1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC

12 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 83,5 KB
File đính kèm TT HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT.rar (19 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hồ Chí Minh – một nhà lý luận, một nhà hoạt động cách mạng, hơn hết là một lãnh tụ thiên tài của cách mạng và dân tộc Việt Nam. Người giành cả cuộc đời cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và sự tiến bộ của nhân loại. Người đã đi xa, nhưng di sản Người để lại cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vô cùng quý giá – đó là tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, trong đó tư tưởng về đại đoàn kết dân tộc là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Trang 1

Mở đầu trg 2

1 Cơ sở lý luận, thực tiễn hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại

đoàn kết dân tộc

trg 3

2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc trg 5

3 Ý nghĩa đối với xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc hiện nay trg 9

Tài liệu tham khảo

1 Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh (dùng cho đào tạo chính ủy trung đoàn, sư đoàn), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội 2015

2 Văn kiện ĐH XI, XII

2 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012

4 Tạp chí cộng sản.org.vn

5 Quán triệt tư tưởng hồ chí minh phát huy sức mạnh của khối “đại đoàn kết dân tộc” đáp ứng yêu cầu thời kỳ mới – TS Lê Duy Chương – Học viện chính trị

Mở đầu

Trang 2

Hồ Chí Minh – một nhà lý luận, một nhà hoạt động cách mạng, hơn hết là một lãnh tụ thiên tài của cách mạng và dân tộc Việt Nam Người giành cả cuộc đời cống

hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và sự tiến bộ của nhân loại Người đã đi xa,

nhưng di sản Người để lại cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vô cùng quý giá –

đó là tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, trong đó tư tưởng về đại đoàn kết dân tộc là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, tình hình thế giới, khu vực có những diễn biến thay đổi hết sức nhanh chóng, phức tạp và khó lường; hội nhập quốc tế mang đến nhiều cơ hội nhưng cũng đem lại những thách thức không hề nhỏ; mặc dù đất nước đã đang đạt được những thành tựu to lớn trên con đường phát triển, tuy nhiên cũng còn nhiều vấn đề bất cập đặc biệt là vấn đề tham nhũng, lãng phí, khai thác và

sử dụng kém hiệu quả các nguồn vốn của nhà nước, phân hóa giàu nghèo gia tăng…

là cho nhân dân mất lòng tin vào Đảng vào chế độ, các thế lực thù địch lợi dụng, kích động nhân dân chống phá chế độ, mục tiêu xây dựng đất nước của nhân dân ta Vì vậy hơn lúc nào hết, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân

ta thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và phát huy khối Đại đoàn kết dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh càng trở nên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Đại hội XII của Đảng khẳng định, đại đoàn kết dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

1 Cơ sở lý luận, thực tiễn hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc

1.1 Truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, cố kết cộng đồng của dân tộc là cơ

sở đầu tiên, sâu xa cho sự hình thành tư tưởng về đại đoàn kết dân tộc.

Vị trí địa – chính trị đặc biệt của Việt Nam là nguồn gốc sâu xa buộc dân tộc ta sớm hình thành tư tưởng đoàn kết, cố kết cộng đồng “Nhà – làng – nước” để đấu

Trang 3

tranh chinh phục thiên nhiên, chống giặc ngoại xâm trong suốt hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước Tinh thần yêu nước gắn liền với ý thức cộng đồng, ý thức cố kết dân tộc, đoàn kết dân tộc của dân tộc Việt Nam đã trở thành một truyền thống vô cùng quý báu, giúp cho dân tộc Việt Nam luôn đứng vững trước mọi thử thách khắc nghiệt nhất của lịch sử Đối với mỗi người Việt Nam, yêu nước- nhân nghĩa- đoàn kết đã trở thành một tình cảm tự nhiên, in đậm dấu ấn trong cấu trúc xã hội truyền thống: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương/ Người trong một nước phải thương nhau cùng”

