lại (Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi, Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói, Có nhó dáng người trên độc mộc) nên sẽ không cần thiết khi đặt tên bài thơ là Nhớ Tây Tiến
Trang 2+ Xúc cảm thể hiện trong bài thơ không chỉ có nỗi “nhớ” mà còn là sự gắn bó, tình yêu thương, niềm tự hào… của nhà thơ đối với thiên nhiên Tây Bắc và con
người Tây Tiến Tên gọi Nhớ Tây Tiến sẽ khiến ý nghĩa, nội dung của bài thơ bị bó
hẹp
+ Sự gắn bó máu thịt đối với Tây Tiến đã khiến Quang Dũng chưa bao giờ
thấy xa mảnh đất ấy, Tây Tiến luôn sống trong lòng nhà thơ (Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy/ Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi) nên không thể gọi là “nhớ” Tây Tiến
+ Tên gọi “Tây Tiến” có tầm khái quát hơn, chứa đựng nhiều ý nghĩa hơn: là tên một địa danh, tên một binh đoàn, tên chung của cả một thế hệ thanh niên hăng hái lên đường trong những ngày đầu khó khăn, gian khổ của cuộc kháng chiến chống Pháp
+ Quang Dũng nói rằng bài thơ Nhớ Tây Tiến là thừa chữ "nhớ" bởi vì nhắc tới
Tây Tiến là ông đã thấy nhớ, thấy thương rồi
3 Cảm xúc chủ đạo của bài thơ
Là nỗi nhớ mênh mông, da diết về những kỉ niệm vui buồn trên suốt những nẻo đường hành quân đầy gian nan vất vả nhưng cũng rất hào hùng và lãng mạn Qua đó tác giả đã làm sống dậy khí thế của một thời “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”
II Phân tích bài thơ
1 Nỗi nhớ về những cuộc hành quân gian khổ của đoàn quân Tây Tiến và khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ, hoang sơ, dữ dội
a 2 câu đầu – Tiền đề xúc cảm của bài thơ
- Âm điệu: Vần ơi có độ mở lớn, kết hợp với 2 thanh bằng khiến nỗi nhớ bị
kéo dài đến vô hạn Trạng thái lơ lửng, bồng bệềnh cộng hưởng với niềm xúc cảm nồng nàn đánh lên hồi chuông thương nhớ Tác giả gọi về đơn vị cũ mà thiết tha, trìu mến như gọi bạn tình
- Nhịp điệu: Nhịp điệu 4/3 khiến câu thơ dàn trải mênh mông, khoan thai, chậm rãi, khoảng cách về câu chữ đã tạo nên khoảng cách về không gian và thời gian giữa Quang Dũng với Tây Tiến, ở hiện tại với quá khứ Khoảng cách đó được
đo bằng nỗi nhớ dịu vơi, mênh mông
Trang 3- Địa danh và địa bàn: 2 câu thơ chỉ cần thông qua địa danh “Sông Mã” và địa bàn “rừng núi” Quang Dũng đã khái quát trọn vẹn không gian Tây Tiến và không gian nghệ thuật của cả bài thơ
- Từ ngữ: nhớ: lặp lại 2 lần Nhớ về rừng núi là đối tượng của nỗi nhớ, nhớ chơi vơi là trạng thái, tính chất của nỗi nhớ Ca dao có câu: “Ra về nhớ bạn chơi vơi”, Xuân Diệu cũng có câu: “Sương nương theo trăng ngừng lưng trời/ Tương tư nâng lòng lên chơi vơi” Có thể hình dung nhớ chơi vơi là nỗi nhớ lơ lửng, vô
lượng, vô hình, là trạng thái chống chếnh, hụt hẫng, chập chờn, đứt quãng nhưng khó nguôi ngoai khi Tây Tiến đã thành quá vãng, đồng đội đã xa Câu thơ nêu lên cảm xúc chủ đạo của bài thơ
- Vai trò: 2 câu đầu có ý nghĩa như lối vào đề, là cánh cửa nghệ thuật mở ra toàn bộ thế giới hình ảnh khách thể và tâm trạng chủ thể
