1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

GIÁO TRÌNH QUẢN LÝ CÔNG NGHỆ

16 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 804,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dây chuyền lắp ráp ban đầu được nhập khẩu từ một doanh nghiệp có trình độ công nghệ trung bình khá của lĩnh vực điện tử gia dụng, các yêu cầu về tiết kiệm năng lượng và môi trường chưa đ

Trang 1

BÀI 1 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG NGHỆ

Để học tốt bài này,sinh viên cần tham khảo các phương pháp học sau:

 Học đúng lịch trình của môn học theo tuần, làm các bài luyện tập đầy đủ và tham gia thảo luận trên diễn đàn

 Đọc tài liệu:

Giáo trình “Quản lý công nghệ”, Bộ môn Quản lý công nghệ, NXB ĐH Kinh tế

Quốc dân, 2013

 Sinh viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng viên trực tiếp tại lớp học hoặc qua email

 Tham khảo các thông tin từ trang Web môn học

Nội dung

 Quan niệm về công nghệ;

 Vòng đời của công nghệ

Mục tiêu

 Phân tích được các quan điểm về công nghệ;

 Nhận biết được các thành phần cấu thành một công nghệ;

 Phân tích được mối quan hệ giữa các thành phần công nghệ, liên hệ được với thực tế;

 Trình bày được các giai đoạn của vòng đời công nghệ và nêu được ý nghĩa

Trang 2

T ình huống dẫn nhập

Sự giải thể của TSE

Công ty nhà nước TSE được thành lập vào giữa thập kỷ tám mươi thế kỷ 20 với sứ mệnh ban đầu là lắp ráp và buôn bán hàng điện tử gia dụng như máy thu hình, radiocassete, tủ lạnh, máy điều hòa nhiệt độ, và tầm nhìn đến năm 2005 sẽ chiếm thị phần lớn hàng điện tử gia dụng ở Việt Nam và 50% doanh số sẽ thu từ xuất khẩu sản phẩm Việc kinh doanh vào những năm đầu rất thuận lợi vì trước khi TSE ra đời thị trường hàng điện tử gia dụng trong nước hoàn toàn do hàng nhập khẩu với thuế nhập khá cao đáp ứng và khi Việt Nam đang thiếu điện năng thì nhu cầu về hàng điện tử cũng không đáng kể

Dây chuyền lắp ráp ban đầu được nhập khẩu từ một doanh nghiệp có trình độ công nghệ trung bình khá của lĩnh vực điện tử gia dụng, các yêu cầu về tiết kiệm năng lượng và môi trường chưa được đạt cao; nhân công kỹ thuật rất dồi dào vì từ trước Việt Nam đã xác định điện tử là một ngành mũi nhọn trong phát triển kinh tế và anh ninh quốc phòng cho nên đội ngũ kỹ sư và nhân viên kỹ thuật được đào tạo khá bài bản Với những lợi thế như vậy, chỉ sau năm năm ra đời TSE

đã trở thành chim đầu đàn của điện tử gia dụng trong nước

Tuy nhiên, thành tựu của đổi mới kinh tế trong thập kỷ 1990 đã làm tăng đáng kể thu nhập của người tiêu dùng Việt Nam, cùng với việc tự do hóa thương mại rất nhiều doanh nghiệp tư nhân nhỏ được quyền nhập khẩu hàng điện tử, vì vậy đến những năm cuối của thế kỷ 20, hàng điện tử gia dụng trong nước chủ yếu là nhập khẩu Kết cục là TSE đã giải thể

Nguồn: Tổng hợp từ các nguồn khác nhau của Bộ môn Quản lý công nghệ

Nguyên nhân nào đã làm cho TSE bị giải thể?