Hồ Chí Minh đã sớm hấp thụ và nhận thức được giá trị truyền thống vô cùng quý báu đó Người khẳng định: "Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước"

1.2 Tiếp thu, kế thừa tư tưởng đoàn kết của phương Đông, phương Tây

Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đình nhà nho có truyền thống yêu nước Sớm

có tư tưởng cứu nước, giải phóng dân tộc nên Người đã nghiên cứu tiếp thu rất nhiều những tinh hoa nhân loại Người đã sớm tiếp thu tư tưởng “lục hóa” (sáu phép ứng

xử của người) của Phật giáo phương Đông và tình thần “Tự do, bình đẳng, bác ái” của phương Tây và phát triển sáng tạo thành nguyên tắc, phương pháp trong xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc

1.3 Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin coi “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” là nguồn gốc quyết định trực tiếp nhất về đại đoàn kết dân tộc

Chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử; giai cấp vô sản muốn thực hiện được vai trò lãnh đạo cách mạng phải trở thành dân tộc; liên minh công nông là cơ sở để xây dựng lực lượng to lớn của cách mạng, bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng vô sản; chỉ giai

Trang 4

cấp công nhân mới có khả năng lãnh đạo cách mạng, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, mới bảo đảm cách mạng chắc thắng; muốn phát huy được sức mạnh quần chúng thì phải tổ chức, giáo dục và giác ngộ họ

Đó là những quan điểm lý luận hết sức cần thiết để Hồ Chí Minh có cơ sở khoa học trong sự đánh giá chính xác yếu tố tích cực cũng như những hạn chế trong các di sản truyền thống, trong tư tưởng tập hợp lực lượng của các nhà yêu nước Việt Nam tiền bối và các nhà cách mạng lớn trên thế giới, từ đó hình thành tư tưởng của Người

về đại đoàn kết dân tộc

1.4 Tổng kết những kinh nghiệm thành công và thất bại của các phong trào cách mạng Việt Nam và thế giới

Trong quá trình ra đi tìm đường cứu nước cũng như sau này, Hồ Chí Minh đã luôn chú ý nghiên cứu, tổng kết những kinh nghiệm của phong trào yêu nước Việt Nam và phong trào cách mạng ở nhiều nước trên thế giới, nhất là phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa Đặc biệt, Hồ Chí Minh đã nghiên cứu những bài học của cuộc Cách mạng Tháng Mười Những là bài học về huy động, tập hợp lực lượng quần chúng công nông đông đảo để giành và giữ chính quyền cách mạng, để xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa đã giúp Hồ Chí Minh thấy rõ tầm quan trọng của việc đoàn kết, tập hợp lực lượng cách mạng, trước hết là công nông

Đối với phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa và phụ thuộc, Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý đến Trung Quốc và Ấn Độ là hai nước có thể đem lại cho Việt Nam nhiều bài học bổ ích về tập hợp lực lượng yêu nước tiến bộ để tiến hành cách mạng Những kinh nghiệm rút ra từ thành công hay thất bại của các phong trào dân tộc dân chủ, nhất là kinh nghiệm thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga là cơ sở thực tiễn cần thiết cho việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc

1.5 Nhân tố chủ quan

Trang 5

Hồ Chí Minh là người có lòng vị tha, khoan dung, nhân ái đặc biệt là niềm tin mãnh liệt vào con người “dân khí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không địch nổi” Sự thống nhất hài hòa giữa tư tưởng và hành động, phẩm chất đạo đức và nhân cách, một tấm gương đạo đức suốt đời phấn dấu, hi sinh vì nước vì dân làm cho

Hồ Chí Minh có thể cảm hóa, tập hợp được mọi tầng lớp nhân dân, quy tụ được sức mạnh toàn dân vào sự nghiệp đấu tranh cách mạng Người khẳng định: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/ Thành công, thành công, đại thành công” Đây là tư tưởng chỉ đạo chiến lược cách mạng Việt Nam và là quan điểm của Người về sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc một cách sâu sắc