b Vẻ đẹp của thiên nhiên miền Tây
* Ấn tượng về một không gian xa lạ, bí hiểm
- Không gian vận động: Đoạn thơ ghi lại những kỉ niệm đầu tiên của cuộc hành trình Tây Tiến Không gian nghệ thuật của cả đoạn là Tây Bắc (kéo dài từ vùng núi phía Tây Thanh Hóa cho đến Lai Châu – Sơn La) nhưng nó không định
vị ở một địa điểm cố định mà trái lại nó là không gian vận động dọc theo con đường của cuộc hành quân Từng bước đi người lính lại đối diện với những vùng đất mới
- Những địa danh này vốn có ý nghĩa địa lí xác định nhưng khi đi vào bài thơ chúng không nhằm chỉ nơi chốn, sự kiện hoạt động xảy ra, mà nhằm thực hiện hai chức năng quan trọng: tạo ra những cái tên lạ tai rất rừng rú, xa xôi, bí mật và bao chụp không gian Tây Tiến rộng lớn, thăm thẳm, bí mật cái bí mật của đại ngàn
- Âm hưởng lạ lùng của đoạn thơ trước hết bắt nguồn từ sự hoang vắng xa xôi của những tên đất lạ Sài Khao, Mường Hịch, Mường Lát, Mai Châu, Pha Luông Những cái tên không chỉ gợi sự hoang sơ, bí hiểm mà còn thể hiện tình cảm của Quang Dũng với đất với người miền Tây Sau bao nhiêu
ân tình với đất với người Tây Tiến, những địa danh kia không còn là những dòng
Trang 4tên vô nghĩa thuần túy mà đã trở thành những vùng ân tình, những vùng kỉ niệm, là nơi đi về của nối nhớ chơi vơi kia
* Câu 3,4 - Ấn tượng về không gian đẫm sương
- Hình ảnh “sương lấp – đoàn quân mỏi” đã tô đậm hiện thực trĩu nặng, sự
thực gian nan của đoàn quân Tây Tiến Những chàng trai Hà Thành chỉ quen với phố phường lần đầu tiên đến với Tây Tiến nhưng lạc vào thế giới nguyên sơ nào
Ấn tượng điệp trùng ấn tượng khiến họ không khỏi ngỡ ngàng Không gian đất trời
mờ mịt sương như trì níu bước chân họ, khiến cho hành trình trở nên nặng nhọc
- Câu thơ sau “hoa về trong đêm hơi” làm giảm bớt độ căng của gian khổ, tỏa
ra chất thơ mơ màng, khiến cảnh thực mà có chút thi vị Sương núi vốn là nét riêng của không gian Tây Bắc Màn sương đậm đặc được diễn đạt bằng hình ảnh giàu khả năng gợi tả: “đêm hơi” Cảnh vật xa vắng nhưng vẫn không thiếu cái đẹp, không thiếu chất thơ, rất hoang sơ mà tươi tắn
- Hình ảnh đoàn quân mỏi im phăng phắc đi trong sương lấp nhạt nhòa, rồi hình ảnh những loài hoa rừng không tên cũng lại nhạt nhòa, trong đêm hơi sương
mờ bảng lảng (…) được phủ một lớp hồi ức bảng lảng làm cho các đường nét nhòe
mờ, chưa nhiều rung cảm
Hoa về: - Hoa rừng, chợt thấy trong ánh đuốc
- Người chiến sĩ Tây Tiến
- Nhà phê bình Văn Giá cho rằng: “Tây Tiến cũng kể, tả Nhưng Quang Dũng
đã đưa tất cả nội dung kể, tả vào một trạng thái hồi nhớ chơi vơi theo kiểu ấn tượng chủ nghĩa, thành ra các câu thơ thoát ra khỏi miêu tả thực liệt kê thật thà để bay vào chân trời tâm tưởng đạt tới độ mờ sâu của nó”
* Câu 5-8: Ấn tượng về địa hình hiểm trở
- Nghệ thuật sử dụng từ ngữ giàu giá trị tạo hình: Hình ảnh điệp trùng, dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm được thể hiện bằng hàng loạt từ ngữ có tính tượng hình