Trang 3

1.1 Quan niệm về công nghệ

1.1.1 Các quan niệm về công nghệ

Thuật ngữ công nghệ được sử dụng trong rất nhiều ngữ cảnh khác nhau, nhưng quan

niệm về công nghệ lại khác nhau Có hai quan niệm đối lập: một quan niệm cho rằng công nghệ chỉ bao gồm các yếu tố phi vật thể như bí quyết, kỹ thuật, giải pháp… quan niệm thứ hai cho rằng ngoài các yếu tố phi vật thể công nghệ còn bao gồm cả các yếu

tố vật thể là máy móc thiết bị để thực hiện phần phi vật thể Sự đối lập này dẫn đến mục tiêu và hoạt động quản lý công nghệ cũng có phạm vi khác nhau Dưới đây sẽ hệ thống hóa các quan niệm từ các nguồn khác nhau

Xét về mặt ngôn ngữ, thuật ngữ công nghệ theo chiết

nghĩa trong tiếng Việt có nghĩa là nghệ thuật sử dụng

công cụ Từ điển bách khoa tiếng Việt định nghĩa công

nghệ là sự áp dụng khoa học vào trong thực tế để tạo

ra sản phẩm và dịch vụ Thuật ngữ công nghệ trong

các ngôn ngữ khác như tiếng Anh (technology), tiếng

Pháp (technologie), tiếng Nga (ТЭХНОЛОГИЯ) đều

có nguồn gốc từ thuật ngữ tiếng Hy Lạp 

bao gồm hai gốc từ:  (tekhne) là kỹ năng hay kỹ thuật và  (logos) có nghĩa là khoa học hay sự nghiên cứu Như vậy thuật ngữ này được hiểu là khoa học về

kỹ thuật hay sự nghiên cứu có hệ thống về kỹ thuật – thường được gọi là công nghệ học

Từ những năm 60 của thế kỷ 20, khởi đầu từ Mỹ rồi Tây Âu đã sử dụng thuật ngữ

công nghệ để chỉ các hoạt động ở mọi lĩnh vực, các hoạt động này áp dụng những kiến

thức là kết quả của nghiên cứu khoa học ứng dụng – một sự phát triển của khoa học

trong thực tiễn – nhằm mang lại hiệu quả cao hơn trong hoạt động của con người

Ở Việt Nam, thuật ngữ công nghệ theo nghĩa rộng đã được sử dụng chính thức từ khi

có nghị quyết 26 của Bộ Chính Trị, Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam khoá VII (1991) mang tên “nghị quyết về phát triển khoa học và công nghệ trong

sự nghiệp đổi mới” Năm 1992, Uỷ Ban Khoa Học – Kỹ Thuật Nhà Nước đổi thành

Bộ Khoa Học – Công Nghệ và Môi Trường (nay là Bộ Khoa Học và Công Nghệ) Các tổ chức quốc tế về khoa học và công nghệ đã có nhiều cố gắng trong việc đưa ra một định nghĩa công nghệ có thể dung hoà các quan điểm, đồng thời tạo thuận lợi cho việc phát triển và hoà nhập của các quốc gia trong từng khu vực và trên phạm vi toàn cầu

Có bốn khía cạnh cần bao quát trong định nghĩa công nghệ: (1) Công nghệ là bộ biến đổi; (2) Công nghệ là công cụ; (3) Công nghệ là kiến thức; (4) Công nghệ hàm chứa trong các dạng hiện thân của nó

Khía cạnh thứ nhất đề cập đến khả năng làm ra sản phẩm, đồng thời công nghệ phải đáp ứng mục tiêu khi sử dụng và thoả mãn yêu cầu về mặt kinh tế nếu nó muốn được

áp dụng trên thực tế Đây là điểm khác biệt giữa khoa học và công nghệ Khía cạnh thứ hai là nhấn mạnh rằng công nghệ là một sản phẩm của con người, do đó con người

có thể làm chủ được nó vì nó hoàn toàn không phải là “cái hộp đen” huyền bí đối với các nước đang phát triển Vì là một công cụ nên công nghệ có mối quan hệ chặt chẽ với con người và cơ cấu tổ chức Khía cạnh kiến thức của công nghệ đề cập đến cốt

Trang 4

lõi của mọi hoạt động công nghệ là kiến thức Nó bác bỏ quan niệm công nghệ phải là các vật thể, phải nhìn thấy được Đặc trưng kiến thức khẳng định vai trò dẫn đường của khoa học đối với công nghệ, đồng thời nhấn mạnh rằng không phải ở các quốc gia

có các công nghệ giống nhau sẽ đạt được kết quả như nhau Việc sử dụng một công nghệ đòi hỏi con người cần phải được đào tạo về kỹ năng, trang bị kiến thức và phải luôn cập nhật những kiến thức đó Khía cạnh thứ tư đề cập đến vấn đề: công nghệ dù

là kiến thức song vẫn có thể được mua, được bán Đó là do công nghệ hàm chứa trong các vật thể tạo nên nó