2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp cách mạng có

ba nội dung chủ yếu, gồm: vị trí, vai trò của đại đoàn kết trong sự nghiệp cách mạng; nội dung đại đoàn kết dân tộc; hình thức tổ chức khối đại đoàn kết dân tộc

2.1 Vị trí, vai trò của khối đại đoàn kết dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Khi đề cập đến vị trí, vai trò của đại đoàn kết dân tộc, Hồ Chí Minh khẳng định, đại đoàn kết dân tộc là một chiến lược cơ bản, nhất quán, lâu dài, là vấn đề sống còn, quyết định thành công của cách mạng “lúc nào dân ta đoàn kết thì nước nhà độc lập, lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn” Đó là chiến lược tập hợp mọi lực lượng nhằm hình thành và phát triển sức mạnh to lớn của toàn dân trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù của dân tộc, của nhân dân Theo Người, đoàn kết làm nên sức mạnh và là cội nguồn của mọi thành công: “Đoàn kết là một lực lượng vô địch của chúng ta để khắc phục khó khăn, giành lấy thắng lợi”; Để đánh bại các thế lực đế quốc, thực dân mạnh hơn ta gấp nhiều lần về sức mạnh kinh tế, quân sự giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người, nếu chỉ có tinh thần yêu nước thôi là chưa đủ, cách mạng muốn thành công và “thành công đến nơi”, phải tập hợp tất cả các lực lượng, xây dựng được khối đại đoàn kết dân tộc bền vững Người

Trang 6

nhận định, cuộc đấu tranh cứu nước của nhân dân ta vừa rồi bị thất bại có một nguyên nhân sâu xa là không xây dựng được dân tộc thành một khối đoàn kết thống nhất Muốn cách mạng thành công phải có lực lượng cách mạng, muốn có lực lượng cách mạng phải thực hiện đoàn kết Người khẳng định: “Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta Đoàn kết chặt chẽ, thì chúng ta nhất định có thể khắc phục mọi khó khăn, phát triển mọi thuận lợi và làm trọn nhiệm vụ nhân dân giao phó cho chúng ta” Trong quan điểm của Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc không chỉ là là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng mà còn của cả dân tộc Người cho rằng: “mục đích của Đảng Lao động Việt Nam có thể gồm trong 8 chữ là đoàn kết toàn dân, phụng sự

tổ quốc” và “đoàn kết rộng rãi, lâu dài là một chính sách dân tộc chứ không phải một thủ đoạn chính trị” Do vậy, phải được quán triệt trong tất cả các lĩnh vực, từ đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cũng như cách mạng xã hội chủ nghĩa

2.2 Nội dung đại đoàn kết đoàn kết dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Theo Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân “Dân” và

“nhân dân” đối với Người không chỉ là người dân lao động, không kể là đàn ông hay đàn bà, người già hay người trẻ, không chia đảng phái, tôn giáo, dân tộc, mà đó còn là

“quốc dân”, là “đồng bào”, là “người trong một nước”, là “con Lạc cháu Hồng” Do vậy, “Dân” và “nhân dân” ở đây vừa là tập hợp đông đảo quần chúng, vừa được hiểu

là mỗi con người Việt Nam cụ thể và cả hai đều là chủ thể của đại đoàn kết dân tộc Đại đoàn kết toàn dân có nghĩa là phải tập hợp được tất cả mọi người dân vào một khối trong cuộc đấu tranh chung Trong quá trình xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, phải đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân, giải quyết hài hòa mối quan hệ giai cấp - dân tộc để tập hợp lực lượng, không được phép bỏ sót một lực lượng nào Thực hiện đại đoàn kết toàn dân phải kế thừa truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, tinh thần cộng đồng của dân tộc Việt Nam; phải có lòng khoan dung, độ