và đều là thanh trắc: khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút, súng ngửi trời Câu thơ như
vẽ ra trước mắt người đọc những đỉnh dốc chờn vờn trong mây trời, vừa gãy khúc gập gềnh, vừa hướng về tâm cao với độ cao ngất trời, vừa hun hút độ sâu tạo nên
Trang 5cảm giác rợn người, khiến người đọc có cảm giác như đang tham gia vào trò chơi
cảm giác mạnh Cụm từ “súng ngửi trời” vừa diễn tả chính xác độ cao của núi,
người lính đi trên những ngọn núi cao dường như đang đi trong mây, mũi súng chạm trời, vừa thể hiện tầm kích lồng lộng của người lính, vừa là cách nói lính tráng trẻ trung, tinh nghịch: ta tưởng chừng như sau cách nói là tràng cười giải tỏa bao nỗi nhọc nhằn trên đường hành quân
- Nhịp điệu: Hai câu thơ 5-6 với sự tác động của những thanh trắc đã làm cho nhịp điệu câu thơ trở nên trúc trắc, vần điệu đối lập, diễn tả chính xác cảm giá khó khăn, nhọc nhằn của người lính Tây Tiến khi phải đối mặt với những đỉnh dốc cheo leo, đầy mạo hiểm
+ Cảm giác về non cao, vực sâu càng rõ rệt hơn trong câu thơ Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống với cách ngắt nhịp bẻ đôi, vần điệu đối lập, ngàn thước lên - cao - ngàn thước xuống, phép đối (đối ý lẫn đối thanh) của 2 từ “lên”, “xuống”
Chữ “cao” nằm giữa lưng câu chia câu thơ thành 2 vế đối xứng là 2 mái núi chon von Câu thơ tạo được cảm giác mạnh cho người đọc khi nó diễn tả dốc núi vút lên
đổ xuống gần như thẳng đứng nhìn lên thì cao chót vót nhìn xuống thì sâu thăm thẳm
- Nghệ thuật hài thanh - phối thanh bằng trắc
+ 3 câu thơ đầu nhiều vần trắc làm cho nét bút trở nên gân guốc dùng để đặc tả
sự chênh vênh, cheo leo của đèo và dốc Những câu thơ vì thế mà rắn rỏi, khó chịu truyền lại cho người đọc nguyên si cảm giác chông chênh, nhọc nhằn của người đi qua núi cao vực thẳm
+ Câu cuối của đoạn thơ toàn vần bằng Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi như
nét bút mềm mại, tài hoa làm dịu mát cả không gian Từ trên đỉnh cao mây trời ấy nhìn xuống thung lũng sâu, cơn mưa rừng giăng mắc, màn mưa nhạt nhòa, mung lung, bốn bề trời nước như giữa biển khơi “Nhà ai Pha Luông” như con thuyền mỏng manh, bồng bềnh Cảnh vật trải ra theo bề rộng nên cảm giác mông lung như càng nhân đôi Câu thơ thể hiện cái nhìn thơ mộng của người lính, cũng là phút giây người lính tạm quên những gian lao để thảnh thơi hòa mình trong cơn mưa rừng
Trang 6- Tiểu kết:
+ Bốn câu miêu tả địa hình là bằng chứng trong thơ có họa “thi trung hữu họ Chỉ với 4 câu thơ, Quang Dũng đã vẽ ra bức tranh hoành tráng diễn tả rất đạt sự hiểm trở và dữ dội, hoang vu và heo hút của núi rừng miền Tây
+ Sau này trang tùy bút Người lái đò sông Đà, Nguyễn Tuân đã gọi Tây Bắc là
cái giường đá vĩ đại Bản thân địa lí tự nhiên của Tây Bắc đã mang vẻ đẹp kì vĩ nay lại được cảm nhận bằng tâm hồn người lính trẻ được tái hiện bằng bút pháp lãng mạn nên càng trở nên sinh động như bức tranh hài hóa những nét vẽ thô mộc