Uỷ Ban Kinh Tế và Xã Hội Châu Á Thái Bình Dương

(Economic and Social Commission for Asia and the

Pacific – ESCAP) tổng hợp bốn khía cạnh trên thành

định nghĩa về công nghệ: công nghệ là kiến thức có hệ

thống về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu

và xử lý thông tin Công nghệ bao gồm kiến thức, kỹ

năng, thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong

việc tạo ra hàng hoá và cung cấp dịch vụ

Định nghĩa công nghệ của ESCAP được coi là bước ngoặt trong quan niệm về công nghệ Theo định nghĩa này, không chỉ sản xuất vật chất mới dùng công nghệ, mà khái niệm công nghệ được mở rộng ra tất cả các lĩnh vực hoạt động xã hội và bao gồm các phần vật thể là máy móc thiết bị Những lĩnh vực công nghệ mới mẻ dần trở thành quen thuộc: công nghệ thông tin, công nghệ ngân hàng, công nghệ du lịch, công nghệ văn phòng…

Cũng cần lưu ý rằng trong nhiều trường hợp, khi cần thiết, người ta vẫn sử dụng định nghĩa công nghệ khác cho một mục đích nào đó Ví dụ, trong lý thuyết tổ chức, người

ta coi “công nghệ là khoa học và nghệ thuật dùng trong sản xuất và phân phối hàng

hoá và dịch vụ"; trong luật khoa học và công nghệ của Việt Nam, quan niệm: "Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm"

Xét tổng quát các quan điểm ở trên một công nghệ bao gồm một bộ biến đổi (trong đó

có máy móc thiết bị, con người…) thực hiện chức năng biến đổi đầu vào thành đầu ra theo một quy trình để tạo ra giá trị Quá trình biến đổi này diễn ra trong một không gian gồm các yếu tố khác nhau Quan niệm này được trình bày trên hình 1.1 Quan niệm như vậy rất phù hợp với quản lý chất lượng đồng bộ (TQM) Điều này có nghĩa

là để quản lý tốt và vận hành một cách hiệu quả một công nghệ cần phải quản lý mọi thành phần cấu thành và các yếu tố liên quan đến công nghệ đó

Hình 1.1 Sơ đồ quá trình biến đổi của một công nghệ

Bộ biến đổi

Trang 5

1.1.2 Các thành phần cấu thành một công nghệ

1.1.2.1 Các thành phần

Theo Sharif [Management of Technology for Developing Coutries] thì mỗi công nghệ có bốn thành phần cấu thành Các thành phần này hàm chứa trong vật tư kỹ thuật (facilities) hay là phần vật tư kỹ thuật, trong khả năng của con người (abilities) hay phần con người, trong các dữ liệu (facts) hay phần thông tin và khung thể chế (framework) hay phần tổ chức

Phần vật tư kỹ thuật còn có tên gọi khác là phần cứng, các phần còn lại là phần mềm

Phần vật tư kỹ thuật (Technoware – T) đây là thành phần của công nghệ được hàm

chứa trong các vật thể bao gồm các công cụ, thiết bị, máy móc, phương tiện và các cấu trúc hạ tầng xây dựng như nhà xưởng Trong công nghệ sản xuất, các vật thể này thường làm thành dây chuyền để thực hiện quá trình biến đổi (thường gọi là dây chuyền công nghệ), ứng với một qui trình công nghệ nhất định, đảm bảo tính liên tục của quá trình công nghệ

Phần con người (Humanware – H) thành phần của

công nghệ được hàm chứa trong khả năng công nghệ

của con người vận hành sử dụng công nghệ Như vậy,

phần con người của một công nghệ cụ thể nào đó là

những con người được đào tạo để có sự hiểu biết về

vận hành công nghệ đó Nó bao gồm: kiến thức, kinh

nghiệm, kỹ năng do học hỏi, tích luỹ được trong quá

trình hoạt động, nó cũng bao gồm các tố chất của con người như tính sáng tạo, sự khôn ngoan, khả năng phối hợp, đạo đức lao động… Các yếu tố này một cá nhân có được từ ba nguồn: thiên phú, giáo dục đào tạo, nuôi và dưỡng