Trang 7

lượng, tin vào nhân dân, tin vào con người, dựa vào dân; đồng thời thực hiện đại đoàn kết với phương châm “nước lấy dân làm gốc” Đó chính là cội nguồn, sức mạnh

vô địch để cả dân tộc chiến đấu và chiến thắng mọi thiên tai, địch họa, làm cho đất nước trường tồn, bản sắc dân tộc được giữ vững Người cũng nhấn mạnh, trong mỗi

cá nhân, mỗi cộng đồng đều có những ưu, nhược điểm Cho nên, vì lợi ích của cách mạng phải có lòng khoan dung, độ lượng, trân trọng cái phần thiện dù là nhỏ nhất ở mỗi con người mới có thể tập hợp, quy tụ rộng rãi mọi lực lượng Theo Người:

“Trong mấy triệu người cũng có người thế này thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều là dòng dõi của tổ tiên ta Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ, ta phải nhận rằng

đã là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc Đối với những đồng bào lạc lối, lầm đường, ta phải dùng tình thân ái mà cảm hóa họ Có như thế mới thành đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương lai chắc chắn vẻ vang” Người đã làm thức tỉnh khát vọng giải phóng, độc lập, tự do và biến khát vọng của mọi giai cấp, tầng lớp trong xã hội thành một sức mạnh đoàn kết vì sự nghiệp giải phóng dân tộc

Sự mở rộng nhận thức về quần chúng nhân dân của Người không hề trái với nguyên lí của chủ nghĩa Mác-Lênin mà ngược lại càng làm cho quan niệm về quần chúng nhân dân trở nên phong phú hơn, sinh động hơn, làm cho cách mạng có thêm lực lượng, làm cho kẻ thù càng bị phân hoá, cô lập Tư tưởng đó đã giúp Đảng ta xây dựng được mối quan hệ mật thiết, gắn bó máu thịt với quần chúng nhân dân

2.3 Hình thức tổ chức khối đại đoàn kết dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Theo Hồ Chí Minh, đại đoàn kết là để tạo nên lực lượng cách mạng, để làm cách mạng xóa bỏ chế độ cũ, xây dựng chế độ mới Do đó, đại đoàn kết dân tộc không thể chỉ dừng lại ở quan niệm, ở tư tưởng, ở những lời kêu gọi, mà phải trở thành một chiến lược cách mạng, trở thành khẩu hiệu hành động của toàn Đảng, toàn dân ta Nó phải biến thành sức mạnh vật chất, thành lực lượng vật chất có tổ chức và

tổ chức đó chính là Mặt trận dân tộc thống nhất Tuỳ theo yêu cầu và nhiệm vụ cụ thể của cách mạng trong từng thời kỳ, từng giai đoạn, quần chúng nhân dân được tập hợp

Trang 8

vào các tổ chức mặt trận rộng rãi với những tên gọi phù hợp, như Mặt trận dân chủ (1936), Mặt trận nhân dân phản đế (1939), Mặt trận Việt minh (1941)… và ngày nay

là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Tuy có nhiều tên gọi khác nhau như vậy, song về thực

chất, các tổ chức đó chỉ là một Đó là tổ chức chính trị -xã hội quy tụ, đoàn kết, tập hợp đông đảo mọi giai tầng trong xã hội, mọi tổ chức, cá nhân yêu nước, mọi dân tộc, tôn giáo, đảng phái trong và ngoài nước vì một mục tiêu chung và duy nhất là hòa bình, độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân Mặt trận Tổ quốc phải được xây dựng trên nền tảng khối liên minh công - nông

- trí thức; hoạt động của mặt trận phải bảo đảm lợi ích tối cao của dân tộc và quyền lợi cơ bản của các tầng lớp nhân dân; phải hoạt động theo nguyên tắc hiệp thương dân chủ; bảo đảm đoàn kết ngày càng rộng rãi, bền vững và đoàn kết lâu dài, chặt chẽ, chân thành, thân ái, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ

Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là thành viên vừa là lực lượng lãnh đạo mặt trận Nhưng Người cho rằng, quyền lãnh đạo: "Đảng không thể đòi hỏi Mặt trận thừa nhận quyền lãnh đạo của mình, mà phải tỏ ra là một bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất và chân thực nhất Chỉ trong đấu tranh và công tác hàng ngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đúng đắn và năng lực lãnh đạo của Đảng, thì Đảng mới giành được địa vị lãnh đạo" Đảng lãnh đạo Mặt trận bằng việc xác định chính sách Mặt trận đúng đắn, phù hợp với từng giai đoạn, từng thời kỳ cách mạng Đảng phải dùng phương pháp vận động, giáo dục, thuyết phục, nêu gương, lấy lòng chân thành

để đối xử, cảm hóa, khơi gợi tinh thần tự giác, tự nguyện, hết sức tránh gò ép, quan liêu mệnh lệnh

3 Ý nghĩa đối với xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc hiện nay

Trong thực tiễn cách mạng Việt Nam, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn vận dụng một cách sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc phù hợp với tình hình, yêu cầu và nhiệm vụ mới của cách mạng

Trang 9

Trong quá trình đổi mới tư duy, nhận thức của Đảng về đại đoàn kết dân tộc đã có những phát triển mới với tư tưởng bao trùm là “lấy dân làm gốc” Thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam đã chứng minh hùng hồn về giá trị và sức mạnh vĩ đại của

tư tưởng Hồ Chí Minh về sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc

Hiện nay, trước những diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường của tình hình thế giới, yêu cầu về hội nhập quốc tế, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh đoàn kết toàn dân tộc càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Đại hội XII của Đảng khẳng định: Đại đoàn kết dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Để phát huy hơn nữa sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới, cần nắm vững và làm tốt những vấn đề sau:

Thứ nhất, Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh

giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo Phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” làm điểm tương đồng; tôn trọng những điểm khác biệt không trái với lợi ích chung của quốc gia - dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước, tăng cường quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước, tạo sinh lực mới của khối đại đoàn kết dân tộc

Thứ hai, Giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội;

bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, bảo đảm mỗi người dân

Trang 10

đều được thụ hưởng những thành quả của công cuộc đổi mới Mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân Cần có phương hướng, nhiệm vụ cụ thể nhằm xây dựng, phát triển các giai cấp công nhân, nông dân, đội ngũ trí thức cũng như đổi mới nội dung, phương thức giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ; nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ; có cơ chế, chính sách tạo điều kiện, đồng thời động viên cựu chiến binh tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân

và chế độ; quan tâm chăm sóc sức khỏe, tạo điều kiện để người cao tuổi hưởng thụ văn hóa, tiếp cận thông tin, sống vui, sống khỏe, sống hạnh phúc…

Thứ ba, Cần có chính sách phù hợp đối với các giai cấp, tầng lớp nhân dân

trong xã hội, bảo đảm sự bình đẳng giữa các dân tộc, tôn giáo, dân cư ở các vùng, miền trên cả nước, người Việt định cư ở nước ngoài Vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể nước ta, Đại hội XII chỉ rõ: “Tiếp tục hoàn thiện các

cơ chế, chính sách, bảo đảm các dân tộc bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết, giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát triển, tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, tây duyên hải miền Trung Nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực và chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số, người tiêu biểu có uy tín trong cộng đồng các dân tộc Tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện các chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ở các cấp Chống kỳ thị dân tộc; nghiêm trị những âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc” Thực hiện tốt chính sách, dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước, chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài

Thứ tư, tăng cường quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước, tạo sinh lực mới của khối đại đoàn kết toàn dân tộc Là tổ chức đóng vai trò nòng cốt

trong tập hợp, vận động nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cần tiếp tục đổi mới

Ngày đăng: 17/03/2022, 14:07

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w