mà uyển chuyển của hội họa hiện tại
c Nỗi nhớ về những cuộc hành quân của binh đoàn Tây Tiến
* Đối mặt cái chết (câu 9,10)
+ Tác động từ thiên nhiên: Thiên nhiên Tây Bắc hoang sơ và dữ dội đã trở thành thách thức lớn với từng bước chân của người lính Tây Tiến Và không ít người đã ngã xuống trên đường hành quân vì những chặng đường hành quân gian khổ đã vắt kiệt sức lực của họ, thật không giống với những gì mà thế hệ các nhà
thơ trẻ thời chống Mĩ cảm nhận: “Đường ra trận mùa này đẹp lắm” hay “ Đường nào vui bằng đường ra trận tuyến”
+ Cái chết của những người lính Tây Tiến: Cái hay mà câu thơ mang đến cho người đọc là ở cách nói của Quang Dũng khi diễn tả về sự ra đi của những đồng đội Cái chết của họ không mang lại cảm giác nặng nề, ám ảnh bởi vì nó hiện lên
trong tư thế tiếp tục cuộc hành trình Anh bạn dải dầu không bước nữa/ Gục lên súng mũ bỏ quên đời Cách nói giảm nói tránh cùng với giọng điệu lính tráng
ngang tàng khiến người đọc có cảm tưởng rằng đó chỉ là phút dừng chân để người lính tiếp thêm sức lực trong cuộc trường chinh vạn dặm sắp tới
* Đối mặt với rừng thiêng nước độc
Chiều chiều oai linh thác gầm thét
4 bằng trắc bằng trắc
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người
Từ ngữ Từ ngữ
Trang 7- Từ dạng láy chỉ thời gian: Với người lính Tây Tiến, thiên nhiên hoang dã của Tây Bắc như một thế lực hiểm ác, từ thác nguồn suối lũ đến rừng hoang thú dữ Hai cụm từ biểu thị thời gian “chiều chiều”, “đêm đêm” mang ý nghĩa tấn số hay
sự lặp đi lặp lại tạo ra cảm giác thường xuyên thường trực về cái âm u, bí hiểm của thiên nhiên miền Tây Bốn phía núi non rừng thẳm như bủa vây từng bước chân người lính
- Nghệ thuật phối thanh: Quang Dũng như cố ý khắc sâu ấn tượng cho người đọc về thế núi, thế đèo hiểm ác của miền Tây Câu thơ “chiều chiều oai kinh thác gầm thét” như biểu tượng ngữ âm, 4 thanh bằng như dòng suối đang chảy mềm mại bỗng xuất hiện một thanh trắc chắn ngang như dòng sông bị chặn đứng bởi vách đá rồi dòng nước đổ ầm xuống tung lên những bọt trắng xóa, đặc tả sự dữ dội, hùng vĩ của đại ngàn
- Tên địa danh: Bằng sự tinh tế của mình, nhà thơ Vũ Quần Phương đã nhận ra rằng: Hai tiếng “Hịch”, “cọp” là hai thanh nặng khiến ta khi đọc câu thơ nghe như
có tiếng chân cọp hậm hịch trong đêm, mà nếu thay bằng một địa danh khác thì cảm giác ấy sẽ mất hẳn Thiên nhiên như một thế lực hung hiểm, quái ác luôn rình rập, vờn bắt, bủa vây những người lính trẻ
* Đón nhận bữa cơm ấm tình quân dân:
Câu 13,14: Hai câu thơ mở ra cảnh tượng thật đầm ấm, cảm giác khác hẳn, không còn cái rùng rợn ghê người của rừng thiêng nước độc khiến người lính phải luôn đề cao cảnh giác mà là không khí ấm áp, vui tươi Sau chặng đường hành quân dừng chân vùng làng được hưởng ngọn khói bếp cay nồng, được hòa mình vào buổi cơm lam thơm thảo của em gái Mai Châu là niềm hạnh phúc không gì sánh bằng của người lính Tây Tiến