Phần thông tin (Inforware – I) thành phần của công nghệ được hàm chứa trong các

dữ liệu đã được tư liệu hoá để sử dụng trong các hoạt động với công nghệ Nó bao gồm các dữ liệu về máy móc, về phần con người và phần tổ chức Ví dụ: dữ liệu về phần kỹ thuật như các thông số về đặc tính của thiết bị, số liệu về vận hành thiết bị, để duy trì và bảo dưỡng, dữ liệu để nâng cao và dữ liệu để thiết kế các bộ phận của phần

kỹ thuật, thuyết minh sử dụng phần máy móc…

Phần tổ chức (Orgaware – O) đây là thành phần của công nghệ được hàm chứa trong

khung thể chế để xây dựng cấu trúc tổ chức: những quy định về trách nhiệm, quyền hạn, mối quan hệ, sự phối hợp của các cá nhân hoạt động trong công nghệ, kể cả những quy trình tuyển dụng, đào tạo, đề bạt, thù lao, khen thưởng kỷ luật và sa thải phần con người,

bố trí sắp xếp thiết bị nhằm sử dụng tốt nhất phần vật tư kỹ thuật và phần con người

1.1.2.2 Mối quan hệ giữa các thành phần cấu thành của một công nghệ

Các thành phần cấu thành của một công nghệ có quan hệ cơ hữu, tức là công nghệ nào cũng luôn có đầy đủ bốn thành phần, nếu thiếu một thành phần nào đó thì công nghệ không thực hiện được chức năng biến đổi để tạo ra giá trị Mối quan hệ giữa bốn thành phần của một công nghệ có thể biểu thị qua phần giá trị do công nghệ đóng góp trong tổng giá trị sản phẩm do công nghệ tạo ra trong quá trình biến đổi đầu vào thành đầu

ra hay còn gọi là hàm lượng công nghệ, được ký hiệu là G:

G = ..Q

(công thức này sẽ được dẫn xuất ở bài 5)

Trang 6

Trong đó:

: hệ số môi trường quốc gia, thể hiện mức độ thuận lợi khi vận hành công nghệ phục vụ cho các mục tiêu khác nhau; giá trị của  nằm trong khoảng [01];

: hàm hệ số đóng góp của công nghệ;

Q: tổng giá trị sản phẩm do công nghệ tạo ra được tính bằng tiền Hàm hệ

số đóng góp của công nghệ được tính như sau

Trong đó: T, H, I và O là hệ số đóng góp của các thành phần của công nghệ Trị số của hệ số đóng góp thành phần phụ thuộc độ phức tạp và độ hiện đại của nó, theo qui ước về cách tính (bài 5) thì: 0 < T, H, I và O  1; T, H, I và O – cường độ đóng góp của các thành phần công nghệ tương ứng, nó thể hiện tầm quan trọng của mỗi thành phần công nghệ trong một công nghệ, qui ước:

T + H + I + O = 1 Hàm  là một hàm tích vì vậy nếu một thừa số bằng không thì hàm sẽ bằng không, tức

là hàm lượng công nghệ bằng không hay là không tồn tại công nghệ Điều này chứng

tỏ mối quan hệ giữa các thành phần T, H, I và O là mối quan hệ cơ hữu

1.2 Các đặc trưng của công nghệ

Các đặc trưng cơ bản của công nghệ rất cần thiết cho việc ra quyết định liên quan đến quản lý công nghệ Công nghệ cũng là một loại hàng hoá, nhưng là một loại hàng hoá đặc biệt – hàng hóa công cụ Do là một sản phẩm đặc biệt nên ngoài những đặc trưng như những sản phẩm thông thường, công nghệ có những đặc trưng riêng Đó là: chuỗi phát triển của các thành phần công nghệ, độ phức tạp (mức độ tinh vi) của các thành phần công nghệ, độ hiện đại của các thành phần công nghệ và vòng đời (trong nhiều tài liệu khác còn được gọi là chu trình sống) của công nghệ

1.2.1 Chuỗi phát triển của các thành phần công nghệ

1.2.1.1 Phần vật tư kỹ thuật

Khởi đầu của phần vật thể của công nghệ là nghiên cứu nhu cầu, thiết kế, chế tạo thử, trình diễn, sản xuất hàng loạt, truyền bá và cuối cùng là bị thay thế bởi trang thiết bị mới

Chuỗi phát triển của phần vật tư kỹ thuật Nội sinh Nghiên cứu Thiết kế Trình

diễn Sản xuất Truyền bá Ngoại sinh Chọn lọc Thích nghi

Chế tạo thử (phổ biến)

Loại bỏ, bị thay thế

Chuỗi phát triển của phần con người (các kỹ năng công nghệ) Nuôi dưỡng Chỉ bảo Dạy dỗ Giáo dục Đào tạo Nâng bậc

củng cố Nâng cấp

Chuỗi phát triển của phần thông tin (các dữ liệu)

Trang 7

Thu thập Sàng lọc Phân loại Kết hợp Phân tích Sử dụng

Cập nhật

Chuỗi phát triển của phần tổ chức Nhận thức Chuẩn bị Thiết kế Thiết lập

(bố trí)

Hoạt động Kiểm tra

Điều chỉnh Hình 1.2 Chuỗi phát triển của các thành phần công nghệ

1.2.1.2 Phần con người

Kỹ năng được hình thành từ khi được nuôi dưỡng, giáo dục và đào tạo Chuỗi phát triển

kỹ năng của con người không có kết thúc, vì những kỹ năng, đóng góp của con người tích luỹ được trong quá trình hoạt động của họ được truyền lại cho các thế hệ sau Các nước đang phát triển, do hạn chế về tài chính đã không thực hiện được đầy đủ các giai đoạn đầu, đặc biệt giai đoạn nuôi dưỡng đến giáo dục tiểu học, khiến các nước này thường gặp khó khăn trong việc đáp ứng nguồn lực con người có trình độ cao

1.2.1.3 Phần thông tin

Phần này bắt đầu là thu thập dữ liệu cần thiết, rồi sàng lọc, phân loại, kết hợp, phân tích, sử dụng và cập nhật Chuỗi phát triển thông tin không có kết thúc, vì các thông tin có thể được sử dụng đồng thời trong nhiều công nghệ

1.2.1.4 Phần tổ chức

Khởi đầu của phần tổ chức là việc nhận thức nhiệm vụ của hoạt động, trên cơ sở đó tiến hành bước chuẩn bị, thiết kế khung tổ chức, bố trí nhân sự, sau đó tổ chức bắt đầu hoạt động theo chức năng đã đề cập ở trên Trong quá trình điều hành hoạt động, tổ chức được theo dõi, phản hồi để điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện thay đổi cả bên trong lẫn bên ngoài

Các giai đoạn phát triển của các thành phần công nghệ mô tả trên hình 1.2

1.2.2 Độ phức tạp (độ tinh vi) của các thành phần công nghệ

1.2.2.1 Độ phức tạp của phần vật tư kỹ thuật

Mức độ phức tạp của phần vật tư kỹ thuật được đánh giá theo các cấp sau:

(1) Các phương tiện thủ công sử dụng năng lượng cơ bắp con người hay súc vật là chủ yếu (2) Các phương tiện có động lực, nguồn năng lượng là các loại động cơ nhiệt, điện thay thế cơ bắp

(3) Các phương tiện vạn năng, có thể thực hiện hơn hai công việc;

(4) Các phương tiện chuyên dùng, chỉ thực hiện một hay một phần công việc, do đó sản phẩm có độ chính xác cao

(5) Các phương tiện tự động, có thể thực hiện một dãy hay toàn bộ các thao tác không cần tác động trực tiếp của con người

(6) Các phương tiện máy tính hoá, điều khiển quá trình làm việc bằng máy tính: thay đổi tốc độ; tìm vị trí và hướng theo tín hiệu; đo, nhận ra và lựa chọn một tập hợp một thao tác thích hợp – ví dụ các hệ thống CAD, CAM, CIM…