Cách nói “Mai Châu mùa em” khiến câu thơ trở nên sâu nặng ân tình hơn, đằm
thắm hơn mà cũng tình tứ hơn rất phù hợp với tâm lý và tính cách hào hoa, lãng mạn của chàng trai Hà Nội Ý thơ của Quang Dũng khiến ta nhớ đến 1 câu thơ tương tự của Chế Lan Viên:
Đất Tây Bắc tháng ngày không có lịch
Bữa xôi đầu còn tỏa nhớ mùi hương
Trang 8(Tiếng hát con tàu)
d Nhận xét về đoạn 1 của bài thơ:
Đoạn thơ với những ấn tượng chồng chất và tiếp nối về một không gian Tây Bắc hoang sơ và hùng tráng, về những cuộc hành quân khắc nghiệt mà không kém phần thi vị đã thực sự khẳng định rằng nó được xuất phát từ nỗi nhớ của trong cuộc
và được khắc họa bằng cây bút đầy chất thơ, đầy chất họa
2 Nỗi nhớ về đêm liên hoan văn nghệ ấm tình quân dân và vẻ đẹp của chiều sương Châu Mộc:
a Chuyển ý:
- Thiên nhiên và con người miền Tây hiện ra vẻ đẹp mĩ lệ, thơ mộng trữ tình Đoạn thơ sau mở ra một thế giới khác về miền Tây Cảnh núi rừng hoang vu, hiểm trở lùi dần để bất ngờ hiện ra vẻ thơ mộng, duyên dáng, những nét vẽ bạo, khỏe được thay bằng những nét mềm mại, uyển chuyển, tinh tế Sự tài hoa của ngòi bút Quang Dũng cũng bộc lộ rõ nét nhất ở đoạn này
b Kỉ niệm về đêm liên hoan văn nghệ có đồng bào địa phương tham gia
- Nhiệm vụ của đơn vị Tây Tiến là vũ trang, tuyên truyền vì thế không thể thiếu những đêm liên hoan văn nghệ ấm áp tình quân dân Khổ thơ là thế giới của ánh sáng, âm thanh, vũ điệu, một thế giới vừa hư vừa thực đầy mộng và thơ
- Không khí của đêm liên hoan
“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ”
Ánh sáng
Bừng Âm thanh
Sự hân hoan, phấn chấn
Tâm trạng bị bất ngờ
Cả doanh trại như bừng sáng, sôi nổi hẳn lên khi đêm văn nghệ bắt đầu Trong ánh sáng lung linh của lửa đuốc, trong âm thanh réo rắc của tiếng khèn cảnh vật,
con người cũng ngả nghiêng bốc men say Từ “bừng” vừa diễn tả ngọn lửa bốc
cao, vừa diễn tả âm thanh rạo rực, rộn ràng, vừa thể hiện niềm hân hoan, phần chấn trong tâm hồn lại vừa diễn ta tâm trạng bị bất ngờ như choàng tỉnh của những
Trang 9chiến sĩ Tây Tiến khi trên sân khấu xuất hiện hình ảnh rực rỡ của những cô gái
vùng cao Câu thơ “Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ” là lời gởi nhắc về địa điểm
diễn ra đêm liên hoan ở vùng biên giới Việt - Lào
“Hội đuốc hoa” – cảm hướng lãng mạn: Đống lửa giữa rừng với ánh sáng đỏ
rực và sự rực rỡ của những bó đuốc thay cho ánh đèn sân khấu đã được cảm hướng lãng mạn nâng lên thành vẻ đẹp lung linh, ấm áp của đêm hội đuốc hoa Ở đêm hội
đó, hoa lửa, hoa người với những sắc độ, những dáng nét khác nhau đã làm nên sinh khí làm bừng sáng vùng đất vốn âm u và bí hiểm
Lời đối thoại
“Kìa em”
Lời trầm trồ đầy ngạc nhiên và thích thú Tâm trạng say sưa, ngây ngất Trong ánh sáng đêm liên hoan ấy, mọi dáng
nét của con người cũng mang vẻ đẹp riêng Câu thơ “Kìa em xiêm áo tự bao giờ”
vừa là lời đối thoại rất duyên, rất riêng, vừa là tiếng reo ngỡ ngãng và vui sướng, say sưa và kinh ngạc, vừa là lời thán phục trầm trồ trước sắc đẹp lộng lẫy của các sơn nữ vùng cao
- Nhân vật chính đêm liên hoan: những cô gái vùng cao
+ Trang phục: xiêm áo – lộng lẫy
+ Vũ điệu: man điệu – hoang dã, đầy mê hoặc
+ Dáng vẻ “e ấp” - e thẹn, tình tứ, quyến rũ
Nhân vật trung tâm cũng là linh hồn của đêm văn nghệ là những cô gái nơi núi rừng với trang phục lộng lẫy, điệu khèn lạ lùng, dáng vẻ kín đáo, e ấp vừa tình
tứ, vừa quyến rũ, nống nàn trong vũ điệu đầy màu sắc xứ lạ phương xa Vẻ đẹp ấy
đã thổi vào tâm hồn người lính Tây Tiến những xúc cảm thăng hoa bay bổng, hút hồn họ và để những chàng trai Tây Tiến tự xây hồn thơ, cùng ngả nghiêng theo những cung bậc âm thanh, sắc màu
- Bút pháp lãng mạn đã tạo nên vẻ đẹp quyến rũ của đoạn thơ Một đêm liên hoan văn nghệ, một nụ cười tình tứ của em gái vùng cao những khoảnh khắc động lòng, đầy xúc cảm là những phút giây tuy ngắn ngủi nhưng thật ý nghĩa trong cuộc
Trang 10đời người lính Nó tiếp thêm sức mạnh tinh thần, nó trung hòa, cân bằng cuộc sống
để người lính cảm thấy nhẹ nhàng hơn trong bước chân hành quân
Có một cái gì đó thật lãng mạn và say đắm trong tâm hồn Quang Dũng khi ông viết những dòng thơ này Trong ánh đuốc của đêm liên hoan hình ảnh “người”
e ấp áo xiêm lộng lẫy va tiếng khèn “man điệu” khiến nhà thơ thực sự say sưa và kinh ngạc, hồn thơ Quang Dũng như được chấp cánh bởi vẻ đẹp của con người và cảnh vật nơi đây
c Vẻ đẹp chiều sương Châu Mộc
Nếu câu 15-18 tràn nhập ánh sáng, âm thanh và vũ điệu thì bốn câu thơ tiếp theo lại giàu chất thơ và chất hoạ
- Dấu ấn hoài niệm: Một thời gian gắn bó với Tây Tiến và mảnh đất miền Tây, cảm và yêu cái nét đẹp độc đáo của vùng đất này, Quang Dũng muốn khắc tạc bức tranh mĩ lệ và trữ tình của Tây Bắc vào tâm hồn những người lính Tây Tiến Đại từ chỉ định “ấy” kết hợp với những từ có ý nghĩa nhắc nhở “có thấy”, “có nhớ” rất nhịp nhàng và phù hợp với tâm trạng hoài niệm Điều đó cũng có nghĩa là Quang Dũng không những muốn Tây Bắc xây hồn thơ trong lòng mình mà còn xây hồn thơ trong lòng những đồng đội đã xa
- Vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng của thiên nhiên và con người Tây Bắc
+ “Chiều sương”: sương chiều là đặc điểm nổi bật của thiên nhiên miền Tây Bắc Khổ thơ về chiều sương Tây Bắc vẫn được đánh giá là nơi hội tụ những gì nhạy cảm nhất của hồn thơ QD Khổ thơ là sự thể hiện khung cảnh Tây Bắc trữ tình và thơ mộng Hình ảnh sương mờ Tây Bắc lại xuất hiện như một đặc điểm nổi bật của thiên nhiên ở vùng đất này nhưng không phải là “đêm hơi” mà là “sương chiều” giữa vùng núi rừng xa thẳm Có thể trong sự “chiều sương ấy” người lính Tây Tiến ít nhiều vẫn hiện hữu tâm trạng người lữ thứ trong văn chương cổ điển Người đã tàn, bóng tâm trạng người lữ thứ trong văn chương cổ điển Ngày đã tàn, bóng núi mịt mờ khuất nẻo thử hỏi mấy ai không quay quắt trước chiều sương kia? + “Hồn lau nẻo bến bờ” Phảng phất buồn vương vất
dáng người trên độc mộc Dáng người nghệ sĩ tài hoa
gợi tả