Trang 8

(7) Các phương tiện tích hợp, thao tác toàn bộ nhờ máy được tích hợp nhờ sự trợ giúp của máy tính CIM (Computer Integrated Manufacturing)

1.2.2.2 Độ phức tạp của phần con người

Kỹ năng công nghệ của con người thể hiện qua học vấn (thông qua giáo dục tiểu học, trung học) kỹ năng công nghệ (được đào tạo qua dạy nghề, trường chuyên nghiệp, trường đại học), trí lực (độ thông minh) Theo mức độ cao dần, kỹ năng của con người được sắp xếp theo các cấp sau:

(1) Khả năng vận hành;

(2) Khả năng lắp đặt;

(3) Khả năng sửa chữa;

(4) Khả năng sao chép;

(5) Khả năng thích nghi;

(6) Khả năng cải tiến;

(7) Khả năng đổi mới

1.2.2.3 Độ phức tạp của phần thông tin

Độ phức tạp của phần thông tin được đánh giá theo các mức sau:

(1) Dữ liệu thông báo (báo hiệu) thể hiện bằng hình ảnh, mô hình, tham số cơ bản (ví

dụ thông số ghi trên nhãn thiết bị…)

(2) Dữ liệu mô tả, biểu thị các nguyên tắc cơ bản về cách sử dụng hay phương thức vận hành của phần máy móc (ví dụ các catalo kèm theo thiết bị)

(3) Dữ liệu để lắp đặt, gồm các dữ liệu về đặc tính của thiết bị, nguyên vật liệu, chế tạo chi tiết

(4) Dữ liệu để sử dụng, nằm trong các tài liệu kèm theo thiết bị giúp cho người sử dụng thiết bị một cách hiệu quả và an toàn

(5) Dữ liệu để thiết kế, gồm các tài liệu thiết kế chế tạo

(6) Dữ liệu để mở rộng, gồm các tài liệu cho phép tiến hành những cải tiến, thay thế các linh kiện hay mở rộng tính năng thiết bị

(7) Dữ liệu để đánh giá, là các thông tin mới nhất về các thành phần công nghệ, các xu thế phát triển và các thành tựu liên quan ở phạm vi thế giới Ba dữ liệu cuối được coi phần bí quyết của công nghệ

1.2.2.4 Độ phức tạp của phần tổ chức

Các chỉ tiêu đặc trưng cho độ phức tạp của phần tổ chức là: qui mô thị trường, đặc điểm quá trình sản xuất, tình trạng nhân lực, tình hình tài chính và mức lợi nhuận Các

cơ cấu tổ chức được xếp theo các cấp sau:

(1) Cơ cấu đứng được: chủ sở hữu tự quản lý, đầu tư thấp, lao động ít, phương tiện

thông thường, lợi nhuận không đáng kể

(2) Cơ cấu đứng vững: làm chủ được phương tiện, có khả năng nhận hợp đồng từ các

tổ chức cao hơn, cơ cấu sản xuất kinh doanh ổn định, có khả năng giảm chi phí để tăng lợi nhuận

Trang 9

(3) Cơ cấu mở mang: có kinh nghiệm chuyên môn, quản lý có nền nếp, có chuyên gia

cho từng lĩnh vực, lợi nhuận trung bình

(4) Cơ cấu bảo toàn: có khả năng tìm kiếm sản phẩm mới và thị trường mới, sử dụng

được các phần kỹ thuật cao cấp, lợi nhuận trung bình

(5) Cơ cấu ổn định: liên tục cải tiến chất lượng và chủng loại sản phẩm, liên tục nâng

cấp phần vật tư kỹ thuật

(6) Cơ cấu nhìn xa: thường xuyên cải tiến và đổi mới sản phẩm, sử dụng các phương

tiện tiên tiến, lợi nhuận cao, có thể chuyển phần lớn lợi nhuận vào hoạt động nghiên cứu – triển khai

(7) Cơ cấu dẫn đầu: có thể tiến đến giới hạn công nghệ liên quan, có khả năng chuyển

giao công nghệ theo chiều dọc, chú trọng nghiên cứu khoa học cơ bản, lợi nhuận thu được rất cao

Khả năng đổi mới Khả năng cải tiến Khả năng thích nghi Khả năng sao chép Khả năng sửa chữa Khả năng lắp đặt Khả năng vận hành

Thiết bị tích hợp Thiết bị máy tính hoá Thiết bị tự động

Thiết bị chuyên dụng Thiết bị vạn năng Thiết bị có động lực Thiết bị thủ công NĂNG LỰC CON NGƯỜI PHƯƠNG TIỆN KỸ THUẬT

CƠ CẤU TỔ CHỨC DỮ KIỆN, TƯ LIỆU

Tổ chức đứng được

Tổ chức đứng vững

Tổ chức mở mang

Tổ chức bảo toàn

Tổ chức ổn định

Tổ chức nhìn xa

Tổ chức dẫn đầu

Thông tin báo hiệu Thông tin mô tả Thông tin chi tiết Thông tin sử dụng Thông tin để thiết kế Thông tin mở rộng Thông tin đánh giá

Hình 1.3 Mức độ phức tạp tăng dần

1.2.3 Độ hiện đại của các thành phần công nghệ

Khác với độ phức tạp của các thành phần công nghệ, độ hiện đại không thể chia thành

“cấp” mà phải so sánh chúng với thành phần tương ứng được coi là “tốt nhất thế giới” vào thời điểm đánh giá Có một số tiêu chuẩn chung để đánh giá mức độ hiện đại của các thành phần công nghệ

1.2.3.1 Độ hiện đại của phần vật tư kỹ thuật

Tiêu chí đánh giá là hiệu năng phần vật tư kỹ thuật, ký hiệu P Để đánh giá độ hiện đại người ta sử dụng năm tiêu chuẩn:

(1) Phạm vi của các thao tác của con người;

(2) Độ chính xác cần có của thiết bị;

(3) Khả năng vận chuyển cần có;

(4) Qui mô kiểm tra cần có;

(5) Giá trị của phần vật tư kỹ thuật xét về mặt ứng dụng khoa học và bí quyết công nghệ

Trang 10

1.2.3.2 Độ hiện đại của phần con người

Đánh giá bằng tiêu chí khả năng công nghệ (ở khía cạnh nào đó có thể xem là mức độ thông minh), ký hiệu C Các tiêu chuẩn đánh giá:

(1) Tiềm năng sáng tạo;

(2) Mong muốn thành đạt;

(3) Khả năng phối hợp;

(4) Tính hiệu quả trong công việc;

(5) Khả năng chịu đựng rủi ro;

(6) Nhận thức về thời gian

1.2.3.3 Độ hiện đại của phần thông tin

Đánh giá bằng tiêu chí độ thích hợp của thông tin, ký hiệu A Các tiêu chuẩn đánh giá: (1) Khả năng dễ dàng tìm kiếm;

(2) Số lượng mối liên kết;

(3) Khả năng cập nhật;

(4) Khả năng giao lưu

1.2.3.4 Độ hiện đại của phần tổ chức

Đánh giá bằng tiêu chí tính hiệu quả của tổ chức, ký hiệu E Các chỉ tiêu đánh giá: (1) Khả năng lãnh đạo của tổ chức;

(2) Mức độ tự quản của các thành viên;

(3) Sự nhạy cảm trong định hướng;

(4) Mức độ quan tâm của các thành viên đối với mục tiêu của tổ chức

Các tiêu chuẩn trên phải được chi tiết hoá đối với công nghệ cụ thể

1.2.4 Vòng đời của một công nghệ

Sự ra đời và phát triển của một công nghệ thông qua quá trình nghiên cứu và triển khai (hình 1.4) và có biến đổi theo thời gian Quy luật biến đổi theo thời gian của sự ra đời và phát triển của một công nghệ là vòng đời (còn có tên khác là chu kỳ sống) của công nghệ đó

1.2.4.1 Quá trình nghiên cứu và triển khai

Hình 1.4 Quá trình nghiên cứu và triển khai

Nghiên cứu thị trường

Nảy sinh

ý tưởng

Nảy sinh

ý tưởng

Nâng cao

hiểu biết

Ghi nhận

nhu cầu

Marketing truyền bá

Kỹ nghệ hóa Củng cố và phát

triển ý tưởng

Nghiên cứu khoa học

Ngày đăng: 15/03/2022, 01:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w